1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thành phần hóa học trong cao ethyl acetate của cây phyllanthus acidus (l ) skeels thu hái ở tỉnh bình thuận​

39 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã từ lâu, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu, cô lập các hợp chất có hoạt tính sinh học có trong chi Phyllanthus để điều trị các bệnh về thận, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

_ _

PHYLLANTHUS ACIDUS (L.) SKEELS

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

_ _

PHYLLANTHUS ACIDUS (L.) SKEELS

GV hướng dẫn: TS Bùi Xuân Hào

Tp HCM, tháng 5 năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN



Với tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:

Thầy TS Bùi Xuân Hào, người đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức chuyên môn, luôn theo sát hướng dẫn tận tình và truyền đạt cho em những kinh nghiệm nghiên cứu quý báu trong suốt quá trình em thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp

Thầy TS Dương Thúc Huy đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài Quý Thầy Cô trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em Qua đó, em có được kiến thức nền tảng – hành trang quý giá để hoàn thiện tốt khóa luận của mình và sự nghiệp trong tương lai

Các bạn sinh viên K38 cùng các em sinh viên K39 đã cộng tác, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình đã động viên, tạo mọi điều kiện vật chất và tinh thần giúp em hoàn thành tốt khóa luận của mình

Trang 4

M ỤC LỤC

L ỜI CẢM ƠN (i)

M ỤC LỤC (ii)

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT (iv)

DANH M ỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ (v)

L ỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2

1.1 GIỚI THIỆU VỀ CHI PHYLLANTHUS: 2

1.1.1 Đặc điểm thực vật chi Phyllanthus 2

1.1.2 Thành phần hóa học của chi Phyllanthus 2

1.1.3 Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của chi Phyllanthus 3

1.1.3.1 Độc tính tế bào của các hợp chất trong chi Phyllanthus 3

1.1.3.2 Tác dụng ức chế ký sinh trùng của chi Phyllanthus 4

1.2 GI ỚI THIỆU VỀ CÂY CHÙM RUỘT 5

1.2.1 Đặc điểm thực vật 5

1.2.1.1 Tên gọi 5

1.2.1.2 Phân b ố 5

1.2.1.3 Mô t ả: 5

1.2.2 Công d ụng: 5

1.2.3 Tình hình nghiên c ứu trên thế giới 6

1.2.4 Tình hình nghiên c ứu ở Việt Nam 9

CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 12

2.1 HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ 12

2.1.1 Hóa ch ất 12

Trang 5

2.1.2 Thiết bị 12

2.2 QUI TRÌNH THU HÁI VÀ X Ử LÝ MẪU NGUYÊN LIỆU, LY TRÍCH VÀ CÔ L ẬP CÁC HỢP CHẤT 13

2.2.1 Nguyên li ệu: 13

2.2.2 Quy trình trích ly, cô l ập hợp chất: 13

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15

3.1 KH ẢO SÁT CẤU TRÚC HỢP CHẤT RX2 15

3.1.1 Đặc điểm hợp chất RX2: 15

3.1.2 Bi ện luận cấu trúc hợp chất RX2: 15

3.2 KH ẢO SÁT CẤU TRÚC HỢP CHẤT CR-T12: 19

3.2.1 Đặc điểm hợp chất CR-T12: 19

3.2.2 Biện luận cấu trúc hợp chất CR-T12: 19

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 21

Tài li ệu tham khảo 24 Phụ lục

Trang 6

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Ddd Doublet of doublet of doublets Mũi đôi đôi đôi

Trang 7

DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ

Trang

phyllanthacidoid acid methyl ester

Trang 8

L ỜI MỞ ĐẦU

Trong vài thập kỉ gần đây, các nước trên thế giới đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, bào chế và sản xuất các chế phẩm có nguồn gốc thiên nhiên từ cây thuốc để hỗ trợ phòng ngừa và điều trị bệnh Ở Việt Nam, xu hướng này ngày càng tăng Hơn nữa, Việt Nam là quốc gia có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho nhiều loại thực vật phát triển Người ta đã tận dụng sự ưu đãi của thiên nhiên để sản xuất các loại thuốc từ thiên nhiên

