Trong quá trình phát triển để đưa Nhật Bản đi lên từ một nước phong kiến trở thành một đế quốc quân phiệt thì những quyết định, chính sách của Chính phủ liên tục thay đổi cho phù hợp vớ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
- -
LÊ THỊ THÊU
SỰ THAY ĐỔI CỦA XÃ HỘI, KINH TẾ ĐẾN CHÍNH TRỊ CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU CẢI CÁCH MINH TRỊ ĐẾN KẾT THÚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2015-X
Hà Nội - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
- -
LÊ THỊ THÊU
SỰ THAY ĐỔI CỦA XÃ HỘI, KINH TẾ ĐẾN CHÍNH TRỊ CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU CẢI CÁCH MINH TRỊ ĐẾN KẾT THÚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm
ơn sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong suốt thời gian em học tập tại khoa, tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Trần Thị Hạnh đã giúp đỡ và hướng dẫn em rất tận tình trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô, cùng toàn thể các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 4 tháng 6 năm 2019 Sinh viên
Lê Thị Thêu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa nghiên cứu 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: SỰ THAY ĐỔI CỦA KINH TẾ -CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI NHẬT BẢN TỪ SAU CÁI CÁCH MINH TRỊ ĐẾN HỘI NGHỊ WASHINGTON (1921-1922) 8
1.1.Sự thay đổi kinh tế -chính trị - xã hội sau cải cách Minh Trị 1868 8
1.1.1 Cải cách chính trị, kinh tế, xã hội 8
1.1.2 Cải cách về giáo dục, văn hóa 13
1.1.3 Cải cách về ngoại giao 21
1.2 Sự thay đổi đường lối ngoại giao của Nhật Bản từ chiến tranh Thế giới thứ nhất đến Hội nghị Washington (1921-1922) 23
1.2.1 Về kinh tế - chính trị - xã hội 23
1.2.2 Hội nghị Wasington 1921-1922 30
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU HỘI NGHỊ WASHINGTON ĐẾN KẾT THÚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI 33
2.1 Kijūrō Shidehara và tư tưởng ngoại giao theo hướng “hợp tác phát triển kinh tế” 33
2.1.1 Kijūrō Shidehara 幣原喜重郎 33
2.1.2 Tư tưởng ngoại giao theo hướng “hợp tác phát triển kinh tế” của Shidehara 36
Trang 52.2 Tư tưởng của phe quân phiệt về tăng cường phát triển quân sự 46
2.2.1 Nguyên nhân xuất hiện tư tưởng chủ nghĩa quân phiệt 46
2.2.2.Sự thay đổi của Nhật Bản trước sự lớn mạnh của chủ nghĩa quân phiệt 51
2.2.3.Sự thay đổi của xã hội Nhật Bản sau chiến tranh Thế giới thứ hai 56
Tiểu kết 59
KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trong các quốc gia thuộc khu vực châu Á thì Nhật Bản là một trong những con rồng châu Á với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng Nhật Bản là một đất nước với lãnh thổ được bao quanh bởi biển và nguồn tài nguyên thiên nhiên thấp, hàng năm phải chịu nhiều thiên tai như động đất, sóng thần nhưng vẫn vươn lên là một cường quốc Trong lịch sử phát triển của Nhật Bản, chúng ta thấy đường lối lãnh đạo sáng suốt của những nhà cầm quyền Nhật Bản Trong đó đáng nói đến nhất là công cuộc “Cải cách Minh Trị” Trong khi các nước phương Đông đang phải đứng trước mối nguy hại bị xâm lược từ phương Tây, vì chính sách “Bế quan tỏa cảng” mà các quốc gia
đã thực hiện, Nhật Bản đã nhanh chóng đưa ra con đường mới cho đất nước mình bằng cách tiến hành ký các Hiệp ước với phương Tây và tiến hành chính sách cải cách thay đổi đất nước
Sau khi thực hiện công cuộc cải cách thì Nhật đã vươn lên, ngăn chặn
sự xâm lược từ bên ngoài và còn trở thành đất nước quân phiệt trong thế chiến thứ hai Trong quá trình phát triển để đưa Nhật Bản đi lên từ một nước phong kiến trở thành một đế quốc quân phiệt thì những quyết định, chính sách của Chính phủ liên tục thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước
Những nhân tố nào đã khiến cho tình hình của Nhật Bản có những thay đổi như thế? Liệu rằng nếu sự thay đổi này diễn ra chỉ do một phía từ các nhà lãnh đạo thì có đẫn đên thành công như vậy? Hay cần phải có sự hiệp sức đồng lòng của toàn bộ nhân dân nước Nhật?
Vì những lý dó trên, tôi chọn đề tài “Sự thay đổi của xã hội, kinh tế đến chính trị của Nhật Bản từ sau cải cách Minh Trị đến kết thúc chiến tranh Thế giới thứ hai” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Qua những công trình nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản nói chung và tư tưởng về đường lối ngoại giao nói riêng đặc biệt là giai đoạn từ sau cải cách
Trang 7Minh Trị đến kết thúc chiến tranh Thế giới thứ hai, có thể khái quát được một
số nghiên cứu chủ yếu sau:
Thứ nhất là nhóm nghiên cứu về tình hình kinh tế - xã hội Nhật Bản nói chung
Trong số những công trình nghiên cứu này thì đáng chú ý nhất là công
trình Lịch sử Nhật Bản (tái bản lần một năm 2012) của tác giả Nguyễn Quốc
Hùng chủ biên, NXB Thế giới, Hà Nội Trong tác phẩm này của Nguyền Quốc Hùng biên dịch thì ông đã liệt kê chi tiết các vấn đề của kinh tế xã hội Nhật Bản xuyên suốt từ thời kỳ cổ đại đến hiện đại trong đó có giai đoạn từ cải cách Minh Trị đến kết thúc chiến tranh Thế giới thứ hai Cuốn sách diễn tả chi tiết nguyên nhân kinh tế chính trị xã hội dẫn đến cuộc cải cách Minh Trị năm 1868 Xuất phát từ chính nhu cầu trong nước, sau khi kế hoạch “Bế quan tỏa cảng” bị thất bại, để tránh bị các cường quốc phương Tây xâm lược thì Nhật Bản buộc phải đưa ra một sự lựa chọn nhát định là: tiếp tục duy trì thái
độ đối nghịch với phương Tây giống các nước kahsc trong khu vực trong một khoảng thời gian tạm thời trước khi bị xâm lược hoặc phải tiến hành cải cách xây dựng lại đất nước tránh thành nước thuộc địa Trước tình thế đó, Chính quyền Mạc phủ không đủ năng lực phát triển đát nước, đồng thời nhân dân trong cả nước đứng lên ủng hộ Thiên hoàng khiến cho chế độ Mạc phủ Edo tồn tại hơn 200 năm bị sụp đổ Sau khi lên ngôi, nhận được sự đồng lòng giúp sức từ toàn bộ nhân dân Nhật Bản từ Trung ương đến địa phương nên công cuộc cải cách diễn ra nhanh chóng và thành công Nhưng cuốn sách tập trung chủ yếu nhất vào vấn đề kinh tế, xuất nhập khảu của Nhật Bản sau cải cách Minh Trị mà chưa chú trọng nhiều đến yếu tố văn hóa tư tưởng của nhân dân Nhật Bản để xây dựng một cơ cấu nhà nước mới Đồng thời, trong giai đoạn
từ những năm 30 của thế kỷ XX đến khi kết thúc chiến tranh Thế giới thứ hai thì tác giả lại chú trọng nhiều đến các cuộc chiến tranh với Trung Quốc và Nga, sự lớn mạnh của chủ nghĩa quân phiệt và sự thất bại của Nhật Bản tại chiến tranh Thế giới thứ hai Vì cuốn sách là Lịch sử Nhật Bản nên vấn đề mà
Trang 8tác giả đưa ra chủ yếu là việc kể lại những mốc lịch sử một cách nối tiếp nhau chứ chwua có sự liên hệ giữa nguyên nhân xã hội đến tư tưởng ngoại giao của Nhật Bnar thười điểm đó
Ngoài ra, công trình nghiên cứu của tác giả Võ Minh Vũ (2005), Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị, trong Luận văn Thạc sĩ năm 2005 của
