1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 8

Đông Triều - Trung tâm văn hóa tín ngưỡng của nhà Trần 1225-1400 - Tài nguyên - Trung tâm Thông tin - Thư viện điện tử

50 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 46,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* “Trần thị gia huấn” viết năm Thành Thái (1905) niên hiệu Thành Thái, lưu tại đền Cố Trạch, cuốn này viết: “ Nhà Trần ban đầu tới núi Yên tử chiếm địa thế núi dựng ngôi chùa nhỏ thờ p[r]

Trang 1

ĐÔNG TRIỀU, TRUNG TÂM VĂN

HÓA, TÍN NGƯỠNG CỦA NHÀ TRẦN (1225-1400)

Thạc sĩ: Nguyễn Văn Anh

(Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành)

Trang 2

Nội dung

1 Đông Triều quê gốc của Nhà Trần.

2 Đông Triều trung tâm văn hóa, tín ngưỡng

của nhà Trần.

2.1 Đông triều, nơi nhà Trần xây dựng sơn lăng 2.2 Đông Triều, nơi tập trung các đền miếu, dinh

thự của nhà Trần.

2.3 Đông Triều, Trung tâm Phật giáo thời Trần.

3 Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa trong

sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Trang 3

Thăng Long

Đụng Triều

Long Hưng & Thiờn Trường

* N m 1225 Trần Cảnh lên ngôi ăm 1225 Trần Cảnh lên ngôi

Hoàng đế thiết lập lên triều

Trần (1225 1400) Nhà Trần tiếp – 1400) Nhà Trần tiếp

tục chọn Th ng Long là kinh đô; ăm 1225 Trần Cảnh lên ngôi

* N m 1320 vua Trần Anh Tông ăm 1225 Trần Cảnh lên ngôi

đ ợc táng t i Thía L ng ở Yên ại Thía Lăng ở Yên ăm 1225 Trần Cảnh lên ngôi

Sinh (An Sinh), đây là l ng đầu ăm 1225 Trần Cảnh lên ngôi

tiên đ ợc xây dựng ở An Sinh,

sau đó l ng mộ của các vua ăm 1225 Trần Cảnh lên ngôi

Trần đều đ ợc xây dựng tại đây

N m 1381 th n v c a các l ng ăm 1225 Trần Cảnh lên ngôi ần vị của các lăng ị của các lăng ủa các lăng ăm 1225 Trần Cảnh lên ngôi

Trang 4

1 ĐÔNG TRIỀU, QUÊ GỐC CỦA NHÀ TRẦN

* Bia thần đạo ở Yên Sinh nói rằng tiên tổ nhà Trần vốn là người Yên Sinh huyện Đông Triều, sau dời đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên

Trường

* “Trần thị gia huấn” viết năm Thành Thái (1905) niên hiệu Thành Thái,

lưu tại đền Cố Trạch, cuốn này viết: “Nhà Trần ban đầu tới núi Yên tử

chiếm địa thế núi dựng ngôi chùa nhỏ thờ phật, một vùng sau núi sau này có thể làm nơi của họ hàng ăn ở yên vui, nay là xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương có miếu nhà Trần ở đó…Một ngày kia đến khu vực khang kiện vùng Tức Mặc, Thiên Trường, nay có miếu thờ tự nhà Trần ở đó …”

“Xét về quê hương của họ Trần có ba nơi, thứ nhất Dương trạch ở xã An

Sinh huyện Đông Triều tỉnh Hải Dương, thứ hai Dương trạch ở xã Tức Mặc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, thứ ba Âm phần ở xã Thái Đường huyện Hưng Nhân nay thuộc tỉnh Thái Bình

Trang 5

Địa giới của Đông Triều

Địa danh Đông Triều ( 東朝 ) được cho là xuất hiện lần đầu tiên vào thế kỷ 14 khi Trần Dụ Tông (1341-1369) cho đổi vùng đất vốn trước đây là đất thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu

Sau “biến loạn sông cái” 1237, Trần Thái Tông (Trần Cảnh) đem đất

của 5 xã xã Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang

cấp cho hoàng huynh mình là Trần Liễu làm ấp thang mộc và phong Trần Liễu là An Sinh vương Địa giới 5 xã này tương ứng vơi địa giới các huyện/thành phố Đông Triều, Uông Bí, 1 phần của Quảng Yên, 1 phần của Chí Linh, 1 Phần của Kinh Môn (Hải Dương) ngày nay

Thời Nguyễn: Phía Tây đến Chí Linh, phía Đông đến Hoành Bồ, phía Nam đến Giáp Sơn,

Trang 6

Địa giới của Đông Triều

Trang 7

Một số di tích thời Trần ở Đông Triều

Trang 8

2 Đông Triều trung tâm văn hóa, tín

ngưỡng của nhà Trần

2.1 Đông Triều nơi nhà Trần lựa chọn xây dựng khu sơn lăng

Trang 9

Khu lăng mộ nhà Trần ở Tam Đường (Thái Bình)

Khu lăng mộ nhà Trần ở

An Sinh (Quảng Ninh)

Lăng các vua Trần

Trang 10

2.1.1 Khái niệm Lăng

• Khi nói đến lăng vua chúa, người Việt thường dùng các thuật ngữ Lăng

mộ, Lăng tẩm hay Sơn lăng Hiểu theo nghĩa rộng hiện nay thì “Lăng mộ

là mồ mả được xây cất kiên cố của vua quan, nhà quyền quý hoặc của một

vĩ nhân” [57, Tr.550]; Lăng tẩm là lăng của vua chúa và các công trình xây dựng trong khu vực lăng

• “Lăng nghĩa đen là cái gò cao, như trong Kinh Thi có câu “như cương như

lăng” Chữ “lăng” trong danh từ “lăng tẩm” có nghĩa là mộ Sách Quốc

ngữ phần Tề ngữ có câu: “lăng vi chi chung” nghĩa là làm mộ để chôn

cất Sách Thủy kinh vị thủy chú nói: Đời nhà Tần gọi mộ vua là sơn, đời Hán gọi là lăng Về sau chữ lăng dùng để chỉ riêng mộ của vua chúa

Những chữ “sơn lăng”, “lăng viên”, “lăng tẩm” đều chỉ vào các mộ vua.

• Tẩm nghĩa đen là ngủ, là nghỉ ngơi hay phòng ngủ Nó lại có nghĩa đen

là cái phòng để bài vị người chết Phòng ấy được chia làm hai phòng

nhỏ: phòng bên ngoài gọi là miếu có cửa thông vào phòng bên trong đóng

kín Chữ tẩm dùng đi đôi với chữ lăng có nghĩa là cái ngôi nhà dựng

gần bên mộ vua để làm nơi thờ phụng Sách Sử ký nói: Đến đời nhà Tần

mới xây dựng tẩm một bên mộ, nhà Hán theo Tần chế cũng có những viên tẩm

Trang 11

• Ở Trung Quốc từ thời Tây Chu, khi tiến hành lập quốc phong hầu, xây dựng chế độ tông pháp, tuyên truyền trung tín, giảng dạy về lễ nghĩa, tăng cường cầu cúng, đồng thời cũng đã thiết lập những quy định và chế độ quản lý an táng thiên tử, chư hầu khanh đại phu với chế độ “công mộ” đến chế độ mai táng thần dân với chế độ “bang mộ”, các quy định này được “luật hóa” trong Chu Lễ Theo đó, Công mộ và Bang mộ lấy vị trí cao thấp để xác định quy

mô mộ to hay nhỏ, trồng cây ít hay nhiều, biểu thị chế độ đẳng cấp rất

nghiêm ngặt Từ thời Hán về sau, khi Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính trị chính thống, với những quy định chặt chẽ về tôn ti, trật tự thì quy định

đẳng cấp về táng thức, quy mô lăng mộ càng chặt chẽ Theo quy tắc của

Lễ, trên mọi phương diện phải tuân tủ quy định về Lượng, ví dụ như quy mô

to nhỏ, số lượng của cung điện, phòng ốc, đồ vật, độ dầy của quan tài, độ to nhỏ của phần mộ đều phải được phân biệt theo đẳng cấp rõ ràng, những bậc càng tôn quý thì càng được quy mô vừa to vừa nhiều Trong lăng tẩm, yếu tố quan trọng nhất thể hiện đẳng cấp chính là độ to nhỏ của mộ, chính

vì vậy mộ phần của quân vương rất lớn, gọi là “lăng” hay “lăng tẩm” và

“lăng”, “lăng tẩm” là thuật ngữ chỉ để dùng để chỉ mộ của vua chúa

Khái niệm Lăng

Trang 12

Ở Việt Nam, các tài liệu hiện biết cho thấy ít nhất

đến thời Lê, thuật ngữ Lăng, Sơn lăng chỉ để dùng chỉ lăng mộ của vua, chúa Thời Nguyễn những quy chế về lăng mộ được quy định một cách chặt chẽ

trong Đại Nam hội điển sử lệ với 5 nội dung: quy

chế, lệnh cấm, xây dựng, quy thức viên tẩm và cây trồng, ai vi phạm một trong những điều trên đều bị

xử tử.

Khái niệm Lăng

Trang 13

TT Đời vua Tên húy đoạn Giai Năm sinh Năm mất Ngày táng

Tên lăng

Vị trí lăng Ghi chú Tên chính Tên khác

 xã Tiến  Đức, huyện  Hưng Hà,  Thái Bình

Trần Thừa được  vua Trần Thái  Tông tôn lên làm  Thượng Hoàng vào  tháng 10 năm Bính  Tuất, niên hiệu  Kiến Trung năm  thứ 2 (1226) 

2 Trần Thái Tông Trần Cảnh 1225

-1258

16/6/Mậu Dần (1218)

1/4/Đinh  Sửu (1277)

4/10/127

7 Chiêu Lăng

Thôn Tam  Đường,

 xã Tiến  Đức, huyện  Hưng Hà,  Thái Bình

 

3 Trần Thánh Tông Trần Hoảng 1258

-1278

25/9/Canh Tý (1240)

25/5/

Canh Dần (1290)

15/12/12

90 Dụ Lăng

Thôn Tam  Đường,

 xã Tiến  Đức, huyện  Hưng Hà,  Thái Bình

 

4 Trần Nhân Tông Trần Khâm 1278

-1293

11/11/Mậu  Ngọ (1258)

3/11/Mậu  Thân (1308)

16/9/131

0 Quy Đức Đức Lăng

Thôn Tam  Đường,

xã Tiến Đức,  huyện Hưng 

Hà, Thái  Bình

Hợp táng cùng  Khâm Từ bảo   thánh Thái hoàng  Thái hậu

Lăng mộ các vua Trần

Trang 14

5 Trần Anh Tông Trần Thuyên 1293-1314 17/9/Bính Tí(1276) 16/3/Canh Thân

1320)

12/12/132

9 Thái Lăng Đồng Thái

Thôn Trại  Lốc,

xã An Sinh,  huyện Đông  Triều,  Quảng Ninh

Phụ táng Thuận  thánh bảo từ  hoàng thái hậu

6 Trần Minh Tông Trần Mạnh 1314-1329 Canh Tí (1300) 19/2/Đinh Dậu

Thôn Trại  Lốc,

xã An Sinh,  huyện Đông  Triều,  Quảng Ninh

 

8 Trần Dụ Tông Trần Hạo 1341-1369 19/10/ Bính Tí(1336) 25/5/Kỷ Dậu

(1369) 11/1370 Phụ Lăng

Thôn Trại  Lốc,

xã An Sinh,  huyện Đông  Triều,  Quảng Ninh

 

9 Trần Nghệ Tông Trần Phủ 1370-1372 tháng12/Tân Dậu

(1321)

15/12/Giáp  Tuất (1394 Không rõ

Nguyên Lăng

Thôn Trại  Lốc,

xã An Sinh,  huyện Đông  Triều,  Quảng Ninh

 

Lăng mộ các vua Trần

Trang 15

10 Trận Duệ Tông Trần Kính 1372-1377 2/6/Đinh Sửu(1337) 24/1/Đinh Tị 

(1377) 9/1377 Hi Lăng  

Chết trận tại Thành  Trà Bàn,

 mất xác, sau Thượng  Hoàng Nghệ Tôn cho  chiêu hồn về chô ở 

Hi Lăng, Hi Lăng ở  đâu hiện chưa rõ,  tương truyền có mộ  giả ở Núi Ngọc  Thanh.