Chùm ruột là loại cây phổ biến ở miền Nam Việt Nam và các nước vùng nhiệt đơi, cận nhiệt đới, thuộc chi Phyllanthus Đã từ lâu, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu, cô lập các hợp chất có hoạt tính sinh học có trong chi Phyllanthus để điều trị các bệnh

về thận, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng đường ruột, bệnh tiểu đường và viêm gan siêu vi B

Xuất phát từ những ứng dụng y học quý giá và kế thừa những nghiên cứu đã có về

chi Phyllanthus trong và ngoài nước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên rễ cây chùm ruột

được thu hái ở tỉnh Bình Thuận

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Hình 1.1 Một số thực vật thuộc chi Phyllanthus

a) Cây diệp hạ châuđắng b) Cây phèn đen

Các loài thực vật thuộc chi Phyllanthus, họ Thầu Dầu phân bố chủ yếu hầu hết ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam có 44 loài, các loài được chú ý hơn cả là

Các cây thuộc chi Phyllanthus là loại cây đơn tính; lá kép, kiểu mọc so le hoặc mọc đối; hoa nhỏ, mọc tập trung dạng hình cốc, có màu trắng, màu xanh lục hoặc trắng xanh Quả có dạng thùy nang, thường có cuống dài

Các nghiên cứu cho thấy thành phần hóa học của chi Phyllanthus gồm các loại hợp chất triterpenoid như: phyllanthol, β-amyrin… (từ P acidus), lupeol, lupenon (từ P

emblica), friedelan-3-β-ol, friedelin, β-sitosterol, betulinic acid, glochidonol,

21-α-hydroxy-friedelan-4(23)-en-3-one (từ P reticulatus), β-amyrin, β-sitosterol,

Trang 10

tricontanol… (từ P urinaria); các hợp chất flavonoid như: quercetin-3-glucosid, rutin (từ

thuộc nhóm quinolizidin như: phyllanthin, securinin, norsecurinin, isobulebialin, epibubbitin (từ P amarus), allosecurin, phyllantidin, phyllantin, hypophyllantin (từ P

gallocatechin (từ P amarus), phyllembin, gallotannin, ellagitannin terchebin, corilagin, chebulagic acid… (từ P emblica)… và các phenolic acid ở nhiều loài khác (P acidus, P

emblica, P reticulatus, P simplex…).[35]

Chi Phyllanthus phân bố phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, và từ lâu

đã được sử dụng trong y học cổ truyền các nước để điều trị bệnh về thận, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng đường ruột, bệnh tiểu đường và viêm gan siêu vi B Các cây thuộc chi Phyllanthus được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, không chỉ về hoá thực vật mà còn về dược học ở cấp độ in vitro và in vivo Các loài Phyllanthus niruri,

và cộng sự, 1998).[1][3] Các hợp chất chiết từ các loài diệp hạ châu đắng (P amarus), chó

đẻ răng cưa (P urinaria) có hoạt tính kháng virus, kháng khuẩn, đặc biệt là ức chế hoạt động của virus viêm gan B Các hợp chất từ quả me rừng (P emblica) có tác dụng phòng

chống một số dạng ung thư, kìm hãm sự phát triển của virus HIV và chống suy giảm miễn dịch.[35]

Nhiều công trình nghiên cứu gần đây nhất cho thấy cao chiết từ các loài thuộc

chi Phyllanthus như Phyllanthus amarus, Phyllanthus niruri, Phyllanthus urinaria,

bao gồm ức chế sự xâm lấn, di căn và kích hoạt sự chết theo chương trình của tế bào (apoptosis) (Tang và cộng sự 2011).[27] Năm 2011, các nghiên cứu của Lee và cộng sự

Trang 11

cho thấy cao chiết của bốn loài, gồm Phyllanthus niruri, Phyllanthus urinaria,

tế bào ung thư phổi A549 và dòng tế bào ung thư vú MCF-7, bằng cách kích hoạt quá trình apoptosis (Lee và cộng sự 2011).[13]

