1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cổ phần hóa, Doanh nghiệp nhà nước, Kinh tế doanh nghiệp

141 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề lý luận về công ty cổ phần và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Từ nửa cuối thế kỉ XIX trong lòng chủ nghĩa tư bản với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đang thống

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THU BĂNG

HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN

HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn: PGS.TS Vũ Hồng Tiến

Hà nội - 2008

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ Ở VIỆT NAM 8

1.1 Một số vấn đề lý luận về công ty cổ phần và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 8

1.2 Tình hình doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trước cổ phần hóa 17 1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước 17

1.2.2 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trước cổ phần hóa 20

1.3 Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta 25

1.3.1 Cơ sơ lý luận và thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 25

1.3.2 Quá trình hoàn thiện quan điểm của Đảng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta 31

1.3.3 Quá trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta 36

1.4 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa 49 1.4.1 Những thành tựu đã đạt được 49

1.4.2 Những hạn chế của doanh nghiệp nhà nước và nguyên nhân của nó 55

1.4.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở nước ta 63

1.5 Những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở nước ta 68

1.5.1 Nhận thức về mô hình doanh nghiệp cổ phần hoá 68

1.5.2 Doanh nghiệp cổ phần và môi trường hoạt động 71

1.5.3 Quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hoá 75

Chương 2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM 86

2.1 Phương hướng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần

Trang 3

2.1.1 Đảm bảo sự vận hành có hiệu quả của bộ máy quản lý và điều hành của doanh nghiệp cổ phần 86 2.1.2 Giải quyết các vấn đề liên quan đến cổ đông trong doanh nghiệp cổ phần 87 2.1.3 Tiếp tục cải thiện môi trường hoạt động của công ty cổ phần 89 2.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trong thời gian tới ở Việt Nam 90 2.2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trong thời gian tới ở Việt Nam 90 2.2.2 Những giải pháp vi mô nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong thời gian tới 104

KẾT LUẬN 128 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130Phụ lục: DANH MỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN TỚI SẮP XẾP LẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 136

Trang 4

BẢNG QUY ƢỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), nước ta đã chuyển

từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, trên lĩnh vực kinh tế, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương về sắp xếp và đổi mới các DNNN Hàng loạt các giải pháp đã được tiến hành, trong đó có giải pháp chuyển đổi một số DNNN thành CTCP hay CPH các DNNN Đây được coi là trọng tâm của quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN ở Việt Nam Vai trò của CPH DNNN đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn, là nhân tố thúc đẩy phát triển của kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh hội nhập

kinh tế quốc tế của Việt Nam

Quá trình thực hiện CPH DNNN đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương sắp xếp, đổi mới DNNN của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, tốc độ CPH DNNN còn chậm so với yêu cầu đặt ra; bên cạnh những chuyển biến tích cực trong tổ chức hoạt động sản xuất - kinh doanh của công ty cổ phần, cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề vướng mắc cần tháo gỡ

Có những vấn đề mới phát sinh, nếu không giải quyết kịp thời, sẽ ảnh hưởng không chỉ đến các DNNN đã CPH mà còn ảnh hưởng đến tiến trình CPH những DNNN còn lại Thực tiễn đang đòi hỏi Đảng và Nhà nước nói chung, bộ, ngành, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế nói riêng tập trung công sức, trí tuệ để nâng cao chất lượng hoạt động của DNNN sau CPH Do

Trang 6

đó “Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở nước ta hiện nay” được chọn làm đề tài của luận văn này

2 Tình hình nghiên cứu

Tuy Việt Nam tiến hành thí điểm CPH DNNN từ năm 1992, nhưng hiện nay nó vẫn mang tính thời sự Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề CPH DNNN Như: “Cơ sở khoa học của việc chuyển một số DNNN thành CTCP ở Việt Nam”- Chương trình khoa học cấp Nhà nước mã

số KX 03.07.05 do Bộ Tài chính chủ trì năm 1993; “CTCP và chuyển DNNN thành CTCP”- Sách chuyên khảo do PTS Đoàn Văn Hạnh biên soạn, NXB Thống kê, Hà Nội, 1998; “Tiến trình và triển vọng CPH DNNN ở Việt Nam” tác giả Trần Công Bảng đăng trên Tạp trí Kinh tế phát triển tháng 3/1998;

“Thách thức và triển vọng đối với DNNN khi chuyển sang hoạt động theo luật DN (năm 2005)” của tác giả Hồ Xuân Hùng đăng trên Tạp Chí Cộng Sản tháng 7/2006; “Đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN ở nước ta”- Luận văn thạc sĩ của Đặng Ngọc Hiếu, 2006 Những công trình nghiên cứu đó tuy đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của quá trình CPH DNNN, nhưng tập trung nghiên cứu về tiến trình CPH DNNN; hoặc mang tính tổng kết theo giai đoạn của tiến trình CPH Có rất ít công trình nghiên cứu, tổng kết những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó ở DNNN sau CPH, nhất là những vấn đề kinh tế,

xã hội đặt ra cho DNNN đã thực hiện CPH ở nước ta hiện nay Trên cơ sở kế thừa những thành tựu khoa học của các công trình nghiên cứu trước đây, luận văn tập trung làm rõ triển vọng và những vấn đề đặt ra đối với DNNN sau CPH Từ đó, luận văn đề xuất những phương hướng; giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DNNN sau CPH ở nước ta

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích của luận văn:

Trang 7

Khái quát những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra của DNNN trong và sau khi CPH; trên cơ sở đó luận giải những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN sau CPH ở nước ta hiện nay

* Nhiệm vụ của luận văn:

- Đánh giá những thành tựu và hạn chế của DNNN sau CPH ở nước ta trong những năm qua

- Đề xuất những phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN sau CPH ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Quán triệt những vấn đề lý luận và thực tiễn; những vấn đề kinh tế và

tổ chức, để nghiên cứu, phân tích dưới góc độ kinh tế chính trị học hoạt động của DNNN trong quá trình CPH Đồng thời đề tài tập trung chủ yếu vào việc phân tích hoạt động của DNNN sau CPH ở nước ta hiện nay để đề xuất những phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của DNNN sau CPH ở nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và những phương pháp đặc trưng của kinh tế chính trị học như phương pháp trừu tượng hóa khoa học, lôgíc kết hợp với lịch sử, phân tích và tổng hợp để thực hiện những nhiệm vụ của đề tài đặt ra

Phạm vi nghiên cứu của đề tài khá rộng, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về CPH DNNN, các vấn đề nghiên cứu phức tạp, trong khi khảo sát, nghiên cứu thực tế, luận văn sử dụng các phương pháp như: phương pháp điều tra thống kê - so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp

Trang 8

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Chương 1: Những thành tựu và hạn chế của các doanh nghiệp nhà nước

và quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam

Chương 2: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt

động của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam

Trang 9

Chương 1 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ QUẤ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM

1.1 Một số vấn đề lý luận về công ty cổ phần và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Từ nửa cuối thế kỉ XIX trong lòng chủ nghĩa tư bản với chế độ sở hữu

tư nhân về tư liệu sản xuất đang thống trị đã bắt đầu xuất hiện một loại hình xí nghiệp mới - xí nghiệp cổ phần hay công ty cổ phần, mà sở hữu trong đó là của các cổ đông

Trong tập III Bộ “ Tư bản” [37] Mác và Ăng-ghen đã tiên đoán về hai khuynh hướng quan trọng của sự xuất hiện các công ty cổ phần trong xã hội

tư sản :

Thứ nhất, dưới chủ nghĩa tư bản, C.Mác chỉ ra rằng công ty cổ phần ra

đời là sự manh nha của một hình thức sản xuất mới, sẽ đưa đến việc lập ra chế

độ độc quyền và đưa đến sự can thiệp của nhà nước tư sản Khi xuất bản tác phẩm này (1894) Ph Ăng-ghen có bổ sung thêm một số ý như: Các-ten ra đời xoá bỏ tự do cạnh tranh Trong một số ngành mà trình độ sản xuất cho phép làm được, người ta đi đến tập hợp toàn bộ sản xuất của ngành đó vào một công ty cổ phần lớn duy nhất có một sự lãnh đạo thống nhất ( ví dụ, sản xuất a-mô-ni-ắc của cả nước Anh vào tay một hãng duy nhất, tư bản lưu động được đưa ra mời công chúng góp) Chính trong quá trình này sẽ phát sinh ra một loại ăn bám mới,- “quí tộc tài chính” mới và cả một hệ thống “lừa đảo” và

“bịp bợm” về việc sáng lập, phát hành và buôn bán cổ phiếu

Sự xuất hiện công ty cổ phần lần đầu tiên trong lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm cho quyền sở hữu tư bản hoàn toàn tách rời