Lăng mộ các vua Trần

Trang 16

2.1.2 Khu sơn lăng của nhà Trần ở An Sinh (Quảng Ninh)

Có 7 lăng: Thái Lăng, Mục Lăng, Ngải Sơn Lăng, Phụ Sơn Lăng, Nguyên Lăng và lăng

Tư Phúc, và Lăng vua Trần Duệ Tông.

Thái Lăng là lăng đầu tiên được xây dựng tại đây năm 1320;

Nguyên Lăng là lăng cuối cùng được xây dựng năm 1394

Trang 17

* Thái Lăng (Lăng vua Trần Anh Tông)

Trang 20

KT07

KT06 KT08Sn04

Đg24 Đg23

Trang 21

Các Dấu vết kiến trúc của khu vực trung tâm

Trang 22

KT03: Dấu vết móng cột

Trang 23

KT03: Các chân tảng hoa sen trôi từ trên xuống

Trang 24

Sân Sn04

Trang 25

Dấu vết móng trụ KT05

Trang 26

KT06 và KT08 có mặt bằng hình chữ L đối xứng qua KT03

Trang 27

KT07

Trang 28

Các kiến trúc bao quanh khu kiến trúc trung tâm: Các kiến trúc ở phía Đông:

Trang 29

Các kiến trúc bao quanh khu kiến trúc trung tâm: Các kiến trúc ở phía Tây:

Trang 30

Các kiến trúc bao quanh khu kiến trúc trung tâm:

Các kiến trúc ở phía Bắc:

Trang 31

Các loại hình di vật:

Chân tảng và bậc cấp

Trang 32

Các loại hình di vật:

Các loại ngói

Trang 33

Các loại hình di vật:

Trang Trí kiến trúc

Trang 34

Các loại hình di vật:

Trang Trí kiến trúc

Trang 35

KT07

KT06 KT08Sn04

Đg24 Đg23

KT22

KT22

Vị trí phân bố của các loại

ngói

Trang 36

Các cấu kiện tháp

Trang 37

Giai đoạn kiến trúc thứ

nhất: Xây dựng năm 1320,

tồn tại đến khoảng 1332.

Đường thần đạo Khu trung tâm

Sân hành lễ

Trang 38

Đường thần đạo

Khu trung tâm

Sân hành lễ

Giai đoạn kiến trúc thứ hai:

Xây dựng năm khoảng

1332, hoặc muộn nhất là

cuối nửa đầu thế kỷ 14, tồn

tại đến cuối thế kỷ 14

Trang 39

tồn tại kéo dài đến ít nhất

đến năm 1690 khi chúa

Trịnh cho kiểm tra việc

trông coi lăng mộ các vua

Trần ở An Sinh

Trang 45

* Lăng Tư phúc

Trang 46

Vị trí của di tích Lăng Tư Phúc

Chùa Trung Tiết

Trang 47

- Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết:

Tháng 06 năm Xương Phù năm thứ 5

(1381) rước thần tượng các lăng được

quy tập từ Giác Hương (Nam Định),

Thái Đường, Long Hưng, Kiến Xương

về lăng lớn ở Yên Sinh (An Sinh) để

tránh người Chiêm Thành

- Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa

đồ cho biết lăng Tư Phúc liền sát với

điện An Sinh

- Dưới thời Lê, lăng Tư Phúc được

trùng tu sửa chữa hai lần, lần thứ nhất

vào thời Hồng Thuận (1509 – 1516),

tức là dưới thời của vua Lê Tương

Dực và lần thứ hai vào thời Hoằng

Định (1601 – 1619) dưới thời vua Lê

Kính Tông

Một số tư liệu về lăng Tư Phúc

Trang 49

H2 H3 & H4

Khai quật, nghiên cứu khảo cổ học

Trang 50

H2 H3 & H4

Dấu vết đường Thần Đạo

Ngày đăng: 07/02/2021, 00:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w