mình tại Bộ môn Nhật Bản thì tác giả lại chú trọng hơn đến vấn đề về cải cách địa tô, phân chia ruộng đất Nhưng công trình chú trọng đến các số liệu mà chưa nêu ra được nguyên nhân sâu xa của cải cách ruộng đất đối với sự thay dổi của xã hội Nhật Bnar tại thời điểm đó Khi xã hội còn đang phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp thì chính sách về đất đai ảnh hưởng rất nhiều đến cơ cấu xã hội Thời kỳ Mạc phủ thì ruộng đất thuộc về giai cấp lãnh chúa, người nông dân phải trực tiếp canh tác trên mảnh đát đó và nộp tô thuế lại cho địa chủ, nhưng sau cải cách thì việc nộp tô thuế lại phải do người chủ sở hữu của mảnh đất đó phải nộp, những người nông dân có một chút vốn có thể tự tiến hành trao đổi mua bán ruộng đất với nhau Điều này giúp cho nông dân có thể yên tâm và chú trọng hơn vào sản xuất và hưởng được thành phẩm thu được trên mảnh đất của mình
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng ngoại giao của Nhật Bản
Trong các công trình này thì tiêu biểu nhất là tác phẩm Ngoại giao Nhật Bản của tác giả Ire Akira được Nxb Tri thức xuất bản năm 2013 tại Hà
Nội Tác phẩm là cái nhìn của một người Nhật về con đường ngoại giao của Nhật Bản qua các thời kỳ lịch sử Do tác phẩm của một người Nhật Bản viết nên có những chi tiết được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan, bảo vệ người Nhật Đáng chú trọng trong cuốn sách này là nội dung của tác giả về “Triết lý ngoại giao Shidehara” Ire Akira đã đưa ra những lý luận về đường lối ngoại giao mà Bộ trưởng Shidehara đã đưa ra tại thời điểm sau Hội nghị Washington khi mối quan hệ của Nhật Bản và Hoa Kỳ đang trở nên căng thẳng Các nội dung trong đường lối ngoại giao hòa bình hợp tác phát triển
Trang 9kinh tế mà Shidehara đã đươc ra được Ire Akira nhận xét và đánh giá cao Nhưng thiếu xót của công trình này là ông đã không chú trọng đến mối quan
hệ rành buộc tác động lẫn nhau của hai đường lối ngoại giao tại thời điểm đó
là ngoại giao của phe quân phiệt và ngoại giao của phe hòa bình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Phân tích, làm rõ sự thay đổi của tình hình kinh
tế - xã hội đến việc thay đổi các tư tưởng ngoại giao của chính phủ Nhật Bản
từ sau cải cách Minh Trị đến Chiến tranh thế giới lần thứ II
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất: Phân tích sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế-xã hội và văn
hóa-tư hóa-tưởng của Nhật Bản sau cải cách Minh Trị
Thứ hai: Phân tích nội dung tư tưởng ngoại giao mềm mỏng của Nhật Bản sau Hội nghị Washington
Thứ ba: Phân tích nội dung tư tưởng quân phiệt phát triển mạnh mẽ và sụp đổ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự thay đổi về cơ cấu xã hội dẫn đến sự thay
đổi về đường lối lãnh đạo của Chính phủ Nhật Bản từ năm 1868 đến năm
1945
Phạm vi nghiên cứu: Các cuốn sách, bài báo, bài giảng chuyên đề về
lịch sử Nhật Bản từ cải cách Minh Trị đến năm 1945
5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Khóa luận được thực hiện thông qua vận dụng những nguyên lý cơ bản của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn
Cụ thể là: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển được vận dụng khảo cứu quá trình chuyển biến của kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Trang 10Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội và ý thức xã hội thể hiện cụ thể trong sự hình thành và phát triển của tư tưởng ngoại giao của Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được quán triệt xuyên suốt khi triển khai khóa luận
Phương pháp: Khóa luận sử dụng một số phương pháp cụ thể của ngành lịch sử, ngành Châu Á học và ngành triết học
6 Ý nghĩa nghiên cứu
Nhằm làm rõ hơn về tác động của bối cảnh xã hội và thế giới đến tư tưởng “Mở rộng sức ảnh hưởng của Nhật Bản trên thế giới” của Chính phủ và người dân Nhật Bản
7 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận chia làm 2 chương, 4 tiết: Chương 1: Sự thay đổi của kinh tế-chính trị-xã hội từ sau cải cách Minh Trị đến Hội nghị Washington (1921-1922)
1.1 Sự thay đổi kinh tế -chính trị - xã hội sau cải cách Minh Trị
1868 1.2 Sự thay đổi đường lối ngoại giao của Nhật Bản từ chiến tranh
Thế giới thứ nhất đến Hội nghị Washington (1921-1922) Chương 2: Nội dung tư tưởng đối ngoại của Nhật Bản từ sau Hội nghị Washington đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai
2.1 Kijūrō Shidehara và tư tưởng ngoại giao theo hướng “hợp tác
phát triển kinh tế”
2.2 Tư tưởng của phe quân phiệt về tăng cường phát triển quân sự
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: SỰ THAY ĐỔI CỦA KINH TẾ -CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI NHẬT BẢN TỪ SAU CÁI CÁCH MINH TRỊ ĐẾN HỘI NGHỊ
WASHINGTON (1921-1922) 1.1 Sự thay đổi kinh tế -chính trị - xã hội sau cải cách Minh Trị 1868 1.1.1 Cải cách chính trị, kinh tế, xã hội
Cuối thời kỳ Edo, cũng như các nước khác của phương Đông thì chế độ phong kiến ngày càng không còn phù hợp vưới xã hội và ngày một đi xuống Trong tình hình đó, các quốc gia phương Đông còn phải đối mặt với nguy cơ
bị các cường quốc phương Tây xâm lược và biến thành thuộc địa Từ chính sự thay đổi của tình hình thế giới và tình hình nội bộ Nhật Bản, đồng thời để tránh nguy cơ trở thành một nước nô lệ, Nhật Bản đã đưa ra quyết định “mở cửa” với các nước phương Tây sau khi kế hoạch “Bế quan tỏa cảng thất bại” Chính trị Nhật Bản chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ quân chủ lập hiến, quyền lực chuyển từ tay dòng họ Tokugawa sang Thiên hoàng Đây được coi là bước chuyển quan trọng làm thay đổi hoàn toàn Nhật Bản trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX
Việc đầu tiên sau khi chính quyền của Thiên hoàng tiếp nhận đất nước
đã tiến hành sự kiện Vương chính phục cổ (Osei fukko): ngày 3 tháng 1 năm
1868, Tướng quan Tokugawa Yoshinobu chính thức bị tước đất đai, chức vụ
để trao lại cho Thiên hoàng Ngày 11 tháng 4 năm 1868, Mạc phủ đã ra lệnh
mở cửa thành Edo để đầu hàng quân đội triều đình Sự kiện này đã dánh dấu mốc cho việc kết thúc chế độ nắm quyền của dòng họ Tokugawa dựng lên từ đầu thế kỷ XVII
Chính quyền mới đặt ra mục tiêu cho đất nước là Phú quốc cường binh (Fukoku Kyohei) với đường lối chiến lược là: độc lập quốc gia và phấn đấu từng bước tiến lên bình đẳng với các nước phương Tây
Ban lãnh đạo mới cho rằng thời điểm này Nhật Bản còn chưa đủ mạnh,
vì vậy phải tiến hành nâng cao sức mạnh quân sự trên có sở của sức mạnh
Trang 12kinh tế Tư tưởng đó đã được thể hiện trong Năm lời thề (Gokazo no
goseimon: ngũ điều ngự thệ văn) được công bố trong ngày 14 tháng 3 năm
1868 gồm:
1 Hội nghị phải được mở rộng và những vấn đề quốc gia phải do công luận quyết định
2 Trên dưới một lòng ra sức chăm lo cho công việc đại sự quốc gia
3 Từ bách quan văn võ đến thường dân, mọi người phải được tự do theo đuổi chí nguyện của mình để trong nước không còn sự bất mãn
4 Phải từ bỏ những tập quán xấu và mọi việc phải dựa và công đạo (công pháp quốc tế)
5 Phải tiếp thu kiến thức từ khắp nơi trên thế giới để chấn hưng đất nước[8, tr.249]
a Những cải cách về chính trị - xã hội
Sau khi Thiên hoàng nắm giữ quyền hành thì việc đầu tiên trong việc thay đổi cơ cấu xã hội đó là việc xóa bỏ mâu thuẫn giữa các giai cấp và sự cách biệt giữa các tầng lớp trong xã hội Năm 1869, hình thành 4 tầng lớp mới cho xã hội đó là: Hoa tộc (Kazoku gồm các Daimyo và các quý tộc cao cấp),
Sĩ tộc (shizoku gồm các võ sĩ của các Daimyo và các Bakufu), Tốt tộc (Sostuzoku gồm các giai cấp công, nông, thương), Bình dân (Heimin gồm các