Trang 10

với chức năng của tư bản trong quá trình tái sản xuất thực tế Tiền công lao động của người quản lý cộng với lợi nhuận doanh nghiệp về tay nhà tư bản cổ phần, tức là các cổ đông, được thu về dưới dạng lợi tức cổ phần.Thực chất đây là tiền thù lao trả cho quyền sở hữu tư bản, biến những người sở hữu tư bản thành những người sở hữu thuần tuý, nghĩa là những nhà tư bản - tiền tệ thuần tuý Những đặc điểm cổ điển của nhà tư bản đã được biến đổi thành một người chỉ giản đơn điều khiển và quản lý tư bản của những người khác

Thứ hai, xuất hiện những tiền đề thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu

tư nhân ở ngay trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Các công ty cổ phần là điểm quá độ để biến tất cả các chức năng của quá trình tái sản xuất hiện còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản đơn giản thành những chức năng của những người sản xuất liên hiệp, tức là thành những chức năng xã hội Công ty cổ phần ra đời là sự thủ tiêu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngay trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở đó, xuất hiện mâu thuẫn tự nó lại thủ tiêu nó và đây chính là giai đoạn quá độ sang một phương thức sản xuất mới: “ một phương thức sản xuất mới này phải nảy ra và phát triển trên cơ sở một phương thức sản xuất cũ”[38]

Theo C.Mác, chính bản thân những công ty cổ phần của công nhân như là một loại nhà máy hợp tác, và đây chính là một lỗ thủng đầu tiên trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa Sự đối kháng giữa lao động làm thuê và chủ tư bản đã được xoá bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó; mặc dầu ban đầu nó chỉ được xóa bỏ bằng cách biến những người lao động liên hiệp thành những “nhà tư bản” với chính bản thân mình Nghĩa là cho họ“ có thể dùng tư liệu sản xuất để bóc lột lao động của chính họ”

Thực chất của quá trình hình thành các công ty cổ phần là sản

Trang 11

liệu sản xuất này sẽ không còn là tư liệu và sản phẩm của nền sản xuất tư nhân nữa, mà sẽ chỉ có thể là tư liệu sản xuất trong tay những người sản xuất liên hiệp, tức là chỉ có thể là sở hữu xã hội của họ, cũng như chúng là sản xuất

xã hội của họ

C Mác đã nhận xét: "Trong các CTCP, chức năng tư bản tách rời quyền sở hữu tư bản; và do đó lao động cũng vậy, nó hoàn toàn tách rời với quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và về lao động thặng dư Đó là kết quả của

sự phát triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyển thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách là sở hữu của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp" [38, tr.668]

Cả hai khuynh hướng trên, tức là những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, cũng như những nhà máy hợp tác, theo C.Mác, đều phải được coi là những hình thái qua độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể Nhưng điểm khác nhau căn bản giữa hai khuynh hướng trên là trong xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn được giải quyết một cách tiêu cực, còn trong những nhà máy hợp tác, mâu thuẫn được giải quyết một cách tích cực

Thời đó, C.Mác cũng đã đề cập đến các xí nghiệp của các nhà nước tư

sản cũng có thể trở thành các công ty cổ phần để tăng thêm quy mô sản xuất của chúng Vì rằng, công ty cổ phần ra đời đã làm cho quy mô sản xuất có thể được tăng lên, mở rộng một cách to lớn, đến nỗi những tư bản riêng lẻ không thể làm nổi Ngay cả những xí nghiệp của nhà nước (của chính phủ) cũng được tổ chức thành công ty cổ phần, tham gia vào công ty cổ phần

Trong quá trình phát triển lịch sử của chủ nghĩa tư bản, do những điều

Trang 12

tại của chủ nghĩa tư bản trên thế giới nên khuynh hướng thứ nhất đã trở nên mạnh mẽ hơn Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh đã chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc

Ở các tác phẩm V.I.Lê-nin, các hình thức của công ty cổ phần ít được bàn đến, ngay cả trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới Quá trình này, V.I.Lê-nin đã đề cập rất nhiều đến CNTB độc quyền Nhà nước và sự vận dụng sáng tạo trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước Nga (thành phần kinh tế CNTB nhà nước) Trong đó, V.I.Lê-nin cho rằng, việc nhà nước Xô-viết có thể chỉ cần nắm khoảng 25% cổ phần là có thể chi phối được các cổ đông tư nhân khác trong các xí nghiệp thuộc thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản Nhà nước Một luận điểm rất đáng lưu ý của V.I.Lê-nin những năm 20 của thế kỷ XX về các hình thức hợp tác xã được thể hiện trong tác phẩm “Bàn

về chế độ hợp tác xã” là dưới CNTB tư nhân, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp TBCN, cũng như xí nghiệp tập thể khác với xí nghiệp tư nhân Dưới CNTB Nhà nước, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp TB Nhà nước, trước hết ở chỗ nó là xí nghiệp tư nhân, sau nữa ở chỗ nó là xí nghiệp tập thể Dưới chế độ hiện nay của chúng ta, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp

TB tư nhân ở chỗ nó là xí nghiệp tập thể, nhưng nó không khác với xí nghiệp XHCN, nếu miếng đất trên đó nó được xây dựng và những tư liệu sản xuất đều thuộc về Nhà nước, nghĩa là về giai cấp công nhân [39]

Như vậy, chứng tỏ sự xuất hiện công ty cổ phần về mặt lịch sử là bước tiến từ sở hữu tư nhân lên sở hữu tập thể của các cổ đông Còn ở nước ta, việc thiết lập mới các công ty cổ phần hay Cổ phần hoá một số doanh nghiệp Nhà nước hiện nay không phải là tư nhân hoá mà là sự hình thành các doanh nghiệp đa sở hữu cho mọi thành phần kinh tế có thể tham gia, hợp tác cùng chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro thị trường và cùng hưởng lợi trong điều

Trang 13

Ở nước ta, ngoài quá trình hình thành các công ty cổ phần từ những cổ đông là các chủ sở hữu vốn tư nhân lập nên theo Luật Doanh nghiệp, thì quá trình Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước, - một bộ phận rất quan trọng các công ty cổ phần được hình thành từ những Doanh nghiệp Nhà nước có chế độ

sở hữu của toàn dân mà người đại diện cho chủ sở hữu toàn dân đó là Nhà nước

Chủ trương của Đảng về việc triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước từ ĐHVIII của Đảng đã khẳng định

cổ phần hoá “…không phải để tư nhân hoá” Thế nhưng, chính sự khác nhau

về quá trình dẫn đến sự hình thành các Công ty cổ phần theo trình tự khách quan và trong thực tiễn cải cách doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đã làm cho

không ít người (kể cả trong và ngoài nước) lầm tưởng rằng, cổ phần hoá

doanh nghiệp Nhà nước là tư nhân hoá Những nhận thức như vậy, cùng với

những vướng mắc và thiếu sót, lệch lạc trong quá trình cổ phần hoá đang có tác động không thuận đến quá trình tiến hành cổ phần hoá trên thực tế với các biểu hiện như sau:

Việc bán cổ phần thiếu công khai, minh bạch còn khép kín trong nội bộ doanh nghiệp ở một số trường hợp đã dẫn tới những yếu kém của doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa và chậm được khắc phục

Chần chừ không muốn cổ phần hoá để cố trì hoãn sự tồn tại của doanh nghiệp Nhà nước với mục đích đeo bám lấy “bầu sữa” của bao cấp, không dám nghĩ, dám làm, mặc dù hiệu quả hoạt động thấp, kéo dài nhiều năm

Không ít cán bộ cấp trên sợ mất quyền quản lý đối với doanh nghiệp trực thuộc, vì gắn với nó là lợi ích cá nhân, cục bộ

Trang 14

Tìm cách đánh giá sai, thiếu công tâm, khách quan giá trị thực với số tài sản có của Doanh nghiệp Nhà nước thuộc diện cổ phần hoá theo hướng có lợi cho một số cá nhân

Khi tiến hành cổ phần hoá xong, tìm mọi cách để thôn tính dần số cổ phiếu của cổ đông là Nhà nước, mua gom số cổ phiếu khác dưới nhiều thủ đoạn rất tinh vi dẫn đến thâu tóm quyền lực, thao túng công ty cổ phần dưới nhiều hình thức

Lo ngại rằng sau khi công nhân được bán ưu đãi cổ phiếu sẽ đem bán

cổ phiếu cho những người đầu cơ cổ phiếu

Lo sợ các công ty, các nhà tư bản nước ngoài đầu cơ cổ phiếu để thao túng doanh nghiệp cổ phần hoá mà không hiểu rằng, chỉ có một số doanh nghiệp Nhà nước khi được đưa vào thực hiện cổ phần hoá, thì trong đó cũng

đã quy định một lượng cổ phiếu nhất định được bán ra bên ngoài và khống chế tỷ lệ phần trăm cổ phiếu tối đa của một cổ đông được quyền nắm giữ với mục đích là để huy động thêm vốn, công nghệ và kĩ thuật quản lý sản xuất, kinh doanh, thị trường

