1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định) lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2006 đến năm 2015

133 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn và thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, Đảng bộ huyện Mỹ Lộc đã thự

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

========================

TRẦN THỊ THẢO

ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ LỘC (TỈNH NAM ĐỊNH) LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

========================

TRẦN THỊ THẢO

ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ LỘC (TỈNH NAM ĐỊNH) LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 03 15

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Hồng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn tới PGS.TS.Hoàng Hồng - người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh Luận văn tốt nghiệp

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo Ban Quản lý Đào tạo, Sau đại học, các thầy cô giáo Khoa Lịch sử, Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ bảo tận tình, động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này

Trong thời gian thực hiện Luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam Định, Ủy ban MTTQ tỉnh Nam Định, thường trực Thành ủy Nam Định, Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnh Nam Định, Phòng Văn hóa, Ban tuyên giáo huyện Mỹ Lộc đã cung cấp tư liệu để tác giả hoàn thành Luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá, góp ý quý báu của Hội đồng Khoa học đánh giá Luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè cùng các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập thực hiện đề tài Luận văn tốt nghiệp này

Học viên thực hiện Luận văn

Trần Thị Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình bản thân tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Hoàng Hồng Tất các các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều đảm bảo tính trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Thị Thảo

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Bố cục của luận văn 12

Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ LỘC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 13

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội và thực trạng đời sống văn hóa ở nông thôn của huyện Mỹ Lộc trước năm 2006 13

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Mỹ Lộc 13

1.1.2 Thực trạng đời sống văn hóa ở nông thôn của huyện Mỹ Lộc trước năm 2006 16

1.2 Chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2006 -2010 24

1.2.1 Khái quát đường lối của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn 24

1.2.2 Chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc 29

1.3 Quá trình chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn củaĐảng bộ huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2006 - 2010 33

1.3.1 Xây dựng nếp sống văn minh, lối sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ 33

1.3.2 Xây dựng Làng, thôn xóm văn hóa, Gia đình văn hóa 38

1.3.3 Xây dựng Hương ước, quy ước 41

Trang 7

1.3.4 Xây dựng thiết chế văn hóa 43

1.3.5 Các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao: 45

Tiểu kết chương 1 47

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ LỘC LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 49

2.1 Yêu cầu mới và chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc 49

2.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 2010 - 2015 53

2.3 Đảng bộ huyện Mỹ Lộc chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 2010 – 2015 56

2.3.1 Xây dựng nếp sống văn minh, lối sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ 56

2.3.2 Xây dựng Làng, thôn xóm văn hóa, Gia đình văn hóa 60

2.3.3 Xây dựng Hương ước, quy ước 66

2.3.4 Xây dựng thiết chế văn hóa 69

2.3.5 Các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao 72

Tiểu kết Chương 2 75

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 77

3.1 Một số nhận xét 77

3.1.1 Ưu điểm 77

3.1.2 Hạn chế 82

3.2 Kinh nghiệm 88

Tiểu kết Chương 3 92

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 102

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng trên mọi lĩnh vực không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, phát triển văn hóa được coi là một giải pháp cứu cánh cho nhiều quốc gia Đặc biệt khi sự gia tăng của các giá trị vật chất – kinh tế không nhất thiết ở đâu và lúc nào cũng làm cho chất lượng cuộc sống của con người được tốt hơn lên

Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đi qua một chặng đường 25 năm, và đã thu được nhiều kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử Cùng với những thành tựu về kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, đối ngoại, vấn đề phát triển văn hóa - xã hội và xây dựng con người mới phục vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội luôn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi trọng và thực hiện đạt nhiều kết quả đáng khích lệ

Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Đảng luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách đổi mới đúng đắn trên các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó

có lĩnh vực văn hóa, chỉ đạo, hoạch định các chính sách văn hóa nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta đặt ra từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V (3/1982) Đây là một chủ trương quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống và con người phù hợp với đòi hỏi của đất nước trong thời

kỳ quá độ lên CNXH Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng cũng đã

ghi rõ: “Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm

nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo đảm mỗi xã, phường ấp đều có đời sống văn hóa Tổ chức hơn nữa đời sống văn hóa mới”

Xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa, thông tin ở cơ sở là một trong ba chương trình công tác chính hàng năm của Bộ Văn hóa thông tin Vì cơ sở là nơi

Trang 9

trực tiếp động viên, giáo dục xã hội và phát triển cá nhân, điều này chứng tỏ việc

tổ chức xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một chủ trương mang tính chiến lược lâu dài, thực hiện suốt trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được coi là bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng Chủ nghĩa xã hội Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần

thứ 5 khóa VIII (16/7/1998) đã nêu là: “Phải xây dựng môi trường văn hóa từ

trong mỗi gia đình, làng bản, xã phường, khu tập thể, cơ quan… xây đựng đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong việc xây dựng nếp sống văn minh” Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở chính là thực

hiện một cách cụ thể, thiết thực và sinh động chủ trương của Đảng là nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại, khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp văn hóa trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng thụ

Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là cơ sở đặc biệt để xây dựng nền văn hóa đất nước trong thời kỳ đổi mới Đó là nền văn hóa với vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Việt Nam về cơ bản là một nước nông nghiệp do đó trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, nông nghiệp, nông thôn và nông dân có một vị trí, vai trò quan trọng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc đổi mới Xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn là góp phần tạo nên động lực, đẩy nhanh quá trình đổi mới, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc bảo tồn và chấn hưng văn hóa nước nhà, vì một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 10

Nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn và thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, Đảng bộ huyện Mỹ Lộc đã thực hiện, triển khai mạnh mẽ công tác xây dựng đời sống văn hóa trong cư dân nông thôn góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương, cũng như thực hiện một bộ phận trong chương trình xây dựng “nông thôn mới” và phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Trong thời gian qua, đời sống văn hóa ở nông thôn huyện Mỹ Lộc đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của huyện Mỹ Lộc cũng còn gặp phải nhiều vấn đề bất cập do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mang lại Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc với công tác xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2006 đến năm 2015 là rất cần thiết Trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn nữa việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của huyện Mỹ Lộc trong tương lai

Với những ý nghĩa nêu trên nên tác giả đã quyết định chọn thực hiện đề tài

Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam:“Đảng bộ

huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định) lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2006 đến năm 2015”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn được triển khai rộng khắp trong cả nước, ở Trung ương cũng như các tỉnh đều có những công trình nghiên cứu được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí:

Bộ Văn hóa thông tin đã cho xuất bản một số cuốn sách có liên quan đến vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở như:

- Cuốn “Một số vấn đề xây dựng làng - ấp văn hóa hiện nay” (1997), chủ

biên: Nguyễn Khoa Điềm, Nxb Hà Nội Cuốn sách đã nêu rõ được thực trạng xây dựng làng - ấp văn hóa trên địa bàn cả nước và đề cập đến những vấn đề được coi

là giải pháp để làm tốt công tác xây dựng làng - ấp văn hóa

Trang 11

- Cuốn “Xây dựng GĐVH trong sự nghiệp đổi mới” (1997), Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội Đề cập đến vai trò của gia đình trong sự nghiệp phát triển của

xã hội nói chung và sự nghiệp đổi mới nói riêng Cuốn sách chỉ rõ việc cần thiết đẩy mạnh xây dựng GĐVH với những tiêu chí mới phù hợp với yêu cầu, nhiệm

vụ của công cuộc đổi mới đất nước

Những năm gần đây cũng có một số cuốn sách được xuất bản về vấn đề này, điển hình như:

- Dương Thanh Tam, Lê Văn Thịnh (1999), Toàn dân đoàn kết xây dựng

đời sống văn hóa mới ở khu dân cư”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung

cuốn sách phản ánh về phong trào do Ủy ban MTTQ Việt Nam chủ trì Trên cơ

sở nêu bật những ý nghĩa của phong trào, cuốn sách đã đưa ra một cách phân tích sâu sắc về những vấn đề thuộc về nội dung của phong trào và hệ thống những giải pháp để thực hiện phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” có hiệu quả