IC50 của cao chiết methanol của các loài trên có giá trị khoảng 50 – 180 µg/ml, và của cao chiết nước khoảng 65 – 470 µg/ml Trong thành phần cao chiết, các hợp chất polyphenol giữ vai trò quan trọng trong sự ức chế xâm lấn, di chuyển và gắn bám của các tế bào ung thư Năm 2013, Sumalatha đã công bố cao chiết ethanol của loài Phyllanthus emblica có tác dụng chống oxy hoá và có hoạt tính ức chế dòng tế bào ung thư tá tràng HT-29 (Sumalatha 2013).[26] Ngoài ra, cao chiết polyphenol của loài này còn cho thấy vai trò của nó trong việc ức chế sự phân bào và kích hoạt quá trình apoptosis ở tế bào ung thư cổ tử cung.[30]

Tác dụng kháng ký sinh trùng của chi Phyllanthus vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu cho thấy nhiều loài thuộc chi Phyllanthus có tác dụng rất hiệu quả lên ký sinh trùng Năm 2011, nghiên cứu của Ajala và cộng sự cho thấy cao chiết của loài P amarus có tác động kháng ký sinh trùng sốt rét Plasmodium

này của loài P amarus tương đương với thuốc kháng ký sinh trùng tiêu chuẩn khi dùng ở liều 1600mg/kg thể trọng chuột/ngày Một nghiên cứu khác trên ký sinh trùng sốt rét

(Opong và cộng sự, 2011).[20] Một nghiên cứu cho thấy cao chiết nước từ loài P niruri có tác dụng làm tê liệt và chết sán bao tử (Paramphistomes) ở động vật nhai lại theo thứ tự khoảng 2 giờ và 4 giờ ở nồng độ 10mg/ml (Jahan và cộng sự 2013).[7] Ngoài ra, cao chiết

từ chùm ruột có thể kháng ký sinh trùng giun đũa trên thực vật (Mackeen và cộng sự, 1997).[16] Các kết quả này cho thấy, chi Phyllanthus có thể là nguồn dược liệu chứa các hợp chất kháng nhiều loài ký sinh trùng

Trang 12

1.2 GI ỚI THIỆU VỀ CÂY CHÙM RUỘT

Tên gọi khác: chùm duột, tầm ruột, tầm duột

Tên khoa học: Phyllanthus acidus (L.) Skeels

Tên đồng nghĩa: Cicca acida

1.2.1.2 Phân bố

Chùm ruột là loài cây vừa được trồng làm cây cảnh vừa lấy quả

Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, chùm ruột trồng phổ biến ở miền Nam

Hình 1.2 Một số hình ảnh về cây chùm ruột

Theo Phạm Hoàng Hộ, Đỗ Tất Lợi, Đỗ Huy Bích và cộng sự, chùm ruột là loại cây nhỏ, cao 3 – 5 m, thân nhẵn, cành có vỏ màu xám nhạt, cành non màu lục nhạt, nhẵn; cành già màu xám có nhiều vết sẹo do lá rụng để lại Lá chùm ruột thuộc loại lá kép, mọc

so le, cuống dài, lá chét mỏng, mềm, dài 4 – 5 cm, rộng 18 – 20 mm Gốc lá bầu, tròn, phần đầu phiến lá nhọn, mặt dưới màu xám nhạt, gân lá rõ ở cả hai mặt Cụm hoa mọc ở

kẽ những lá đã rụng thành xim, dài 6 – 15 cm, cuống mảnh có cạnh; hoa nhỏ màu đỏ, hoa cái và hoa đực ở cùng một cây; hoa đực có đài 4 răng, 4 nhị, rời; hoa cái có 4 lá đài, bầu

Trang 13

4 ô, hoa mọc thành cụm từ 4 – 7 hoa ở mỗi mấu tròn Quả chùm ruột mọng, có khía, 4 mảnh Khi quả chín có màu vàng nhạt, vị chua, hơi ngọt, ăn được.[31][32][33]