Lo ngại cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ dẫn đến “chệch hướng”,

mà không nhận thức được rằng, nếu không có giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh tốc độ phát triển của đất nước thì tụt hậu xa hơn về kinh tế cũng là một nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Những biểu hiện trên không phải không có cơ sở, nhưng không thể vì những lo ngại đó và vì những lợi ích cục bộ mà chần chừ thiếu kiên quyết

“đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá và mở rộng diện các doanh nghiệp Nhà nước cần cổ phần hoá” như nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khoá IX) và chỉ thị 45/ CT - TW của Đảng đã chỉ rõ Cần khẳng định rằng trong điều kiện Đảng

Trang 15

là tư nhân hoá.Tuy nhiên, chúng ta cần tăng cường chỉ, đạo kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm quá trình cổ phần hoá vừa qua, uốn nắn kịp thời những lệch lạc, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước

Mặt khác, phải thấy rằng quá trình CPH một số DNNN ở nước ta, tuy

là quá trình chuyển đổi một bộ phận thuộc sở hữu xã hội, sở hữu toàn dân thành đa sở hữu, nhưng về bản chất đây là một nội dung quan trọng của quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất) Cụ thể là tìm tòi hình thức quản trị CTCP vừa phát huy quyền lợi thiết thân và trách nhiệm đầy đủ của người lao động, cổ đông, hội đồng quản trị của công ty cổ phần vừa bảo đảm quản lý một cách dân chủ, nâng cao hiệu quả sử dụng những tài sản của doanh nghiệp, trong đó có một phần đáng kể hay cổ phần chi phối sở hữu nhà nước

Từ sở hữu của của một chủ sở hữu là nhà nước đối với tài sản của doanh nghiệp sau khi chuyển sang CTCP thì chuyển thành hình thức đa sở hữu, nhưng tựu chung cũng chỉ có một số hình thức cụ thể như sau:

Các hình thức cổ phần hóa trong đó nhà nước đều có tham gia cổ phần, như giữ nguyên giá trị của doanh nghiệp, kêu gọi thêm vốn bằng cách phát hành cổ phiếu; hoặc vừa bán một phần vốn vừa phát hành thêm cổ phiếu;

Bán một phần tài sản của doanh nghiệp dưới hình thức bán cổ phiếu; CPH một bộ phận của doanh nghiệp tuỳ theo đặc thù của quy trình công nghệ, CPH một công ty hoặc một tổng công ty

Các hình thức cổ phần hóa nêu trên đều có tỷ trọng sở hữu của nhà nước hoặc là nhà nước nắm giữ cổ phiếu không chế (tối thiểu 51%) hoặc không nắm giữ cổ phiếu khống chế, hoặc không cần nắm giữ cổ phần

Trang 16

Loại hình doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước lấy lại toàn bộ vốn bằng cách bán toàn bộ doanh nghiệp cho người lao động

Chúng ta biết rằng dù dưới hình thức nào khi chuyển sang công ty cổ phần là tạo ra các doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó người lao động có sở hữu thực sự, từ đó tạo ra quyền làm chủ đích thực của họ đối với doanh nghiệp Khi có lợi ích thiết thân của chính họ, sự giám sát tập thể đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được tăng cường và chính quá trình này cũng tạo ra cơ chế phân phối hài hoà giữa nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Trên cơ sở đó hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ có điều kiện nâng dần lên Trong tương lai sở hữu cổ phần sẽ trở thành phổ biến trong xã hội, thì vai trò làm chủ của người lao động dưới hình thức “tham dự”

cổ phiểu đối với sở hữu xã hội về vốn và tư liệu sản xuất, hi vọng, sẽ khắc phục được những hạn chế của hình thức sở hữu toàn dân theo kiểu “vô chủ” như đã từng diễn ra

Như vậy, về mặt lý luận, chúng ta có thể chứng minh được rằng nội dung và bản chất quá trình cổ phần hoá ở nước ta không phải là tư nhân hoá Riêng hình thức thứ tư, bán toàn bộ tài sản doanh nghiệp, ý kiến cho đây là tư nhân hóa dựa vào mấy lý do sau: Trước hết, về mặt hình thức là bán toàn bộ tài sản nhà nước cho cá nhân; tiếp theo là giả sử người lao động nắm cổ phần rồi nhưng sau một thời gian do quá trình trao đổi tích tụ, đầu cơ trên thị trường chứng khoán nên số cổ phiếu ấy có thể sẽ dồn lại cho một số ít các cá nhân Điều lo ngại đó là chính đáng, nhưng cũng phải thấy rằng, trong kinh tế thị trường quyền bán là có thể quy định được bằng các văn bản pháp luật, nhưng giá trị của cổ phiếu lại hoàn toàn lệ thuộc vào hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần, nó có thể lên đến hàng trăm lần giá giao dịch ban đầu, nhưng cũng có thể chỉ còn là một mớ “giấy lộn” nếu doanh nghiệp tiếp tục hoạt động

Trang 17

Tinh thần chỉ đạo của các Nghị quyết Hội nghị TW 3 và 9 (Khoá IX) cũng như hoạch định chính sách, những vấn đề nêu lên trong quá trình cổ phần hoá đã được lường trước và đã tính đến việc làm sao dành một phần vốn của Nhà nước để lại cho doanh nghiệp trong quá trình bán nhằm tạo ra một lượng cổ phiếu không chia dành cho người lao động (nghĩa là vốn Nhà nước nhưng được hưởng cổ tức)…

Theo đó Nhà nước giành 30% tài sản của doanh nghiệp để hình thành các cổ phần ưu đãi cho người lao động Điều này trong thực tế hiện nay các doanh nghiệp được cổ phần hoá thì tỷ lệ đó thậm chí còn cao hơn khi tạo ra các cổ phiếu không chia

Như vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chính là tạo điều kiện cho Nhà nước tập trung nắm những ngành, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, cũng như những lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân không thể hoạt động hiệu quả được Và như vậy, bán toàn bộ tài sản chỉ được áp dụng đối với những ngành, những lĩnh vực, những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ Nhà nước bán doanh nghiệp là nhằm thu hồi vốn về cho Nhà nước Quan điểm khi thực hiện cổ phần hoá là lĩnh vực nào các thành phần kinh tế khác có khả năng đem lại hiệu quả cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn thì mạnh dạn thực hiện bởi Đảng ta coi các thành phần kinh tế đều là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế nhiều thành phần là để không ngừng nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các thành phần kinh tế, tạo môi trường kinh doanh, - sân chơi do Nhà nước tạo ra, bảo đảm sự bình đẳng trong cạnh tranh để đạt được hiệu quả cao, phát triển nhanh và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Việc phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước chính là để bảo

Trang 18

tế quốc dân Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (Khoá IX) nêu rõ: “Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa,

ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước” Bởi vậy, có thể nói, gấp rút nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của chính bản thân doanh nghiệp Nhà nước là để góp phần thực hiện tốt mục tiêu trên Những biện pháp, giải pháp mà Trung ương đã đề ra có chung một mục tiêu như vậy Chương trình hành động của Chính phủ, các đề án sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước của các ngành, các địa phương đã đưa ra lộ trình cụ thể Hy vọng rằng tới đây cùng với việc thực hiện thành công 104 đề án sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước; cũng như rà soát và xem xét các lĩnh vực mà doanh nghiệp Nhà nước cần nắm giữ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (Khoá IX) của Đảng và Quyết định số 155QĐ/TTg ngày 24/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương sẽ tạo điều kiện tốt hơn để các doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh cùng với khả năng hội nhập kinh tế quốc tế

1.2 Tình hình doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trước cổ phần hóa

1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước

Mọi nhà nước đều có chức năng kinh tế Chức năng này được thực hiện

ở mức độ khác nhau, tuỳ theo giai đoạn phát triển Nhìn chung, chức năng kinh tế của nhà nước luôn gắn liền và thể hiện qua các hoạt động kinh tế của Nhà nước trên cơ sở tiềm lực vật chất của Nhà nước Nhà nước cần có lực lượng vật chất mạnh trong tay để điều tiết sự phát triển của toàn bộ nền kinh

tế, làm cho nền kinh tế phát triển theo hướng đã định DNNN là một lực lượng có vai trò, vị trí rất quan trọng của Nhà nước để thực hiện sự điều tiết

Trang 19

Trên thế giới, quan niệm về DNNN cũng rất khác nhau Hiện nay, nhiều nhà kinh tế trên thế giới quan niệm rằng, DNNN là thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ mà phần lớn thu nhập của nó được tạo ra thông qua việc bán các hàng hoá và dịch vụ

Trong điều kiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, DNNN ở Việt Nam- được gọi là DN quốc doanh, chiếm vai trò độc tôn trong nền kinh tế Đây là

DN hạch toán kinh tế theo nguyên tắc “bao cấp” Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, việc cải cách, đổi mới cơ chế đối với DNNN luôn

là vấn đề trọng tâm Kết quả là các DNNN không những thay đổi về nguyên tắc hỗ trợ, cơ chế và hạch toán mà còn thay đổi cả cơ cấu sở hữu, phát triển một số hình thức đan xen sở hữu mới Do vậy, Luật DNNN ban hành ngày 30/4/1995, lần đầu tiên Việt Nam đã đưa ra khái niệm có tính pháp lý về

DNNN là: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ

chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao DNNN có tư cách pháp nhân,

có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản lý

Luật Doanh nghiệp nhà nước (năm 2003) định nghĩa: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có

cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn [43]

Luật Doanh nghiệp (năm 2005) áp dụng chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, định nghĩa DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Trong số nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc sự điều tiết của Luật Doanh nghiệp thì Doanh nghiệp nhà

Trang 20

Xét về mặt lịch sử, khái niệm về DNNN đã có nhiều thay đổi Quá trình hình thành và phát triển DNNN ở Việt Nam từ khi giành được độc lập ở miền Bắc năm 1954 và thống nhất đất nước năm 1975 cho đến thời kỳ trước đổi mới, gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng CNXH theo mô hình kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp Đầu tiên, các DNNN được hình thành từ việc quốc hữu hoá các xí nghiệp tư bản tư nhân hoặc tiếp quản các DN của chính quyền cũ để lại Một số DN trong quá trình cải tạo XHCN theo mô hình công - tư hợp doanh, mặc dù không được quốc hữu hoá trực tiếp bằng pháp lý, nhưng trên thực tế do áp đặt cơ chế kiểu quốc doanh dần dần cũng bị biến thành DNNN Tuy nhiên, số lượng các DNNN loại này không nhiều và trên thực tế sau khi trở thành DNNN đã được Nhà nước tiếp tục đầu tư phát triển mạnh về quy mô Loại thứ hai được hình thành do Nhà nước đầu tư trực tiếp từ ngân sách nhà nước hoặc vốn viện trợ xây dựng mới Các DNNN thuộc lĩnh vực này dần dần chiếm lĩnh các ngành kinh tế công nghiệp và dịch vụ quan trọng Các DNNN thuộc lĩnh vực công nghiệp này sử dụng công nghệ và thiết bị chủ yếu là ngoại nhập (chủ yếu từ hệ thống các nước XHCN (cũ), nhất là Liên Xô (cũ) và Trung Quốc) Trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, các DNNN được thành lập ở các địa bàn ít dân cư, cần khai thác tài nguyên đất, rừng với các ngành nghề khác nhau, chủ yếu là trồng và khai thác gỗ, các cây công nghiệp dài ngày Các DNNN do chính quyền địa phương đầu tư vào giữa thập kỷ 80 thế kỷ XX, chủ yếu thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ, cơ khí sửa chữa, hầu hết có quy mô nhỏ, năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động không cao

Nhìn chung, đến năm 1990, với 12.084 DNNN chiếm giữ hầu như toàn

bộ các ngành công nghiệp: năng lượng như điện lực, dầu khí,…; khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy, dược phẩm, sản xuất xi măng, phân bón, thuốc trừ

Trang 21

hàng tiêu dùng thiết yếu, DNNN cũng chiếm tỷ lệ áp đảo, như vải: 70%, giấy: 85%, xe đạp: 70%, xà phòng: 60% Các ngành xây dựng, vận tải gồm hàng không, đường sắt, đường biển, xuất nhập khẩu,… DNNN chiếm tuyệt đối (độc quyền)

1.2.2 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trước cổ phần hóa

1.2.2.1 Kinh tế nhà nước là lực lượng mạnh và nắm giữ những khâu then chốt trong nền kinh tế quốc dân

Tuy hệ thống DNNN có sự thu gọn đầu mối, nhưng tốc độ tăng trưởng của nó vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế quốc dân và cao hơn tốc độ của khu vực tư nhân (không kể khu vực đầu tư nước ngoài) DNNN cũng thể hiện được vị trí tiên phong ở các lĩnh vực kết cấu hạ tầng, đầu tư mới, xuất nhập khẩu, hợp tác với nước ngoài,… và có đóng góp lớn vào thành công của Việt Nam trong kiểm soát lạm phát, đối phó với ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính, tiền tệ thế giới cũng như nâng cao mức sống cho người dân Thông qua đầu tư của Nhà nước vào các vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng đồng bào dễ bị tổn thương do thiên tai, dịch bệnh đã tạo được điều kiện mở mang ngành nghề, nâng cao thu nhập, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bố lại dân cư theo hướng CNH, HĐH, thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, từng bước hình thành các vùng nông thôn kiểu mới Có nhiều DNNN làm ăn có lãi, đạt lợi nhuận cao, được suy tôn là đơn vị anh hùng thời

kỳ đổi mới, thực sự là tấm gương cho các thành phần kinh tế khác Kinh tế Nhà nước luôn được đánh giá là nền tảng cho công cuộc đổi mới của nước ta

1.2.2.2 Những yếu kém và bất cập của khu vực kinh tế nhà nước

Một là, năng lực cạnh tranh, hiệu quả chung của khu vực kinh tế nhà

nước chưa cao, thậm chí còn xuất hiện xu hướng giảm Có nhiều ngành, sản

Trang 22

phẩm của DNNN đang được ưu đãi độc quyền, hoặc bảo hộ qua hàng rào thuế quan, trợ cấp như ưu đãi tín dụng, miễn thuế… nhưng các DNNN vẫn chưa chứng tỏ khả năng cạnh tranh của mình, thậm chí nhiều DN còn “nỗ lực” vận động Nhà nước tăng cường các biện pháp bảo hộ mạnh hơn để duy trì việc làm cho công nhân và thị phần Theo một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2000, các mặt hàng như sắt thép, phân bón, kính xây dựng, động cơ nổ… đều được bảo hộ bằng cả công cụ thuế quan và phi thuế quan dẫn đến giá trên thị trường Việt Nam cao hơn giá quốc tế 10-50% (tuỳ mặt hàng) Việt Nam đang tăng tốc hội nhập kinh tế quốc tế, khả năng cạnh tranh kém của nhiều DNNN dẫn đến việc Nhà nước phải chi phí rất lớn để nhằm duy trì các DNNN

Tình trạng không hiệu quả của không ít DNNN đã làm cho vốn của Nhà nước không những sử dụng không hiệu quả mà còn bị thất thoát, làm xuất hiện những ấn tượng không tốt về khu vực kinh tế này trong công luận Theo một báo cáo của Ban sắp xếp, đổi mới DNNN tháng 2/2000 cho thấy về hiệu quả sử dụng vốn của DNNN có xu hướng giảm, cụ thể: năm 1995, một đồng vốn tạo ra được 3,46 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận; đến năm

1998, các con số tương ứng chỉ còn 2,9 và 0,14 Năm 1998, trong ngành công nghiệp, một đồng vốn chỉ làm ra được 0,024 đồng lợi nhuận; số DN bị lỗ trong ngành thương mại, dịch vụ, du lịch, khách sạn chiếm tới 41% Công nợ trong DNNN rất lớn: nợ phải thu chiếm tới trên 60% và nợ phải trả bằng 124% vốn Nhà nước trong DN, trong đó tỷ lệ nợ quá hạn hoặc khó đòi chiếm

tỷ lệ lớn Những DN này thường do địa phương quản lý Mặc dù tình hình tài chính của các DN như vậy, nhưng Nhà nước vẫn phải thường xuyên dành tiền

hỗ trợ cho DNNN Chỉ tính riêng trong 3 năm 1997-1999, ngân sách Nhà nước đã đầu tư cho các DN gần 8.000 tỷ đồng, trong đó có 6.482 tỷ đồng cấp

Trang 23

giảm thuế 2.288 tỷ đồng, xoá nợ 1.088 tỷ đồng, khoanh nợ 3.392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, cho vay vốn tín dụng ưu đãi 8.685 tỷ đồng

Ngoài ra, theo số liệu của Bộ Tài chính năm 1997, trong tổng số 5.429 DNNN thì số kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm 40,44%, việc hỗ trợ vốn của Nhà nước không mang lại hiệu quả như mong muốn Số nộp vào ngân sách nhà nước ít hơn phần Nhà nước hỗ trợ cho DN Tình trạng không hiệu quả của DNNN làm gia tăng tính an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính, bởi vì các DNNN là các khách hàng vay chủ yếu của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh

Hai là, cơ cấu của kinh tế Nhà nước bất hợp lý, chưa thể hiện rõ là hạt

nhân của quá trình CNH, HĐH Cơ cấu ngành, vùng, quy mô đều chưa được chuyển dịch theo đúng định hướng Xét về số lượng, tỷ trọng DNNN ở khu vực nông nghiệp chiếm 25%; thương mại, dịch vụ chiếm 40%, còn lại là công nghiệp Như vậy, rõ ràng cơ cấu này bất hợp lý, vì cơ cấu hợp lý đòi hỏi DNNN chủ yếu phải tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo Cơ cấu cấp cũng bất hợp lý, thể hiện ở chỗ tỷ trọng DN thuộc địa phương quá cao, chiếm trên 60% về số lượng Ngay cả quy mô cũng bất hợp lý Cụ thể, tính đến ngày 1/9/1999, số DNNN có quy mô dưới 5 tỷ đồng chiếm đến 65%, trong đó gần 3/4 là DN do địa phương quản lý, có 1.314 DN (23%) có vốn dưới 1 tỷ đồng Số DN có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 21%

Tuy kinh tế nhà nước được coi là “nòng cốt” của nền kinh tế, nhưng phạm vi hoạt động của kinh tế nhà nước vẫn còn những tranh luận, chưa có sự thống nhất, vai trò của kinh tế nhà nước chưa rõ, làm cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN gặp không ít lúng túng Do chưa xác định rõ những lĩnh vực quan trọng, mũi nhọn mà các DNNN cần nắm giữ và những lĩnh vực

Trang 24

ra sự lãng phí không nhỏ trong khu vực DNNN Công nghệ trong khu vực kinh tế nhà nước nhìn chung còn lạc hậu, tốc độ đổi mới chậm Mặt khác, đa phần cán bộ trong khu vực kinh tế nhà nước chưa được trang bị những kiến thức về kinh tế thị trường và năng lực quản lý yếu

Ba là, tình trạng “ưu ái”; đặc quyền trong một số DNNN đã ngăn cản

quá trình hình thành sự bình đẳng trong nền kinh tế nhiều thành phần Hệ quả của việc “ưu ái” các DNNN đó là dẫn đến sự phân bổ nguồn lực không hợp

lý, lãng phí và không đạt được hiệu quả như mong muốn Mặt khác, việc bảo

hộ một số ngành của Nhà nước làm cho luồng vốn đầu tư nước ngoài chỉ tập trung vào việc đi tìm kiếm siêu lợi nhuận ở những ngành này Đồng thời, với

cơ chế xin - cho, làm cho bất công trong phân phối ngân sách và tín dụng ngày càng gia tăng và tham nhũng ngày càng nặng nề Cùng với đó cơ chế tổ chức cán bộ ở DNNN là bổ nhiệm các chức danh, làm cho bộ máy của DNNN cồng kềnh, kém hiệu quả

1.2.2.3 Nguyên nhân của những yếu kém trên

Sự điều hành của Nhà nước không đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng đầu tư không tính đến thị trường, không cân đối Có những ngành hoặc địa phương vẫn muốn tranh thủ càng nhiều vốn của Nhà nước để xây dựng những

DN, mặc dù chưa thật sự cần thiết Ngành nào cũng cho rằng, “mình là mũi nhọn”, cần được tập trung đầu tư Không những thế, công việc xây dựng công trình DNNN lại giao cho một ban quản lý dự án kém năng lực và thiếu trách nhiệm, làm cho chất lượng công trình thấp, vốn đầu tư bị thất thoát

Hầu hết các DNNN đều thiếu vốn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, và cũng hầu hết các DN để có đủ vốn đều phải đi vay ngân hàng với lãi suất thương mại Vốn của Nhà nước thường chỉ chiếm khoảng 60% tổng

số vốn kinh doanh của DN, trong đó tại các tổng công ty 91 là 75%, tại các

Trang 25

tuyệt đối, năm 1998, vốn nhà nước bình quân của 1 tổng công ty 91 là 3.661

tỷ đồng, nhưng có tới 14/17 tổng công ty 91 (chiếm 82%) có số vốn dưới mức bình quân đó Vốn của tổng công ty 90 còn thấp hơn, cụ thể bình quân 1 tổng công ty 90 chỉ có 280 tỷ đồng, trong đó 80% số tổng công ty 90 có mức vốn thấp hơn mức bình quân ấy; 35% số tổng công ty 90 có vốn nhà nước dưới

100 tỷ đồng Khả năng trích lợi nhuận để lập quỹ phát triển sản xuất rất thấp

Số vốn lưu động huy động cho kinh doanh chỉ khoảng 50%

Trình độ công nghệ lạc hậu, phần lớn các DNNN được trang bị máy móc từ các nước thuộc hệ thống XHCN từ những năm 50, 60 của thế kỷ 20,

và đa số chúng đã hết khấu hao

Số lao động thiếu việc làm rất lớn Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo sắp xếp, đổi mới DNNN tháng 2/2000, số lao động không có việc làm ở Hải Dương là 33%; Nam Định 27%; Nghệ An 16%; Tổng công ty Thép 12%; Bộ Thuỷ sản có 14% lao động dôi dư

DN không được tự chủ về tài chính, làm cho DN không thể tự chủ trong kinh doanh Cơ quan chức năng quản lý tài sản của DNNN về cơ bản vẫn đang thực hiện quyền quản lý theo kiểu cũ Cơ chế tài chính và hạch toán của DNNN bị những ràng buộc, chậm được sửa đổi Những tài sản do DN tự đầu tư từ nguồn tích luỹ hoặc vay ngân hàng để xây dựng đều bị coi là tài sản của Nhà nước và buộc DN phải chịu thuế vốn

Không được chủ động về nhân sự và tiền lương DNNN vẫn không chủ động được trong việc sắp xếp lại số lượng lao động, vì Nhà nước chưa có đủ các chính sách phù hợp để giải quyết công ăn việc làm và đời sống của số lao động thiếu việc làm Chế độ tiền lương, các thang bậc lương trong DNNN vẫn còn bất hợp lý giữa khu vực kinh doanh với khu vực hành chính sự nghiệp,…

Trang 26

Tuy đã có chủ trương xoá bỏ chủ quản, nhưng nhiều cấp, nhiều ngành vẫn trực tiếp can thiệp vào công việc kinh doanh của DN, gây phiền hà cho hoạt động của DNNN Bộ máy tổ chức quản lý cồng kềnh, nhiều ban, bệ, nhiều thủ tục hành chính rườm rà làm cho DN thiếu sự linh hoạt để đáp ứng yêu cầu của thị trường Nhiều DN tuy đã được sắp xếp lại trong cơ cấu tổng công ty 90, 91 nhưng có những tổng công ty được tổ chức theo lối hành chính, bằng số cộng đơn thuần không dựa trên tính tất yếu về kinh tế, đã không mang lại kết quả như mong muốn Chức năng, nhiệm vụ giữa hội đồng quản trị với tổng giám đốc, giữa tổng công ty với bộ, UBND địa phương còn nhiều điểm chưa được quy định rõ

Môi trường kinh doanh chưa hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập, nhất là hệ thống tài chính, ngân hàng, giá cả chưa thật sự được xây dựng theo kinh tế thị trường Có tình trạng buộc ngân hàng cho vay theo lệnh, ngân hàng thụ động không chịu trách nhiệm về hiệu quả vốn cho vay và thu nợ; khi gặp nợ khó đòi thì buộc ngân hàng phải khoanh nợ, giãn nợ hoặc cho vay mới để trả nợ

1.3 Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta

1.3.1 Cơ sơ lý luận và thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

1.3.1.1 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một hình thức kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Sự phát triển nền kinh tế TBCN và các quan hệ tín dụng đã đưa tới sự xuất hiện CTCP vào đầu thế kỷ XVII và đến nửa sau thế kỷ XIX đã được phát triển rộng rãi theo xu hướng từ đơn giản đến phức tạp, từ qui mô nhỏ đến qui

mô lớn, từ lĩnh vực này đến lĩnh vực khác; từ một ngành đến nhiều ngành; từ quốc gia đến quốc tế thông qua các công ty đa quốc gia

Trang 27

Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi DN từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành CTCP, có nghĩa là DN có nhiều chủ sở hữu Nhìn tổng thể, CPH

có thể diễn ra tại các DN tư nhân, công ty TNHH, công ty liên doanh và tại các DNNN CPH là quá trình đa dạng hoá sở hữu tại DN

CPH DNNN là quá trình chuyển đổi DNNN thành CTCP, trong đó Nhà nước có thể vẫn giữ tư cách là một cổ đông, tức là Nhà nước vẫn có thể là chủ

sở hữu một bộ phận tài sản của DN CPH DNNN không chỉ là quá trình chuyển sở hữu Nhà nước sang sở hữu của các cổ đông, mà còn có cả hình thức DNNN thu hút thêm vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu để trở thành CTCP

CTCP là một xí nghiệp mà vốn của nó được hình thành dưới hình thức bán cổ phiếu Người chủ sở hữu cổ phiếu gọi là cổ đông Mỗi cổ đông có cổ phần bằng tổng số cổ phiếu đã mua và được hưởng lợi tức từ các cổ phiếu đó (hay là cổ tức)

Cổ phiếu là một loại chứng khoán có giá, số tiền ghi trên cổ phiếu là mệnh giá hay giá trị danh nghĩa của cổ phiếu Lợi tức cổ phiếu không cố định

mà phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty Giá trị thị trường của cổ phiếu lên xuống tuỳ theo cổ tức và tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi tức ngân hàng Thị trường chứng khoán là nơi mua, bán chứng khoán có giá

Về mặt tổ chức và quản lý, đại hội cổ đông là cơ quan tối cao bầu ra hội đồng quản trị và quyết định phương hướng kinh doanh cùng những vấn đề quan trọng khác trong hoạt động của công ty Phiếu biểu quyết trong đại hội

cổ đông được quy định theo số lượng cổ phiếu

Vào những năm đầu thế kỷ XX, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp phải xây dựng nhiều công trình kết cấu hạ tầng như: giao thông, điện lực, khai thác mỏ… cần rất nhiều vốn vì thế mà CTCP phát triển rất

Trang 28

nhanh Nhờ sự ra đời của các CTCP mà vốn được tập trung nhanh chóng và xuất hiện những công ty lớn…

Như vậy, CPH DNNN và tư nhân hoá DNNN là hai quá trình khác nhau Tuy vậy, trong những điều kiện nhất định, chúng có thể có điểm giống nhau, đó là quá trình đa dạng hoá sở hữu trong DN Mặt khác, nó tuỳ thuộc vào quy mô chuyển đổi quyền sở hữu đối với vốn và tài sản nhà nước trong

DN mà quá trình đa dạng hoá sở hữu có thể là quá trình tư nhân hoá hay CPH

C Mác coi sự xuất hiện CTCP là tiền đề thủ tiêu tư bản với tư cách là

sở hữu tư nhân ở ngay trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất TBCN Các CTCP là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng của quá trình tái sản xuất hiện còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản đơn giản thành những chức năng của những người sản xuất liên hiệp, tức là thành những chức năng xã hội, đây chính là hình thức quá độ sang một phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa

1.3.1.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một tất yếu khách quan

Cổ phần hoá doanh nghiệp DNNN được tiến hành ở nhiều nước Từ những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều nước đã triển khai quá trình giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thông qua tư nhân hoá và CPH DNNN Nó bắt đầu từ Anh, rồi lan sang các nước công nghiệp phát triển khác

và các nước đang phát triển Đến đầu những năm 90, quy mô tư nhân hoá và CPH DNNN diễn ra rất mạnh, trở thành hiện tượng phổ biến, đến năm 1995,

đã có hơn 100.000 DNNN được tư nhân hoá và CPH, hơn 80 nền kinh tế cam kết triển khai thực hiện tư nhân hoá và CPH DNNN Cơ sở của việc xuất hiện quá trình này là:

Một là, các DNNN phát triển tràn lan, lại không được tổ chức và quản

Trang 29

hệ thống kế hoạch, tài chính cứng nhắc, thiếu khả năng thích ứng với nền kinh

tế thị trường Tính chủ động trong sản xuất, kinh doanh bị “bó buộc” bởi nhiều quy chế xuất phát từ quyền sở hữu của nhà nước Sự độc quyền của các DNNN được pháp luật bảo vệ Tất cả điều này đã làm triệt tiêu động lực kinh

tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DNNN, làm kết quả hoạt động của chúng yếu kém triền miên

Hai là, do hoạt động kém hiệu quả nên các DNNN đã trở thành gánh

nặng cho ngân sách nhà nước Nhà nước phải thường xuyên sử dụng ngân sách trợ cấp trực tiếp và gián tiếp cho chúng, điều đó dẫn đến ngân sách nhà nước bị thiếu hụt

Ba là, so với các DN khác, CTCP có sức sống mạnh hơn, hiệu quả kinh

tế cao hơn rõ rệt và có vai trò hết sức to lớn trong phát triển kinh tế, xã hội, đáp ứng được yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế thị trường Hình thức thực hiện chế độ sở hữu rất đa dạng, phong phú, làm tăng khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong xã hội, tạo động lực cho sự phát triển

* Xét về tính thực tiễn, triển khai thực hiện CPH DNNN, do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Nâng cao hiệu quả kinh doanh

Đầu thế kỷ XX, cùng với các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật và

sự xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất đã xuất hiện những DNNN đóng vai trò là công cụ cho nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, nhìn chung các DNNN đều hoạt động kém hiệu quả Ví dụ: ở Italia, nước có tỷ trọng sở hữu nhà nước trong nền kinh tế cao nhất thì thâm hụt của các DNNN

là 4,5% GDP Ở Bồ Đào Nha, khu vực kinh tế quốc doanh thua lỗ 1/3 GDP trong khoảng thời gian từ 1974 - 1986 [54] Các nước tư bản khác cũng đều

có hiện tượng tương tự

Trang 30

Vì vậy, từ cuối thế kỷ XX, hầu hết các nước tư bản đều diễn ra quá trình CPH hoặc tư nhân hoá các DNNN trên qui mô lớn với cách thức tiến hành khác nhau Cách thức phổ biến nhất là bán đấu giá các cổ phiếu của các

DN cho tất cả những ai muốn mua thông qua sở giao dịch chứng khoán Hoặc

có thể bán một phần cho cá nhân, hoặc chỉ bán cho những người làm trong

DN đó

Ở nước Anh đã bán 40% tài sản khu vực quốc doanh trị giá hơn 20 tỷ Bảng Anh Ở Pháp trong thời gian hơn một năm đã thực hiện 1/3 chương trình tư nhân hoá thu được 7 tỷ Frăng Tây Đức trong những năm 1984 - 1987

đã thực hiện bán hoàn toàn hay một phần cổ phần khống chế của nhà nước trong hơn 50 công ty với tổng giá trị thu được trên 5 tỷ D.M [51]

Đáp ứng yêu cầu của cơ chế thị trường

Kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mở trong đó các quan hệ kinh tế đối nội, kinh tế đối ngoại không ngừng phát triển Sự vận động của cơ chế thị trường thông qua các quy luật kinh tế, như quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, đòi hỏi các DN có tính năng động và tính tự chủ rất cao Trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, các chủ thể sản xuất kinh doanh không thể nắm chắc quan hệ cung - cầu và các mối quan hệ ở tầm

vĩ mô của nền kinh tế, nên cần phải có sự điều tiết của Nhà nước Nhưng sự can thiệp thái quá của Nhà nước vào hoạt động của các DN lại dẫn đến sự trì trệ Bởi vậy, xuất hiện xu hướng nới lỏng sự điều tiết của Nhà nước, theo phương châm: "Nhà nước ít hơn, thị trường nhiều hơn" CPH DNNN là một giải pháp để tăng tính năng động, kinh doanh và phát huy tính tích cực, tự chủ của DN

Ở những nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây thường phát triển tràn lan các DNNN, không tính đến hiệu quả kinh tế, khi

Trang 31

chuyển sang kinh tế thị trường, việc CPH những DN mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn trở thành cấp thiết

Ở nước ta phần lớn các DNNN được hình thành từ năm 1954 ở miền Bắc và từ 1975 ở miền Nam, là do ý chí chủ quan của các cơ quan Nhà nước chứ không phải do yêu cầu khách quan của trình độ phát triển lực lượng sản xuất Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của hầu hết các DN ấy

Chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp tích cực, những thành tựu to lớn của các DNNN trong những năm kháng chiến, nhưng trong thời kỳ hoà bình, nhất là khi chuyển sang kinh tế thị trường thì những vướng mắc của các DNNN càng ngày càng tăng lên, nhiều DN đã bị phá sản Do vậy, việc sắp xếp lại các DNNN là vấn đề rất lớn mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, trong đó có việc CPH một số lớn DNNN

Huy động vốn từ các thành phần kinh tế

Vốn là một vấn đề rất hệ trọng đối với hoạt động của một DN Phần lớn DNNN dựa vào ngân sách và ngân hàng để có vốn, nhưng nguồn vốn từ ngân sách ở nước ta có hạn, nhiều DNNN nợ ngân hàng chưa trả được nên khó vay thêm, bởi vậy, việc chuyển DN thành CTCP sẽ mở rộng thu hút nguồn vốn trong xã hội, tăng khả năng đầu tư trang thiết bị mới cho DN

Trang 32

Tăng cường dân chủ

CPH tức là chuyển sang một hình thức hiện đại hơn, bên cạnh vai trò Nhà nước, còn có sự tham gia của các thành phần khác Người công nhân tham gia mua cổ phiếu nên quyền và ý thức làm chủ của công nhân cũng được tăng lên Tăng quyền làm chủ của người lao động, xã hội hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh… chính là hướng đi tất yếu lên XHCN Mặt khác, Nhà nước

có thể rút bớt một phần vốn do bán bớt cổ phần của Nhà nước để đầu tư chiều sâu, cho những DN mà Nhà nước tiếp tục nắm 100% vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh

1.3.2 Quá trình hoàn thiện quan điểm của Đảng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta

Do nhiều năm thực thi một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, thậm chí quan niệm về kinh tế nhà nước và DNNN chưa có sự thống nhất, nên trong một thời gian dài đã phát triển hệ thống DN quốc doanh với số lượng lớn, tràn lan Trong quá trình hoạt động, loại hình DN này đã bộc lộ những yếu kém, bất cập Chính vì vậy, việc đổi mới, sắp xếp lại hệ thống DN này là một đòi hỏi tất yếu Việc định hướng XHCN nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tạo cho kinh tế nhà nước sức mạnh thực sự, trong đó DNNN là nòng cốt để đủ khả năng điều tiết và định hướng các thành phần kinh tế khác

Xét về lịch sử, từ "cổ phần" đã rất quen thuộc với nhân dân ta từ trên

40 năm nay, kể từ khi Đảng ta vận động nhân dân góp cổ phần vào hợp tác

xã mua bán, hợp tác xã tín dụng,… Hợp tác xã cung ứng hàng tiêu dùng và dịch vụ cho xã viên, tiêu thụ hàng hóa cho xã viên, chia lãi theo cổ phần (dù rằng rất nhỏ)

Trang 33

Đại hội VI (năm 1986) của Đảng ta đã chủ trương phát triển nhất quán kinh tế nhiều thành phần, coi đó là đặc trưng của thời kỳ quá độ, đa dạng hoá hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, nhưng vẫn đặt vấn đề "làm cho kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác" [30, tr.59], "chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông, thể hiện được tính ưu việt" [30, tr.61]

Đại hội VII (năm 1991) nhận định kinh tế quốc doanh đang nắm các

vị trí then chốt, gần một phần ba các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh vươn lên trong kinh doanh và thích ứng được với cơ chế mới Nhưng điểm yếu nhất của kinh tế quốc doanh là hiệu quả hoạt động nhìn chung còn thấp [31, tr.235] Đại hội đề ra nhiệm vụ khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới kinh

tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả, nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Cho thuê và chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài và không có khả năng vươn lên [31, tr.274] Như vậy, Đại hội VII vẫn chưa đề xuất vấn đề CPH DNNN một cách cụ thể

Đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VII (11-1991), Đảng ta đã đi đến nhất quán chủ trương: "Chuyển một số DN quốc doanh có điều kiện thành CTCP và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp" Cũng trong thời gian đó, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10 (12-1991) đã đưa việc CPH DNNN vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 1991-1995: "thí điểm việc CPH một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển"

Như vậy, mục tiêu, đối tượng, hình thức và các chính sách CPH đã được xác định rõ ràng hơn Đảng và Nhà nước khẳng định CPH ở Việt Nam

Trang 34

chế cho DNNN hiện có, không nhằm thu hẹp sở hữu nhà nước trong nền kinh

tế quốc dân Vốn thu được từ bán cổ phần, Nhà nước không được chi dùng cho ngân sách mà để đầu tư tiếp vào nền kinh tế Nói cách khác, thời gian này CPH nặng về mục tiêu thu hút vốn và chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của DNNN hơn là thu hẹp sở hữu nhà nước Tuy nhiên đối tượng CPH trong giai đoạn này vẫn còn khá hẹp, chỉ bao gồm các DNNN vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi và Nhà nước không cần thiết giữ 100% vốn Đối tượng mua cổ phiếu chủ yếu là cán bộ công nhân viên trong DN, có cho phép cổ đông trong nước ngoài DN nhưng mức độ khuyến khích chưa cao Nguyên tắc định giá DNNN vẫn còn chung chung, chủ yếu căn cứ vào kiểm kê giao vốn Người lao động trong DN CPH được mua cổ phiếu chậm trả 12 tháng

Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã nêu rõ hơn các hình thức CPH phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất - kinh doanh

Để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo nên động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có hiệu quả thì sở hữu nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối Việc bán cổ phiếu đã tiến thêm một bước, thí điểm việc bán một phần

cổ phiếu của một số DNNN cho các tổ chức và cá nhân ngoài DN Trên cơ

sở CPH, tổ chức Hội đồng quản trị gồm đại diện cho sở hữu nhà nước, sở hữu của công nhân DN và các chủ sở hữu khác Định thể chế và tiêu chuẩn để Hội đồng quản trị tuyển chọn giám đốc điều hành Hoàn thiện và áp dụng rộng rãi các hình thức khoán trong DNNN Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích và thực hiện từng bước vững chắc, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc đổi mới các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty theo hướng tổ chức các tập đoàn kinh doanh, khắc phục tính chất hành chính, trung gian Xoá bỏ dần (có qua làm thí điểm) chế độ bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản và sự phân biệt xí nghiệp Trung ương và xí nghiệp địa phương [32, tr.416]

Trang 35

Đại hội VIII (năm 1996) đặt ra chủ trương "triển khai tích cực và vững chắc việc CPH DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy DN làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá Bên cạnh những DN 100% vốn nhà nước, sẽ có nhiều DNNN nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phần chi phối" [33, tr.479] Việc huy động vốn được thực hiện bằng cách "gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tại DN, cho các tổ chức và cá nhân ngoài DN tùy từng trường hợp cụ thể và vốn huy động được phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh" [33, tr.479]

Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII tháng 6 năm

1997 đã xác định lại CPH một bộ phận DNNN là chủ trương rất quan trọng Song, CPH hay xã hội hóa không đồng nghĩa với phi nhà nước hóa và càng không phải tư hữu hóa Phương châm cơ bản ở đây vẫn là Nhà nước và nhân dân cùng làm Trong đó Nhà nước có vai trò nòng cốt, thực hiện Nhà nước, tổ chức cho nhân dân và trong điều kiện cụ thể tham gia cùng làm với dân; không làm thay dân, cũng không khoán trắng

Đại hội IX (năm 2001) đã đề ra mục tiêu trong 5 năm (2001 - 2005) phải cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả các DNNNN hiện có, đồng thời phát triển thêm DN mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng Đẩy mạnh thực hiện chủ trương CPH và

đa dạng hóa sở hữu đối với những DN mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn Việc bán cổ phần cho các tổ chức và cá nhân ngoài DN được mở rộng Thực hiện việc giao, bán, khoán, cho thuê các DN loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ Sáp nhập, giải thể, phá sản những DN không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên [34, tr.722]

Trang 36

Trong chương trình cụ thể hóa về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển

và nâng cao hiệu quả DNNN, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh CPH những DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN Đặc biệt, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khoá IX đã nêu lên những định hướng quan trọng và chỉ ra những lĩnh vực mà Nhà nước vẫn giữ 100% vốn, những lĩnh vực mà Nhà nước phải giữ cổ phần chi phối hoặc 100% vốn, quy định chi tiết đối với DN hoạt động kinh doanh và đối với DN hoạt động công ích [42]

Hội nghị Trung ương 9 khóa IX (tháng 1 năm 2004) quyết định tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực DNNN, trọng tâm

là CPH mạnh hơn nữa Về chỉ đạo, Trung ương đã quyết định đẩy nhanh tiến

độ CPH và mở rộng diện các DNNN cần CPH, kể cả một số công ty và DN lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, cơ khí, hóa chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, đường sông, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm Giá trị tài sản DNNN thực hiện CPH, trong đó

có giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc phải do thị trường quyết định Việc mua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ DN

Diện các DNNN được CPH mở rộng hơn và thực hiện nguyên tắc thị trường trong việc CPH DNNN Nhà nước chỉ giữ cổ phần chi phối đối với các tổng công ty, CTCP hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực thiết yếu

và chỉ giữ 100% vốn nhà nước trong các DN hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng và một số DN sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích thiết yếu mà chưa CPH được Chuyển các DN 100% vốn nhà nước sang hình thức CTCP [26, tr.110]

Trang 37

Đại hội lần thứ X (năm 2006) trên cơ sở đánh giá thành tựu phát triển qua 20 năm thực hiện tiến trình đổi mới, đã đưa nhận định rất quan trọng, khẳng định DNCP ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất, kinh doanh và sở hữu Để hướng tới

sự công bằng hơn giữa các loại hình DN, Văn kiện Đại hội X đã nhấn mạnh, xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu Đây là cơ sở quan trọng để CTCP nâng cao được sự cạnh tranh với những loại hình DN khác

Như vậy, hơn 16 năm qua, quan điểm của Đảng ta về CPH DNNN ngày càng sáng tỏ, ngày càng phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và tình hình thực tiễn ở nước ta

1.3.3 Quá trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta

1.3.3.1 Tiến độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước từng bước được đẩy mạnh

Giai đoạn từ năm 1992 đến tháng 5/1996 (thí điểm CPH)

Ngày 08/06/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Quyết định 202/CT về làm thí điểm chuyển một số DNNN thành CTCP Đợt thí điểm này gồm Nhà máy Xà bông miền Nam (thuộc Công ty bột giặt miền Nam, Tổng công ty Hoá chất II, Bộ Công nghiệp nặng); Nhà máy Diêm Thống Nhất (thuộc Liên hiệp sản xuất - xuất nhập khẩu giấy gỗ diêm, Bộ Công nghiệp nhẹ); Xí nghiệp nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc (thuộc Công ty chăn nuôi và thức ăn gia súc I, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm); Xí nghiệp chế biến gỗ Long Bình (thuộc Tổng công

ty dịch vụ, sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản 3, Bộ Lâm nghiệp); Công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng (Bộ Thương mại và Du lịch); Xí nghiệp sản xuất bao bì (thuộc Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Nội, Uỷ ban