- BCĐ Trung ương (2000), “Hỏi và đáp về phong trào toàn dân xây dựng

đời sống văn hóa”, Nxb Hà Nội, Hà Nội Cuốn sách đã giải đáp những vấn đề về

nội dung phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa , từ nội hàm đến khái niệm cho đến việc hướng dẫn thực hiện phong trào

- Văn Đức Thanh (2001), “Về xây dựng môi trường văn hóa cơ sở”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội Xuất phát từ việc phân tích khái niệm văn hóa, tác giả đã đưa ra một cách nhìn nhận chi tiết về môi trường văn hóa nông thôn, đồng thời nhấn mạnh đến những yếu tố cần thiết phải xây dựng môi trường văn hóa nông thôn lành mạnh và một hệ thống các giải pháp để làm được điều đó

- Lê Quý Trấn, Nguyễn Văn Tam, Trần Thị Ánh Tuyết (2001), “Hội nông dân

Việt Nam với phong trào GĐVH, thôn ấp, bản, Làng văn hóa”, Nxb Lao động, Hà

Nội Nhóm tác giả nêu bật được vai trò của Hội nông dân với phong trào xây dựng GĐVH, thôn, ấp, bản, Làng văn hóa Đồng thời đề cập đến những việc đã làm được

và chưa làm được của Hội nông dân đối với phong trào Từ đó các tác giả rút ra những giải pháp cần thiết để nâng cao vai trò của Hội nông dân với phong trào

Trang 12

- Đinh Xuân Dũng (chủ biên) (2005), “Xây dựng Làng văn hóa ở đồng

bằng Bắc Bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội

- Phạm Văn An, Đặng Khắc Lợi (2006), “Hỏi – đáp về xây dựng Làng văn

hóa”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

- Ngô Quang Hưng, Phạm Phúc Duyên, Đặng Khắc Lợi (2007), “Hỏi – đáp

về xây dựng GĐVH ở làng, bản buôn”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

- Các tác giả Trần Thị Tuyết Mai, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Thu Trang,

Nguyễn Duy Kiên, (2011),“Hỏi – đáp về xây dựng nếp sống văn minh”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội trình bày dưới dạng hỏi – đáp tất cả những vấn đề liên quan đến việc xây dựng GĐVH, Làng văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh Cuốn sách có vai trò tuyên truyền, hướng dẫn mọi người hiểu được bản chất và cách thực hiện những vấn đề đã nêu sao cho phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước

Liên quan trực tiếp tới xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đáng lưu ý có các luận văn, luận án sau:

- Luận văn “Đảng bộ huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng

đời sống văn hóa từ năm 2000 đến năm 2010” (2014) của Trần Thị Yên đã

nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh vận dụng chủ trương chung của Đảng trong lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2000 đến năm 2010 và

đã đánh giá khách quan các thành tựu, hạn chế và bước đầu rút ra một số kinh nghiệm góp phần thực hiện tốt hơn nữa chủ trương xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Luận văn “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở tỉnh Bắc Giang hiện

nay” (2015) của tác giả Đoàn Văn Nam đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận

chung về đời sống văn hóa tinh thần và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần; Khái quát những mục tiêu và nội dung cơ bản của xây dựng đời sống văn hóa tinh thần; Tìm hiểu những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng đời sống văn

Trang 13

hóa tinh thần Nghiên cứu về thực trạng xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở tỉnh Bắc Giang và những vấn đề đặt ra, để từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở tỉnh Bắc Giang hiện nay

- Luận văn “Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Lương Tài (Bắc Ninh) về xây

dựng đời sống văn hóa từ năm 1998 – 2013” (2015) của tác giả Đoàn Văn Tiến

đã nghiên cứu sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Lương Tài (Bắc Ninh) về xây dựng đời sống văn hóa từ năm 1998 – 2013 và phân tích những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa của địa phương

Nhìn chung các công trình nghiên cứu, các tác phẩm nói trên đã đề cập tương đối toàn diện những nội dung cơ bản của văn hóa Những tri thức khoa học này là những tài liệu quý báu giúp tác giả nhận thức rõ về bản chất, vai trò của văn hóa, đồng thời là cơ sở để có thể kế thừa khi thực hiện đề tài

Tuy nhiên, viết về đời sống văn hóa ở cơ sở của huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định) một cách có hệ thống dưới góc độ lịch sử cho đến nay chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào Về nội dung này mới chỉ có một số Kỷ yếu Hội thảo và Báo cáo bước đầu tổng kết đời sống văn hóa ở cơ sở Trong đó đáng chú ý có Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa (2000-2015) của Huyện Hội nghị đã Báo cáo tập hợp một cách hệ thống tham luận các cơ sở trên địa bàn huyện trong 15 năm thực hiện cuộc vận động, trên cơ sở tổng kết những bài học kinh nghiệm, các Báo cáo tham luận cũng đưa ra những phương hướng đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống văn hóa trong những năm tiếp theo

Những tài liệu trên đây đã phần nào cho thấy cái nhìn tổng quan về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nói chung và thực trạng xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định) nói riêng Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về

Trang 14

quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2006 đến năm 2015

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích

Nghiên cứu về quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2006 đến năm 2015 Trên cơ sở đó luận văn chỉ ra những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân của vấn đề và rút ra những bài học kinh nghiệm

- Nhiệm vụ

+ Phân tích, làm rõ các yếu tố tác động đến xây dựng đời sống văn hóa nông thôn huyện Mỹ Lộc

+ Trình bày theo hệ thống các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ huyện

Mỹ Lộc trong xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ 2006 đến năm 2015 + Phân tích những ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc trong lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ 2006 đến năm 2015; từ đó, đúc rút kinh nghiệm có cơ sở khoa học và thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:

+ Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn thời gian từ năm 2006 đến năm 2015

+ Các hoạt động triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Bao gồm toàn bộ huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

- Về thời gian: Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn trên địa bàn tỉnh từ năm 2006 đến năm 2015 Tuy nhiên để làm rõ vấn đề, tác giả đề cập khái quát vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn trước năm 2006

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định) trong xây dựng đời sống văn hóa ở

Trang 15

nông thôn từ năm 2006 đến năm 2015 gồm: Chủ trương của Đảng bộ, sự chỉ đạo của Đảng bộ trong các lĩnh vực: Xây dựng nếp sống văn minh, lối sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ, xây dựng Làng văn hóa, GĐVH, xây dựng Hương ước, quy ước, xây dựng Thiết chế văn hóa, các hoạt động văn hóa văn nghệ và TDTT; qua đó rút ra những nhận xét chung và bài học kinh nghiệm

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Các tài liệu chủ yếu thực hiện đề tài gồm:

- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước liên quan đến văn hóa và đời sống

văn hóa trong những năm 2006 đến năm 2015

- Những cuốn sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, kỷ yếu Hội thảo, Báo cáo đề cập đến việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn

- Các bài viết liên quan đến vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn trên các tạp chí (Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Tư tưởng văn hóa, Tạp chí Khoa học xã hội, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật…) và báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, báo điện tử Nam Định

- Các Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (2005), lần thứ XVIII (2006) và lần thứ XIV (2015) Cùng các Chỉ thị, Kế hoạch, Báo cáo cả Tỉnh ủy, UBND Tỉnh, một số ban ngành của Tỉnh về văn hóa

- Các văn bản, tài liệu của Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban MTTQ huyện Mỹ Lộc, Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Phòng Văn hóa huyện

- Tài liệu thu thập qua điều tra và khảo sát thực tế địa bàn huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định)

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để giải quyết những yêu cầu của đề tài này, tác giả đã dựa trên cơ sở lí luận

là những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và đời sống văn hóa ở cơ sở

Những phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng chủ yếu trong luận văn là phương pháp lịch sử, nhằm trình bày khách quan, khoa học sự lãnh đạo

Trang 16

của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc trong việc xây dựng nếp sống đời sống văn hóa ở nông thôn trên địa bàn huyện qua khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2015, gắn liền với hoàn cảnh cụ thể

- Phương pháp Logic nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện và hiệu quả của nó, phân tích, đánh giá những thành công

và hạn chế, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm

- Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như so sánh, đối chiếu, phân tích – tổng hợp và khảo sát thực tiễn để giải quyết các nội dung liên quan đến đề tài

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Đóng góp về khoa học

- Trình bày một cách hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và việc thực hiện quan điểm của Đảng về xây dựng phát triển sự nghiệp văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc

- Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Lộc tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhiệm

vụ xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2006 đến năm 2015 Đồng thời, khẳng định sự đúng đắn của các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự lãnh đạo xây dựng của Đảng bộ tỉnh huyện Mỹ Lộc đời sống văn hóa ở nông thôn

- Khái quát những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế, một số kinh nghiệm qua 10 năm thực hiện công tác xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định) Từ đó nếu những giải pháp chủ yếu, nhằm nâng cao sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng văn hóa

cơ sở của huyện trong những năm tới

6.2 Đóng góp về tư liệu

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho Huyện ủy, tổ chức đảng của huyện trong quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn trong những năm tới và cho các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này

Trang 17

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lãnh đạo công tác xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 2006 – 2010

Chương 2: Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lãnh đạo đẩy mạnh công tác xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 2010 -2015

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

Trang 18

Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ LỘC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội và thực trạng đời sống văn hóa ở nông thôn của huyện Mỹ Lộc trước năm 2006

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Mỹ Lộc

Điều kiện tự nhiên

Mỹ Lộc xưa là một trong các huyện thuộc phủ Thiên Trường Thời thuộc Pháp, vùng đất của huyện Mỹ Lộc rất rộng lớn, bao gồm cả phần đất của thành phố Nam Định ngày nay Từ sau Cách mạng Tháng Tám, huyện Mỹ Lộc đã qua nhiều lần điều chỉnh địa giới Ngày 01/9/1950 cắt 4 xã Lộc An, Mỹ Xá, Lộc Hạ, Lộc Hoà vào thành phố Nam Định Năm 1953, cắt các xã Mỹ Toàn, Mỹ An, Mỹ Đồng, Mỹ Phong, Mỹ Điền sang huyện Nam Trực Đến ngày 25/9/1954, cắt các xã Lộc An, Mỹ Xá, Lộc Hạ, Lộc Hoà trả

về huyện Mỹ Lộc Thời kỳ 1965-1975, huyện thuộc tỉnh Nam Hà Ngày 13/6/1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 76-CP sát nhập toàn bộ huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định Từ 1975-1981, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh Sau năm 1981, trở về thuộc tỉnh Nam Định Ngày 16/2/1997, Chính phủ ra Nghị định số 19/CP tái lập huyện Mỹ Lộc trên

cơ sở tách ra từ thành phố Nam Định

Mỹ Lộc là huyện ven thành phố, diện tích tự nhiên 7.407 ha; dân số 69.671 người Thực hiện nghị định 19/CP và nghị định 95/CP của Chính phủ, huyện Mỹ Lộc được tái lập gồm có 1 thị trấn Mỹ Lộc và 10 xã là xã Mỹ Tân, Mỹ Trung, Mỹ Phúc,

Mỹ Thắng, Mỹ Hà, Mỹ Hưng, Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành

Lãnh thổ Mỹ Lộc nằm ở phía Bắc và phía Tây của thành phố Nam Định, được bao bọc bởi sông Hồng ở phía Đông và sông Châu Giang ở phía Bắc Trung tâm huyện lỵ nằm trên quốc lộ 21A (trục đường Nam Định – Phủ Lý) cách thành phố Nam Định 8 km và Phủ Lý 23 km

- Phía Bắc giáp huyện Bình Lục và Lý Nhân của tỉnh Hà Nam

Trang 19

- Phía Đông giáp sông Hồng và tiếp giáp huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

- Phía Nam giáp thành phố Nam Định và huyện Vụ Bản

- Phía Tây giáp huyện Vụ Bản và tỉnh Hà Nam

Như vậy, về mặt điều kiện tự nhiên như trên huyện Mỹ Lộc có vị thế rất

thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội

Địa hình

Huyện Mỹ Lộc được bao bọc bởi tuyến đê sông Hồng (dài 7.1 km) và đê Ất Hợi (dài khoảng 16.5km) của sông Châu Giang, các đê này phân chia lãnh thổ huyện thành hai dạng địa hình chính:

- Khu vực ngoài đê có địa hình cao hơn, đất đai màu mỡ do được phù sa sông Hồng bồi đắp hàng năm, thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt cây công nghiệp (dâu, đay), màu, rau và hoa

- Khu vực trong đê có địa hình phần lớn thấp, trũng, thường bị úng ngập nên đất bị glay hóa mạnh với độ sâu trên 0,5m, phù hợp cho trồng lúa và nuôi trồng thủy sản

Khí hậu, thủy văn

Cũng như các khu vực ở đồng bằng sông Hồng, khí hậu ở Mỹ Lộc cũng mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm

- Nhiệt độ trung bình năm là 23,7 độ C, tổng lượng mưa trung bình năm 1750mm, tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1670 giờ

- Độ ẩm không khí trung bình năm khá cao (trên 80%), chênh lệch giữa các tháng không nhiều (3-8%)

- Có 2 sông chính chảy bao quanh lãnh thổ Mỹ Lộc là sông Hồng và sông Châu Giang Sông Hồng đoạn chảy dọc ranh giới phía Đông huyện dài 7,1km

Điều kiện kinh tế - xã hội

Tình hình kinh tế - xã hội trong những năm gần đây, huyện Mỹ Lộc đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật về kinh tế - xã hội, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá và dần ổn định Tổng giá trị sản xuất của huyện năm 2015 đạt 2.906 tỷ đồng (giá so sánh) Nhịp độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010 – 2015 đạt 14,46%/năm

Trang 20

Giá trị sản xuất bình quân đầu người tăng qua các năm, năm 2010 đạt 24 triệu đồng/người, năm 2015 đạt 47 triệu đồng/người (theo giá hiện hành)

Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản

Các lĩnh vực văn hóa – xã hội có nhiều bước tiến bộ, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, Mỹ Lộc sớm đạt được các chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở Chất lượng giáo dục trên cả hai mặt đạo đức và học lực đều có tiến bộ Tỷ lệ thi tốt nghiệp ở bậc Tiểu học hàng năm đạt 100%, Trung học cơ sở đạt 99%, Trung học phổ thông đạt 98% trở lên Công tác khuyến học được quan tâm, phong trào xã hội hóa giáo dục phát triển

Công tác khám, chữa bệnh hàng năm hoàn thành và vượt kế hoạch, thực hiện tốt các công tác phòng chống dịch, không có dịch bệnh lớn xảy ra Các chương trình y tế quốc gia, phòng chống lao, phòng chống bướu cổ đã được thực hiện nghiêm túc Công tác quản lý y tế cơ sở được tăng cường, đến nay có 8/11 trạm xá xã, thị trấn có bác sỹ (đạt 72,7%), bước đầu quan tâm y tế thôn, xóm có 115/137 thôn xóm có cán bộ y tế hoạt động, chiếm 83,9%

Phong trào thể dục, thể thao phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo nhân dân tham gia phong trào “Rèn luyện thể dục, thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại” Đời sống văn hóa nhân dân được cải thiện rõ rệt Nhân dân được tiếp cận với các hoạt động văn hóa phong phú và đa dạng Phong trào xây dựng Làng văn hóa, GĐVH được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, các cấp Hoạt động tuyên truyền, vận động, phổ biến xây dựng Làng văn hóa, GĐVH được chú trọng Nhân dân tích cực tham gia xây dựng Làng văn hóa, GĐVH, xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn, góp phần tích cực vào phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và tạo nền tảng, tiền đề để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ về xây dựng “nông thôn mới”

