1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cán bộ; Công chức; Dư luận xã hội; Thanh Hóa; Xã hội học; Management; Socil aspects; Sociology

104 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dân, thủ tục hành chính rườm rà, nhiều phiền hà, chi phí và tiêu cực, lợi dụng việc công ức hiếp sách nhiễu …Vậy, trước những áp lực của người dân, của các doanh nghiệp, trước dư luận xó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Lê Thị Tuyền

Tác động của dư luận xã hội tới hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã : nghiên cứu trường hợp

huyện Đông Sơn - tỉnh Thanh Hóa

Luận văn ThS Xã hội học

Nghd : TS Phạm Văn Quyết

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đó tập trung chỉ đạo các ban,

bộ, ngành thực hiện đồng bộ chương trỡnh cải cỏch hành chớnh nhằm giỳp phỏt triển kinh tế - xó hội Trong đó, cải cách hành chính nhà nước là một bộ phận quan trọng trong đường lối đổi mới toàn diện của éảng và là một trong những giải phỏp ưu tiên hàng đầu trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội của Đảng và Nhà nước ta

Mục tiờu chung của chương trỡnh tổng thể cải cỏch hành chớnh nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xó hội chủ nghĩa dưới sự lónh đạo của éảng; xõy dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước éến năm 2010,

hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiờn, việc cải cách hành chính là một việc không hoàn toàn đơn giản và có thể giải quyết một sớm một chiều Để tiến hành công cuộc cải cách

có hiệu quả, một yếu tố then chốt là phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính có tính chuyên nghiệp và trong sáng về đạo đức Họ chính là chủ thể của công cuộc cải cách, là người trực tiếp thực hiện công cuộc cải cách nền hành chính của đất nước Năng lực chuyên môn đóng vai trò quyết định song đạo đức của cán bộ công chức lại là yếu tố quan trọng để có thể nhân lên mức độ thành công hay thất bại của tổ chức Nhưng lâu nay, chúng ta đó bắt gặp thường xuyên các thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng phản ánh về thực trạng của nền hành chính hiện nay, đó là: tệ xa dân, hành

Trang 3

dân, thủ tục hành chính rườm rà, nhiều phiền hà, chi phí và tiêu cực, lợi dụng việc công ức hiếp sách nhiễu …Vậy, trước những áp lực của người dân, của các doanh nghiệp, trước dư luận xó hội về cỏc vấn đề do nền hành chính gây nên, các cán bộ, công chức hành chính có nhận thức, thái độ và đặc biệt hành

vi xử lý cụng việc như thế nào? Đõy là cõu hỏi nghiờn cứu rất quan trọng và cần thiết phải trả lời để cú thể tỡm cỏch đẩy nhanh cụng cuộc cải cỏch hành chớnh

Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Sự tham gia của nhõn dõn vào quỏ trỡnh xõy dựng phỏp luật và cải cách hành chính là phù hợp với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, với chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, với bản chất dân chủ của Nhà nước ta Thế nhưng trên thực tế sự tham gia này cũn ớt được thực hiện, phần nhiều mang tính hỡnh thức, không hiệu quả Nguyên nhân trước hết là

do tư duy của cán bộ hành chính cũn nặng về “quan chức – cụng chức”, chưa

có sự gần gũi người dân; tiếp đó là do thiếu một quy trỡnh, thủ tục cụ thể, hợp

lý nờn người dân không thể tiếp xúc với cán bộ, công chức, họ chỉ có sự lựa chọn duy nhất là lên án những hệ quả tiêu cực mà nó đưa lại và vô hỡnh chung chấp nhận những tiờu cực đó như một việc “sống chung với lũ”; thứ ba

là bản thân các cán bộ, công chức cũng chưa xác định đúng vấn đề của mỡnh, bản thõn họ cũng nhận thấy dư luận xó hội cú những bất bỡnh, khụng đồng tỡnh đối với những thủ tục hành chính cũng như cách ứng xử của cán bộ hành chính trong việc giải quyết công việc nhưng họ chưa thể cải cách, vỡ nền hành chớnh hiện nay cú thể mang đến cho họ một nguồn lợi nhất định (như thủ tục phiền hà dẫn đến mất thời gian, người dân muốn giải quyết nhanh thỡ phải cú “tiờu cực”, trong khi bản thõn họ đồng lương lại thấp…)

Chớnh vỡ những lý do như vậy, áp lực của những cán bộ, công chức hành chính càng nặng nề hơn Bản thân họ phải nỗ lực tham gia để giải quyết