Trang 38

nhân dân thành phố Hà nội); Xí nghiệp may mặc (thuộc Công ty dệt-da-may Legamex, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh) Mặt khác, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cũng uỷ quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét và ra quyết định về danh sách các DNNN khác được phép làm thí điểm CPH mà các Bộ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị

Sau hơn 2 tháng, trong số 7 đơn vị được chọn chỉ có Công ty Legamex xây dựng được phương án CPH (bán cổ phần cho người nước ngoài), một số đơn vị khác có ý xin rút khỏi danh sách Cũng trong thời gian này, các đơn vị thuộc diện thí điểm đã xây dựng được đề án và đã gửi để các Bộ xem xét gồm: Xí nghiệp nhựa Bình minh (Bộ Công nghiệp nhẹ); Xí nghiệp len Biên Hoà (Bộ Công nghiệp nhẹ); Công ty đại lý liên hiệp vận chuyển thuộc Liên hiệp hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện) Đến tháng 8/1992, mới chỉ có Bộ Công nghiệp nhẹ, Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện,

Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng có công văn chính thức về danh sách các DN đề nghị CPH [3]

Như vậy, có thể nói chương trình CPH DNNN ở nước ta thực sự bắt đầu từ năm 1992 Kết quả trong 5 năm, kể từ tháng 6/1992 đến tháng 5/1996 mới CPH được 5 DN [1] thuộc 3 Bộ và 2 địa phương

Trang 39

Giai đoạn từ tháng 5/1996 - tháng 6/1998 (mở rộng thí điểm CPH)

Kết quả sau hơn 2 năm thực hiện, có 25 DNNN [56] thuộc 2 Bộ, 11 địa phương và 2 Tổng công ty 91 tiến hành CPH thành công với tổng số vốn điều

lệ tại thời điểm CPH là 243,042 tỷ đồng Trong đó có 6 DN trên 10 tỷ đồng (chiếm 20,8%) Tuy nhiên, số DNNN hoàn thành CPH đến tháng 6/1998 rất thấp so với kế hoạch

Giai đoạn từ tháng 7/1998 đến 2001 (Thời kỳ đẩy mạnh CPH)

Nếu như trong 7 năm (từ 1992 đến 6/1998) cả nước mới CPH được 30

DN, thì chỉ riêng 6 tháng cuối năm 1998 đã CPH thành công 87 DN và trong giai đoạn này đã CPH được 745 DN [1]

Về tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN sau khi thực hiện CPH: theo báo cáo của Ban đổi mới DN Trung ương, thì hầu hết

DN sau CPH đều nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, doanh thu bình quân của các DN tăng 30% so với năm trước, lợi nhuận và nộp ngân sách bình quân đều tăng gấp 2 lần so với trước khi CPH, về vốn tăng trưởng bình quân khoảng 15%/năm

Thu nhập của người lao động trong các DN cũng tăng từ 1,5 đến 4 lần

so với trước khi thực hiện CPH CTCP đã thu hút và giải quyết thêm việc làm cho người lao động ở trên địa bàn (số lao động trong các DN đã chuyển sang CTCP tăng khoảng 20% so với trước khi thực hiện chuyển đổi)

Huy động được trên 1.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước để phát triển sản xuất và giải quyết các chính sách xã hội cho người lao động

Như vậy, việc thực hiện CPH có chuyển biến rõ rệt Số DN CPH năm

1999 là 249 DN, gấp hơn 8 lần so với 7 năm trước cộng lại Tổng số DN đã CPH đến thời điểm đó đã gấp hơn 12 lần so với cả thời kỳ thí điểm CPH Tuy

Trang 40

Giai đoạn từ 2001 đến nay (tiếp tục đẩy mạnh CPH)

Nhìn chung, những đổi mới trong hệ thống cơ chế, chính sách về CPH DNNN đã và đang được triển khai và phát huy tác dụng, tiến độ CPH DNNN

đã có những chuyển biến tích cực

Tính đến giữa tháng 12/2002, đã có 85/102 đề án được trình Thủ tướng Chính phủ, trong đó có 55/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 14/24

Bộ, Ngành và 16/17 tổng công ty 91 Trong số 85 đề án nói trên, mới có 12 đề

án của 5 Bộ, 5 tỉnh, thành phố và 2 tổng công ty 91 nhận được sự phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ Trong số các đề án được phê duyệt nói trên thì hầu hết là của các tỉnh nhỏ như Bắc Ninh, Vĩnh Long, Sơn La, Kon Tum, Đà Nẵng và các bộ có ít DNNN trực thuộc như Công an, Tài chính, Thương mại, Ngoại giao, Ban Cơ yếu Chính phủ Trong số các tỉnh, thành phố chưa trình

đề án lên Chính phủ có những thành phố lớn, tập trung nhiều DNNN như Hà Nội, Hải Phòng

Qua tổng hợp bước đầu từ 71 đề án đệ trình lên Chính phủ, trong tổng

số 3.850 DNNN thì giữ 100% vốn Nhà nước ở 1.575 DN chiếm 40,91%; sát nhập và hợp nhất 395 DN chiếm 10,26%; chuyển thành CTCP 1.557 DN chiếm 40,44%; giao 97 DN chiếm 2,52%; bán 57 DN chiếm 1,48%; khoán và cho thuê 29 DN chiếm 0,75%; chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu 26 DN chiếm 0,68%; giải thể và phá sản 95 DN chiếm 2,47% và chuyển giao quyền

19 DN chiếm 0,49%

Tính từ năm 2001 đến tháng 8/2006, đã sắp xếp được 3.830 DNNN; trong đó CPH 2.472 DN, giao 178 DN, bán 107 DN, khoán, cho thuê 29 DN, sáp nhập, hợp nhất 459 DN, giải thể, phá sản 214 DN, các hình thức khác 371

DN Hình thức sắp xếp CPH chiếm gần 65% tổng số DN đã sắp xếp (Bộ Tài

nguyên và Môi trường, tháng 10/2006) Kết quả này cho thấy, chủ trương sắp

Ngày đăng: 06/02/2021, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân (2004), Báo cáo tại Hội thảo cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tháng 8, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội thảo cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Đinh Văn Ân
Năm: 2004
3. Báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới & phát triển doanh nghiệp (10/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới & phát triển doanh nghiệp
4. Báo cáo của Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương (CIEM) (22/9/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương (CIEM)
28. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
32. Đảng công sản Việt Nam (2005), Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khoá VII, NXB.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khoá VII
Tác giả: Đảng công sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
33. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới, Văn kiện hội nghị Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới, Văn kiện hội nghị Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
35. Hồ Xuân Hùng (2004), “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Kết quả, vướng mắc và giải pháp”, Tạp chí Cộng sản điện tử, (67) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Kết quả, vướng mắc và giải pháp”", Tạp chí Cộng sản điện tử
Tác giả: Hồ Xuân Hùng
Năm: 2004
36. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1994), Toàn tập, Tập 25, Phần II, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăng-ghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
37. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1994), Toàn tập, Tập 25, phần I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăng-ghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
41. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (15/8/1998), Thông tư 06/1998/TT- NHNN về hướng dẫn thực hiện một số nội dung liên quan đến ngân hàng khi chuyển DNNN thành CTCP, Hà Nội.42. Nghị quyết số 05-NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 06/1998/TT-NHNN về hướng dẫn thực hiện một số nội dung liên quan đến ngân hàng khi chuyển DNNN thành CTCP", Hà Nội. 42
45. Tô Huy Rứa (8/2004), Sự phát triển quan điểm, đường lối, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước về CPH DNNN, Báo cáo Hội thảo CPH DNNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển quan điểm, đường lối, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước về CPH DNNN
46. Trương Tấn Sang (8/9/2005), Báo cáo đề dẫn Hội thảo "Đánh giá 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 (khoá IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; đề xuất những kiến nghị mới", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 (khoá IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; đề xuất những kiến nghị mới
54. Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Kinh tế Thế giới (1992), Chủ nghĩa tư bản hiện đại, tư nhân hoá ở các nước tư bản phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa tư bản hiện đại, tư nhân hoá ở các nước tư bản phát triển
Tác giả: Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Kinh tế Thế giới
Năm: 1992
55. Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương (22/9/2005), Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới DNNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới DNNN
2. Ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển DN (2007), Báo cáo về công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước Khác
5. Bộ Kế hoạch & Đầu tư (10/5/2002), Quy định số 260/2002/QĐ-BKH về việc ban hành danh mục các ngành nghề người nước ngoài được mua cổ phần trong các DN ngoài quốc doanh theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w