võ sĩ cấp dưới sau khi Mạc phủ sụp đổ không có công việc cụ thể) Trong quá trình bình đẳng tứ dân thì tầng lớp Sĩ tộc phải hy sinh nhiều nhất Khi các võ
sĩ bị tước bỏ quyền đeo kiếm thì họ còn bị dẫn cắt bỏ lương bổng để phát triển kinh tế đất nước
Theo đó, mọi người đều có quyền tự do chuyển đổi chỗ ở và nghề nghiệp của mình; tự do kinh doanh; xác lập quyền sở hữu ruộng đất
Trang 13Sơ đồ cơ cấu tổ chức chính quyền Trung ương
Mô hình nhà nước Thái chính quan về cơ bản tồn tại đến khi chế độ nội các được ấp dụng từ tháng 12 năm 1885 Tuy vậy trong quá trình hoạt động vẫn có sự thay đổi như vào tháng 7 năm 1869 thì chính phủ lại được chia thành 2 quan 6 bộ trong đó Thần chỉ quan tách ra nằm độc lập chỉ phụ trách các vấn đề về tôn giáo còn Thái chính quan trực tiếp quản lý các cơ quan còn lại
Tháng 7 năm 1868, các han bị phế bỏ và thay đổi cơ cấu thành chế độ 3
phủ và 302 huyện Đến tháng 11 năm 1868 hợp nhất thành 3 phủ và 72 huyện Đến ngày 14 tháng 7 năm 1871, chính phủ đã công bố chiếu thư “Phế phiên trí huyện” năm 1888 được cấu tạo thành 1 đạo, 3 phủ và 43 huyện và cơ cấu
tổ chức này được áp dụng cho đến tận ngày nay
Về quân đội, chính phủ thành lập 2 bộ: Bộ lục quân và Bộ hải quân thay thế cho Bộ binh Trong đó, hải quân được tổ chức theo mô hình hải quân của Anh còn lục quân được tổ chức theo mô hình của Phổ
Cải cách về địa tô, mọi người tiến hành nộp tô thuế theo giá trị của mảnh đất, có thể nộp bằng tiền mặt hoặc vật phẩm Mức thuế là 30% giá trị
Trang 14đất và người phải nộp thuế là người chủ của mảnh đất chứ không phải là người lao động làm thuê trên mảnh đất đó
b Những cải cách về kinh tế
Chính quyền tiến hành cải cách kinh tế theo cách xóa bỏ chế độ mang tính chất phong kiến và thiết lập một nền kinh tế hiện đại, khuyến khích mọi người phát triển kinh tế phát triển đất nước và lấy kinh tế để đầu tư cho quân đội, xây dựng nền quân sự lớn mạnh
Chính phủ đề ra các chính sách phát triển kinh tế “Minh Trị sơ kỳ”, lấy xuất phát điểm từ một nước công nghiệp với 72,6% là nông dân Mục tiêu được đề ra là: phát triển công nghiệp hiện đại hóa; mở rộng sản xuất nông nghiệp, giảm mức thuế từ 3% xuống 2,5% giá đất [44, tr.235]
Những biện pháp cụ thể được đề ra: du nhập chuyển giao kỹ thuật sản xuất hiện đại, thuê chuyên gia nước ngoài trong thời kỳ đầu nhưng đến cuối thời Minh Trị thì các chuyên gia được thay đổi dần bằng chuyên gia người Nhật Bản; cử người đi đào tạo ở nước ngoài; mở các trường trung cấp nghề để đào tạo lực lượng lao động; hợp tác kỹ thuật, chuyển giao công nghệ
Năm 1870, chính phủ tiến hành thành lập bộ Công nghiệp, năm 1874
bộ Nội vụ và bộ Tài chính được thành lập Đồng thời, chính phủ tiến hành nhượng lại một số công ty quốc doanh cho những nhà tư bản lớn quản lý nếu
có khả năng hay chuyển nhượng cho các công ty độc quyền có thế lực lớn như Mitsui, Mitsubishi Ngoài ra, nhà nước sẽ quản lý các công xưởng quân
Trang 15chiến thắng trong cuộc chiến tranh Tây Nam Đến năm 1893, Nhật Bản đã có hơn 2.000 dặm đường xe lửa, 100.000 tấn trọng tải tàu biển chạy bằng hơi nước
Hệ thống điện tín, điện thoại và bưu chính được đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động rộng rãi Hệ thống tài cính tiền tệ được cải cách, áp dụng chế độ “Bản vị vàng” để cố định tỷ giá Yên là 1 Đôla Mỹ bằng 2 Yên Nhật Việc áp dụng cố định tỷ giá Yên để tạo điều kiện cho việc xuất khẩu
Từ đây, nền kinh tế Nhật Bản dần phát triển từ một nước nhập khẩu chuyển dần sang xuất khẩu các mặt hàng như dệt, đóng tàu (xuất khẩu sang Trung Quốc)
Với các chính sách phát triển kinh tế được chính quyền Minh Trị đề ra, mặc dù chưa thể hoàn thành đầy đủ và hoàn thiện so với mục tiêu nhưng kinh
tế của Nhật Bản cũng có sự phát triển mạnh mẽ Đến giữa thời kỳ Minh Trị thì nền kinh tế Nhật Bản đã thấy rõ sự phát triển mạnh mẽ, vượt xa các nước phương Đông thời bấy giờ và thoát khỏi nguy cơ bị xâm lược từ các nước phương Tây Hơn nữa, cùng với những điều kiện mà Nhật Bản đã đạt được thì chính quyền Minh Trị đã giành lại quyền sửa đổi ở các bản hiệp ước trước đó với phương Tây, bình đẳng hơn với các nước phương Tây không cần lệ thuộc
và giành lợi ích về cho đất nước
Việc xóa bỏ bất bình đẳng giữa các giai cấp tầng lớp trong xã hội và mọi người được phép tự do lựa chọn nghề nghiệp đã giải phóng một lực lượng lớn các võ sỹ để tham gia vào quá trình lao động kiến thiết đất nước
Những người nông dân trẻ có thể từ bỏ việc làm ruộng để lên thành phố học nghề và tham gia vào các công việc công nghiệp, làm công nhân
Nhờ vào cải cách địa tô, Nhật Bản vẫn chú trọng phát triển nông nghiệp nhưng phát triển theo cách mới, nguồn lực về nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng
Việc đầu tư và phát triển cho công nghiệp nhẹ: tơ lụa, bông sợi (kéo sợi bằng máy thay cho kéo sợi bằng tay khiến cho năng suất lao động tăng mạnh);
Trang 16các ngành công nghiệp nặng: cơ khí sản xuất máy móc, đóng tàu, cơ điện, hóa chất,… hàng hóa của công nghiệp trước hết phục vụ cho đất nước nhưng sau này đã có sự dư thừa và xuất khẩu ra nước ngoài Từ năm 1899 đến năm
1903, Nhật Bản là nước xuất khẩu tơ sống nhiều nhất thế giới, đạt mức 15 triệu pound (tương đương 6.806 tấn) mỗi năm [6, tr.109]
Bảng chỉ số sản xuất công nghiệp từ năm 1880 đến năm 1925
Năm Tính
chung Dệt
Máy móc và công cụ Hóa chất
Nguồn: M.Yoshino “Hệ thống quản lý Nhật Bản – truyền thống và
đổi mới”, tập 1, Viện Kinh tế Thế giới, Hn, 1986, tr 50
Các ngành công nghiệp phát triển mạnh tại Nhật Bản thời kỳ này cho thấy thành công của con đường cải cách của chính quyền Minh Trị Các trung tâm công nghiệp lớn đã được hình thành như: Tokyo, Osaka, Yokohama, Kobe
1.1.2 Cải cách về giáo dục, văn hóa
Để đưa Nhật Bản trở thành một quốc gia phát triển hiện đại như phương Tây thì chính quyền Minh Trị (Meiji) đã chú trọng xây dựng nền giáo dục theo mô hình của các nước phương Tây Trong thời kỳ Edo, việc quản lý
Trang 17về giáo dục đã tạo ra một tỷ lệ dân số biết chữ cao Vì vậy, việc giáo dục thời
kỳ này trở nên dễ dàng hơn
Sau khi tiếp nhận chính quyền từ Mạc phủ, ban lãnh đạo chính quyền Minh Trị (Meiji) đã tiến hành một loạt cải cách nhằm theo đuổi khẩu hiệu mang tính chiến lược: “Học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, đi vượt phương Tây” Để triển khai khẩu hiệu này, một trong ba chính sách lớn của chính quyền Minh Trị (Meiji) được thực thi đó là “Văn minh khai hóa” Do
đó, một cao trào học tập các nước phương Tây đã diễn ra ở Nhật Bản trong khoảng hai thập kỉ đầu thời Minh Trị (Meiji) Và việc tiếp thu văn minh văn hóa phương Tây được bắt đầu ngay từ giáo dục Mặt khác, việc thống nhất lại đất nước cũng là điều kiện quyết định trong công cuộc cải cách giáo dục này của Nhật Bản để vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa đảm bảo an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ
Công cuộc cải cách giáo dục chính thức bắt đầu với việc Bộ giáo dục công bố “Học chế” ngày 3 tháng 8 năm 1872 Học chế gồm 213 điều với một
số tư tưởng chủ đạo như sau:
- Nhà trường dành cho tất cả mọi người và dựa vào kiến thức Âu –