Trang 4

những vấn đề dư luận xó hội đang tập trung phản ảnh chính mình, bản thân họ cũng cần phải thay đổi hỡnh ảnh trong con mắt người dân Cụ thể, nếu người dân có sự tham gia vào việc cải cách hành chính sẽ giúp điều chỉnh hành vi của các cán bộ hành chính, họ phải thay đổi cách ứng xử, cách quản lý, cỏch nhận thức và giải quyết vấn đề làm sao có lợi cho dân hơn và phù hợp hơn Tuy nhiên từ nhận thức đến hành vi ra quyết định cuối cùng trong việc xử lý công việc là cả một quá trình dài phía trước cần phải vượt qua mà dư luận xã hội là một cú hích góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đạo đức và tài năng

Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn chủ đề: “Tác động của dư luận xó hội

tới hành vi xử lý cụng việc của cỏn bộ, cụng chức cấp xó “ Nhằm tìm hiểu

sự nhận thức của cán bộ, công chức hành chính trước dư luận xã hội và mức

độ ảnh hưởng trong việc xử lý công việc

2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Ý nghĩa khoa học

Những kết quả nghiên cứu trong luận văn góp phần minh chứng cho tính hợp lý của các lý thuyết xã hội học được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài Luận văn cũng đóng góp một phần quan trọng cho mảng đề tài dư luận xã hội trong nghiên cứu xã hội học hiện nay

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp cho chúng ta cái nhìn tương đối toàn diện về sự tác động của dư luận xã hội đối với cán bộ cấp cơ sở trong hành vi xử lý công việc Những cơ chế tác động, vai trò của dư luận xã hội trước sức ép của dư luận xã hội và giải pháp để có thể phát huy một cách tích cực vai trò của dư luận xã hội cũng được bản luận văn quan tâm thể hiện Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra những khuyến nghị và giải pháp

Trang 5

nhằm phát huy những nhân tố tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của dư luận xã hội đối với cán bộ cấp cơ sở trong hành vi xử lý công việc

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

 Phân tích thực trạng nhận thức của cán bộ, công chức hành chính trước

áp lực của dư luận xã hội đánh giá về mình

 Phân tích các yếu tố tác động của dư luận xã hội đến hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã

 Phân tích cơ chế tác động của dư luận xã hội đến hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã

 Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ hành chính chất lượng cả về chuyên môn và đạo đức đồng thời phát huy nhân tố tích cực có sự tham gia người dân vào công cuộc cải cách hành chính

4 ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Trang 6

Tác động của dư luận xã hội tới việc xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã

 Không gian nghiên cứu: Huyện Đông Sơn – Tỉnh Thanh Hoá

 Thời gian nghiên cứu: Tháng 4- 8 năm 2007

5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ SƠ ĐỒ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN SỐ

5.1 Giả thuyết nghiên cứu

 Đa số các cán bộ, công chức cấp xã đều biết và hiểu nội dung các luồng

dư luận xã hội nhưng chỉ khi nào dư luận xã hội nêu đích danh sự việc

và cá nhân cụ thể thì khi đó dư luận xã hội mới có tác động đến hành vi

Trang 7

5.2 Sơ đồ tương quan giữa các biến số

Hành vi xử lý công việc của cán bộ,

công chức cấp xã

Dư luận xã hội

Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội

Trang 8

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Các phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: nhằm thu thập thông tin định

lượng thông qua bảng hỏi được xây dựng với 22 câu hỏi Thông tin từ bảng hỏi tập trung về các vấn đề tác động tích cực và tiêu cực, cơ chế tác động của

dư luận xã hội tới hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã Phỏng vấn bảng hỏi được thực hiện với số cán bộ, công chức cấp xã thuộc 19

xã và 2 thị trấn thuộc huyện Đông Sơn – tỉnh Thanh Hoá Tổng số người được hỏi là 162 người

-Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 6 đối

tượng là cán bộ, công chức xã để tìm hiểu thực trạng tác động cũng như cơ chế tác động của dư luận xã hội tới hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức xã trên địa bàn các xã, thị trấn thuộc huyện Đông Sơn - tỉnh Thanh Hoá

- Phương pháp phân tích tài liệu: Bao gồm việc phân tích các công

trình thực nghiệm, kết quả những đề tài nghiên cứu liên quan, số liệu thống

kê, các cuộc phỏng vấn sâu… phục vụ cho cuộc nghiên cứu

6.2 Phương pháp chọn mẫu & cơ cấu mẫu

- Mẫu chọn cho phỏng vấn bảng hỏi là 162 cán bộ trong 19 xã và 2 thị trấn Việc phỏng vấn các cá nhân được chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên trên

cơ sở rút thám một số cán bộ trong tổng số cán bộ, công chức của từng xã và thị trấn

- Cơ cấu mẫu: theo báo cáo tổng hợp thống kê chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức xã huyện Đông Sơn tháng 10 năm 2007, tỷ lệ giới tính trong cơ cấu cán bộ, công chức xã như sau: Tổng số cán bộ, công chức xã: 359 người, trong đó nam: 281 người, nữ: 78 người

Trang 9

Cơ cấu giới tính trong mẫu nghiên cứu gồm 162 người như sau:

+ Nam: 116/162 người (71,6%)

+ Nữ: 46/162 người (28,4%)

Với tỷ lệ giới tính trong mẫu nghiên cứu như trên, chúng tôi nhận thấy

tỷ lệ giới tính của đối tượng khảo sát đã đảm bảo được tính đại diện trong quá trình nghiên cứu

Về lứa tuổi của đối tượng được hỏi, cũng theo báo cáo tổng hợp thống

kê chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã huyện Đông Sơn tháng 10 năm

2007 tỷ lệ cán bộ, công chức xã theo lứa tuổi như sau:

Trang 10

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Theo Dahrendorf: “ Vai trò là tập hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của những người mang các địa vị …ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hay nhóm các kỳ vọng hành vi”

Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam “ Vai trò là tập hợp các mong đợi, các quyền và nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Vai trò xã hội là một

1

Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên), Xã hội học, NXB Giáo dục

Trang 11

khái niệm nói đến vai diễn mà cá nhân đảm trách trong một thời gian nhất định nào đó và được mọi ngừi trong xã hội mong đợi”2

Theo giáo trình Xã hội học Quản lý của PGS TS Vũ Hào Quang thì thuật ngữ vai trò sử dụng để xác định thành phần các mô hình văn hoá gắn liền với địa vị xã hội cụ thể, bao gồm tâm thế, giá trị và hành vi do xã hội quy gán cho bất kì ai hoặc tất cả những người chiếm giữ một địa vị xã hội cụ thể

Nó bao gồm những kì vọng được hợp pháp hoá của những người giữ chức vụ đối với hành vi của người khác đến họ

Vai trò xã hội là sự tập hợp những hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó

Vậy vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định, để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó và thiết chế xã hội là những mô hình hành vi được xem là chuẩn và thực hiện theo Hay nói một cách khác, vai trò xã hội là một khái niệm chỉ toàn bộ những nghĩa vụ và quyền lợi của con người gắn liền với một địa vị xã hội nào đó

Thiết chế xã hội là một tập hợp các vai trò được chuẩn hoá Đó chính là các vai trò mà mọi cá nhân cần phải học để thực hiện (thông qua quá trình xã hội hoá) Tức là thiết chế cung cấp cho cá nhân những vai trò có sẵn Đa số các cá nhân đều tuân theo thiết chế, thiết chế mang lại cảm giác yên tâm và an toàn cho các cá nhân tuân thủ nó, vì nó là cái mà xã hội cho là đúng, là chuẩn Thực hiện theo nó là thực hiện theo số đông3

Thiết chế xã hội có hai chức năng cơ bản:

Trang 12

- Khuyến khích, điều chỉnh, điều hoà hành vi của con người phù hợp với quy phạm và chuẩn mực của thiết chế và tuân thủ thiết chế

- Ngăn chặn, kiểm soát, giám sát những hành vi lệch lạc do thiết chế quy định Mọi thiết chế xã hội đều được đặc trưng bởi sự hiện diện của mục đích hành động, bởi những chức năng cụ thể để đảm bảo cho việc đạt được mục đích, bởi sự tập hợp các địa vị và những vai trò xã hội điển hình cho thiết chế đó, bởi hệ thống những chế tài đảm bảo cho cái đáng có và ngăn chặn cái lệch lạc Sự tồn tại của mọi xã hội, tính ổn định và sự phát triển của nó, không thể có được nếu không có quản lý xã hội và kiểm soát xã hội Thiết chế xã hội thực hiện chức năng quản lý và kiểm soát xã hội Nó được giao quyền sử dụng những biện pháp thưởng phạt các thành viên trong xã hội

Dư luận xã hội là một thiết chế xã hội có vai trò điều hoà các mối quan

hệ xã hội tức là xã hội đòi hỏi dư luận thực hiện những hành vi nhất định Dư luận xã hội có những chức năng chủ yếu:

- Chức năng đánh giá: Dư luận xã hội thể hiện thái độ phán xét đánh giá của công chúng đối với các sự kiện, hiện tượng và vấn đề cuộc sống Sự phán xét đánh giá có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể biểu hiện dưới hình thức rất đơn giản, mang đậm sắc thái cảm xúc ( đồng tình - phản đối) nhưng cũng có thể rất phong phú về mặt nội dung

- