B¶ng c¸c ch÷ viÕt t¾t ANDEAN Adean Pact: Nhóm Andean ALADI Asociacion Latinoamericana de Integracion: Hiệp hội liên kết Mỹ Latinh CACM Central American Common Market: Thị trường ch
Trang 1đại học quốc gia hà nội trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2mụC LụC
Bảng các chữ viết tắt 4
mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu: 11
6 Dự kiến đóng góp của đề tài 10
7 Kết cấu của luận văn 11
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Lý thuyết thị trường tự do và tự do hoá mậu dịch 12
1.1.2 Lý thuyết về hội nhập kinh tế khu vực 15
1.2 Xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do 19
1.2.1 Bối cảnh thương mại thế giới 20
1.2.2 Đặc điểm của tự do hoá thương mại hiện nay 23
1.3 Thực trạng liên kết kinh tế khu vực châu Mỹ 31
1.3.1 Khái quát tiến trình liên kết kinh tế Mỹ Latinh 31
1.3.2 Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ 38
Chương 2: Quá trình vận động thành lập và nguyên tắc hoạt động của Khu vực mậu dịch tự do Châu Mỹ 42
2.1 Quá trình vận động thành lập FTAA 42
2.1.1 Những ý tưởng ban đầu 42
2.1.2 Các thành phần, nhóm công tác tham gia xây dựng FTAA 45 2.1.3 Quá trình đàm phán hình thành 49
2.1.4 Phương thức tổ chức và xây dựng 55
Trang 32.2 Các mục tiêu và nguyên tắc của FTAA 58
2.2.1 Mục tiêu của FTAA 58
2.2.2 Nguyên tắc của FTAA 65
2.3 Nội dung các vấn đề đàm phán chính trong FTAA 68
Chương 3: những vấn đề đặt ra, Tác động và triển vọng thành lập Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ 74
3.1 Những vấn đề đặt ra 74
3.1.1 Các trở ngại trong đàm phán 75
3.1.2 Bất đồng Mỹ - Mỹ Latinh 76
3.1.3 Các khác biệt về chính sách thương mại 81
3.2 Tác động của việc thành lập FTAA 83
3.2.1 Tác động của việc thành lập FTAA đối với các nước châu Mỹ 84
3.2.2 Tác động của việc thành lập FTAA đối với thế giới và Việt Nam 97
3.3 Xu hướng, triển vọng và giải pháp cho việc thành lập FTAA 101
3.3.1 Xu hướng, triển vọng 101
3.3.2 Giải pháp 105
Kết luận 108
Tài liệu tham khảo 110
Phụ lục ……… 117
Trang 4B¶ng c¸c ch÷ viÕt t¾t
ANDEAN Adean Pact: Nhóm Andean
ALADI Asociacion Latinoamericana de Integracion:
Hiệp hội liên kết Mỹ Latinh
CACM Central American Common Market:
Thị trường chung Trung Mỹ
CARICOM Caribbean Community and Common Market:
Thị trường chung Caribbe
ECLAC Economic Commission for Latin America and the Caribbean:
Uỷ ban kinh tế Mỹ Latinh và Caribbe (Thuộc Liên hợp quốc)
FTA Free Trade Agreement: Hiệp định thương mại tự do
FTAA Free Trade Area of the Americas:
Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ
GATT General Agreement on Tariff and Trade:
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
IDB Inter-American Development Bank:
Ngân hàng phát triển liên Mỹ
IMF International Monetary Fund: Quỹ tiền tệ quốc tế
LAC Latin America and the Caribbean:
Các nước Mỹ Latinh và Caribbe
Trang 5LAFTA Latin American Free Trade Association:
Hiệp hội mậu dịch tự do Mỹ Latinh
LAIA Latin American Integration Association:
Hiệp hội liên kết Mỹ Latinh
MERCOSUR Southern Common Market/ Mercado Común del Sur:
Thị trường chung Nam Mỹ
NAFTA North American Free Trade Agreement:
Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ
OAS Organization of American States:
Tổ chức các quốc gia châu Mỹ
RTA Regional Trade Agreement: Hiệp định thương mại khu vực
TNC Trade Negotiating Committee: Uỷ ban đàm phán thương mại
WIPO World Intellectual Property Organization:
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
WTO World Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh cuộc chiến giành vị trí thống trị khu vực về mặt kinh tế giữa các nước lớn ngày càng trở nên quyết liệt như hiện nay, cuộc đua ký kết các hiệp định tự do thương mại khu vực đã tiến đến mức độ cao hơn Và việc
ký kết hiệp định thương mại tự do song phương cũng như khu vực đang trở thành một xu thế trong quan hệ kinh tế quốc tế Nhưng triển vọng của các hiệp
định thương mại này ra sao đang là một vấn đề được nhiều người quan tâm vì triển vọng đó sẽ phụ thuộc vào sự phân chia các lợi ích tiềm tàng trong tương lai và các chi phí sẽ phải gánh chịu trước mắt của những nước tham gia Có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh các hiệp định thương mại này, nhiều quan điểm cho rằng các hiệp định đó có lợi cho tất cả các bên tham gia, nhưng cũng có nhiều nhà phân tích cho rằng khả năng thành công của các hiệp định thương mại khu vực là không lớn vì trong nhiều trường hợp sự phân chia lợi ích từ chương trình tự do hoá thương mại khu vực là không đồng đều giữa các bên tham gia, lợi ích phần nhiều thuộc về các nước phát triển hơn Song dù thế nào đi chăng nữa cũng không thể phủ nhận được những lợi ích mà tự do hoá thương mại đem lại Điều này được chứng minh bởi thực trạng ngày càng nhiều hiệp định thương mại tự do song phương cũng như khu vực được ký kết
Và châu Mỹ không phải là một trường hợp ngoại lệ
Thực tế châu Mỹ đã có nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, khu vực đang tồn tại, từ khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)
đến khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Hiệp hội mậu dịch tự do
Mỹ Latinh (LAFTA) và hàng loạt các hiệp định tự do thương mại song phương giữa các nước nội khu vực và các nước trong khu vực với các quốc gia khác trên thế giới Nhưng đến nay vẫn chưa có một môi trường thương mại, giao dịch buôn bán tự do chung trong khu vực này ý tưởng thành lập Khu vực mậu dịch tự do toàn châu Mỹ ra đời với mục đích lấp chỗ trống đó
Trang 7Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ (Free Trade Area of the Americas) viết tắt là FTAA là một thực thể đang trong quá trình được thành lập FTAA
có tầm quan trọng chiến lược đối với các nước Tây bán cầu, là một bước ngoặt trong lịch sử lục địa này cả về sự phối hợp kinh tế và thương mại giữa các bên tham gia và được dự kiến là một hiệp định có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử FTAA là một sáng kiến tự do thương mại tham vọng nhất của hệ thống thương mại thế giới với thành viên gồm những nước thuộc loại giàu nhất
đến nước nghèo nhất, từ nước lớn nhất đến nước thuộc loại nhỏ nhất (theo kế hoạch, đây là một khu vực mậu dịch tự do nối kết các nền kinh tế Tây bán cầu gồm 34 nước trải dài từ Anchorage, Alaska đến Tierra del Fuego, Chile (Bắc
Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và Caribbe, trừ Cuba) Chưa bao giờ trước đó có các nước với quy mô và trình độ phát triển đa dạng đến thế cùng tham gia đàm phán một hiệp định thương mại tương hỗ Việc ra đời khu vực FTAA sẽ giúp cho Mỹ chiếm lĩnh thị trường rộng lớn này, nhất là trong tình hình hiện nay, khi xuất khẩu của Mỹ còn nhiều khó khăn, nhập siêu đạt mức kỷ lục Tham vọng thành lập FTAA được coi là nền tảng của chính sách đối ngoại và kinh tế của Mỹ hiện nay
Một trong những mục tiêu của FTAA là tạo ra môi trường kinh tế chính trị thuận lợi hơn để phát triển Nhiều chuyên gia dự đoán với sự ra đời của FTAA, giao dịch thương mại giữa Mỹ và Brazil, nền kinh tế lớn nhất châu
-Mỹ Latinh, sẽ tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba, chỉ trong vài năm sau đó Các nước khác trong khu vực cũng vậy Còn Mỹ, nước sáng lập và ủng hộ FTAA mạnh mẽ nhất, cho rằng với một chính sách thuế quan áp dụng chung cho toàn khu vực, một nền thương mại bình đẳng, dân chủ sẽ ra đời Tổng thống
George Bush hào hứng hứa hẹn: “Chúng ta sẽ xây dựng một bán cầu thịnh vượng và tự do”
Bằng việc giảm bớt các hàng rào thương mại và các biện pháp tương tự, các FTA song phương đang khuyến khích trao đổi mậu dịch và đầu tư trực tiếp giữa các nước ký kết, các khối kinh tế đã có những thành quả và tác động nhất
Trang 8định đến khu vực này Nhưng để hình thành một cộng đồng mậu dịch toàn khu vực thì còn gặp nhiều khó khăn vì việc đàm phán một hiệp định thương mại tự do giữa các nhóm nước đa dạng như vậy không dễ dàng chút nào
Với những vấn đề đặt ra cả về lý luận và thực tiễn như trên, việc tìm
hiểu và nghiên cứu đề tài “Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ: Tiến trình và
triển vọng thành lập” là cần thiết và tôi chọn đó là đề tài Luận văn tốt nghiệp
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Có thể nói, tự do hoá thương mại nói chung, tự do hoá thương mại toàn châu Mỹ nói riêng là đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu, các trung tâm quyền lực với rất nhiều mục đích, nhiều cách tiếp cận và nhiều lĩnh vực khác nhau Thế nhưng, do đặc thù là một khối thương mại còn chưa được thành lập chính thức, cho nên số lượng các công trình nghiên cứu được công bố chính thức về tổ chức này còn rất khiêm tốn
ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về các khu vực mậu dịch
tự do khác, nhưng việc nghiên cứu về Khu vực mậu dịch tự do Châu Mỹ thì còn ít Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó cũng đã góp phần giúp người
đọc có được hình dung phần nào về FTAA Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số
7/2002 có đăng bài “Khu vực mậu dịch tự do Châu Mỹ sẽ xây dựng như thế nào” của tác giả Giang Thời Học với nội dung chủ yếu đề cập đến mâu thuẫn
giữa Mỹ và các nước Mỹ Latinh trong việc xây dựng khu vực mậu dịch tự do
châu Mỹ, các phương thức và khả năng xây dựng FTAA; bài viết “Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ: Quá trình hình thành, mục tiêu và nguyên tắc” của