Mỹ
- Đào tạo con người làm giàu cho Tổ quốc và bảo vệ đất nước
- Xây dựng nhiều trường học, mở rộng các trường cao đẳng và chuyên nghiệp
Học chế đã phủ nhận lối suy nghĩ coi học vấn chỉ phục vụ cho lợi ích quốc gia mà “học vấn chính là vốn liếng để lập thân”, chủ trương tư tưởng thực học và khuyến khích mọi người tới trường
Học chế đã vạch ra một hệ thống trường học thống nhất thay cho hệ thống trường học có hai chế độ: một cho võ sĩ, một cho bình dân dưới thời Edo Sự thay đổi này chính là đặc điểm quan trọng nhất của giáo dục thời Minh Trị (Meiji) Bên cạnh đó, học chế còn chia toàn quốc thành 8 khu Đại học Theo đó, ở mỗi khu có một trường Đại học Mỗi khu đại học lại quản lý
Trang 1832 khu trung học, mỗi khu trung học quản lý 210 khu tiểu học Nghĩa là, theo
kế hoạch, Nhật Bản sẽ phải xây dựng trên toàn quốc 53.760 trường học, tức trung bình có khoảng 600 dân 1 trường tiểu học
Để phù hợp với tình hình đất nước, phương châm giáo dục Nhật Bản hướng đến thời bấy giờ mang tính chất toàn diện, toàn dân, hướng đến một nước Nhật Bản trong tương lai không những dồi dào nguồn nhân tài mà còn phục vục công cuộc phát triển toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, chính quyền Minh Trị (Meiji) đã lần lượt cho thực hiện cải cách bằng những nội dung và phương pháp khác nhau:
Về nội dung, cải cách đã tập trung xây dựng một nền giáo dục thực dụng theo kiểu phương Tây, chú trọng tính hiệu quả trong công việc học tập mang lại bởi sở dĩ, nền giáo dục Nho học trước đây quá thiên về hư học, tức chỉ sử dụng Nho học trong việc cung cấp tri thức, giáo dục và đào tạo nhân tài mang tính hàn lâm cao mà bỏ bê việc trang bị kiến thức khoa học kĩ thuật và thực nghiệm Hơn nữa, trong thời kì chủ nghĩa tư bản đang lên lúc bấy giờ thì việc bức thiết đối với Nhật Bản chính là thực hiện một bước đi mới theo kiểu phương Tây
Giáo dục là cái nguồn cội của mọi sự phát triển đất nước Do đó, chính sách của Thiên hoàng Minh Trị (Meiji) đã tập trung ngay vào việc coi trọng giáo dục từ cấp bậc tiểu học và đào tạo đội ngũ giáo viên có chuyên môn chuyên nghiệp Việc giáo dục đối với trẻ em được thực hiện từ rất sớm để hướng đến hình thành nhân cách trẻ Nhật Bản là người có tính tự lập, tự chủ cao, có tinh thần học hỏi cầu tiến, biết khiêm nhường, kính trên nhường dưới
và luôn tôn trọng mọi người Trong những năm đầu cải cách, để đẩy mạnh chiến lược giáo dục toàn diện, chính phủ đã phải tiến hành song song hai biện pháp: Một là, cưỡng chế người dân cho trẻ em đến trường bằng sắc lệnh; hai
là, hỗ trợ người dân về mặt tài chính, chẳng hạn cấp phát những đồ dùng thiết yếu cho học tập của trẻ em như sách giáo khoa, phấn, bút chì,…Một hệ thống trường tiểu học được thiết lập theo Luật trường Tiểu học và được coi là cơ sở
Trang 19của hệ thống giáo dục quốc dân Theo Học chế năm 1872 thì thời gian giáo dục bắt buộc là 8 năm, nghĩa là tất cả trẻ em từ 6 đến 13 tuổi phải được đến trường Môn học chính được chú trọng đối với trẻ em là bậc tiểu học là môn
Tu thân Bởi lẽ, quan niệm của người Nhật Bản là rèn luyện phẩm chất đạo đức không tách rời việc học tập tri thức văn hóa Đây chính là khía cạnh tạo cho nền giáo dục Nhật Bản khác hẳn với nền giáo dục phổ thông ở các nước phương Tây
Đối với giáo viên, việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng được chính phủ đặc biệt chú ý Nhiều chính sách ưu tiên cho những người theo học ngành
sư phạm Nhân việc nhận được tiền bồi thường chiến tranh của nhà Thanh sau cuộc chiến tranh Trung – Nhật năm 1894-1895, chính quyền Minh Trị (Meiji)
đã dành một phần đáng kể để nâng lương cho giáo viên Nhưng bên cạnh những ưu tiên đó, chính phủ cũng buộc họ không được đổi nghề, kèm với đó
là việc đặt ra những tiêu chuẩn rất chặt chẽ, yêu cầu về trình độ giáo viên ngày càng cao Đó là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo của các trường học ở Nhật Bản kể từ thời Minh Trị (Meiji)
Về mục đích, giáo dục Nhật Bản hướng đến một nền giáo dục tiên tiến phương Tây trong mối quan hệ bình đẳng giữa tất cả các tầng lớp trong xã hội, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, ai ai cũng được học tập Việc tiếp thu văn minh phương Tây là một chủ trương lớn của chính quyền Minh Trị được khẳng định trong Năm lời thề (14-3-1868) khẩu hiệu mang tính chiến lược: “Học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, đi vượt phương Tây” Vốn là một dân tộc nhạy cảm với những biến đổi bên ngoài và có khả năng thích nghi cao, Nhật Bản tiếp thu những thành tựu và văn hóa phương Tây một cách khá nhanh chóng Sau đó, Nhật Bản lần lượt từng bước biến nó thành tài sản của mình, nghĩ là, luôn giữ thái độ tiếp thu một cách chủ động
mà vẫn đảm bảo việc duy trì và phát huy tốt bản sắc dân tộc Do đó, việc du nhập văn minh phương Tây dưới thời Minh Trị cũng được thực hiện với phương châm như vậy
Trang 20• Một số thành tựu trong công cuộc cải cách giáo dục
Trong công tác giáo dục và đổi mới giáo dục, “Tính đến năm 1890 đã
có khoảng 3.000 chuyên gia giáo dục ngoại quốc sang làm việc ở ngành giáo dục Nhật Bản” [9, tr.129] Với quyết tâm nâng cao trình độ dân trí, chính quyền đã áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc và bình đẳng cho tất cả mọi thành phần xã hội Nhờ đó, “năm 1873, mới chỉ có 28% tổng số cư dân đến tuổi đi học thì năm 1882 con số này đã tăng lên 50%, năm 1895 là 67%, 1904 là 98%” [9, tr.129]
Thành tựu mà Nhật Bản đã đạt được trong giáo dục đúng như theo nhận xét của Edwin O Reischauer: “Một nền giáo dục phổ cập đã khiến cho Nhật Bản trở thành nước đầu tiên ở châu Á có một quần chúng biết đọc biết viết Một trình độ giáo dục phổ thông cao, cũng như sức mạnh quân sự và khả năng kĩ nghệ là lý do cắt nghĩa tại sao Nhật Bản đã chiếm được ưu thế tại vùng Đông Á vào nửa đầu thế kỉ XX” [31, tr151]
Trong sự nghiệp duy tân đất nước, giáo dục là ngành đặc biệt được coi trọng bởi vai trò đặc thù tạo nên nguồn lực trí thức cho sự phát triển căn bản
và bền vững của tất cả các ngành sản xuất, kĩ thuật, quản lý của Nhật Bản Trong công cuộc đổi mới giáo dục đó phải kể đến công lao của Fukuzawa Yukichi (1835-1901) Ông được tôn vinh là “người thầy của dân tộc”, “người cha của nước Nhật cận đại” và “Voltaire của Nhật Bản” Tư tưởng cải cách của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình thiết lập và sự phát triển của một nhà nước mới và có ý nghĩa vạch đường đi cho dân tộc
Để đẩy mạnh việc tiếp thu văn minh phương Tây, yêu cầu đất nước phải có một nền tảng học, am hiểu những lĩnh vực chuyên môn của người nước ngoài Do đó, buộc phải có một đội ngũ học giả có quan hệ mật thiết với nhau, cùng đóng góp công sức cho công cuộc đổi mới trong giáo dục, để vừa
có thể trao đổi học vấn, vừa có thể học hỏi lẫn nhau, Mori Arinori (Sâm lễ; 森有礼 ; 1847-1889) đã đề nghị “thiết lập một học hội vừa để chấn hưng học thuật vừa để làm gương mẫu đạo đức” [48]
Trang 21Hữu-Vì thế Mori Arinori đã cùng bàn bạc với Nishimura Shigeki (Tây-thôn Mậu-thụ; 西村茂樹 ; 1828-1902) về khả năng thành lập một hội trí thức dựa theo mô hình của Hoa Kỳ Hội mang tên là Meirokusha (Minh-lục-xã), bởi lẽ việc thành lập hội được thảo luận vào năm thứ 6 thời Minh Trị (1873)
“Minh” là Minh Trị, “lục” là 6, và “xã” là hội Tôn chỉ thiết lập của hội công
bố một năm sau đó, được tóm tắt như sau: “Nhằm xúc tiến giáo dục trong nước, nhóm hữu chí chúng tôi thương nghị về các biện pháp, hội họp các người đồng chí để trao đổi ý kiến, mở mang kiến thức”[42, tr.403] Qua tháng
2 năm 1875, Meirokusha được chính thức thành lập
Sau khi thành lập, hội trí thức Meirokusha đã bắt tay ngay vào việc dịch thuật, truyền bá tri thức và những khái niệm khoa học sang Nhật ngữ, đặc biệt là các thuật ngữ chính trị, khoa học, triết học Không dừng lại ở đó, các học giả còn nhận thấy giá trị tư tưởng và triết luận trong tinh thần văn minh phương Tây nên đã chủ trương tiếp thu cả những văn minh đó nhưng trên cơ sở vẫn duy trì và bảo tồn hệ tư tưởng phương Đông Nishi Amane - một quan viên của hai chính quyền Tokugawa và Minh Trị (Meiji) đã viết thư gửi giáo sư J J Hoffmann – người mà ông từng thụ giáo trong thời gian du học ở Leiden, Hà Lan, vào thập niên 1860 như sau: “Nhằm cải thiện quan hệ với các nước Âu châu, nội chính và các cơ chế ở Nhật cần phải được đổi mới Nhưng muốn đổi mới thì phải có kiến thức về các ngành thống kê, luật pháp, kinh tế, chính trị học, quan hệ ngoại giao, nhưng các ngành này chưa có ai dạy ở Nhật Bởi vậy, mục đích của chúng tôi là học đủ mọi thứ và nghiên cứu
cơ sở triết học của các ngành đó Vì cơ sở tôn giáo trong luật pháp của nước chúng tôi khác với triết học của Descartes, Locke, Hegel, và Kant, chúng tôi
sẽ nghiên cứu tất cả Chúng tôi cảm thấy việc nghiên cứu các đề tài này sẽ
có ích cho việc nâng cao trình độ văn hóa của chúng tôi” [Trích dẫn 7, tr.214] Các học giả trong hội Meirokusha đã để lại rất nhiều tác phẩm có anh hưởng mạnh mẽ đến xã hội lúc bấy giờ, trong đó có “Lân thảo” của Kato viết năm
Trang 221861, “Tây dương sự tình” của Fukuzawa Yukichi, “Bách nhất tân luận” của Sishi Amane,…
Mặt khác, để canh tân đất nước trong giáo dục được toàn diện, người Nhật cũng nhận ra điều cần thiết là phải kiên quyết loại bỏ lối tư duy cũ và cách thức lỗi thời Yêu cầu đặt ra là phải coi trọng thực học và những giá trị thực tiễn hơn là lý chỉ mang tính thuyết hàn lâm, giáo điều Do đó, cùng với việc cử trí thức đi nước ngoài học tập, Nhật Bản còn cho mời các giáo sư, chuyên gia ngoại quốc về giảng dạy và làm cố vấn trong các lĩnh vực khác nhau
Như vậy, sau khi chính quyền Tokugawa trao trả lại quyền lực chính và đất đai cho Thiên hoàng và Nhật Bản mở cửa đất nước thì Nhật Bản đã bước đầu khôi phục lại được tổn thất trước kia do chính quyền Tokugawa gây ra, đặc biệt là trong hệ thống giáo dục, đưa nước Nhật ngày càng hưng thịnh sánh ngang với sự phát triển của các nước phương Tây và đi đầu trong các nước Đông Á về giáo dục
Trong công cuộc tiếp thu nền tri thức của phương Tây thì trong đời sống văn hóa Nhật Bản cũng có sự thay đổi rõ rêt khi chính quyền đưa ra lệnh
áp dụng trong cả nước về việc ăn mặc, đi lại của người dân Theo đó, đàn ông thay vì để tóc dài của thời Mạc phủ thì đến thời kỳ này đàn ông phải cắt tốc ngắn giống Tây hóa, việc tham dự trong những buổi lễ quan trọng thì phải mặc Âu phục đi giày da Việc dùng đồ dùng phương Tây được coi là đúng mốt và sang trọng
Chính phủ Minh Trị ra quyết định thay đổi từ sử dụng lịch Âm sang sử dụng lịch Dương theo các nước phương Tây
Xu hướng Tây hóa trong xã hội Nhật Bản được thể hiện rõ nhất trong việc ăn uống Thời kỳ Mạc phủ mọi người chủ yếu ăn uống lấy các món rau,
cá là chủ yếu nhưng đến thời kỳ này thì việc ăn thịt được nhiều người làm theo Trong đó, việc ăn lẩu bò được mọi người coi là văn minh và mọi người đều thi đua nhau ăn lẩu bò
Trang 23Đỉnh điểm của xu hướng Tây hóa là việc xây dựng Minh Lộc quán (Rokumeikan) năm 1883 do kiến trúc sư người Anh Josiah Conder (1852-1920) thiết kế, sử dụng để tiếp khách nước ngoài và nơi gặp gỡ của giới thượng lưu, đây là kiến trúc theo mô hình của châu Âu thời kỳ Trung cổ
Từ đó ta thấy rõ quyết tâm cải cách đất nước theo phong trào Tây hóa của Nhật Bản để đưa đất nước đi lên thoát khỏi xã hội phong kiến lạc hậu
Việc tiếp cận văn hóa từ Âu – Mỹ kết hợp với văn hóa truyền thống đã tạo nên nét văn hóa mới mang đặc trưng riêng cho văn hóa Nhật Bản Các nét văn hóa từ ăn mặc, đi lại đều theo phong cách phương Tây Đồng thời, hàng loạt các tòa soạn báo được mở ra
Thiên chúa giáo du nhập vào Nhật Bản thời kỳ đầu còn bị sự bài xích nhưng từ sau năm 1873 thì các nhà truyền giáo được phép hoạt động tự do và Thiên chúa giáo không bị cấm tại Nhật Bản nữa
Trong lĩnh vực học thuật cũng có sự thay đổi theo hướng phương Tây
Về cả triết học, luật học hay kinh tế học thì trường phái chủ đạo được chính quyền Minh Trị lựa chọn đều là trường phái của Đức
Việc phổ cập giáo dục là một chính sách được coi là thành công trong thời kỳ Minh Trị Số người biết chữ ở Nhật Bản tăng cao, trình độ dân chí được nâng lên tạo điều kiện cho sự phát triển nền văn học mới nền văn học này dựa trên chủ nghĩa tả thực để miêu tả chân thực về cuộc sống con người
và thiên nhiên Nhật Bản Về thơ ca, thơ của thời kỳ Minh Trị chịu ảnh hưởng nhiều từ phương Tây nên đã hình thành kiểu thơ mới không bị rành buộc như kiểu thơ thời kỳ Mạc phủ
Các lĩnh vực khác như hội họa, âm nhạc, kiến trúc cũng chịu ảnh hưởng mạnh của phương Tây Mọi người sẽ học khiêu vũ, tổ chức tiệc tùng, hòa nhạc tại các phòng xây dựng theo phong cách châu Âu như Minh Lộc quán
Các chính sách cải cách mà chính phủ Minh Trị đã đặt ra và tiến hành
là một bước đi vững chắc đưa nước Nhật thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu dễ bị phương Tây xâm lược Chính sách giáo dục giúp cho Nhật Bản xây
Trang 24dựng một lực lượng nhân công lao động có trình độ cao, phát triển kinh tế Việc đào tạo những người trẻ tuổi tại nước ngoài đã làm cho số lượng chuyên gia kỹ thuật tăng Các trường nghề được mở ra và việc thực hiện chính sách tự
do trong công việc đã làm cho cuộc sống người dân được nâng cao
Các chính sách về phát triển kinh tế đã biến Nhật từ một nước phụ thuộc và phương Tây thành một nước đã tự đứng lên xuất khẩu sản phẩm sang phương Tây và có thể đặt điều kiện ký các bản hiệp ước bình đẳng với phương Tây
Về các lĩnh vực như quân sự, luật học,… Nhật Bản đã tiếp thu thành công các thành tựu của phương Tây để áp dụng vào đất nước mà không phải chịu nhiều ảnh hưởng của việc thử nghiệm Ví dụ về quân sự, mô hình hải quân của Anh và mô hình lục quân của Đức là hai mô hình quân sự mạnh lúc bấy giờ và Nhật Bản đã kế thừa và vận dụng thành công vào mô hình quân sự của nước mình Từ đó tạo điều kiện hình thành lực lượng quân sự mạnh mẽ trong chiến tranh thế giới
1.1.3 Cải cách về ngoại giao
Để đổi được sự hòa bình nhằm tập trung cho phát triển nền kinh tế và thay đổi trong xã hội thì Nhật Bản cũng đã phải trả một cái giá nhất định Trong thời kỳ bắt đầu phá bỏ chính sách “Bế quan tỏa cảng” thì chính phủ Minh Trị đã tiến hành ký các bản Hiệp ước bất bình đẳng với các nước phương Tây và đổi lại việc không bị phương Tây xâm lược Nhưng đến thời điểm đất nước Nhật Bản đang trên đà phát triển thì đối với phương Tây, Nhật Bản đã trở thành một mối “hiểm họa ngầm” vì thế cần thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn sự phát triển và bành trướng của Nhật Bản Đối với chính phủ Minh Trị thì lại cảm thấy ngược lại, khi họ có thể tự chủ về kinh tế
- xã hội đang trên đà phát triển mạnh, hơn thế nữa họ nhìn thấy tiềm năng quân sự của chính quốc gia của mình Vì thế nên họ cảm thấy các bản Hiệp ước bất bình đẳng đã ký trước đó làm cản trở sự phát triển đất nước, các cường quốc phương Tây cũng đang tìm cách chèn ép Nhật Bản Chính vì vậy,
Trang 25nhiệm vụ tiên quyết của Nhật Bản lúc này là tìm cách để xóa bỏ các bản Hiệp ước bất bình đẳng đã ký với phương Tây trước đó Nhưng nhiệm vụ này đã bị thất bại nhanh chóng Chúng ta có thể nhận thấy rất rõ ràng rằng: đối với các cường quốc phương Tây thì miếng mồi béo bở như Nhật Bản họ sẽ không thể nào để vượt ra khỏi tầm tay của họ được Khi các bản Hiệp ước vẫn còn tồn tại thì Nhật Bản vẫn còn là một nước chịu sự chi phối của phương Tây, các bản Hiệp ước mất đi giá trị có thể khiến cho Nhật Bản thoát khỏi sự khống chế và vượt lên Điều này khác gì việc phương Tây tự họ tạo nên một đối thủ cho chính bản thân mình Phương Tây đến các nước phương Đông với mục đích chính là để xâm lược và cướp nguồn tài nguyên chứ không phải để giúp
đỡ, xây dựng một đất nước lớn mạnh mà có thể trở thành đối thủ trong tương lai của họ
Với Nhật Bản, sau khi thất bại trong cuộc đàm phán thì chính phủ Minh Trị đã tìm cách mở rộng sức ảnh hưởng của Nhật Bản ra bên ngoài Mục tiêu đầu tiên mà chính phủ Nhật Bản nhằm tới đó chính là Trung Quốc Trong suốt bao nhiêu năm tồn tại, Trung Quốc luôn tự xưng mình là “anh cả” của khu vực Phương Đông Trong lịch sử thì Trung Quốc cũng có nhiều lần đàn
áp Nhật Bản, vì thế để bước đầu khẳng định sức mạnh của đất nước, khếch trương thanh thế của mình thì Nhật Bản đã lấy lý do tranh giành sức ảnh hưởng của Nhật Bản trên chủ quyền của bán đảo Triều Tiên nhằm gây xung đột với chính quyền nhà Thanh Trong khoảng thời gian trước thì bán đảo Triều Tiên vẫn chịu sự khống chế của chính quyền nhà Thanh, chính vì vậy nên việc Nhật Bản có ý định với Triều Tiên đã dẫn đên cuộc xung đột Nhật – Thanh năm 1904, đồng thời cũng dẫn đến chiến tranh Nhật – Nga năm 1905
Hai cuộc chiến tranh Nhật Bản đều giành thắng lợi và yêu cầu hai nước thua trận ký kết các bản hiệp ước nhằm công nhận chủ quyền của Bản đảo Triều Tiên và sau này bán đảo Triểu Tiên sẽ phụ thuộc vào Nhật Bản Đặc biệt sau chiến tranh Nhât – Thanh, Nhật Bản giành lại những lợi ích từ việc nhà Thanh bồi thường chiến tranh nhằm đẩy mạnh sự phát triển về quân sự
Trang 26Nguyên nhân Nhật Bản lựa chọn chiến tranh với nhà Thanh và Nga là do: đây là hai nước có tiềm lực mạnh, và có sức ảnh hưởng trên khu vực châu
Á Hơn thế nữa, trong thời điểm đấy thì hai nước đang trong giai đoạn suy yếu nên khó có thể giành thắng lợi so với Nhật Bản Khi Nhật Bản tiến hành chiến tranh và giành thắng lợi có thể khiến cho các nước khác có cái nhìn khác về nước Nhật: Nhật Bản không còn là một quốc gia nhỏ bé nằm ở châu
Á nữa mà giờ đây Nhật Bản đã trở nên mạnh mẽ khi có thể đánh thắng được một đất nước lớn mạnh luôn xưng là “anh cả” châu Á và một nước nằm trong khối các cường quốc phương Tây như Nga Chính vì vậy, việc chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh không những giúp cho Nhật Bản củng cố thêm về kinh tế do nhận được bồi thường mà còn giúp cho quân đội Nhật Bản trở nên lớn mạnh hơn, người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính phủ hơn Hai cuộc chiến tranh đều nhận được sự đồng lòng nhất trí từ chính nhân dân Nhật Bản, họ luôn muốn khẳng định sức mạnh của dân tộc mình ra bên ngoài thế giới, chính niềm tự tôn dân tộc của họ đã tạo động lực để người dân giảm thiểu chi tiêu sinh hoạt nhằm tập trung kinh tế để phát triển đất nước
Trong giai đoạn này, ngoại giao của Nhật Bản chú trọng chủ yếu đến việc mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản ra các nước khác trong khu vực Con đường chính phủ Minh Trị lựa chọn để khuyếch trương thanh thế của Nhật đó chính là con đường quân sự Nhật Bản đã tạo ra hai cuộc chiến tranh với hai quốc gia có ảnh hưởng lớn tại châu Á để nhằm khẳng định sức mạnh của mình, tuyên bố với các nước khác sự tòn tại của một quốc gia mang tên Nhật Bản, hơn thế nữa, quốc gia này tuy có lãnh thổ nhỏ bé nằm tại phía đông châu
Á nhưng lại có sức mạnh quân sự mà các nước khác không thể coi thường
1.2 Sự thay đổi đường lối ngoại giao của Nhật Bản từ chiến tranh Thế giới thứ nhất đến Hội nghị Washington (1921-1922)
1.2.1 Về kinh tế - chính trị - xã hội
a Tình hình thế giới
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản ở phương Tây phát triển mạnh điều này đặt ra yêu cầu về việc thiết lập một trật tự thế
Trang 27giới mới để mở rộng thị trường cho các cường quốc lớn ở Châu Âu Vì vậy tại khu vực Châu Âu đã trở thành chiến trường lớn giữa các cường quốc mới và cường quốc cũ, cuộc chiến chia làm hai phe đó là phe Hiệp Ước (chủ yếu là Anh, Pháp, Nga, và sau đó là Hoa Kỳ, Brasil) và phe Liên Minh (chủ yếu là Đức, Áo-Hung, Bulgaria và Ottoman) Châu Âu giai đoạn này được coi như một chiến trường khốc liệt của thế giới, quân đội giữa hai phe tranh giành mức ảnh hưởng tạo nên sức công phá gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế Toàn
bộ sức người và kinh tế đều được các nước sử dụng cho chiến tranh gây ra mâu thuẫn giữa chính quyền và tầng lớp lao động ngay trong chính nội bộ những cường quốc kinh tế Cuộc chiến này làm cho châu Âu tụt hậu và mất đi vai trò lãnh đạo văn minh nhân loại mà nó đã đảm đương trong hơn 300 năm qua và dần dần vai trò đó chuyển sang bên kia đại dương cho Hoa Kỳ Chiến tranh gây ra sự thay đổi rất lớn trong bản đồ chính trị châu Âu Cuộc chiến dẫn đến sự sụp đổ của bốn đế quốc Nga (1917), Đức (1918), Áo - Hung (1918), Ottoman (1923) với các triều đình quân chủ hàng trăm năm bị suy đổ trong đó hai cường quốc Áo - Hung và Ottoman bị phân rã và mất hẳn vai trò cường quốc Hai đế quốc Đức, Nga bị cắt xén lãnh thổ và bị kiềm chế với tình cảm dân tộc nước lớn bị tổn thương sâu sắc và đó là mảnh đất rất tốt cho tư tưởng phục thù để dẫn đến một thế chiến mới Rất nhiều các nước nhỏ xuất hiện từ sự phân rã của các đế quốc và từ sự phân chia mang tính chủ quan, quan liêu của các cường quốc thắng trận dẫn đến các mâu thuẫn lộn xộn gây mất ổn định thế giới sau này
Một trong những ảnh hưởng lâu dài nhất của Chiến tranh thế giới thứ nhất là sự ra đời của Liên Bang Xô Viết Chiến tranh đã làm cho người dân Nga lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn Hoàn cảnh này đã đẩy Nga vào cuộc Cách mạng tháng Mười với sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản Điều
đó khiến cho các nước phương Tây vô cùng lo sợ và đề phòng sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản, làm nảy sinh những mối nghi ngờ liên tục lẫn nhau giữa các nước này và Liên Xô gần như suốt cả thế kỷ XX Chiến tranh Thế giới lần
Trang 28thứ Nhất kết thúc cũng là sự mở màn cho thế lực phát xít lên ngôi tại nhiều nước trong bối cảnh xã hội bất ổn như tại Ý và Đức Như vậy châu Âu sau cuộc chiến đã có sự chia rẽ rõ rệt về mặt chính trị giữa các lực lượng tạo bệ phóng cho một cuộc thế chiến mới
Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, để phục hồi lại nền kinh
tế đã bị kiệt quệ do chiến tranh thì các cường quốc đã mở cuộc họp nhằm thống nhất chia lại thế giới một lần nữa Hội nghị Washington được tổ chức tại Hoa Kỳ Trong Hội nghị Washington, Nhật Bản đã bị các nước lớn phương Tây chèn ép gây bất lợi với những điều ước bất bình đẳng
Khoảng nửa cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ ban hành luật liên quan đến sự phân biệt chủng tộc đối với người nhập cư châu Á Điều này bắt đầu từ khi số lượng công nhân nhập cư từ Trung Quốc đến Hoa Kỳ tăng nhanh Mặc dù người Trung Quốc được tuyển dụng sang Hoa Kỳ để làm nhiều trong ngành công nghiệp khai thác mỏ và đường sắt nhưng người da trắng ở các bang và vùng lãnh thổ Hoa Kỳ lại xem người nhập cư như một nguồn cạnh tranh kinh
tế và đe dọa đến chủng tộc "thuần khiết" của họ Cùng với đó thì người Nhật nhập cư vào Hoa Kỳ giai đoạn này cũng bị ảnh hưởng bởi đạo luật này Tiêu biểu lại tại Tiểu bang California, người Nhật ở đây bị hạn chế quyền mua và
sử dụng đất, nhất là các trang trại của Nhật tại đây cũng bị hạn chế để làm giảm sự cạnh tranh giữa các trang trại của Nhật Bản và trang trại địa phương
Đến đầu thế kỷ XX, sự phân biệt chủng tộc chống Nhật Bản đã càng trở nên mạnh mẽ khi người dân ở California nhận thấy sự chiến thắng của Nhật Bản trước cuộc chiến tranh Nga-Nhật, họ đã cảm thấy có một mối nguy hiểm mang tên “nguy hiểm màu vàng ở California”
Vào ngày 11 tháng 10 năm 1906, Hội đồng Giáo dục California, San Francisco đã thông qua một quy định, theo đó trẻ em gốc Nhật Bản sẽ được yêu cầu tham dự các trường riêng biệt phân biệt chủng tộc Vào thời điểm đó, người nhập cư Nhật Bản chiếm khoảng 1% dân số California; nhiều người
Trang 29trong số họ đã đi theo hiệp ước năm 1894 đã đảm bảo nhập cư tự do từ Nhật Bản
Năm 1931, việc Nhật Bản đưa quân tấn công vào Trung Quốc và việc gây ra chính biến Mãn Châu của Nhật Bản đã bị chỉ trích một cách toàn diện tại Hoa Kỳ Ngoài ra, những người dân Hoa Kỳ đã phẫn nộ với những tội ác của Nhật Bản gây ra tại Trung Quốc, chẳng hạn như vụ thảm sát ở Nam Kinh, dẫn đến kêu gọi can thiệp kinh tế của Hoa Kỳ để khuyến khích Nhật Bản rời khỏi Trung Quốc; những cuộc gọi này đóng một vai trò trong việc định hình chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Ngày càng có nhiều báo cáo bất lợi về hành động của Nhật Bản được chính phủ Hoa Kỳ chú ý, các lệnh cấm cung cấp dầu
và các vật tư khác đã được đưa lên Nhật Bản, không quan tâm đến dân chúng Trung Quốc và vì lợi ích của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương Hơn nữa, người Hoa Kỳ gốc Châu Âu trở nên rất ủng hộ Trung Quốc và chống Nhật Bản, một
ví dụ là một chiến dịch phụ nữ ngừng mua tất lụa, bởi vì nguyên liệu được mua từ Nhật Bản
b Tình hình Nhật Bản
Vào ngày 1 tháng 8 năm 1914 khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra thì thay vì đưa quân đội cùng tiến công với các nước phe Hiệp Ước thì Nhật Bản lại lợi dụng cơ hội chiến tranh nổ ra mạnh mẽ ở Châu Âu để nhằm trục lợi ích
về kinh tế tại thị trường Trung Quốc Để thực hiện được âm mưu này thì về phía quân sự, Nhật Bản không đưa quân đội sang chiến trường Châu Âu mà tiến hành dẫn quân sang chiếm các cứ điểm của quân đội Đức tại Trung Quốc
và khu vực Nam Thái Bình Dương như Thanh Đảo (thuộc tỉnh Sơn Đông) hay các quần đảo Mariana, Carolines, Sau đó Nhật Bản tiếp tục tăng cường
sự ảnh hưởng của mình đến Trung Quốc bằng cách ép chính phủ Trung Quốc
ký các bản hiệp ước để phụ thuộc và Nhật hơn
Tiêu biểu như tháng 1 năm 1915, Nhật Bản đã đưa ra “21 yêu sách” [8, tr.292] buộc Trung Quốc phải lệ thuộc vào Nhật Bản trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị và quân sự
Trang 30Vào tháng 9 năm 1917, Nhật Bản đã cử cựu Bộ trưởng Ngoại giao Kikujirō Ishii 1sang Hoa Kỳ để yêu cầu Hoa Kỳ đồng ý với bản hiệp ước này của Nhật, thừa nhận chủ quyền của Nhật bản trên vùng lãnh thổ Trung Quốc Chính việc này đã làm cho mâu thuẫn giữa chính quyền Hoa Kỳ và Nhật Bản ngày càng tăng lên
Sau khi chiến tranh thế giới thứ Nhất chấm dứt, ngoài lợi ích đạt được
do Nhật Bản thuộc phe các nước thắng trận thì Nhật cũng thu được nguồn lợi kinh tế lớn từ thị trường Trung Quốc, việc này làm ổn định nguy cơ tài chính
và giải quyết được những khó khăn về kinh tế của Nhật Bản Những chính sách ngoại giao được Nhật Bản đưa ra tại Hội nghị Hòa bình ở Pari2 (1/1919)
và Hội nghị Washington (1921 – 1922) đã mang lại những lợi ích lớn cho Nhật bản với tư cách là một nước thắng trận, thay thế sự ảnh hưởng của Đức tại một số địa điểm ở Trung Quốc và Nam Thái Bình Dương
Sự lớn mạnh nhanh chóng của Nhật bản đã làm cho các nước phương Tây lo ngại Chính quyền và người dân các nước khu vực châu Âu và Hoa Kỳ
lo ngại về mối “nguy hiểm Nhật Bản” nên khi các đề nghị mà chính quyền Nhật Bản đưa ra tại công nhận quyền bình đẳng giữa các chủng tộc được ghi vào Hiến chương của Hội Quốc liên nhưng lại bị các nước phương Tây bác
bỏ Tiêu biểu nhất của sự phân biệt chủng tộc này là Hoa Kỳ đã hai lần thực thi chính sách phân biệt chủng tộc 3(đặc biệt là có sự phân biệt đối với Nhật Bản) Các nước phương Tây nhất là Hoa Kỳ tuy đã thấy được sự lớn mạnh của Nhật nhưng họ vẫn cảm thấy Nhật Bản vẫn chưa thể ngang hàng với các cường quốc như họ khi Nhật mới thể hiện được sức ảnh hưởng của mình tại
1 Kikujirō Ishii (石井菊次郎 1866- 1945), ông là vị Bộ Trưởng Ngoại giao thứ 16 của Nhật Bản, từ tháng 10 năm 1915 đến tháng 10 năm 1916
2 Hội nghị Hòa bình Paris diễn ra năm 1919 là cuộc gặp mặt của các nước thắng trận sau chiến tranh thế giới thứ nhất để thiết lập các điều khoản hòa bình cho các nước bại trận tiếp sau thỏa thuận ngừng bắn ký năm
1918 Hội nghị được tổ chức ở Paris có sự tham dự của những nhà ngoại giao thuộc hơn 32 quốc gia và dân tộc
3 Lần 1: năm 1920, theo hiệp ước tại Hội nghị Washington Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã đưa ra quyết định người Nhật không được nhập quốc tịch Hoa Kỳ, người Nhật nói riêng và người Châu Á nói chung không được mua hay thuê đất đai trên ba năm tại Hoa Kỳ Lần 2, năm 1924, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật cũng mang tính kỳ thị người Nhật Bản Chính vì vậy đã càng gia tăng mâu thuẫn giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ
Trang 31khu vực Châu Á mà chứ mở rộng ra bên ngoài Đồng thời, các cường quốc cũng lo ngại sự phát triển của Nhật Bản nên đã cố gắng tạo ra các điều khoản
ép buộc Nhật bản phải thừa nhận sự mua bán trao đổi của các cường quốc tại thị trường Trung Quốc, điều này khiến Nhật mất đi sự độc quyền tại bán đảo Sơn Đông mà Nhật đã chiếm được
Về tình hình trong nước, do chính quyền lức đó tập trung kinh tế cho sự phát triển quân sự, chú trọng phát triển ngành công nghiệp nặng Điều này làm gia tăng nhanh chóng lực lượng của tầng lớp vô sản, người dân bị mất đất phải đi làm công nhân, giá cả thị trường lại trở nên đắt đỏ, tiền thuế tăng cao, trong khi đó thì tiền lương trả cho người lao đồn lại rẻ mạt
Tất cả những nguyên nhân trên đã gây ra sự mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt Cùng với đó, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng đến tư tưởng của những công nhân lao động nghèo khổ của xã hội Đến tháng 8 năm 1918, sự bạo động đó đã bắt đầu nổ ra để chống lại việc giá gạo ngày càng đắt đỏ, các địa chủ và thương nhân giàu có thì đầu cơ trục lợi bằng cuộc “bạo động gạo” Cuộc bạo động này bắt đầu nổ ra tại thành phố Toyama nhưng đã nhanh chóng lan rộng ra các thành phố lớn khác như Kyoto, Osaka, Kobe và Tokyo Khoảng 10 triệu người đã tham gia vào cuộc bạo động bao gồm nông dân, công nhân, ngư dân ven biển, thợ thủ công và sinh viên [8, tr.296]
Chính phủ của phái quân sự - quan liêu là Terauchi Masatake (寺内正
毅 1852 – 1919) vì đã thẳng tay đàn áp cuộc bạo động, gây nên mâu thuẫn với người dân nên đã buộc phải từ chức Đến tháng 9 năm 1918, thủ lĩnh của Đảng Seiyukai là Hara Takashi (原敬 1856 – 1921) đã lên làm Thủ tướng và nắm quyền lãnh đạo Nhật Bản
Trong thời kỳ chiến tranh, nền kinh tế Nhật Bản đi lên nhanh chóng do các nước châu Âu tập trung vào cuộc chiến và Nhật Bản được hưởng lợi từ thị trường Trung Quốc Nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, các nước phương
Trang 32Tây tập trung vào phát triển kinh tế, đồng thời Hoa Kỳ đã ép sức ảnh hưởng của Nhật trên thị trường Trung Quốc xuống thấp (mất đi sự độc quyền) khiến cho nền kinh tế Nhật Bản từ một nước xuất khẩu đã trở thành nước nhập siêu gây nền sự khủng hoảng về kinh tế Nhật Bản Cùng với đó, khủng hoảng kinh
tế thế giới 1920-1921 và trận động đất năm 1923 đã khiến cho nền kinh tế Nhật bản ngày càng kiệt quệ, cuộc sống của người dân Nhật Bản ngày càng khó khăn hơn
Để giải quyết tình trạng khó khăn này thì chính quyền Nhật Bản đã đưa
ra chủ trương bành trướng thế lực của Nhật Bản ra bên ngoài Tuy nhiên, về đường lối chính sách lại có sự mâu thuẫn giữa hai phe phái là phe tài phiệt và phe quân phiệt Trong khi phe tài phiệt muốn nâng cao sự ảnh hưởng của Nhật bản bằng sự tập trung cho phát triển kinh tế ra bên ngoài thì phe quân phiệt lại ủng hộ sự gia tăng sức mạnh quân sự đẻ tiến hành bành trướng xâm lược các nước khác để mở rộng thị trường Trong thời điểm này thì chính quyền phe quân phiệt tạm thời thắng thế và thực hiện các biện pháp quân sự nhằm mở rộng sự bành trưởng cảu Nhật Bản
Đến tháng 6 năm 1924, tại cuộc bầu cử thủ tướng, thủ lĩnh của Đảng Kenseikai là Kato Takaaki (加藤高明 1860 – 1926) đã lên cầm quyền Chính đảng này có mối quan hệ lớn đối với các tập đoàn tài phiệt nên đã có sự cạnh tranh với chính đảng Seiyukai - ủng hộ phe quân phiệt
Khi chính phủ Kato lên cầm quyền đã thực hiện các chính sách nhằm xoa dịu mối quan hệ gay gắt giữa các giai cấp tầng lớp trong xã hội Nhật Bản Trong đó có việc thi hành chính sách hợp tác giai cấp, dần dần thi chính phủ Kato đã làm dịu đi mối quan hệ giữa chính phủ và tổ chức công đoàn Sodomei 4đông thời tạo nên chỗ đứng vững chắc trong tổ chức này vào năm
1924
4 Tổ chức công đoàn Sodomei: với tên đầy đủ là Nihon Rono Sodomei, được thành lập từ năm 1921 dựa trên
tổ chức Yuaikai (Ái hữu hội) sau cuộc “bạo động gạo” và trở thành tổ chức toàn quốc của liên đoàn lao động Nhật Bản
Trang 331.2.2 Hội nghị Wasington 1921-1922
Hội nghị Washington còn gọi là Hội nghị Hải quân Washingon hay Hội nghị Vũ khí Washington là một hội nghị quân sự do chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Warren G Harding khởi xướng, tiến hành tại Washington DC
từ ngày 12/12/1921 đến ngày 6/2/1922 ngoài khuôn khổ của Hội Quốc Liên Tham dự hội có 9 quốc gia có lợi ích tại Thái Bình Dương và Đông Á Liên
Xô không được mời tham dự hội nghị Đây là hội nghị quốc tế đầu tiên tiến hành tại Hoa Kỳ và là hội nghị đầu tiên về kiểm soát vũ khí trong lịch sử
Hội nghị kết thúc với sự ký kết ba hiệp ước chính là Hiệp ước bốn bên, Hiệp ước năm bên (được biết đến phổ biến hơn với tên Hiệp ước Hải quân Washington) và Hiệp ước chín bên Ngoài ra còn một loạt các hiệp ước nhỏ hơn giữa các quốc gia tham dự hội nghị Các hiệp ước này giúp duy trì hòa bình trong thập niên 20 thế kỉ 20 nhưng đồng thời cũng được coi là đã mở đường cho sự nổi lên của Đế quốc Nhật như một cường quốc về hải quân, một trong những yếu tố dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai
Hiệp ước bốn nước Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản ký kết ngày 13 tháng
12 năm 1921 về việc không xâm lược ở Thái Bình Dương, hiệp ước này có giá trị 10 năm
Hiệp ước chín nước ký ngày 6 tháng 12 năm 1922 nhằm công nhận nguyên tắc hoàn chỉnh về lãnh thổ và tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc Quyết định Trung Quốc trở thành thị trường chung của các nước đế quốc phương Tây
Hiệp ước năm nước: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ý và Nhật Bản ký ngày 6 tahsng 12 năm 1922 về hạn chế cũ trang và hải quân Quy định tàu chiến ở khu vực Thái Bình Dương
Sau Hội nghị Washington, Anh chấp nhận nhượng bộ Hoa Kỳ về quân
sự Liên minh Anh - Nhật bị hủy bỏ Hoa Kỳ mở rộng ảnh hưởng của mình tại thị trường Viễn Đông và Trung Quốc
Trang 34Qua kết quả sau khi kết thúc hội nghị ta có thể thấy được việc Hoa Kỳ với tư cách là một đế quốc lớn đã thiết lập một khuôn khổ trật tự mới tại châu
Á – Thái Bình Dương do chính Hoa Kỳ chi phối Kết hợp với hệ thống của Hòa ước Vecxai, các hiệp ước của Hội nghị Wasington đã tạo nên hệ thống Vecxai - Washington Đây là trật tự thế giới mới mà chủ nghĩa đế quốc xác lập sau chiến tranh Thế giới thứ nhất Như vậy, một trật tự thế giới mới phản ánh tương quan lực lượng giữa các nước tư bản đã được thiết lập Các nước thắng trận, trước hết là Anh, Pháp, Hoa Kỳ giành được nhiều quyền lợi về kinh tế và áp đặt nô dịch lên các nước bại trận, đặc biệt là các nước thuộc địa
và các nước phụ thuộc Song trong nội bộ các nước thắng trận cũng có những mâu thuẫn bất đồng về quyền lợi Chính vì thế hòa bình trong quan hệ giữa các nước tư bản trong giai đoạn này chỉ là tạm thời
Ảnh hưởng của Hội nghị Wasington đến Nhật Bản
Do tại Hội nghị Washington Nhật Bản đã chịu thua thiệt từ các nước lớn phương Tây nên chính phủ của Thủ tướng Kato (1861-1923) đã đổi sang đường lối “ngoại giao hợp tác”, tìm mọi cách để cải thiện quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc, đồng thời tiến hành bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhà nước Xô Viết Thay vì việc mở rộng ảnh hưởng bằng con đường quân sự thì dưới thời kỳ của Thủ tướng Kato và Bộ trưởng Ngoại giao Shidehara lại tập trung vào việc phát triển kinh tế, hợp tác với các nước khác trên thế giới bằng con đường hòa bình
Ngày 20 tháng 1 năm 1925, Nhật Bản và Xô viết đã ký kết “Hiệp định
Xô – Nhật” tại Thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc, theo đó thì hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao hợp tác phát triển chính thức Mặc dù đường lối ngoại giao này đã gây nên sự phê phán của Đảng Seiyukai nhưng lại được sự ủng hộ và đánh giá cao của dư luận trong và ngoài nước Đường lối ngoại giao này do Bộ trưởng Ngoại giao Kijūrō Shidehara đưa ra và sau này được gọi là “Ngoại giao Shidehara”