Trang 21

1.1.2 Thực trạng đời sống văn hóa ở nông thôn của huyện Mỹ Lộc trước năm 2006

Chủ trương

Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là cuộc vận động lớn của Đảng được xác định là một trong 4 giải pháp thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm

đà bản sắc văn hoá dân tộc nhằm thu hút mọi nguồn lực xã hội, các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động sáng tạo cung cấp phổ biến nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân

Những quan điểm về văn hóa nói chung, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nói riêng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) tiếp tục được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001) bổ sung, phát triển Đại hội đã xác định

rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa , “Xây dựng nếp sống văn minh và GĐVH”, “Phong trào người tốt việc tốt”, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại Nâng cao tinh thần văn hóa trong hoạt động kinh tế, chính trị xã hội và sinh hoạt của nhân dân

Tháng 7/2004, Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 10 (khóa IX) họp

đã tổng kết, đánh giá 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII Trên cơ sở đó, Hội nghị cũng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), nâng cao chất lượng

Với sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, ngày 16/7/2000 BCĐ phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của tỉnh Nam Định được thành lập theo tinh thần Nghị quyết TW5 (khóa VIII) Ngày 19/9/2000 Lễ phát động và kế hoạch triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã được ban hành tới các cơ sở, ngành, đoàn thể và các huyện, thị trên địa bàn Tỉnh

Trang 22

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XVI (2001) đã được tổ chức trong đó quan điểm

về văn hóa được xác định: Đẩy mạnh phong trào “ ” Toàn dân đoàn kết xây

dựng đời sống văn hóa, phong trào thi đua yêu nước, động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc Tiếp tục đưa các hoạt động văn hóa, thông tin về cơ sở Đẩy mạnh phong trào thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng Làng văn hóa, GĐVH” Đại hội cũng đưa ra một số

mục tiêu cụ thể xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nhiệm kỳ 2001-2005 của tỉnh:

“ 70% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn GĐVH, 50% số làng xã đạt tiêu chuẩn làng xã văn hóa”[28, tr.42]

Quán triệt đường lối đổi mới về văn hóa của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX), Đảng bộ tỉnh Nam Định đã đề ra các chủ trương, biện pháp kịp thời lãnh đạo chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Các nội dung lãnh đạo, chỉ đạo đó

đã định hướng cho các địa phương trên địa bàn Tỉnh, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội các địa phương, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng và phát triển văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Huyện uỷ Mỹ Lộc đã xây dựng và triển khai Chương trình nâng cao đời sống văn hoá ở cơ sở tới tất cả các Đảng bộ, chi bộ trực thuộc, toàn thể Đảng viên và nhân dân

BCĐ huyện đã hướng dẫn các xã, thị trấn thành lập BCĐ tổ chức thực hiện

Do vậy hệ thống chỉ đạo phong trào đã được xuyên suốt từ huyện đến cơ sở Thực hiện quyết định 252/QĐ-UB và quyết định 681/QĐ-UB của UBND tỉnh, chỉ thị số 27CT-TW của bộ Chính trị và Chỉ thị số 14CT-TTg của Thủ tướng chính phủ, trong quá trình triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn hoá, huyện đã tập trung và phát động trong toàn dân những nội dung cơ bản sau:

- Ổn định tư tưởng chính trị, giữ vững an ninh, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, chấp hành tốt mọi chính sách pháp luật của nhà nước, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở

Trang 23

- Thực hiện nếp sống văn minh, lành mạnh tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, giỗ tết, phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xoá đói giảm nghèo để có nền kinh tế phát triển đồng đều trong các làng xã

- Xây dựng nếp sống văn hoá, kỷ cương xã hội, xây dựng quy ước, hương ước của từng làng, thôn xóm… Nội quy, quy chế, các quy định thực hiện nếp sống văn hoá trong cơ quan, trường học, bệnh viện…

- Tích cực tuyên truyền phòng chống các tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh

- Đẩy mạnh xây dựng các thiết chế văn hoá và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa thể thao cơ sở, xây dựng nhà văn hoá, các điểm vui chơi cho thanh thiếu niên ở nông thôn, xóm, xã, cơ quan trường học …

Các cấp đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, phổ biến giới thiệu các văn bản của Trung ương, của Tỉnh cho cán bộ văn hoá thông tin cơ sở, các trưởng thôn, xóm BCĐ phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đôn đốc các đơn vị, địa phương thực hiện tốt các quy định của huyện cũng như các quy định của Trung ương, của Tỉnh Kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp trong phong trào xây dựng Làng văn hóa, GĐVH

là phong trào xây dựng Làng văn hóa, GĐVH là giải pháp quan trọng hàng đầu để triển khai thực hiện

Nhiều xã, thị trấn đã quan tâm chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện tốt hương ước, thực hiện phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ đảng viên, đẩy mạnh các

Trang 24

hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng và đoàn viên thực hiện các quy định về nếp sống văn hoá vào tiêu chuẩn bình xét các danh hiệu thi đua đã có tác động mạnh đến cuộc xây dựng nếp sống văn hoá

Toàn huyện 55/137 khu dân cư được đánh giá là thực hiện tốt nếp sống văn

hàng trăm mô hình, điển hình trong việc thực hiện nếp sống văn minh tạo sự chuyển biến tiến bộ trong việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ Các tiệc ăn uống linh đình và nhiều phong tục rườm rà, lạc hậu trong việc cưới giảm hẳn; một số mô hình tổ chức cưới gọn nhẹ, tiết kiệm xuất hiện ngày càng nhiều, được dư luận ủng hộ Việc tổ chức tang lễ chu đáo, đảm bảo vệ sinh; các tập tục lạc hậu không còn diễn ra; việc quy hoạch nghĩa trang, thống nhất quy mộ, việc xây cất mộ phần được chú trọng hơn Một số cơ

sở, địa phương có lễ hội được tổ chức đúng quy định, lễ hội diễn ra tương đối lành mạnh, bên cạnh phần lễ là phần hội, các hoạt động văn hoá thể thao truyền thống và vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng ngày càng được quan tâm tổ chức

- Thứ hai, xây dựng Làng, thôn xóm văn hóa, Gia đình văn hóa

Phong trào xây dựng Làng văn hóa là một vấn đề quan trọng được các cơ

sở, các địa phương quan tâm, nó trở thành chỉ tiêu trong nghị quyết Đại hội Đảng

bộ các cấp Xây dựng Làng văn hóa đã góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội, cộng đồng gắn bó đoàn kết, môi trường văn hoá lành mạnh, tiến bộ Trong các Làng văn hóa nhân dân quan tâm hơn đến cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm, có ý thức sử dụng nước sạch, có ý thức xây dựng các điều kiện sinh hoạt ngày càng hiện đại văn minh hơn Các Làng văn hóa là những nơi có tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền trong sạch, kinh tế phát triển đời sống văn hoá tinh thần phong phú, môi trường xanh - sạch - đẹp, không có các tệ nạn xã hội thực hiện gia đình tiến bộ, hạnh phúc

Mỹ Lộc có 65 làng được công nhận làng văn hoá, 55 làng đã xây dựng và thực hiện có hiệu quả hương ước của mình Việc triển khai thực hiện xây dựng

Trang 25

làng văn hoá đồng bộ từ huyện đến xã, đã huy động các lực lượng xã hội tham gia, thường xuyên được BCĐ kiểm tra đánh giá kịp thời

Từ nhận thức đúng về vai trò quan trọng của gia đình nên các cấp, các ngành đã quan tâm đúng mức tới công tác xây dựng gia đình văn hoá Đến thời điểm trước năm 2006 có 55% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá, nhiều làng

có tỉ lệ gia đình văn hoá đạt từ 75% – 85%

Công tác bình xét, khen thưởng GĐVH được thực hiện theo quy định chung Việc xét và bình chọn GĐVH hàng năm được thực hiện thường xuyên tại tất cả các thôn, xóm và trình lên UBND các xã, thị trấn tổ chức rà soát kiểm tra, sau đó UBND xã, thị trấn ra quyết định công nhận những gia đình đạt chuẩn gia đình văn hoá

- Thứ ba, xây dựng hương ước, quy ước:

Đến năm 2000 hầu như các xóm, phố trên địa bàn đã xây dựng hương ước, quy ước và được cấp trên phê duyệt theo quy định Tuy nhiên do kinh nghiệm còn hạn chế nên nội dung và hình thức của một số văn bản hương ước, quy ước còn có những sai sót nhất định; việc triển khai thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao; đặc biệt là nhận thức của một số cán bộ, nhân dân về vị trí, tầm quan trọng của hương ước, quy ước trong cộng đồng dân cư chưa đúng mức Vì thế các văn bản này chưa tạo ra được động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trên địa bàn

Những năm tiếp theo, được sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND, UBMTTQ, Sở

Tư pháp, Sở Văn hoá thông tin và các ngành chức năng cấp tỉnh, huyện Mỹ Lộc

đã tổ chức rà soát, xem xét lại các văn bản hương ước, quy ước đã được phê duyệt trước đây Thời điểm này, giao cho phòng Tư pháp và phòng Văn hoá thông tin chủ trì, phối hợp với các ban, ngành có liên quan hướng dẫn các xã sửa đổi bổ sung hương ước, quy ước phù hợp với kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội lúc bấy giờ Để thực hiện tốt công tác trên các cán bộ Tư pháp, Văn hoá và trưởng các thôn, xóm đã được tham dự tập huấn về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước Các văn bản hương ước, quy ước mẫu được xem xét, so sánh và

Trang 26

đối chiếu, các cuộc hội thảo, toạ đàm được tổ chức Vì vậy đến năm 2004 việc đúc rút kinh nghiệm, tiến hành sửa đổi, bổ sung lần này được tiến hành khá chặt chẽ, sự phối hợp của các ngành khá đồng bộ, vai trò chức năng của các ngành được thể hiện rõ nét, trách nhiệm của các thôn, xóm, khu dân cư thể hiện rõ ràng, nhất quán do đó nhìn chung tất cả các bản hương ước, quy ước được phê duyệt đều có nội dung, hình thức tốt, được cấp trên khen ngợi

- Thứ tư, xây dựng thiết chế văn hóa

Mỹ Lộc ngoài việc thực hiện tốt công tác văn hoá, văn nghệ mà còn chú trọng đến việc xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động thể dục thể thao Tính đến hết năm 2006 toàn huyện có 60 sân cầu lông, 50 sân bóng mini, 30 sân bóng chuyền, 27 bàn bóng bàn đã thu hút được nhiều đối tượng tham gia với hoạt động phong phú phù hợp với điều kiện của từng địa phương Làm tốt công tác xã hội hoá TDTT, đưa thể thao quần chúng tới các gia đình, thôn, xóm Toàn huyện có 13,5% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao, 16,3% số người thường xuyên luyện tập TDTT Thường xuyên phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong huyện tổ chức tốt các hoạt động TDTT phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và hướng dẫn, chỉ đạo các xã, thị trấn và các ngành tổ chức các giải như cầu lông, bóng đá, bóng bàn… Thành lập các đội tuyển tham gia các giải thể thao

do tỉnh tổ chức đạt được nhiều thành tích cao… Tham mưu với chính quyền các cấp để tất cả các xã, thị trấn đều đã có quy hoạch đất cho thể thao đặc biệt là tổ chức thành công Đại hội TDTT huyện Mỹ Lộc lần thứ II năm 2005

Xây dựng các thiết chế văn hoá là việc cần thiết khi hệ thống nhà văn hoá khu vui chơi thể thao đang được hình thành nhanh chóng ở các thôn xóm Tính đến trước năm 2006 toàn huyện có 10 nhà văn hoá huyện, xã, thị trấn và 81 nhà văn hoá thôn, xóm, trung bình 1 nhà văn hoá xóm được đầu tư từ 100 – 150 triệu

mới chỉ đầu tư tăng âm, loa máy cho 1 số làng văn hoá còn một số xã đã đầu tư phần trang trí Hiện nay nhà văn ở các thôn được sử dụng cho hội họp của chi bộ

Trang 27

đảng, đội sản xuất, các đoàn thể, sinh hoạt CLB, tổ chức hoạt động văn hoá văn nghệ, trao đổi thông tin, đọc sách báo phù hợp với mọi lứa tuổi

- Thứ năm, các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao

Từ năm 2000 đến năm 2005, các hoạt động văn hóa văn nghệ, thông tin, bưu điện, phát hành sách báo được đẩy mạnh Hầu hết các xã đều có đội văn nghệ quần chúng, hoạt động thể thao nhất là bóng đá, bóng chuyền bắt đầu được quan tâm Hàng tháng đội chiếu phim lưu động của tỉnh về phục vụ nhân dân Mạng lưới giáo dục, y tế, thông tin văn hóa – TDTT đã được xây dựng, củng cố

từ thị đến xã, thôn, làng, xóm, góp phần làm nâng cao đời sống tinh thần cho nhan dân Năm 2000-2005 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc để văn hóa đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, cũng như đời sống văn hóa cho nhân dân Đảng bộ huyện đã chỉ đạo mở các lớp bồi dưỡng cho những người làm công tác văn hóa, văn nghệ quần chúng, vận động nhân dân tình nguyện làm công tác văn hóa quần chúng, nhằm tuyên truyền, phát động, phong trào thi đua xản xuất, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế và chăm sóc đến đời sống tinh thần của quần chúng

- Tỉ lệ gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến, làng văn hoá, tổ dân phố văn hoá khá cao, nhưng nếp sống mới: chậm hình thành, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ có nơi chuyển biến chưa rõ rệt, việc xây cất

mồ mả tự phát, tệ nạn mê tín dị đoan, đốt vàng mã vẫn còn rải rác Các biểu hiện thiếu văn hoá nơi sinh hoạt cộng đồng, tình trạng tranh chấp đất đai … vẫn còn tồn tại, vẫn còn có nơi để mai một các giá trị văn hoá truyền thống

Trang 28

- Sau khi triển khai cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, một số tiêu chí thi đua chưa thống nhất, dẫn đến vừa chồng chéo vừa phân tán khó khăn trong việc tổ chức thực hiện, bình xét thi đua ở cơ sở

- Các hình thức sinh hoạt văn hoá, thể dục thể thao và vui chơi giải trí ở các cộng đồng dân cư còn ít Hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao ở cơ sở đôi chỗ chưa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, hoạt động sáng tạo văn hoá của nhân dân

- Hoạt động triển khai thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu vực cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, còn bị coi nhẹ, nhiều nơi chưa đề ra kế hoạch, chương trình cụ thể để triển khai thực hiện phong trào; hoặc

đề ra nhưng không được thực hiện hay thực hiện chưa tốt

Nguyên nhân của những hạn chế đó một phần là do cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp và tâm lí bình quân chủ nghĩa đã làm giảm động lực phát triển văn hóa, giáo dục, kìm hãm năng lực tự do sáng tạo của nhân dân

Do nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thấy rõ mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng đời sống văn hóa nên trong triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế đã coi nhẹ vấn đề chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa, chưa đưa vào thành nghị quyết chuyên đề của cấp ủy, Hội đồng nhân dân các cấp

Từ những hạn chế, yếu điểm trong giai đoạn trước năm 2006 đặt ra đòi hỏi các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương phải có những chủ trương, chính sách sát với thực tế, phải quan tâm đầu tư đúng mức cho công tác xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn trên địa bàn huyện Để văn hóa thực sự là động lực, là tiền

đề vững chắc để phát triển kinh tế trên, giúp cải thiện đời sống nhân dân trên địa bàn toàn huyện Hơn thế, đầu tư, quan tâm đúng mức cho xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn chính là hoàn thành phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa do Đảng đề ra, thực hiện một nội dung trong đề án xây dựng nông thôn mới của Chính phủ

Trang 29

1.2 Chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2006 -2010

1.2.1 Khái quát đường lối của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn

“Đời sống văn hoá” xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội IV, đoạn

viết: "Hết sức quan tâm tổ chức tốt đời sống văn hóa ở các vùng kinh tế mới, các

nông trường, lâm trường, công trường ở các vùng dân tộc, ở miền núi và hải đảo"

Đến Đại hội V (1982), Đảng ta xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá ở cơ sở, coi đó là một chủ trương quan

trọng, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng văn hoá và con người: "Một nhiệm

vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hóa".

Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người

tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo qui luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt, của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mĩ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hoá con người Đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người Đó là quá trình các yếu tố văn hóa mà con người tiếp thu được tác động vào đời sống vật chất để con người biến đổi môi trường tự nhiên tạo lập môi trường nhân văn, làm ra được nhiều sản phẩm vật chất cho xã hội; tác động vào đời sống tinh thần để con người thỏa mãn nhu cầu chủ quan đáp ứng các yêu cầu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống; tác động vào đời sống xã hội để xây dựng một hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội; tác động vào chính bản thân đời sống cá nhân, điều chỉnh hành vi ứng xử của cá nhân và cho cá nhân phương thức lựa chọn hướng đi tốt nhất cho chính cuộc đời mình

Trang 30

Tóm lại: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị

và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên,

xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người Đời sống văn hóa bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa

“Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” là một chủ trương quan trọng, có ý

nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã được khẳng định tại Nghị quyết Trung ương

5 (Khóa VIII)

Thực chất xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là xây dựng con người văn hóa; xây dựng GĐVH; xây dựng nếp sống văn hóa; xây dựng thiết chế văn hóa; động viên mọi người lao động sáng tạo, hoàn thành tốt trách nhiệm nghĩa vụ công dân, xây và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Nông thôn là một đơn vị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hóa, là nơi quần chúng lao động hàng ngày, cũng là nơi tổ chức cho nhân dân thực hiện mọi nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ công dân, nơi tổ chức đời sống trực tiếp cho nhân dân.Với phương châm hướng về cơ sở Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng và phát triển đời sống văn hóa nông thôn

“Xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn” có vai trò to lớn: xây dựng đời

sống văn hóa ở nông thôn góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội, bài trừ các hủ tục, phê phán và loại bỏ mê tín dị đoan, ổn định tình hình xã hội, giảm thiểu các tệ nạn xã hội đang tràn lan ; xây dựng đời sống văn hóa nông thôn có vai trò thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, vì văn hóa là động lực để phát triển kinh tế; xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn nhằm giải quyết tốt các vấn đề

xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao hiểu biết của người dân, phát triển dân trí…; xây dựng đời sống nông thôn góp phần thực hiện có hiệu quả phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, “xây dựng nền văn

Trang 31

hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, góp phần hoàn thành mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã nhận định: Văn hoá phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế Quản lý văn hoá, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ Môi trường văn hoá bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại

Nghị quyết Đại hội X của Đảng lại một lần nữa nhấn mạnh: “Phát huy những

giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện dại hóa đất nước Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ, thật sự là tổ ấm của mỗi người, tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục

vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [10, tr.103-104]

Đảng ta cũng quyết tâm thực hiện nhiệm vụ văn hóa đã được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) là “làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người, tăng cường sức đề kháng chống lại văn hóa đồi trụy, độc hại Nâng cao tính văn hóa trong hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội

và sinh hoạt của nhân dân”

Có thể khẳng định rằng, xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng đó

là sự quan tâm, quyết tâm xây dựng nền văn hóa vì chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến

bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Chính vì vậy, Đảng chú trọng đến việc xây dựng đời sống văn hóa vì đây là yếu

tố cốt lõi trong xây dựng nền văn hóa Xây dựng nếp sống văn hóa chính là để

Trang 32

tạo lập yếu tố bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển con người Việt Nam nói riêng

Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định

Ngày 20 tháng 5 năm 2005 Tỉnh ủy chỉ đạo UBND tỉnh tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm sau 5 năm triển khai thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa giai đoạn 2000-2005 và đề ra phương hướng thực hiện cho giai đoạn

2006 – 2010

Từ ngày 21 đến 24/11/2005, Đảng bộ Nam Định đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XVII Nghị quyết Đại hội XVII của Đảng bộ tỉnh Nam Định đã vạch ra phương hướng, nhiệm vụ đối với lĩnh vực văn hóa trong giai đoạn 2006-2010 như sau:

- Về mục tiêu chung:

Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa phát triển văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở; gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chú trọng xây dựng môi trường sống, lối sống và đời sống văn hóa ở cơ sở, cộng đồng dân cư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp, phong phú; bồi dưỡng các tài năng văn hóa, nghệ thuật, khuyến khích các văn nghệ sỹ sáng tạo được nhiều tác phẩm văn hóa, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật [16, tr.40-41]

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVII của Đảng bộ tỉnh Nam Định, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đề ra Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 29/11/2005

về quán triệt, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XVII của Đảng bộ tỉnh và tiếp tục đẩy mạnh phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa từ nay đến 2010, trong đó xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trong giai đoạn 2006 -2010 như sau:

Trang 33

- Về mục tiêu cụ thể:

Đến năm 2010 phấn đấu đạt các chỉ tiêu sau:

+ 100% thôn, làng có nhà văn hóa, 80% làng, thôn, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hóa cấp tỉnh

+ 90% huyện, thị có thư viện khang trang

+ 90% xã, phường, thị trấn có thư viện

+ 100% trưởng ban văn hóa xã có trình độ trung cấp chuyên ngành

+ 90% người dân được tuyên truyền, phổ biến về pháp luật và khoa học – kỹ thuật

+ 50% người dân ở cơ sở tham gia thường xuyên các hoạt động văn hóa, thể thao ở công đồng

- Về nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đời sống văn hóa:

+ Xác định cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của văn hóa và nhân tố con người đối với sự nghiệp CNH – HĐH đất nước

+ Quán triệt, thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Trung ương về cuộc vận động phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa giai đoạn 2006-2010; xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án cụ thể thực hiện phong trào ở từng cấp từ tỉnh đến cơ sở; củng cố, kiện toàn BCĐ các cấp; phân định rõ nhiệm vụ của từng ngành, từng đoàn thể, trách nhiệm của từng thành viên BCĐ; tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn cơ sở thực hiện các nội dung của cuộc vận động đạt kết quả tốt

+ Đổi mới về nội dung, hình thức tuyên truyền theo hướng thiết thực, hiệu quả; thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng, tôn vinh các danh hiệu văn hóa, kịp thời biểu dương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến Tăng cường phối hợp và đẩy mạnh các phong trào quần chúng, đồng thời lồng ghép,

bổ sung nội dung văn hóa vào các phòng trào hiện có của các ban, ngành, đoàn thể để tạo thêm sức mạnh mới

Trang 34

+ Tăng cường công tác quản lí nhà nước trong các lĩnh vực văn hóa, kiên quyết bài trừ, loại bỏ dần các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, hình thành nếp sống văn minh, xây dựng môi trường văn hóa; định hướng các hoạt động văn hóa thể thao phát triển đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

+ Đẩy mạnh việc đầu tư xây dựng các thiết chế phục vụ hoạt động văn hóa thông tin, thể thao từ tỉnh đến cơ sở UBND các cấp chỉ đạo các ngành chức năng về giao đất, hỗ trợ nguồn kinh phí để xây dựng các hạng mục cơ sở vật chất; góp phần thực hiện tốt việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc + Quan tâm, bổ sung, kiện toàn các tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đủ trình độ, năng lực, nhiệt tình, đáp ứng được nhiệm vụ làm công tác văn hóa thể thao từ tỉnh đến cơ sở Triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 05/NQ-CP của Chính phủ đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa – thể thao trên cơ sở huy động các nguồn lực xã hội, phát huy khả năng sáng tạo của nhân dân, tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa đa dạng nhằm đáp ứng không ngừng mức hưởng thụ đời sống tinh thần của nhân dân [80, tr.2]

Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định về đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hóa trong giai đoạn 2006-2010 được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, mục tiêu chung là làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội Đó cũng là con đường xây dựng con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh

đủ sức đề kháng và đẩy lùi các tiêu cực xã hội, đẩy lùi sự xâm nhập của tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ

1.2.2 Chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc

Huyện Mỹ Lộc có bề dày lịch sử văn hiến, với nhiều giá trị đạo đức, tư tưởng, giàu tính nhân văn được bảo tồn trên 137 làng, thôn xóm, khu dân cư

Trang 35

Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá trong những năm qua đã được huyện

Mỹ Lộc đặc biệt coi trọng và trở thành hoạt động thường xuyên có ý nghĩa đối với đời sống của các tầng lớp nhân dân trong huyện

Ngay sau khi tái lập huyện, mặc dù công việc còn rất nhiều khó khăn Huyện uỷ-HĐND-UBND huyện đã xác định xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hoá, làng văn hoá… cần phải khuyến khích và quan tâm chỉ đạo

Từ năm 1998 sau khi có quyết định số 252/QĐ- UB của UBND tỉnh Nam

Hà “Về việc ban hành quy chế, quy ước, tiêu chuẩn nếp sống văn hoá” Đây là

văn bản pháp lý để thực hiện phát động phong trào xây dựng làng văn hoá, xây

dựng nếp sống văn hoá trong cơ quan, trường học, trạm y tế “Thực hiện nếp sống

văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ”

Thực hiện nghị quyết của đại hội Đảng bộ tỉnh XVII (2005), Chỉ thị CT/TU tỉnh Nam Định và thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Mỹ Lộc lần thứ VIII và lần thứ IX, BCĐ phụ trách các xã, cơ quan phối hợp chặt chẽ với các tổ chức như: MTTQ, Hội phụ nữ, hội nông dân, Đoàn thanh niên đã triển khai nhiều chương trình kinh tế xã hội gắn liền với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Vì vậy đã phát huy được sức mạnh chung tạo ra sự chuyển biến về nhận thức, hành động của nhân dân trong huyện

01-Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Huyện Mỹ Lộc lần thứ IX (2005),

đồng thời ngày 20/4/2005 Huyện ủy đã ra Chương trình số 02/CT-HU về xây

dựng đời sống văn hóa ở nông thôn Chương trình đã xác định phương hướng,

nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn Huyện là:

- Xây dựng con người mới có tư tưởng đạo đức, lối sống văn hóa lành mạnh

- Xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh: Xây dựng nếp sống văn minh đô thị, chú trọng văn hóa ứng xử, giao tiếp và đặc biệt xây dựng đạo đức, lối sống văn hóa trong từng gia đình

Cụ thể hóa các chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hóa, làng, xã văn hóa theo từng năm đảm bảo các tiêu chí tỉnh giao theo giai đoạn 2006-2010

Triển khai thực hiện sự nghiệp thể dục thể thao giai đoạn 2006-2010

Trang 36

Triển khai và đẩy mạnh thực hiện Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện Quyết định 252/QĐ-UB và Quyết định 681/QĐ-UB của UBND tỉnh, Chỉ thị số 27/CT-TƯ của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 14CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, huyện phấn đấu: Huyện có nhà thi đấu tập luyện thi đấu đơn giản; mỗi xã, làng có một thiết chế VH-TDTT; trên 70% số gia đình đạt chỉ tiêu gia đình văn hóa; 11 xã, thị trấn có hương ước, quy ước; Huyện có 7 xã, thị trấn được công nhận xã, thị trấn văn hóa và trên 60 Làng văn hóa; hình thành các tụ điểm văn hóa, các trung tâm sinh hoạt văn hóa ở thôn, xóm, làng, tụ điểm dân cư [31,tr 48-49]

- Nâng cao chất lượng đài truyền thanh huyện và các xã, thị trấn để phục vụ tuyên truyền chủ trương chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, những gương người tốt việc tốt, cùng với các hệ thống thông tin tuyên truyền đẩy mạnh tuyên truyền xây dựng gia đình văn hóa, làng, xã văn hóa, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa

Hàng năm tổ chức các hoạt động về văn hóa dân tộc, thể dục – thể thao trong địa bàn (có thi đấu giải) Và tiến tới đưa hoạt động này vào thường xuyên

- Về xây dựng các thể chế và thiết chế văn hóa: Củng cố và hoàn thiện các thể chế văn hóa trong thời gian tới đảm bảo tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và lực lượng những người hoạt động văn hóa nghệ thuật

Nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa có sân chơi, bãi tập, thư viện, tủ sách, Có kế hoạch nâng cấp các cơ sở hạ tầng xuống cấp hoặc hư hỏng Tiếp tục xây mới các thiết chế văn hóa theo kế hoạch của ngành đã được phê duyệt trong địa bàn Huyện

Triển khai cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phát động phong trào “Xã hội hóa các hoạt động văn hóa” bằng các yêu cầu, nội dung cụ thể gắn với phong trào thi đua yêu nước

- Triển khai chương trình về “Xây dựng Làng văn hóa” giai đoạn 2006-2010, sơ kết rút kinh nghiệm các mô hình làng xã văn hóa, gia đình văn hóa, mô hình

Trang 37

cưới, tang, lễ hội, mừng thọ theo yêu cầu của Chỉ thị 01 và Quyết định số 252/QĐ-UB của tỉnh ủy Nam Định

- Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa từng bước xây dựng thể chế văn hóa

và thiết chế văn hóa đồng bộ, hoạt động có hiệu quả: Xây dựng các phương án bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của huyện Quy hoạch tổng thể các di tích lịch sử, văn hóa đã được Bộ Văn hóa và Tỉnh công nhận Có biện pháp quản lý chặt chẽ trong sử dụng, có kế hoạch tôn tạo nhằm giữ gìn các

di tích đó

Tiến hành tổng kiểm tra các di tích đình chùa miếu mạo trên địa bàn huyện; tích cực sưu tầm sắc phong, gia phả để từ đó có kế hoạch hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị các cấp có thẩm quyền công nhận di tích

Tăng cường đầu tư cho văn hóa từ các nguồn chi thường xuyên trong ngân sách; chú ý đầu tư cho các thiết chế văn hóa, thông tin cơ sở, nhất là ở các xã, thị trấn còn gặp nhiều khó khăn Các cán bộ hoạt động văn hóa, thông tin ở các xã, thị trấn cần được bồi dưỡng, đào tạo và có chế độ hợp lý

Những chủ trương lãnh đạo thể hiện trong Chương trình số 03-CT/HU của Huyện ủy đã thể hiện ý thức, nhận thức khá sâu sắc, cụ thể và toàn diện về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhằm xây dựng một đô thị vừa bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, vừa xây dựng, phát triển những yếu tố văn hóa tiên tiến, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH huyện

Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng bộ Huyện về phát triển văn hóa, xây dụng đời sống văn hóa ở nông thôn, Ban Thường vụ Huyện ủy đã có kết luận số 02/KL-HU (năm 2006), giao cho UBND triển khai các các nhiệm vụ xây dựng văn hóa nông thôn bằng chương trình cụ thể, trong đó đảm bảo các mốc thời gian thực hiện các chỉ tiêu về văn hóa và xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở, đặc biệt là việc xây dựng các nhà văn hóa, hương ước, quy ước tại khu dân cư trên địa bàn Huyện Trên cơ sở đó, năm 2007, UBND Huyện đã tạo Chương trình xây dựng và phát triển thiết chế văn hóa thể thao, điểm vui chơi giải trí trên địa bàn Huyện giai đoạn 2007-2010 Trong đó xác định nhiệm vụ trọng tâm của Chương