tác giả luận văn (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 12 năm 2005) với nội dung liên quan trực tiếp đến FTAA
ở nước ngoài, FTAA được đề cập, phân tích trong một số cuốn sách
tiêu biểu như: “Trade negotiation in Latin America: Problems and Prospects”
do Diana Tussie biên tập, Palgrave MacMillan, United States, 2003;
“Prospects for Free Trade in the Americas” của tác giả Jeffrey Schott,
Trang 9Institute for International Economics, Washington, D.C, 2005 Các công trình nghiên cứu đáng chú ý khác là: 1/ Bustillo, I and J Ocampo: Asymmetries and
Cooperation in the FTAA In Integrating the Americas: FTAA and Beyond, edited
by G Mace and L Bélanger Cambridge, Harvard University Press 2002 2/
Bouzas, Roberto and Gustavo Svarzman: The FTAA Process: What has it achieved,
and Where does it stand? University of Miami, Miami, Florida, 2001 3/ Carla A
Hills, Jaime Iabludovsky: Free Trade in the Americas - Getting there from here; Inter-American Dialogue, 2004 4/ Daniel T Grisworld: Free Trade Agreements -
Steps toward further open world, Cato Institute, No18, July 10/2003 5/ Eduardo
Gudynas: MERCOSUR and the FTAA: New Tensions and New Options, Interhemisphere Resource Center, New York, USA, 2003 6/ Fishlow, A: “Brazil:
FTA or FTAA or WTO?” In Free Trade Agreements: US Strategies and Priorities,
edited by J Schott.Washington, DC, Institute for International Economics, 2004 7/ Hornbeck, J.F: A Free Trade Area of the Americas: Status of Negotiations and
Major Policy Issues, Congressional Research Service, Washington, D.C 8/ Jeffrey
J Schott: Does the FTAA have a future? Washington: Institute for International Economics, 2005 9/ William H.Cooper: Free Trade Agreements: Impact on U.S
Trade and Implications for U.S Trade Policy, CRS Report to Congress, USA, 2005
10/ Woodrow Wilson Center Report on Americas: Mercosur and the Creation of
the free trade area of the Americas, edited by Fernando Lorenzo Marcel Vaillant,
Washington D.C, September 2003 Và các bài viết, thông tin trong trang web chính thức của FTAA: www.ftaa-alca.org Nhìn chung, trong những bài viết này, các tác giả nêu những điều kiện thuận lợi, khó khăn, thách thức trong
đàm phán hình thành FTAA, tập hợp nhiều nước, nhiều vấn đề phức tạp; đồng thời cũng chỉ ra những khả năng hình thành và phát triển, cũng như những tác
động tích cực, tiêu cực của nó đối với các nước châu Mỹ Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài về đề tài cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể tất cả các vấn đề nêu trên
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu làm rõ các về quan hệ quốc tế trong quan hệ kinh tế quốc tế ở khu vực châu Mỹ, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hình
thành FTAA, tiến trình và triển vọng của việc thành lập FTAA, tác giả luận văn đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn tác động đến ý tưởng thành lập Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ
- Làm rõ quá trình đàm phán hình thành cho đến thời điểm hiện tại, các mục tiêu, nguyên tắc và nội dung của FTAA
- Chỉ ra các tác động tích cực, lợi ích, cơ hội, cũng như những tác
động tiêu cực khi FTAA được thành lập Tìm hiểu xem khu vực mậu dịch
tự do rộng lớn như vậy có tác động gì đến khu vực này, cũng như đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam
- Tìm hiểu những bất đồng, tồn tại, trở ngại đối với việc thành lập FTAA và phương thức giải quyết
- Phân tích những cơ sở cho thấy triển vọng thành lập FTAA
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với tính chất nghiên cứu quan hệ quốc tế trong quan hệ kinh tế quốc tế khu vực châu Mỹ, luận văn tập trung nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế về kinh tế trong quá trình và triển vọng thành lập FTAA với phạm vi nghiên cứu
cụ thể như sau:
+ Về thời gian: Từ khi ý tưởng về việc thành lập FTAA được đưa ra cho
đến nay (từ năm 1994 và liên hệ với các thời gian trước đó khi cần thiết)
+ Về không gian: Các quốc gia tham gia FTAA
+ Về nội dung: Xem xét những cơ sở lý thuyết và thực tiễn tác động
đến sự hình thành FTAA, sự cần thiết thành lập FTAA, quá trình đàm phán, các kết quả đạt được ban đầu, các lợi ích và tác động hai chiều của FTAA, vai trò của các bên, cũng như triển vọng thành lập tổ chức kinh tế này
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu:
Để làm rõ những nội dung cơ bản đặt ra của luận văn, trong quá trình nghiên cứu tác giả sẽ sử dụng các phương pháp: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp kết hợp phân tích với thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích dự báo trong quá trình nghiên cứu
6 Dự kiến đóng góp của đề tài
1/ Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản cũng như thực tiễn về tự
do hoá thương mại và hội nhập kinh tế khu vực
2/ Phân tích thực trạng liên kết kinh tế khu vực châu Mỹ và rút ra nhận xét
3/ Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình, triển vọng đàm phán hình thành Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ và tác động dự kiến của nó đối với diện mạo kinh tế, xã hội khu vực châu Mỹ và nền kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam
4/ Xem xét các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy việc nhanh chóng thành lập FTAA và liên kết toàn khu vực châu Mỹ
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các bảng viết tắt, phụ lục, luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành Khu vực mậu dịch tự
do châu Mỹ
Chương 2: Quá trình vận động thành lập và nguyên tắc hoạt động của
Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ
Chương 3: Tác động, những vấn đề đặt ra, và triển vọng thành lập Khu
vực mậu dịch tự do châu Mỹ
Trang 12Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành
Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ
Chương một của luận văn được thực hiện nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc hình thành khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ Sau phần cơ sở lý luận, trong đó có đề cập đến lý thuyết về thị trường tự do và
tự do hoá mậu dịch và Lý thuyết về hội nhập kinh tế khu vực, luận văn sẽ phân tích các xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do trên thế giới (song phương và khu vực) Từ lý thuyết và xu hướng có ảnh hưởng chi phối đó luận văn sẽ đề cập, phân tích về thực trạng liên kết khu vực châu Mỹ và sự cần thiết khách quan của việc thành lập FTAA
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Lý thuyết thị trường tự do và tự do hoá mậu dịch
Lý thuyết thị trường tự do và tự do hoá mậu dịch được hai nhà kinh tế học cổ điển người Anh là Adam Smith và David Ricardo đề xướng và phát triển Trong đó, Adam Smith là một đại biểu xuất sắc của kinh tế chính trị cổ
điển Anh và đồng thời được coi là người sáng lập kinh tế học, truyền bá chủ nghĩa tự do kinh tế
Trong tác phẩm lớn nhất của mình: “Của cải của các dân tộc” xuất bản
năm 1776, Adam Smith đã cho rằng thông qua quy luật cung cầu và hệ thống cạnh tranh tự do thị trường có thể thực hiện sự phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả Ông cổ vũ mạnh mẽ cho chính sách để mặc tư nhân kinh doanh (laisser-fair), giảm đến mức thấp nhất sự can thiệp của nhà nước vào hệ thống kinh tế Ông phản đối sự can thiệp của chính phủ vào cơ chế thị trường, vào hoạt động xuất nhập khẩu, vào bảo hộ công nghiệp và ngăn ngừa chính phủ chi tiêu vào những việc không sinh lợi vì theo ông như thế sẽ làm suy yếu thị trường
Trang 13Adam Smith cũng là người đi tiên phong cho việc cổ vũ cho chính sách
tự do mậu dịch Để lý giải về vai trò của ngoại thương, của tự do mậu dịch,
Adam Smith đã đưa ra khái niệm về lợi thế tuyệt đối, theo ông, các nước trên
thế giới buôn bán với nhau vì họ khác nhau về điều kiện địa lý và thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng nhưng phân bổ không đều giữa các quốc gia Có nước rất nhiều khoáng sản nhưng đất đai lại cằn cỗi, có nước đất đai phì nhiêu, nhưng lại không có hoặc có rất ít khoáng sản, thậm chí có những nước không có khoáng sản và đất đai thì cằn cỗi Chính sự khác nhau này đã tạo cho các nước cơ hội được chuyên môn hoá sản xuất các sản phẩm mà mình có lợi thế và khi đó, nhờ chuyên môn hoá mà sản lượng của cả hai loại hàng hoá sẽ tăng lên và thông qua trao đổi quốc tế, cả hai bên sẽ có lợi vì qua
đó các nước sẽ có được hàng hoá với mức giá rẻ hơn so với sản xuất trong nước
Chính nhờ phân tích trao đổi hàng hoá thông qua chuyên môn hoá sản xuất của các nước dựa trên lợi thế tuyệt đối, Adam Smith đã đi đến kết luận rằng mậu dịch quốc tế đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, khắc phục
được hạn chế lớn nhất của phái trọng thương coi mậu dịch quốc tế là trò chơi tổng số bằng không và mậu dịch quốc tế chỉ có lợi cho một phía
Tuy nhiên, quan điểm về lợi thế tuyệt đối chưa phản ánh một cách đầy
đủ những sự khác biệt giữa các nước Ngoài những khác nhau về điều kiện địa
lý và thiên nhiên, các nước còn phân biệt với nhau bởi năng suất lao động, nhu cầu thị trường và khả năng cung ứng và sử dụng các nguồn lực Xuất phát từ thực tế đó, những người ủng hộ thương mại tự do đưa ra học thuyết kinh tế
khác - học thuyết về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) để làm rõ những khác
biệt cụ thể đó, để chứng minh thương mại tự do sẽ dẫn đến một sự phân phối tài nguyên hiệu quả hơn, với tất cả những ai tham gia vào quá trình tìm kiếm lợi ích từ thương mại Thương mại tự do hơn sẽ cho những nhà sản xuất tại các nước một thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn, dẫn đến lợi nhuận cao hơn Đồng thời, tạo ra sự cạnh tranh giữa các nguồn tư bản, từ đó đem lại lợi ích cho
Trang 14người lao động trên toàn thế giới; cũng như cạnh tranh giữa các nguồn nhân công trên toàn thế giới sẽ mang lại lợi ích cho các nhà tư bản và trên hết là cho người tiêu thụ Nói chung, họ cho rằng điều này sẽ dẫn đến giá thành thấp hơn, nhiều việc làm hơn và phân phối tài nguyên tốt hơn
Quan điểm về lợi thế tương đối được thể hiện thông qua nhiều mô hình khác nhau, trong đó điển hình nhất phải kể đến mô hình của David Ricardo và Heckscher - Ohlin Đây là những mô hình cơ bản nhất để giải thích về nguồn gốc những lợi ích từ thương mại Theo quan điểm lợi thế tương đối của David Ricardo (quan điểm này được nêu ra lần đầu tiên vào khoảng đầu thế kỷ XIX)
thì các nước sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm
mà họ làm ra với chi phí tương đối thấp, hay còn gọi là chi phí cơ hội, thấp hơn các nước khác [4, tr.327] Chính lý thuyết về lợi thế so sánh của David
Ricardo đã phát triển xa hơn những ý tưởng của Adam Smith và khắc phục
được hạn chế của Smith trong việc giải thích nguyên nhân và cơ sở của mậu dịch quốc tế Ông cho rằng, ngay cả khi một nước có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai sản phẩm so với một nước khác thì họ vẫn nên chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm mà việc sản xuất ra nó có hiệu quả tương đối so với sản phẩm kia Nói cách khác, chừng nào còn có sự khác biệt trong cơ cấu chi phí thì mậu dịch quốc tế sẽ có lợi cho tất cả các bên tham gia Sự khác biệt này theo ông chính là lợi thế so sánh của các quốc gia
Để hoàn thiện hơn học thuyết về lợi thế so sánh, vào đầu thế kỷ XX, hai nhà kinh tế học Thuỵ Điển E.Heckscher và B.Ohlin đã đưa ra mô hình Heckscher - Ohlin để lý giải nguồn gốc của thương mại dựa trên cơ sở sự khác
nhau về các nhân tố có sẵn Định lý này được phát biểu như sau: Một nước sẽ xuất khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương
đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở nước đó Hay nói vắn tắt, một nước tương
đối giàu lao động sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều vốn và ngược lại, một nước có nguồn vốn dồi
Trang 15dào sẽ xuất khẩu các hàng hoá sử dụng nhiều vốn và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động [15, trang 59]
Như vậy, một kết luận có thể rút ra được từ lý thuyết về tự do hoá thương mại của những người theo trường phái tự do cổ điển là trong lĩnh vực thương mại quốc tế, mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định và khi chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mình có lợi thế rồi đem trao đổi trên thị trường thế giới thì các quốc gia đều có lợi Với quan điểm mậu dịch quốc tế có lợi cho tất cả các bên tham gia, những người theo trường phái tự do
đã cổ vũ mạnh mẽ cho tư tưởng tự do mậu dịch
Trên đây là những cơ sở cho thấy tại sao các quốc gia lại giao thương và nên giao thương “Nói một cách đơn giản, các quốc gia sẽ được hưởng lợi nhờ chuyên sản xuất những hàng hoá và dịch vụ mà họ sản xuất hiệu quả nhất và nhờ trao đổi những hàng hoá và dịch vụ này để có được những hàng hoá và dịch vụ mà các quốc gia khác sản xuất với chất lượng cao hơn nhưng có giá thấp hơn Với cách làm như vậy, các quốc gia sẽ được hưởng lợi từ việc sản xuất hiệu quả hơn, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, hàng hoá và dịch
vụ có chất lượng tốt hơn nhưng giá rẻ hơn Việc dỡ bỏ những rào cản do chính phủ dựng lên đối với thương mại sẽ cho phép mỗi cá nhân được tiếp cận thị trường rộng lớn của thế giới với đầy đủ các loại mặt hàng, từ thực phẩm, quần
áo, các mặt hàng chế tạo khác so với những dịch vụ tạo thành cơ sở của một nền kinh tế hiện đại, từ tài chính tới viễn thông và giáo dục” [3, trang 2]
1.1.2 Lý thuyết về hội nhập kinh tế khu vực
Theo lý thuyết về liên kết kinh tế quốc tế thì khu vực thương mại tự do
là một trong sáu loại hình của thoả thuận thương mại khu vực, là một hình thức của quan hệ quốc tế về thương mại khu vực [6, trang 17]:
+ Khu vực ưu đãi thuế quan đặc biệt
+ Khu vực mậu dịch tự do
+ Liên minh thuế quan
+ Khối thị trường chung
Trang 16+ Liên minh kinh tế
+ Hợp nhất kinh tế hoàn toàn
Trong đó, Khu vực mậu dịch tự do là một mô hình phổ biến trên thế giới hiện nay Thông thường, các tổ chức hợp nhất kinh tế - thương mại khu vực hiện nay đều thuộc mô hình này (ví dụ: NAFTA, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), LAFTA ) Các khu vực mậu dịch tự do là kết quả của sự kết hợp giữa tự do hoá thương mại và liên kết kinh tế Trong khu vực mậu dịch
tự do, các quốc gia thành viên miễn thuế quan hoàn toàn cho nhau và thực hiện giảm ở mức độ lớn, thậm chí bãi bỏ hoàn toàn các hàng rào phi quan thuế, tạo điều kiện cho hàng hoá được tự do lưu thông giữa các quốc gia thành viên [6, trang 18] Quan hệ thương mại giữa các quốc gia trong khu vực khác với quan hệ thương mại tự do với những nước ngoài khu vực ở điểm các quốc gia thành viên Khu vực mậu dịch tự do không quy định mức thuế quan với nhau Các quốc gia thành viên có thể tự định mức thuế quan của Nhà nước đối với các quốc gia bên ngoài khu vực Điều này đã làm xuất hiện một khoảng trống làm cho hàng hoá của các quốc gia ngoài khu vực có thể đi vòng qua các nước thành viên có mức thuế quan cao của tổ chức này, từ đó thâm nhập thị trường các quốc gia có mức thuế quan thấp nhất trong nội bộ khu vực mậu dịch tự do, sau đó thông qua các nước này, sử dụng điều kiện không phải nộp thuế mậu dịch trong khu vực, chuyển hàng hoá vào các quốc gia có thuế quan cao trong khu vực Mức thuế quan cao sẽ làm mất đi tác dụng bảo hộ Để tránh tình trạng này, khu vực mậu dịch tự do thường phải xác lập ngay các
điều khoản và đưa ra chế độ hải quan tương ứng
Việc thành lập các khu vực mậu dịch tự do sẽ có tác động nhất định đến chu chuyển hàng hoá và dịch vụ cũng như sự phát triển kinh tế nói chung của mỗi nước thành viên của toàn khối, trên cơ sở đó sẽ mang lại cho các nước tham gia những lợi ích khác nhau, trong đó có hai loại tác động chính là tác
động tĩnh (static) và tác động động (dynamic) (hay còn gọi là tác động bất biến và tác động mang tính động lực)
Trang 171.1.2.1 Tác động tĩnh
Các tác động tĩnh của các khu vực mậu dịch tự do bao gồm sáng tạo thương mại (trade creation) và chuyển hướng thương mại (trade diversion) Những thuật ngữ này được đặt ra bởi Jacob Viner (1950)
* Sáng tạo thương mại: xuất hiện khi có một vài ngành sản xuất trong
một nước thành viên được thay thế bằng việc nhập khẩu các hàng hoá đó với chi phí rẻ hơn từ các nước thành viên khác Bằng cách đó, nó sẽ làm tăng của cải của các nước thành viên, tăng phúc lợi kinh tế trong khu vực thương mại tự
do do các nước tăng cường chuyên môn hoá sản xuất dựa trên các lợi thế so sánh của mình
Khi đó người tiêu dùng sẽ có lợi vì có thể mua hàng từ người sản xuất
có hiệu năng cao nhất từ một nước thành viên của hiệp định thương mại tự do khu vực, chứ không chỉ giới hạn mua trong số những nhà sản xuất trong nước
Điều này không những chỉ làm tăng kim ngạch ngoại thương mà còn tăng lợi ích kinh tế vì tài nguyên được sử dụng một cách hữu hiệu hơn
* Chuyển hướng thương mại: xuất hiện khi các thành viên của khu vực
mậu dịch tự do chuyển hướng nhập khẩu hàng hoá Khi đó người mua hàng chuyển việc nhập khẩu từ người sản xuất có hiệu năng cao nhất (nhưng ở nước ngoài khu vực mậu dịch tự do) sang người sản xuất tuy không hiệu năng bằng nhưng ở nước thành viên hiệp định thương mại khu vực và được hưởng ưu đãi
do việc dỡ bỏ thuế quan nên có giá sau cùng rẻ hơn Các nhà sản xuất trong trường hợp này sẽ mất lợi nhuận do giá cả cạnh tranh và mất thị phần nội địa; ngân sách chính phủ cũng không thu được thuế vốn được áp dụng cho mặt hàng nhập khẩu đó Do đó, điều này không làm tăng kim ngạch ngoại thương, lại làm giảm lợi ích kinh tế toàn cầu, vì tài nguyên không được sử dụng một cách hữu hiệu nhất
Vì thế tác động của hiệp định thương mại khu vực tuỳ thuộc vào sự so sánh giữa hai loại tác động nói trên Nếu như tác động “sáng tạo thương mại” mạnh và tạo ra kim ngạch mậu dịch lớn hơn, từ đó tạo ra tác động “chuyển
Trang 18hướng thương mại”, thì sẽ tốt hơn cho các nước tham gia hiệp định, hay nói cách khác tác động sau cùng của một hiệp định thương mại khu vực là tích cực, tuy nó đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng trong quy chế tối huệ quốc đối với tất cả mọi thành viên WTO Đây là cơ sở để WTO chấp nhận biệt lệ và cho phép thành lập và đăng ký các hiệp định tự do thương mại khu vực nếu như các hiệp định này hội đủ các điều kiện
Lý thuyết về thương mại quốc tế, có hai điều kiện để có thể đạt được kết quả tích cực trên (kết quả sau cùng của một hiệp định thương mại là tích cực): một là, trao đổi mậu dịch giữa hai nước cùng khối trước khi có hiệp định càng cao thì càng có ít khả năng xảy ra tác động làm chuyển hướng thương mại lớn hơn sau khi trao đổi mậu dịch; hai là, biểu thuế đối với các nước ngoài khối càng thấp thì khả năng làm chuyển hướng mậu dịch của một hiệp định thương mại khu vực càng thấp
Như vậy, trên cơ sở tác động sáng tạo thương mại và chuyển hướng thương mại của các hiệp định thương mại tự do, nền sản xuất của các các nước thành viên sẽ được chuyển dịch theo hướng có hiệu quả hơn Đó chính là cơ sở
để làm tăng khối lượng mậu dịch của các nước thành viên và trao đổi mậu dịch nội khối
được coi là một động lực phát triển, cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp sáng tạo, tìm ra các quy trình sản xuất và công nghệ mới để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Khi chưa thành lập khối thương mại tự do, các nhà sản xuất kém hiệu quả trong nước được bảo hộ bằng các hàng rào thuế quan, nhưng khi các hàng rào đó bị hạ thấp hoặc xoá bỏ, các nhà sản xuất có
Trang 19hiệu quả hơn ở các nước thành viên khác sẽ tràn vào Khi đó, các doanh nghiệp phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt hơn, và để tồn tại, phát triển thì các doanh nghiệp sẽ phải hoạt động có hiệu quả hơn, nâng cao tính cạnh tranh
đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường
Trên đây là những tác động cơ bản từ việc hình thành một khối thương mại tự do Tuỳ thuộc vào những điều kiện ban đầu của các nước thành viên khi thành lập khối, thái độ chấp hành các cam kết của mỗi quốc gia, diễn biến trong khu vực và trong nền kinh tế thế giới thì các tác động này sẽ có những biểu hiện khác nhau Các khối kinh tế - thương mại khu vực ngày nay chú trọng nhiều hơn đến tác động tạo dựng thương mại so với tác động chuyển hướng thương mại Trước đây, do theo đuổi công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, nhiều khối kinh tế - thương mại khu vực đã có tác động làm chuyển hướng thương mại là chủ yếu Nhưng ngày nay, để thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, các khối thương mại như MERCOSUR, AFTA, NAFTA đã được thiết kế sao cho tác động tạo dựng thương mại là chủ yếu Nhờ có tác động này, trao đổi thương mại nội khối đã
được gia tăng, do các rào cản thương mại giữa các nước thành viên được giảm bớt và khả năng đạt được nền kinh tế có quy mô của các nước tham gia Hơn nữa, nếu khối thương mại có định hướng hướng ra thị trường thế giới như AFTA thì tác động tạo dựng thương mại lớn hơn, tạo điều kiện cho các nước tham gia có thể mở rộng sản xuất, từ đó mở rộng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp, do gia tăng trao đổi nội bộ ngành giữa các nước này
1.2 Xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do
Một đặc trưng của quan hệ kinh tế quốc tế là hình thành các mối liên kết kinh tế giữa một số nước, hoặc một số nhóm nước với nhau, nhằm có được lợi ích tối đa của tự do hoá thương mại, khi tự do hoá toàn cầu chưa phát huy
được hết tính ưu việt của nó Thực tiễn phát triển quan hệ quốc tế về kinh tế cho thấy, khi tư tưởng tự do hoá kinh tế được kiểm nghiệm trên thực tiễn và
Trang 20khác nhau Có nhiều nhân tố xuất phát từ thực tiễn đã góp phần làm cho tự do hoá kinh tế trở thành làn sóng mạnh mẽ như hiện nay Các nhân tố trực tiếp thúc đẩy quá trình tự do hoá kinh tế nói chung và tự do hoá thương mại nói riêng là: thương mại tự do là một trong những điều kiện cần thiết để các nước
đạt được tăng trưởng cao, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển; toàn cầu hoá, khu vực hoá đã trở thành xu thế của nền kinh tế thế giới, trong đó tự
do hoá thương mại là một mũi nhọn (với xu thế này, để phát triển được thì các nước trên thế giới cần phải chấp nhận nó và cố gắng cải cách nền kinh tế của mình theo hướng có thể tranh thủ được tối đa các lợi ích mà quá trình này mang lại, đó là phát triển theo hướng mở cửa ra thế giới thông qua việc phối hợp chính sách trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính tiền tệ, hợp tác khoa học công nghệ ); những thay đổi trong ưu thế cạnh tranh dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ; vai trò ngày càng tăng của các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế
Thực tế cho thấy đặc trưng nổi bật nhất trong hội nhập quốc tế và quan
hệ kinh tế quốc tế những thập kỷ gần đây là xu hướng gia tăng ồ ạt của các hiệp định thương mại tự do Viễn cảnh thương mại thế giới đã thay đổi cơ bản
từ một tổ chức thương mại chủ đạo duy nhất, đó là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), thành hàng loạt các tổ chức thương mại độc lập cùng tồn tại với GATT và sau này là Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Hàng loạt các thoả thuận thương mại ưu đãi (PTAs) gia tăng nhanh chóng trong những năm 1990, cụ thể là hơn 50% trong tổng kim ngạch thương mại thế giới được tiến hành trong các PTA, và gần như tất cả các nước trong tổ chức WTO đều tham gia vào các PTA Tuy nhiên, các nhà kinh tế có những nhìn nhận rất khác nhau về kết quả này Một số cho rằng con số trên phản ánh
xu hướng thương mại tự do hơn nữa, các nước sẽ dễ dàng hơn trong việc đàm phán và có thể đạt được các thoả thuận đa phương Một số khác thì coi đây là những trở ngại trên đường hướng tới thương mại tự do, bởi nó tạo thêm những phức tạp và làm chệch hướng các nguồn lực đàm phán có giá trị (Nguồn: Bộ
Trang 21Công thương: Thương mại tự do và những bất cập, diễn đàn doanh nghiệp,
24/10/2005)
1.2.1 Bối cảnh thương mại thế giới
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến xu hướng hình thành
ồ ạt các hiệp định tự do thương mại chính là do sự bế tắc của thương mại đa phương, khi tự do hoá toàn cầu chưa phát huy được hết tính ưu việt của nó Kể
từ khi vòng đàm phán Doha được khởi động tháng 11/2001 tại Qatar, các cuộc
đàm phán thương mại đa phương của WTO gần như đi từ bế tắc này đến bế tắc khác.Tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO hiện đang tiến những bước rất chật vật Trở ngại chính cho tự do hóa thương mại hơn nữa trong tương lai là sự bế tắc về các thỏa thuận đa phương trong lĩnh vực nông nghiệp tại vòng đàm phán Doha, do chính sách bảo hộ và can thiệp của các nước phát triển Trong lúc đó, các nước thành viên lại bận bịu đi tìm những hiệp định thương mại tự do song phương
Hai cuộc họp của WTO tại Tokyo ngày 16/2/2003 về tự do hoá thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp và tại Geneva ngày 18/2/2003 về tiếp cận của các nước nghèo đối với thuốc chữa HIV đều kết thúc mà không đem lại kết quả gì Các cuộc đàm phán về tự do hoá thương mại của WTO vẫn chưa có gì tiến triển kể từ khi vòng đàm phán Doha được khởi động Đã có lúc, sự kiện 11/9 tưởng như đem lại một động lực mới cho việc thu hẹp khoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo xung quanh những mâu thuẫn về mở cửa thị trường, các nước giàu nhận thức được vị trí của các nước thế giới thứ ba trong cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố, đã hứa sẽ nhân nhượng các nước đang phát triển trên cả những vấn đề "gai góc" như nông nghiệp và giúp các nước nghèo trở thành những đối tác đầy đủ trong một nền kinh tế toàn cầu
Tuy nhiên, thực tế đã không diễn ra như mong đợi, WTO vẫn dẫm chân tại chỗ và chưa thống nhất được khuôn khổ các cuộc đàm phán trong lĩnh vực nông nghiệp Sự thất bại tại Tokyo cho thấy những khác biệt giữa phe "bảo thủ" (đại diện là Nhật Bản và Liên minh châu Âu) và phe "cấp tiến" (do các
Trang 22nước như Canada hay ấn Độ dẫn đầu) vẫn còn lớn Kế hoạch mang tính thăm
dò do WTO đưa ra không thoả mãn được bất kỳ bên nào Những bất đồng dai dẳng trong lĩnh vực nông nghiệp là một rủi ro lớn đối với tiến độ của vòng
đàm phán Doha
Hội nghị thượng đỉnh WTO diễn ra từ ngày 13-12, kết thúc ngày
18-12-2005 tại Hồng Công quy tụ các bộ trưởng kinh tế, tài chính của 148 quốc gia thành viên Hội nghị diễn ra trong khi các cuộc biểu tình phản đối trên đường phố Hồng Công ngày càng rầm rộ và cuối cùng Hội nghị cũng đã không đạt
được kết quả gì Trên thực tế, các nước giàu (G-7) chỉ muốn các nước nghèo
và những nước đang phát triển tự do hóa thị trường công nghệ phẩm và thị trường dịch vụ mà không chịu xóa bỏ trợ giá cho nông nghiệp của họ, cũng có nghĩa vấn đề bế tắc vẫn chưa được tháo gỡ
Một trong những điểm được cho là nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc của vòng đàm phán đa phương là nội dung đàm phán đã được mở rộng sang những lĩnh vực phi thuế quan và ngoài phạm vi thương mại thuần tuý Các nước phát triển và đang phát triển không nhất trí được với nhau vấn đề trợ cấp nông sản, tiêu chuẩn lao động và môi trường Trong nhóm các nền kinh tế phát triển, mà tiêu biểu là Mỹ và EU, cũng bất đồng với nhau về Chương trình nghị sự của Vòng đàm phán Doha về Phát triển (DDA) (Chương trình nghị sự của Vòng
Đàm phán Doha gồm sáu nội dung lớn: 1, nông nghiệp; 2, tiếp cận thị trường phi nông nghiệp, dịch vụ; 3, "các vấn đề Singapore" (các vấn đề Singapore là
đầu tư, cạnh tranh, minh bạch hoá mua sắm chính phủ và thuận lợi hoá thương mại đã được các nước giàu đưa ra từ Hội nghị cấp Bộ trưởng của WTO tại Singapore năm 1996, do gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các nước nghèo nên tại hội nghị này không có bất kỳ thoả thuận nào liên quan đến việc phát động
đàm phán Đàm phán về các vấn đề Singapore đã tạm thời lắng xuống kể từ đó
đến Hội nghị Doha.); 4, các quy tắc về giải quyết tranh chấp và bồi thường thương mại; 5, sở hữu trí tuệ (TRIPS); 6, các vấn đề thương mại và phát triển,
đặc biệt trong "các vấn đề Singapore" - minh bạch trong mua sắm chính phủ,
Trang 23thuận lợi hoá thương mại, chính sách đầu tư và chính sách cạnh tranh, và giới hạn của các quy định về đầu tư qua biên giới
Xu hướng ký kết các hiệp định thương mại tự do
Trong lúc đàm phán đa phương gặp trắc trở thì đàm phán song phương lại có đà mới Một loạt các FTA song phương đã được ký kết xuyên châu lục Cùng thời gian với hai lần thất bại mới nhất của WTO là các FTA được ký giữa Singapore - Australia, Hàn Quốc - Chile Thái Lan - ấn Độ, Thái Lan - Australia, Nhật Bản - Chile, Riêng Mỹ thì tuyên bố ưu đãi đặc biệt với các nước Mỹ Latinh với kế hoạch của Tổng thống Bush giảm 2/3 thuế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng và công nghiệp nhập khẩu từ Mỹ Latinh Mỹ muốn
đây sẽ là món quà khích lệ các nước này mạnh dạn bước vào Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ
Làn sóng hình thành các FTA trong nền kinh tế thế giới bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1980 và bùng nổ sau năm 1995 khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập Theo thống kê của WTO, tính đến cuối năm 2002 có khoảng 250 FTA được các bên ký kết và thông báo tới GATT/WTO, trong đó khoảng 130 FTA được thông báo kể từ khi WTO thành lập năm 1995
Trong suốt nửa đầu thập kỷ 1990, khi người ta vẫn không chắc về sự kết thúc của Vòng đàm phán Uruguay thì số lượng các hiệp định thương mại khu vực - bao gồm tất cả các hình thức khối thương mại mang tính ưu đãi như các FTA, liên minh thuế quan (CU) và các liên minh kinh tế (EU) đã được trình lên GATT/WTO theo Điều khoản GATT XXIV, GATS V và Điều khoản Cho phép (Enabling Clause), tuy nhiên, đa số các RTA là dưới hình thức hiệp định thương mại tự do) đã tăng lên Tại thời điểm đó, các nhà kinh tế dự đoán rằng một khi Vòng đàm phán Uruguay kết thúc và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đi vào hoạt động, số lượng RTA mới sẽ giảm xuống Nhưng trái với
dự báo, các hiệp định thương mại khu vực đã tăng lên cả về số lượng và quy mô sau khi WTO ra đời
Trang 24Tóm lại, có nhiều nguyên nhân giải thích cho xu thế kí kết các FTA
mới này Thứ nhất, những bế tắc về tự do thương mại đa phương khiến các
nước cảm thấy không thoả mãn được nhu cầu mở rộng thị trường của mình Tốc độ đàm phán đa phương thường chậm do có quá nhiều bên còn FTA dễ
đạt được hơn Thứ hai, FTA song phương thường đánh trúng vào nhu cầu buôn
bán của hai đối tác Trong khi khuôn khổ đàm phán WTO thường rộng, bao gồm cả những mặt hàng mà một số nước thành viên không có lợi ích nhiều thì
FTA đáp ứng nhu cầu buôn bán của các nước Thứ ba, các nước phải ký FTA
để khỏi bị yếu thế trong cuộc cạnh tranh đang ngày một khốc liệt trên thị trường thế giới
Ngoài việc cải thiện được lợi ích kinh tế của những nước tham gia, FTA còn có thể mang lại những tác động tích cực khác, cụ thể là: Các FTA sẽ thúc
đẩy việc cải cách điều chỉnh (regulatiory reform) bên trong của những nước
có liên quan Khi các FTA mở rộng để bao hàm không chỉ buôn bán hàng hoá
mà còn cả trao đổi các dịch vụ, đầu tư, chính sách cạnh tranh thì sức ép đòi
tự do hoá những kiểm soát cứng nhắc ở trong nước sẽ tăng lên cùng với sự tiến triển của những thương lượng về FTA Trong các thương lượng đa phương
được tiến hành trong khuôn khổ WTO, những nước phản đối tự do hoá có thể hình thành một loạt liên minh để phong toả hoặc làm chậm quá trình đi đến sự nhất trí, nhưng trong những thương lượng FTA, mà hầu như đều là song phương, thì tác động của những yêu cầu của nước đối tác sẽ rất mạnh và trực tiếp Điều này sẽ thúc đẩy việc cải cách những quy chế cứng nhắc trong nước
Mặc dù các nước đang tích cực theo đuổi các FTA song xu thế tự do hoá thương mại toàn cầu vẫn được coi là tất yếu Về lâu dài, một môi trường thương mại tự do toàn cầu mà WTO đang theo đuổi vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn
1.2.2 Đặc điểm của tự do hoá thương mại hiện nay
Nhiều nghiên cứu gần đây về mối liên hệ giữa tự do hoá thương mại và phát triển đã cho thấy, tuy chính sách thương mại là một công cụ thúc đẩy
Trang 25phát triển quan trọng, nhưng sự phối hợp với các chính sách khác mới là cốt yếu Các chính sách trong nước nhằm thu hút đầu tư, cải thiện nguồn nhân lực
và thúc đẩy điều chỉnh về tổ chức là cần thiết đối với các nước nhằm khai thác triệt để cơ hội của tự do hoá thương mại, và chúng phụ thuộc cơ bản vào cam kết của các chính phủ Một trong những lý do giải thích tại sao nhiều nước
đang phát triển lại theo đuổi tự do hoá thương mại, theo đuổi các hiệp định thương mại với các nước phát triển là do họ thấy được đó là cơ hội để thúc đẩy
điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Quá trình tự do hoá thương mại là quá trình dỡ bỏ dần dần mọi rào cản
đối với thương mại, bao gồm thuế quan và phi thuế quan, trước hết nhằm đạt
được sự đối xử công bằng giữa hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước với hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài, giữa các nhà sản xuất trong nước với những nhà sản xuất nước ngoài, và sau cùng là đạt được chế độ thương mại tự do
Do thế giới chưa sẵn sàng cho một chế độ thương mại tự do đa phương, nên các chương trình tự do hoá thương mại khu vực đang chiếm ưu thế, trong các chương trình đó, các nước không chỉ quan tâm đến việc dỡ bỏ các rào cản
đối với thương mại, mà còn tiến hành những cải cách nhằm thuận lợi hoá thương mại Đặc biệt là các chương trình cấp thấp hơn, khu vực hoặc đơn phương, thường được thiết kế nhằm đáp ứng những đòi hỏi của quá trình xây dựng hệ thống thương mại đa phương trong phạm vi WTO
Ngày nay, do đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế, tự do hoá thương mại được diễn ra rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới, trong đó các nước đang phát triển là những chủ thể tích cực của quá trình này Cho đến cuối những năm 1980, cải cách chính sách thương mại theo hướng tự do hoá đã được tiến hành ở nhiều nước đang phát triển Từ cuối những năm 1980, đặc biệt khi chiến tranh lạnh kết thúc, có nhiều lý do khác nhau buộc các nước đang phát triển phải quan tâm hơn đến việc tăng cường liên kết kinh tế quốc tế Đó là sự phát triển, những thay đổi trong thương mại quốc tế và vai trò ngày càng cao
Trang 26trường vốn, thay đổi trong lĩnh vực công ăn việc làm và tiền lương tương đối, cũng như những thay đổi trong làn sóng di dân trên thế giới
Trong những thập kỷ gần đây, thương mại quốc tế được phát triển mạnh
mẽ Tốc độ tăng trưởng thương mại hàng năm thường cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP, có lúc tăng gấp đôi, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng thương mại của các nước đang phát triển từ cuối những năm 1980 đã vượt qua tốc độ tăng trưởng của các nước phát triển Thực tế đó đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô khác, như công ăn việc làm, nâng cao mức sống ở các nước này Điều đó đã làm gia tăng vai trò của thương mại đối với tăng trưởng kinh tế, được thể hiện thông qua mối tương quan giữa kim ngạch ngoại thương và GDP Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu về vốn và công nghệ cho phát triển kinh tế, các nước đang phát triển càng cần liên kết chặt chẽ hơn vào các thị trường vốn quốc tế
Một yếu tố khác làm gia tăng mức độ liên kết của các nước đang phát triển vào nền kinh tế thế giới là sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, từ đó cơ cấu việc làm ở các nhóm nước khác nhau trên thế giới cũng thay đổi ở các nước phát triển, việc chuyển sang nền kinh tế tri thức đã làm gia tăng nhu cầu về lao
động có tay nghề cao và chuyển các ngành công nghiệp cần nhiều lao động sang các nước đang phát triển Để tranh thủ được những kinh nghiệm của các nước phát triển thì phương án tốt nhất cho các nước đang phát triển là tham gia tích cực hơn vào các phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế quốc
Trang 27triển đã tham gia vào nhiều chương trình tự do hoá thương mại khu vực, thông qua việc thành lập các khu mậu dịch tự do giữa họ với nhau và giữa họ với các nước phát triển
Một đặc điểm nổi trội khác của tự do hoá thương mại là sự chiếm ưu thế của các chương trình tự do hoá thương mại khu vực Cho đến tháng 6/2002 khoảng 250 Hiệp định thương mại khu vực đã đăng ký, trong đó có 129 Hiệp
định đăng ký sau 1/1/1995 Hầu như mỗi nước đều tham gia tối thiểu vào một Hiệp định kiểu như vậy Bên cạnh những biện pháp về giảm dần các rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại, các nước tham gia còn đưa ra những cam kết về hài hoà hoá các thủ tục hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như những vấn đề liên quan đến việc điều tiết chúng, đưa ra các quan điểm thống nhất về các hàng rào phi thuế quan, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến xu hướng hình thành hàng loạt các Hiệp định thương mại khu vực:
a, Đó là sự gần gũi về địa lý Đây là nguyên nhân mang tính khách quan thúc đẩy các nước tham gia vào các Hiệp định thương mại khu vực Các nước thành viên cho rằng thông qua các hiệp định này, thương mại giữa các nước thành viên sẽ gia tăng, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của các nhà sản xuất địa phương muốn vươn ra thị trường thế giới
b, Thông qua việc ký kết Hiệp định thương mại khu vực có thể giảm bớt
được những căng thẳng về chính trị giữa các nước thành viên và chống lại những mối đe doạ từ bên ngoài Ví dụ minh chứng cho kết luận này là trường hợp giữa Pháp và Đức trong EU (việc tham gia vào liên minh châu Âu đã làm giảm đến mức tối thiểu nguy cơ bùng nổ chiến tranh dưới bất kỳ dạng nào), giữa Brazil và Argentina trong MERCOSUR (mối hiềm khích giữa hai nước
đã được xoá bỏ khi họ tham gia vào khối mậu dịch này)
c, Đáp ứng nhu cầu của các nước về một thể chế thương mại đa phương trong điều kiện các vòng đàm phán của WTO chưa đạt kết quả mong đợi, hay nói cách khác các khối, hiệp định thương mại khu vực giữ vai trò bổ sung chứ
Trang 28d, Việc tham gia các hiệp định thương mại đa phương là bước thử nghiệm để các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, tham gia vào hệ thống tự do hoá thương mại toàn cầu Trong khi điều kiện thế giới chưa sẵn sàng cho thương mại tự do ở mức toàn cầu thì việc tham gia vào một hiệp định thương mại khu vực nào đó, các nước thành viên sẽ có cơ hội làm quen với tự
do hoá ở cấp cao hơn và từ đó có kinh nghiệm để tham gia vào hợp tác đa phương
Hiện nay, các hiệp định thương mại tự do khu vực ngày càng thể hiện tác động hỗ trợ cho việc xây dựng hệ thống thương mại toàn cầu Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa khu vực hoá
và toàn cầu hoá, để xác định xem liệu khu vực hoá cản trở hay thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu Dựa trên thực tế về sự gia tăng sản lượng
và thu nhập thế giới liên tục trong suốt thời gian sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và gắn liền với nó là sự gia tăng vượt bậc của thương mại quốc tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, có thể thấy rõ tầm quan trọng của một
hệ thống thương mại đa phương đối với hầu hết tất cả các nước trên thế giới Vì thế, thông qua các cam kết về tự do hoá thương mại đơn phương (các nước
có thể đạt được chế độ thương mại tự do một cách đơn phương thông qua việc xoá bỏ mọi rào cản đối với hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu từ tất cả các bạn hàng của mình hoặc từ những bạn hàng nhất định) hoặc trong các tổ chức thương mại khu vực, các nước này đều hướng tới việc xây dựng nó trong tương lai
Sở dĩ có thể nhận định như vậy vì:
Thứ nhất, các cam kết thương mại đều có liên quan đến việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan Thứ hai, do tác động thúc đẩy của
các khối thương mại khu vực (như trên đã đề cập, theo lý thuyết hội nhập kinh
tế khu vực thì khi một khối thương mại khu vực được thành lập, ngoài tác
động tạo dựng thương mại và chuyển hướng thương mại, nó còn tạo nên tác
động biến cải thương mại, tức làm tăng hoặc giảm thương mại với các nước
Trang 29ngoài khu vực Điều này kích thích các nước không phải là thành viên xin gia nhập các khối thương mại đang tồn tại hoặc thành lập thêm các khối mới, nếu
muốn gia tăng trao đổi thương mại với bên ngoài) Thứ ba, WTO có vai trò
như là một chính sách quốc tế về vấn đề khu vực hoá Trong các quy định của mình GATT/WTO đã thể hiện rõ các nước thành viên có thể thành lập các khối thương mại khu vực, song chúng cần phải đáp ứng 3 tiêu chuẩn, đó là: 1, xét về tổng thể, không được gia tăng mức độ bảo hộ chống lại các nước không phải là thành viên; 2, phải giảm mức thuế quan nội bộ xuống đến 0% và xoá
bỏ tất cả các rào cản thương mại khác trong một thời hạn nhất định (thường là
10 năm), ngoại trừ những rào cản được chấp nhận theo các quy định của GATT/WTO và phải bao trùm lên hầu như tất cả mọi sản phẩm trao đổi; 3, các khối kinh tế - thương mại khu vực ngày nay chú trọng nhiều hơn đến tác
động tạo dựng thương mại so với tác động chuyển hướng thương mại Hiện tại, các khối liên minh khu vực quan trọng như EU, NAFTA đã đáp ứng rất tốt các chỉ tiêu này của WTO và chúng sẽ là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương sau này
Gần đây, các hiệp định thương mại tự do có xu hướng mở rộng phạm vi thành viên và mở rộng lĩnh vực Các hiệp định trước đây chú trọng việc đối xử
ưu tiên trong trao đổi hàng hoá như xoá bỏ thuế đánh vào các hàng chế tạo và hàng nông sản, nhưng những hiệp định gần đây lại phát triển theo hướng mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như đầu tư và dịch vụ, đồng thời bao hàm các qui định thương mại như chính sách cạnh tranh, chống phá giá, quyền sở hữu trí tuệ, các thủ tục hành chính
Thực tiễn phát triển của các hiệp định thương mại tự do cho thấy, sự phân bố các hiệp định thương mại khu vực khác nhau giữa các khu vực với hơn 50% số RTA tập trung ở khu vực Tây Âu và Địa Trung Hải, tiếp đến là ở châu Mỹ và Đông Âu Riêng các nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương, một khu vực trước đây được nhìn nhận là không có các hiệp định thương mại khu vực, gần đây cũng bắt đầu tỏ ra quan tâm nhiều hơn đến các
Trang 30hiệp định kiểu này Đặc biệt sau khi Diễn đàn kinh tế khu vực châu á - Thái Bình Dương APEC được thành lập, một loạt các sáng kiến thiết lập khu vực mậu dịch tự do đã phát triển mạnh mẽ, trong đó đáng chú ý nhất là Khu vực mậu dịch tự do của các nước ASEAN - AFTA, Khu vực mậu dịch tự do giữa Australia và New Zealand - ANZERTA Cùng với các FTA khu vực, các FTA song phương cũng được triển khai ồ ạt ở nhiều cấp độ khác nhau, đó là các FTA giữa quốc gia với quốc gia, giữa quốc gia với khu vực kinh tế (điển hình
là Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định thương mại tự do ASEAN - ấn Độ (IAFTA), Hiệp định đối tác kinh tế ASEAN - Nhật Bản (AJEPA)
ở châu Âu, châu Âu đặc biệt rất năng động trong chủ nghĩa khu vực và cũng là khu vực đi đầu trong việc thiết lập mô hình khu vực kinh tế, là khu vực
có nhiều thoả thuận thương mại có tính khu vực nhất Liên minh châu Âu (EU) luôn đóng vai trò là chủ thể tích cực nhất trong việc triển khai các FTA song phương và khu vực, EU không chỉ mở rộng số lượng thành viên tới các nước ở Trung Âu, Đông Âu mà còn dự định xây dựng hiệp định thương mại tự
do song phương với các nước vùng Địa Trung Hải vào năm 2010
EC mà sau này là EU đã thành công trong liên kết kinh tế khu vực thông qua hình thành các hiệp định thương mại tự do khu vực và phát triển thành liên minh thuế quan, rồi liên minh kinh tế và chính trị Những nỗ lực liên kết khu vực đầu tiên ở châu Âu được triển khai ngay sau khi kết thúc Thế chiến II với sự ra đời của OEEC (sau này là OECD) năm 1948, sau đó là Hội
đồng châu Âu (CE) năm 1949 Bước ngoặt quan trọng là việc ký kết Hiệp ước Pari 1952, tạo cơ sở cho sự ra đời của Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) cũng trong năm đó Các Hiệp ước và Thoả ước hội nhập khu vực quan trọng trong suốt nửa cuối thế kỷ 20 đã đưa đến sự ra đời của Công đồng kinh tế châu
Âu (EEC), rồi Cộng đồng châu Âu (EC) và Liên minh châu Âu (EU) Ngoài khung khổ EU còn có những nỗ lực liên kết kinh tế của một số quốc gia châu
âu với nhau như nhóm các nước Bắc Âu hay các quốc gia trung lập Với sự
Trang 31gia nhập của Romania và Bularia đầu 2007, đến nay EU đã có 27 nước thành viên với tổng diện tích 4.325.675 km2 với 496 triệu dân, GDP đầu người ước
đạt 28.100 USD/ năm
ở khu vực châu Mỹ, làn sóng FTA diễn ra chủ yếu dưới sự dẫn dắt của
Mỹ Mỹ chuyển hướng mạnh sang liên kết khu vực và song phương từ giữa thập kỷ 1980, đầu thập kỷ 1990: Ký FTA với Canada, rồi NAFTA, với Chile
và hơn 300 hiệp định hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phương trong suốt hai nhiệm kỳ của Tổng thống B.Clinton (1993-2000) Các nỗ lực hình thành FTA song phương đặc biệt mạnh mẽ dưới thời Tổng thống George W
Bush với chiến lược "competitive liberalization" - tạo ra cạnh tranh, đua tranh
trong các sáng kiến tự do hoá thông qua một loạt các thoả thuận song phương
- thuật ngữ do Đại diện Thương mại Mỹ Robert Zoellick của Chính quyền Bush đưa ra Từ năm 1994, Mỹ đã và đang thúc đẩy việc hình thành một Khu vực thương mại tự do toàn châu Mỹ (FTAA) gồm 34 nước thành viên
1.3 Thực trạng liên kết kinh tế khu vực châu Mỹ
1.3.1 Khái quát tiến trình liên kết kinh tế Mỹ Latinh
Từ lâu, các nước Mỹ Latinh đã nhận thức được rằng, một trong những biện pháp nhằm khắc phục tình trạng bất ổn định của nền kinh tế khu vực, giảm bớt sự phụ thuộc vào kinh tế phương Tây, Bắc Mỹ và hạn chế những tác
động tiêu cực của các nhân tố bên ngoài, là thực hiện liên kết khu vực, thiết lập những khối kinh tế trên cơ sở liên kết những tiềm lực kinh tế và phát huy những ưu thế của từng khối Ngay từ cuối thập kỷ 1940, liên kết kinh tế khu vực đã được nhìn nhận là công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hoá Các chuyên viên Uỷ ban kinh tế Mỹ Latinh và Caribbe (ECLAC) được coi là các nhà tư tưởng của quá trình liên kết kinh tế khu vực thời kỳ này Họ cho rằng hợp tác kinh tế chung toàn khu vực Mỹ Latinh sẽ góp phần củng cố
sự độc lập về kinh tế cho cả khu vực cũng như cho nền kinh tế của mỗi nước
Họ lập luận rằng cùng với cơ sở khu vực nhà nước tương đối mạnh và tài
Trang 32nguyên tích luỹ được và sự hỗ trợ của chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, thì hợp tác kinh tế toàn khu vực sẽ góp phần thực hiện cải tổ cơ cấu kinh tế khu vực và làm thay đổi địa vị truyền thống của Mỹ Latinh trong
hệ thống phân công lao động quốc tế vốn bất lợi cho họ Tuy ý tưởng này nhận được sự ủng hộ khá rộng rãi của nhiều nhà hoạt động chính trị và xã hội
có ảnh hưởng lớn ở khu vực nhưng trên thực tế, lịch sử liên kết kinh tế Mỹ Latinh chính thức khởi đầu vào thập kỷ 1960 với sự ra đời của Hiệp hội mậu dịch tự do Mỹ Latinh (LAFTA) trên cơ sở Hiệp ước Montevideo Cho đến năm 1968 LAFTA gồm có 10 nước Nam Mỹ (Argentina, Brazil, Bolivia, Chile, Colombia, Equador, Paraguay, Peru, Uruguay, Venezuela) và một nước Bắc Mỹ là Mexico Lựa chọn đàm phán tuỳ theo ý thích của các nước thành viên hơn là giảm tự động thuế quan khiến LAFTA thành một chương trình mở phát triển tương đối tốt đẹp trong những năm đầu Trong thập niên liên kết đầu tiên tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, mậu dịch nội bộ khu vực tăng khá nhanh Các nước thành viên đã soạn thảo được một số dự án đầu tư chung, trước hết là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ sở và đã tiến hành tự do hoá một
số tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động đầu tư Tuy nhiên, LAFTA mất động lực từ năm 1965, và hầu như trì trệ trong những năm 1970 Mặc dù khuyến khích thương mại giữa các nước thành viên, khoảng cách giữa mục tiêu ban
đầu và kết quả đạt được còn quá lớn LAFTA được chuyển tên thành Hiệp hội liên kết Mỹ Latinh (LAIA) vào năm 1980 LAIA được sử dụng như phương thức khác nhằm thúc đẩy hội nhập Thay cho khu vực mậu dịch tự do được tạo
ra bởi LAFTA, một khu vực ưu tiên kinh tế được thiết lập tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các đề xuất song phương, như cơ sở ban đầu cho thể chế quan hệ đa phương tại Mỹ Latinh Theo tinh thần mới của Hiệp ước Montevideo (Hiệp ước này được điều chỉnh vào năm 1980), các nước thành viên được phép kí kết các hiệp định thương mại với một số nước hoặc thậm chí với một nước (khác với Hiệp ước này năm 1960 đã đưa ra một chế độ thuế quan cứng nhắc, đó là các loại thuế quan phải được qui định xuất phát từ nguyên tắc tối huệ quốc đối với tất cả các thành viên LAFTA, điều kiện này là
Trang 33một trở ngại lớn trong tiến trình liên kết) LAIA vì vậy tạo tính khả thi cho các thoả thuận và hành động chung giữa các nước trong khu vực cho tới khi đã xoá bỏ những quan hệ hạn chế ban đầu Tuy nhiên, việc thiết lập một thị trường chung vẫn là mục tiêu lâu dài
Liên kết tiểu khu vực Trung Mỹ:
Sự kiện 5 nước Trung Mỹ: Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Nicaragua và Honduras ký Hiệp định về hợp tác kinh tế vào năm 1951 đã
đánh dấu sự khởi đầu rất sớm của xu hướng liên kết tiểu khu vực ở Mỹ Latinh Mục tiêu của các nước là thực hiện sự liên kết giữa các nền kinh tế, xây dựng một thị trường rộng lớn thông qua việc tạo lập các thiết chế và từng bước tự do hoá việc trao đổi mậu dịch ở khu vực này Công ước về Chế độ liên kết công nghiệp Trung Mỹ ký năm 1958 và Công ước về cung ứng các thiết bị nhập khẩu năm 1959 đã mở đường cho qúa trình hình thành khu vực mậu dịch tự
do, thiết lập một hệ thống thuế quan thống nhất ở Trung Mỹ Đây cũng là tiền
đề dẫn đến sự ra đời của Thị trường chung Trung Mỹ (CACM) năm 1960, thực hiện sự trao đổi tự do về hàng hoá, vốn, lao động trong nội bộ khối với một chính sách thuế quan chung trong buôn bán với các nước ngoài khối Trong những năm đầu, CACM đã có những thành tựu nhất định Tuy nhiên cho đến đầu thập kỷ 1980, trong quá trình đối phó với những khó khăn bên trong và bên ngoài (khủng hoảng kinh tế, năng lượng, tiền tệ thế giới, khủng hoảng nợ ) những cam kết về liên kết đã không được các nước tôn trọng và tiến trình liên kết gần như hoàn toàn bị quên lãng
Thị trường chung Andean (ANDEAN)
Thị trường chung Andean được thành lập ngày 26 tháng 5 năm 1969 theo Hiệp ước Cartahena (Cartagena) gồm Bolivia, Colombia, Ecuador, Peru, một số nước sau đó gia nhập thêm: Venezuela (1973), Chile (1976) Đây là tổ chức đầu tiên tại khu vực Mỹ Latinh nhằm xoá bỏ sự khống chế của tư bản nước ngoài đối với nền kinh tế khu vực Mục đích chính của Nhóm Andean là chuẩn bị cho quá trình liên kết Mỹ Latinh bằng cách xây dựng một tiểu vùng
Trang 34kinh tế có tầm quan trọng ngang với các nước dẫn đầu của LAFTA (Argentina, Brazil, Mexico) Thực tế, nhóm này đã có nhiều tiến bộ hơn so với LAFTA, ngoài việc tự do hoá mậu dịch nội bộ dưới hình thức trực tiếp không cần thương lượng trước, các nước thành viên chủ trương thiết lập một liên minh thuế quan, thi hành một biểu thuế quan chung trong buôn bán với các nước thứ ba Nhóm Andean cũng đã kí nhiều hiệp định kinh tế và hợp tác với nhiều nước Mỹ Latinh và châu Âu, với Hoa Kỳ và Thị trường chung châu Âu Năm 1983, nhóm này đã thông qua một tuyên bố về sự phối hợp lập trường với nhau trong các vấn đề kinh tế tại Liên hợp quốc và các diễn đàn quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế cũng giống như Thị trường chung Trung Mỹ, trước những khó khăn trong cũng như ngoài khối trong những năm 1970 và 1980, khối này đã ở trong trạng thái đình trệ trong một thời gian khá dài
Thị trường chung Caribbe (CARICOM)
Khối thị trường chung Caribbe thành lập năm 1973 gồm 13 nước thành viên Caricom đề ra ba loại hình hoạt động là: liên kết kinh tế, hợp tác điều hành trên các lĩnh vực phi kinh tế và phối hợp chính sách đối ngoại giữa các nước thành viên Vừa mới ra đời khối này đã phải đối mặt với hai cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai Suy thoái kinh tế, nợ nước ngoài gia tăng khiến các nước áp dụng các biện pháp chính sách đi ngược lại với mục tiêu của liên kết: tăng thuế nhập khẩu, dựng các hàng rào bảo hộ thị trường nội địa do đó đa số các chương trình, mục tiêu liên kết để phát triển của Caricom đã lần lượt bị chết yểu
Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR)
MERCOSUR ra đời ngày 26 tháng 3 năm 1991 gồm bốn nước thành viên Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay với mục đích xoá bỏ mọi hàng rào thuế quan, tạo một khu vực buôn bán tự do, thúc đẩy phát triển kinh tế các nước thành viên, nhằm đối phó với các tác động tiêu cực và mặt trái của xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ Sự ra đời của MERCOSUR đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình liên kết ở Nam Mỹ Sau khi xoá bỏ thuế
Trang 35quan cho 90% số hàng hoá buôn bán qua lại nội khối và áp dụng mức thuế quan thống nhất cho 85% số mặt hàng nhập từ nước thứ ba, MERCOSUR ký Hiệp định mậu dịch tự do với Chile tháng 6-1996, Bolivia tháng 3 năm 1997
và trở thành khối liên kết kinh tế lớn thứ ba thế giới sau EU và NAFTA Cuối những năm 1990, MERCOSUR chiếm 59% diện tích địa lý, 62% số dân, 70% GDP, 67% kim ngạch ngoại thương và sản phẩm công nghiệp khu vực Nam
Mỹ Trong thời gian từ năm 1990 đến 1997, tổng kim ngạch buôn bán nội khối tăng bình quân 22%/ năm, từ 4,1 tỷ USD lên 20,8 tỷ USD; đầu tư nước ngoài tăng bình quân 33%/năm và kim ngạch ngoại thương tăng lên từ 9 lên 25% Cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng của Argentina (1998-2002) đã tác
động tiêu cực đến nền kinh tế các nước thành viên khác như Brazil, Paraguay
và hoạt động thương mại, đầu tư vào khu vực MERCOSUR MERCOSUR
đang xúc tiến các vòng đàm phán tiến tới thống nhất tổ chức này với Cộng
đồng các quốc gia vùng Andes (CAN) thành thị trường chung Nam Mỹ
Xem xét lại lịch sử hội nhập kinh tế tại Nam Mỹ cho thấy một mặt MERCOSUR là thành quả lịch sử tự nhiên của quá trình hội nhập kinh tế - chính trị tại Mỹ Latinh, gồm LAFTA và LAIA, và tiếp đó là hiệp định song phương PICE, đồng thời cũng là một sự điều chỉnh với môi trường chính trị
đương đại Tiến trình chính trị thông qua đó MERCOSUR được thiết lập và củng cố làm gợi lại chiến lược và những mong muốn hợp tác trong nỗ lực hội nhập của Mỹ Latinh Mặc dù nguồn gốc của MERCOSUR được thiết lập vững chắc theo yêu cầu lâu dài về qúa trình hội nhập kinh tế khu vực, hình thức và thời hạn phát triển của nó rõ ràng chịu ảnh hưởng của các sự kiện quốc tế và chịu ảnh hưởng bởi khuynh hướng về chính sách kinh tế tự do mới và thị trường tự do đương đại Do vậy, MERCOSUR đại diện cho tập hợp chính sách công khai hiện tại xác định môi trường cạnh tranh mới cho thương mại tại Nam Mỹ
Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 6 (vào ngày 5/7/2006) của Khối thị trường chung Nam Mỹ ở Caracas (Venezuela), Venezuela đã được chính thức công
Trang 36này với tư cách quan sát viên Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới của MERCOSUR nói riêng và tiến trình liên kết, hợp tác khu vực Mỹ Latinh nói chung Theo Tổng thống Venezuela Hugo Chavez thì đây là bước khởi đầu tiến tới thành lập một khu vực mậu dịch tự do Nam Mỹ thống nhất và tự do Với việc kết nạp thêm Venezuela, MERCOSUR trở thành một thị trường khu vực đầy tiềm năng với gần 260 triệu người tiêu dùng, tạo ra một thị trường có giá trị tổng sản phẩm khu vực lên tới hơn 1 nghìn tỷ USD, tương đương 3/4 tổng giá trị hoạt động kinh tế của khu vực Nam Mỹ, thương mại nội khối sẽ
đạt khoảng 300 tỷ USD/năm
Tuy nhiên, thất bại lớn của MERCOSUR là việc khối này không có khả năng hội nhập hoàn toàn nền kinh tế của các nước thành viên Những xung đột thương mại căng thẳng nhất đã nổ ra giữa Brazil, nền kinh tế lớn nhất Nam
Mỹ với Argentina, nền kinh tế lớn thứ hai Nam Mỹ Các ưu tiên trái ngược nhau cũng khiến các nước thành viên của MERCOSUR không thể tạo được một mặt trận thống nhất trong các cuộc thương lượng với Mỹ về thoả thuận FTAA (Thông tấn xã Việt Nam: Tin kinh tế 17/12/2004) Ví dụ, mặt hàng
đường đã không được đưa vào các thoả thuận của MERCOSUR vì Argentina muốn bảo vệ ngành sản xuất của họ, kết quả là đề nghị của MERCOSUR về vấn đề nông nghiệp trong các cuộc đàm phán thành lập FTAA không có mặt hàng đường, mặc dù Brazil rất muốn tăng lượng đường xuất khẩu
Như vậy, sự gia tăng gần đây trong các thoả thuận, các hiệp định thương mại khu vực ở Mỹ Latinh thể hiện một thời đại mới của quá trình mở cửa trong khu vực này Các thay đổi này là những bước đi đầu tiên để hướng các nước trong khu vực trở thành các chủ thể quan trọng trước hết là trong châu lục này sau đó là trong hệ thống kinh tế toàn cầu Luận điểm này dựa
trên bốn quan điểm chính: Trước hết, các thoả thuận này cho thấy sự thay đổi trong thay thế cơ chế phát triển từ đóng cửa thành sự kết nối mở Thứ hai, các
nước Mỹ Latinh đang sử dụng tư cách thành viên của mình trong các hiệp
định thương mại khu vực như một chiến lược để đạt được nhiều lợi thế trong
Trang 37các cuộc đàm phán với Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và WTO Động cơ mang
tính chiến lược này dẫn đến quan điểm thứ ba cho rằng quan tâm lớn nhất của
các nước này chính là tạo lập các khối khu vực “mở” Theo Prome Braga thì một khối thươmg mại được gọi là “mở” khi các rào cản thương mại và đầu tư
đối với các nước không phải thành viên không tăng và các nước thành viên mới được phép tham gia nếu như họ nhất trí với những quy định tương tự như
các thành viên hiện thời Cuối cùng, quan điểm thứ tư là thủ tục hành chính
phát sinh từ các thoả thuận thương mại khu vực có thể giúp các nước tham gia hoạt động hiệu quả hơn trong môi trường toàn cầu Đây là một quan điểm thực
tế Chẳng hạn như sự thành thạo trong các cuộc thương thuyết theo lĩnh vực triển khai ở cấp độ khu vực được vận dụng ở cấp độ đa phương
Qua khái quát tiến trình liên kết kinh tế Mỹ Latinh trên có thể rút ra
được những đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, quá trình liên kết kinh tế ở Mỹ Latinh có một lịch sử khá lâu
dài và trải qua nhiều thăng trầm, thậm chí có nhiều dự án liên kết khu vực cũng như tiểu khu vực bị đình trệ, hay đi vào bế tắc, chẳng hạn như ANDEAN, CARICOM
Thứ hai, ở nhiều nước Mỹ Latinh liên kết được tiến hành song song với
tự do hoá thương mại đơn phương, thậm chí ở một số nước tự do hoá thương mại đơn phương lại được tiến hành trước khi các nước gia nhập vào các khối liên kết khu vực và tiểu khu vực
Thứ ba, mục tiêu của các khối liên kết đều vượt quá phạm vi hình thành
các khu vực tự do thương mại Các khối liên kết tiểu khu vực ở Mỹ Latinh mặc dù có mức độ liên kết khác nhau nhưng nói chung đều hoạt động với tư cách là các liên minh thuế quan
Thứ tư, liên kết kinh tế được tiến hành để đáp lại những thách thức cũng
như những điều kiện cạnh tranh do quá trình toàn cầu hoá mang lại Các sáng kiến khu vực hoá được coi là yếu tố bổ sung cho công cuộc cải cách kinh tế, là một bộ phận hợp thành của chính sách phát triển ở các nước này
Trang 38Tuy nhiên, rõ ràng là với những khối liên kết trên, việc thực hiện các mục tiêu đề ra là khó khăn, có sự trì trệ và suy giảm so với mục tiêu liên kết ban đầu
1.3.2 Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NAFTA - North American Free Trade Area - Khối mậu dịch tự do các nước Bắc Mỹ được thành lập theo hiệp định ký kết ngày 12/8/1992 bao gồm 3 nước Mỹ, Canada và Mexico Khối này có diện tích rộng 21,3 triệu km2, dân
số 414,38 triệu, tổng sản phẩm trong nước năm 2001 là 11.399,8 tỷ USD, GDP bình quân đầu người là 27.510 USD Sau khi được phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của các quốc gia này, NAFTA đã có hiệu lực vào ngày 1/1/1994
NAFTA được thành lập với mục đích thúc đẩy phát triển thương mại giữa ba nước Hiệp định còn bao gồm một lịch trình loại bỏ thuế quan hàng hoá và dịch vụ cũng như giảm các rào cản khác đối với lĩnh vực thương mại Mục đích đơn giản là nhằm giảm chi phí kinh doanh cho các doanh nghiệp, qua đó các hãng có thể nhận thấy tiềm năng lớn hơn bởi việc hoạt động trong nền kinh tế Bắc Mỹ rộng hơn, liên kết chặt chẽ hơn và tự do hơn Người tiêu dùng nhìn chung được lợi từ sự cạnh tranh mạnh hơn với những sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, giá rẻ hơn Từ sự thuận lợi của thương mại sẽ thúc đẩy đầu tư nước ngoài và thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp có hiệu quả
Cơ quan giám sát cao nhất của NAFTA là Hội đồng thương mại Tự do Bắc Mỹ, bao gồm đại diện Thương mại Mỹ, Bộ trưởng Ngoại thương Canada,
và Bộ trưởng Thương mại và Phát triển Công nghiệp Mexico ủy ban này đã thành lập các tổ công tác và các cơ quan tư vấn để quản lý những hoạt động hàng ngày của hiệp định NAFTA cũng có những quy định riêng quản lý việc
tự do hoá thương mại và đầu tư, được sử dụng bổ sung hoặc thay thế các quy
định của WTO Các quy định của NAFTA áp dụng vào các lĩnh vực bao gồm việc mở cửa đối với mua sắm của chính phủ, các tiêu chuẩn sản phẩm, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các tiêu chuẩn viễn thông, đầu tư, quy định về xuất xứ
Trang 39hàng hoá Khác với EU, NAFTA chỉ mở rộng cửa buôn bán giữa các nước thành viên bằng cách từ từ bãi bỏ hàng rào thuế quan chứ không tiến tới xóa
bỏ biên giới quốc gia và không xây dựng một thị trường thống nhất về tiền tệ
Cho đến nay, NAFTA đã trải qua một quãng thời gian 13 năm, sự tiến triển của NAFTA được đánh giá là rất khả quan, đặc biệt là trong hai lĩnh vực thương mại và đầu tư Trong một báo cáo chung của Hội đồng thương mại tự
do NAFTA ngày 16/7/2004 tại Texas (Mỹ) đã khẳng định đó là “một thập kỷ thành công của NAFTA” Như ý tưởng xây dựng ban đầu, NAFTA đã dần loại
bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại hàng hoá, tiếp cận sâu hơn đến thương mại dịch vụ, thiết lập các qui tắc đầu tư, tăng cường bảo vệ quyền sáng chế , từ đó thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư, tăng việc làm và tăng khả năng cạnh tranh của 3 nền kinh tế trong khu vực
Cũng theo báo cáo trên của Hội đồng thương mại tự do NAFTA, thương mại 3 chiều giữa Mỹ, Canada và Mexico đã tăng hơn 100% sau 10 năm Hiệp
định có hiệu lực Khi thuế quan áp dụng cho tất cả các loại hàng hoá và đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp được loại bỏ, hoạt động thương mại sẽ phát triển mạnh Cụ thể là trước khi có NAFTA, thuế quan của Mexico đối với hàng hoá
từ Mỹ rất cao (bình quân khoảng 10%), nhưng hiện nay, có tới 85% hàng hoá của Mỹ vào Mexico được miễn thuế và tất cả thuế quan này được loại bỏ hoàn toàn vào năm 2008 Tương tự, hàng hoá của Mexico cũng được hưởng ưu đãi
từ việc loại bỏ rào cản thuế như vậy Vì vậy, thương mại trong khu vực có sự liên kết chặt chẽ hơn, có đến 90% xuất khẩu của Mexico là sang Mỹ và 62% nhập khẩu của Mexico từ Mỹ Còn Canada, 83% xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ
và 70% nhập khẩu của Canada từ Mỹ Thương mại hàng hoá giữa Mỹ và Canada đã tăng hơn 120%, nếu tính cả thương mại dịch vụ thì tỷ lệ này gần 140% Tổng thương mại giữa ba nước đạt hơn 623 tỷ USD (2003) nhiều hơn gấp đôi so với mức trước khi có NAFTA với 306 tỷ USD (1993) Quan hệ thương mại giữa Canada với Mexico trước NAFTA rất mờ nhạt, sau đó tăng rất nhanh bình quân hàng năm khoảng 14% từ 1994-2002 Xuất khẩu của
Trang 40Mexico sang Mỹ và Canada đã tăng hơn gấp đôi (tính theo đô la Mỹ) giữa 1993-2002
NAFTA có ảnh hưởng rõ rệt đến đầu tư trực tiếp của khối Từ năm 1994
đến năm 2003, FDI cộng dồn trong ba nước đạt hơn 1,7 nghìn tỷ USD Nếu như trước năm 1994, ba nước này vẫn nhận được dòng FDI khiêm tốn thì sau
1994 dòng FDI vào ba nước đã tăng nhanh từ 63 tỷ USD trong thời kỳ 1989 -
1994 lên tới 202 tỷ USD trong giai đoạn 1995 - 2000, (tăng 200% tính theo USD) Luồng FDI cùng với các loại cung cấp tài chính nước ngoài khác đã lập quỹ xây dựng hàng ngàn nhà máy ở Canada & Mexico, từ đó lại sản xuất hàng hoá để xuất khẩu sang Mỹ - đây được coi là bước đệm để các nhà đầu tư ngoài khu vực thâm nhập vào thị trường Mỹ NAFTA cũng làm tăng FDI giữa các nước thành viên trong khối, đáng kể nhất là các dòng đầu tư từ Mỹ vào Mexico và Canada và từ Canada vào Mexico Như thế, NAFTA đã tạo cơ hội cho các nhà đầu tư của Mỹ và Canada thâm nhập sâu hơn vào thị trường Mexico
Ngoài những tác động tích cực trên, NAFTA vẫn tồn tại những mặt trái chưa thể giải quyết được Đây cũng là một hệ quả tất yếu của tự do hoá
thương mại: thứ nhất, tình trạng bất bình đẳng thu nhập gia tăng, do thay đổi
mạnh về cơ cấu việc làm, tiền lương làm cho phân hoá giàu nghèo trong khu
vực rõ nét hơn đặc biệt ở Canada và Mexico; thứ hai, tự do hoá thương mại đã
dẫn đến tình trạng mất việc làm ở những ngành có sự cạnh tranh thấp và đối
với những công nhân kém kỹ năng; thứ ba, NAFTA dễ gây những rủi ro đối
với kinh tế Mexico và Canada do kinh tế của hai nước này phụ thuộc quá lớn vào nền kinh tế Mỹ, bằng chứng là khi kinh tế Mỹ suy giảm lập tức kinh tế Mexico và Canada cũng suy giảm theo Chính vì thế, Mexico một mặt chú trọng phát triển kinh tế với Mỹ nhưng mặt khác đã chú trọng hơn đến các thị trường khác nhằm đa dạng hoá thị trường, phân bổ rủi ro
Từ thực trạng liên kết kinh tế khu vực châu Mỹ như đã phân tích ở trên cho thấy mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong hợp tác kinh tế ở khu vực này,