Theo Đỗ Tất Lợi, Đỗ Huy Bích và cộng sự, trong y học cổ truyền các nước, những

bộ phận khác nhau của cây chùm ruột được dùng làm thuốc chữa các bệnh ngoài da, như

lá được dùng nấu nước tắm chữa lở ngứa và mề đay Vỏ thân cây chùm ruột được dùng

để tiêu hạch độc, ung nhọt, tiêu đờm trừ tích ở phổi, dùng bôi ngoài, chữa ghẻ, loét, vết thương sứt da chảy máu; ngậm chữa đau răng, đau họng Rễ và vỏ cây chùm ruột có độc, người Malaysia dùng đun sôi, xông hít chữa ho và nhức đầu; hay được người dân đảo Giava dùng chữa hen suyễn (dùng lượng rất nhỏ) Vỏ rễ sắc đặc hoặc ngâm rượu, bôi chữa vảy nến (psoriasis) Tuy nhiên, không được dùng rễ và vỏ rễ ở dạng uống Ở Ấn

Độ, vỏ rễ được dùng để đầu độc, với triệu chứng nhức đầu, ngây ngất, đau bụng dữ dội,

có thể chết.[31][32]

Các bệnh về nhiễm khuẩn đang gây nhiều vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe

con người Escherichia coli (E coli) là những vi khuẩn thường trú chính trong đường

ruột của người và động vật, nhưng một số chủng E coli lại có khả năng gây tiêu chảy nặng và nhiều bệnh ngoài đường ruột như viêm đường tiểu, nhiễm trùng máu E coli có liều gây bệnh thấp và lây truyền qua đường phân-miệng Trên thế giới đã có nhiều dịch tiêu chảy do E coli gây bệnh gây nên và dẫn đến nhiều thương vong Theo nghiên cứu GEMS (Global Enteric Multi-Center Study), thì các chủng E coli gây bệnh là một trong bốn tác nhân chính gây tiêu chảy ở Châu Phi và Nam Á Trong đó, tỉ lệ thương vong cao nhất đối với EPEC (enteropathogenic E coli) và ETEC (enterotoxigenic E coli) (Kaper

và cộng sự 2004).[9] Bệnh lỵ trực trùng (bacilli dysentery), một trong vấn đề về sức khỏe đang được quan tâm trên toàn cầu, bệnh do nhiễm trùng đường tiêu hóa với những triệu chứng đặc trưng như: sốt, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy (đi phân lỏng kèm máu và dịch nhầy) Trực trùng Shigella được xác định là nguyên nhân chính gây bệnh Bệnh lỵ trực

Trang 14

trùng có khả năng lây lan cao từ người sang người qua đường phân-miệng, nguồn nước hoặc thực phẩm nhiễm Shigella Trong tổng số các ca bị bệnh tiêu chảy trên toàn thế giới, có khoảng 5-10% ca nhiễm được xác đinh do trực trùng Shigella gây ra Cùng với

đó, theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1999, số ca nhiễm Shigella

chiếm đến 164.7 triệu mỗi năm tại các quốc gia đang phát triển với gần 1.1 triệu ca tử vong và hơn 1.5 triệu ca nhiễm hằng năm tại các quốc gia phát triển; trong đó, 61% các

ca tử vong là trẻ em dưới 5 tuổi (Kotloff và cộng sự 1999).[11] Cũng theo một báo cáo gần

đây của Trung tâm nghiên cứu bệnh truyền nhiễm (CDC) - Mỹ, tỉ lệ nhiễm Shigella đến

7.6 ca trong tổng số 100 000 trong năm 1993

Các loại kháng sinh tổng hợp thường được sử dụng để đối phó với các bệnh nhiễm khuẩn Tuy nhiên, hơn 50% các loại thuốc hiện nay đang được sử dụng vẫn có nguồn gốc

từ thiên nhiên (Sharmin và cộng sự 2015).[24] Việc lạm dụng kháng sinh tổng hợp đang gây ra tình trạng kháng đa kháng sinh ở nhiều chủng vi khuẩn cũng như gây ra nhiều tác dụng phụ khác Việc sử dụng các loài thảo dược được xem là một trong những phương pháp thay thế để đối phó với tình trạng đa kháng kháng sinh của vi khuẩn Ngoài ra việc

sử dụng các loài thảo dược còn làm giảm tác dụng phụ, không có hoặc rất ít độc tính, chi phí thấp hơn (Sharmin và cộng sự 2015) Loài chùm ruột hiện đang được sử dụng trong y học cổ truyền ở nhiều quốc gia như các chất kháng sinh và kháng oxy hóa Nghiên cứu của Eldeen và cộng sự (2011), cho thấy các loài thuộc chi Phyllanthus thu thập ở Malaysia có khả năng kháng lại nhiều chủng vi khuẩn gram âm và gram dương như

Escherichia coli, Staphylococcus aures, Bacillus licheniformis, Pseudomonas stutzeri

(Eldeen và cộng sự 2011).[6]

Một số nghiên cứu của Mensah và cộng sự (1990), Douhari

và Sunday (2008) cho thấy các loài P muellerianus và P discoideus có tiềm năng lớn trong việc sử dụng như là một chất kháng khuẩn (Mensah và cộng sự 1990).[18] Ở Việt Nam, chùm ruột cũng được sử dụng trong một số bài thuốc dân gian để trị các bệnh nhiễm khuẩn Tuy nhiên, các nghiên cứu chi tiết hơn về hoạt tính của loài này cũng như khả năng kháng khuẩn của nó vẫn chưa nhiều

Trang 15

1.2.4 Tình hình nghiên c ứu trên thế giới

Những nghiên cứu trong khoảng 15 năm gần đây trên cây Phyllanthus acidus đã công bố sự cô lập của một nhóm các hợp chất norbisabolane sesquiterpenoid, với hoạt tính sinh học của chúng khá đa dạng (Lv J.-J và cộng sự, 2014; Vongvanich và cộng sự, 2000).[15][29] Năm 2000, hai hợp chất phyllanthusol A (2) và B (3) đã được cô lập, có

khung sườn serquiterpenoid loại norbisabolane gắn các phân tử đường glucosyl và mannosamine-N-acetate (Vongvanich và cộng sự, 2000).[29] Tuy nhiên, đến năm 2014, cùng với sự cô lập 19 hợp chất cũng thuộc khung sườn norbisabolane, các hợp chất phyllanthusol A và B được xác nhận cấu trúc, trong đó hai đơn vị đường là glucopyranosyl và glucosamine-N-acetate Như vậy, cho đến nay, 21 hợp chất

norbisabolane đã được cô lập, với tên gọi tương ứng là phyllanthacidoid A-T (1-21) Trong đó hai hợp chất phyllantacidoid S (20) và T (21) chứa khung sườn rất lạ so với các

hợp chất được cô lập trước đây, với hợp phần tricyclo[3.1.1.1] có trong cấu trúc của chúng Các hợp chất này đã được thử nghiệm hoạt tính kháng virus viêm gan siêu vi B (HBV), với giá trị IC50 trong khoảng 0.8-36.0 µM (Lv J.-J và cộng sự, 2014) Ngoài ra, các hợp chất phyllanthacidoid cũng được xác định là thành phần chính có trong rễ cây chùm ruột, với hàm lượng khoảng 1mg/g, tính trên khối lượng rễ chưa khô (Vongvanich

và cộng sự, 2000) Quá trình chiết xuất và phân tích hàm lượng của phyllanthacidoid A

và B cũng được xác nhận bằng phương pháp điện di (capillary electrophoresis) (Durham

ở các mô, tạng, giảm lipid trong huyết thanh và trong gan của chuột lang trong 6 tuần (Chongsa và cộng sự, 2014).[4]

Một số nghiên cứu hoá thực vật trên cây chùm ruột được thực hiện khá sớm và chỉ công bố sự cô lập của các triterpene và phytosterol (Dekker, 1908; Ultee, 1933; Sengupta

Trang 16

và Mukhopadhyay, 1966; Pettit và cộng sự, 1982).[28][23][21] Các hợp chất triterpene đã

được cô lập thuộc khung oleane như β-amyrin (22), khung lupane như lupeol (23) và

khung cyclopropyl-hexacyclic triterpenoid như phyllanthol (24) Trong khi đó, các hợp

chất sterol chủ yếu có khung sitosterol và các glycoside của chúng

Năm 2010, các hợp chất kaemferol (28), adenosine (29), 4-hydroxybenzoic acid (30), hypogallic acid (31), caffeic acid (32) được cô lập từ cao n-butanol của lá cây chùm

ruột (Leeya Y và cộng sự, 2010) Cao n-butanol toàn phần và 5 hợp chất được cô lập đều

có khả năng làm giảm huyết áp và giãn cơ vòng ở động mạch chủ

Năm 2014, nhóm nghiên cứu Nguyen T T và cộng sự đã cô lập được các hợp chất phenylbutanoid và diphenylheptanoid, trong đó có một hợp chất diphenylpentanoid mới (Nguyen T T và cộng sự, 2014).[19] Cho đến nay, các hợp chất có khung sườn phenylbutanoid và phenylheptanoid chưa được công bố trong chi

4-[4’-(O-β-D-glucopyranosyl)phenyl-2-butanone (26), 1-[4’-(O-

Năm 2015, trong tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài luận văn Thạc sĩ của Võ Thị Như Thảo, với đề tài: “Nghiên cứu tách chiết và xác định thành phần hóa học của vỏ thân cây chùm ruột Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong một số dịch chiết”,[34] tác giả công

bố đã thu được một số kết quả như: xác định độ ẩm của nguyên liệu bột khô là 8.87%;

hàm lượng tro trung bình là 5.00%; định tính được dịch chiết n-hexan có 15 cấu tử

hữu cơ thuộc các nhóm hợp chất acid hữu cơ, ester, vitamin, sterol; dịch chiết chloroform có 9 cấu tử hữu cơ thuộc nhóm sterol, acid hữu cơ, ester của acid béo; dịch chiết etyl acetate có 14 cấu tử hữu cơ thuộc nhóm acid béo, sterol, sesquiterpen Ngoài ra, tóm tắt luận văn cũng công bố thông tin về thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của bột vỏ cây chùm ruột trên hai dòng chủng vi khuẩn là Bacillus

định cấu trúc của hợp chất nào cô lập được từ vỏ thân cây chùm ruột ở Tam Kỳ, tỉnh

Trang 17

Quảng Nam, và cho đến nay, các kết quả này vẫn chưa được tìm thấy trong các báo cáo khoa học tại Việt Nam

O O O O O

O

OHOH

R 1 OH

HO HO O HO

O HO

O

OHOH

R 1 OH

HO HO O HO

O HO

O O O O HO

O

OHOH

H OH

HO HO

OR1

HO

O O

O

H OH

H OH

HO HO

OR1

HO

O O

R 2

R 1 R 2

12.N-Ac-GlcN H 13.N-Ac-GlcN OH 14.Glc OH

Hình 1.3 Một số hợp chất cô lập từ cây Phyllanthus acidus

O

OR

HO HO HO

OHOH

O HO

O

OHOH

H HO

HO

OR

HO

O O HO

O

R

18 N-Ac-GlcN

19 Glc

Trang 18

O HO

HO

OH O OH

H3C1 O

2 3 4

1' 2' 3' 4' 6'

1'' 2'' 3'' 4'' 5'' 6''

O

1 2 3

4 5 6

7 8 9 10

11 12 13 14

15 1617 18 19 20 21 22

23 24

25 26

27

28

29 30

O

1' 2' 3' 6'

(31)

OH HO

(32)

OH

OH OH

O OH OH

Trang 19

CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

• Dung môi dùng trong sắc ký cột và sắc ký điều chế, sắc ký lớp mỏng gồm:

ethyl acetate, acetic acid, chloroform, acetone, methanol, n-hexan đều là hóa chất của

hãng Chemsol-Việt Nam và nước cất

• Sắc ký lớp mỏng 25DC-Alufolien 20 x 20 cm Kiesel gel F254 Merck

• Sắc ký cột thường dùng silica gel sắc ký cột, cỡ hạt: 0.04-0.06 mm, Himedia

• Thuốc thử để hiện hình các vết hữu cơ bằng sắc ký lớp mỏng: dung dịch vanillin/H2SO4, đèn UV

• Các thiết bị dùng để ly trích, dụng cụ chứa mẫu

• Máy cô quay chân không kèm bếp cách thủy

Ngày đăng: 06/02/2021, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w