Trang 38

trình, mục tiêu đến năm 2015 được xây dựng là: tận dụng, sửa chữa 100% các nhà văn hóa, nhà trẻ, nhà kho cũ để làm nhà văn hóa cho các khu dân cư; quy hoạch các địa điểm, khu vui chơi giải trí tại các khu dân cư trên địa bàn; đảm bảo trên 60% khu dân cư, 75% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa; thực hiện đảm bảo các quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ

Những chủ trương về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn thể hiện trong Chỉ thị 01-CT/TU và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII của Đảng bộ tỉnh Nam Định, được tập trung vào một số việc cụ thể: Triển khai phong trào xây dựng làng, xóm, gia đình văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ, xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Những chủ trương xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đó, đánh dấu một bước phát triển về

tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc, trong việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào điều kiện cụ thể của Huyện, đồng thời những chủ trương đó cũng định hướng cho Huyện thực hiện xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2006 đến năm

2010 đạt được những kết quả đáng tự hào so với thời gian trước đó

1.3 Quá trình chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn củaĐảng

bộ huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2006 - 2010

1.3.1 Xây dựng nếp sống văn minh, lối sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ

Việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ là đời sống văn hóa tinh thần, sinh hoạt vật chất và là những hoạt động gắn liền với các phong tục, tâm linh, tín ngưỡng của người Việt Nam từ ngàn đời nay Đó là những nét đẹp của truyền thống dân tộc, song cũng có cả những hủ tục đã ăn sâu vào đời sống nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Mỹ Lộc nói riêng Vì vậy, để xây dựng đời sống văn hóa mới, thực hiện nếp sống văn minh phù hợp với thời đại, mà vẫn giữ vững truyền thống văn hóa dân tộc là một việc rất khó khăn, đòi hỏi phải được tập trung giải quyết của cả hệ thống chính trị và toàn thể quần chúng nhân dân thì mới đạt được kết quả

Trang 39

Quan điểm của Đảng bộ huyện Mỹ Lộc về xây dựng đời sống văn hóa ở

nông thôn: “Xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn, cơ sở là làm cho đơn vị cơ

sở phát triển toàn diện, có đời sống kinh tế vật chất đầy đủ, phong phú, có đời sống văn hóa – tinh thần lành mạnh, văn minh”

Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ theo tinh thần của:

- Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

- Quyết định số 308/2005/QĐ- TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ

- Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng;

- Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;

- Chỉ thị số 01-CT/TU của Tỉnh ủy Nam Định

Đảng bộ huyện đã chỉ đạo vận động quần chúng nhân dân tích cực đăng ký,

ký cam kết thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và mừng thọ; chỉ đạo, hướng dẫn các khu dân cư sửa đổi, bổ sung quy ước, hương ước cho phù hợp với thực tiễn của địa phương gắn với thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa về thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh Mặt khác, tập trung tuyên truyền bằng nhiều kênh thông tin khác nhau nhằm tiếp cận và chuyển tải đến đa dạng các đối tượng thông qua 10 lượt cụm cổ động, 50 lượt băng zôn, 10.000 khẩu hiệu, pa nô, áp phích, 235 buổi tuyên truyền lưu động, 1.348 tin bài đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức khai trương các làng, khu dân cư văn hoá và hàng nghìn buổi giao lưu VHVN, TDTT

- Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới:

Là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, các khu dân cư có đặc điểm rất đa dạng, trong một khu dân cư cũng có nhiều dòng họ, mỗi dòng họ có tập tục riêng,

Trang 40

đặc biệt tập tục cưới hỏi hết sức rườm rà, tốn kém Song được sự quan tâm của huyện ủy vận động nhân dân thực hiện nếp sống mới trong việc cưới hỏi

Từ đó việc cưới hỏi của huyện trong những năm 2006-2010 đã từng bước đi vào

nề nếp, phần lớn các đám cưới được tổ chức trang trọng, tiết kiệm, không phô trương hình thức, không còn các hủ tục thách cưới, ép gả, tảo hôn Tại một số xã của huyện đám cưới không kéo dài quá 1 ngày Tại các làng, thôn, xóm của huyện đám cưới không kéo dài quá 2 ngày Tiệc cưới thay vì ăn uống linh đình hầu như được tổ chức rất đơn giản, hay số cỗ giảm từ 40-50% so với thời gian trước

Từ những động thái tích cực kể trên, trong suốt thời gian từ năm 2006 -

2010 trên địa bàn huyện có tổng số 3.689 đám cưới thì đa phần trong số đó được

tổ chức trang trọng, vui vẻ theo nếp sống văn hóa mới, gọn nhẹ, tiết kiệm, một số địa phương đã vận động nhân dân không hút thuốc lá trong đám cưới, không có tình trạng tảo hôn Đến năm 2010 toàn huyện đã đạt khoảng 85% đám cưới tổ chức theo nếp sống văn hóa

- Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang:

Tổ chức việc tang là thể hiện mối quan hệ tình cảm sâu sắc giữa người sống với người đã mất và cả mối quan hệ giữa những người đang sống, vượt ra ngoài tính huyết thống gia tộc, việc tang còn mang tính xã hội rất sâu sắc

Đảng bộ huyện Mỹ Lộc đã tổ chức triển khai tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện việc tang văn minh theo Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị theo tinh thần: “chu đáo, trang nghiêm, khoa học và tiết kiệm” Khi có người chết, gia đình hoặc thân nhân thực hiện khai tử theo đúng quy định của pháp luật Việc chôn cất người chết phải thực hiện đúng những quy định tại thông tư số 29/BYT-TT ngày 21/10/1971 của Bộ Y tế hướng dẫn về thi hành Điều lệ giữ vệ sinh, bảo vệ sức khỏe của hội đồng Chính phủ, trong đó có các quy định về vệ sinh trong chôn cất và cải táng, những kinh nghiệm dân gian nhưng có cơ sở khoa học trong mai táng để đảm bảo vệ sinh môi trường sống của con người, cần lưu giữ

Ngày đăng: 06/02/2021, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Minh Anh (2012), Việc hiếu sao cho đúng, Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc hiếu sao cho đúng
Tác giả: Minh Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
5. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X, Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 26-NQ/TW về "“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
12. Bộ Văn hóa – Thông tin, Quyết định số 2238/2007/QĐ-BVHTT ngày 12/7/2007 Phê duyệt Dự án “Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa - thông tin cơ sở các tỉnh miền núi, trung du và đồng bằng Bắc Bộ đến năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Dự án “Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa - thông tin cơ sở các tỉnh miền núi, trung du và đồng bằng Bắc Bộ đến năm 2010
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
17. Tống Văn Chung (2011), Giáo trình Cơ sở xã hội học nông thôn Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cơ sở xã hội học nông thôn Việt Nam
Tác giả: Tống Văn Chung
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
18. Kiều Khắc Dƣ (2013), Quyển Tài liệu hướng dẫn tổ chức sinh hoạt CLB, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn tổ chức sinh hoạt CLB
Tác giả: Kiều Khắc Dƣ
Năm: 2013
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
20. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 (2013), Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (2002), Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết Đại hội VIII (tháng 6/1996), Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội VIII (tháng 6/1996)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa VIII) (tháng 7/1998) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Nghị quyết Hội nghị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, 7-2004, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, 7-2004
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
29. Nguyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Năm: 2001
30. Phan Hồng Giang chủ biên (2005), Chương trình khoa học – công nghệ cấp Nhà nước KX.05, Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và Sông Cửu Long, Nxb Văn hóa – Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và Sông Cửu Long
Tác giả: Phan Hồng Giang chủ biên
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2005
31. Hà Văn Tăng (2012), Cưới theo đời sống mới, Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cưới theo đời sống mới
Tác giả: Hà Văn Tăng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
32. Hà Văn Tăng (2009), Sổ tay xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Tác giả: Hà Văn Tăng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm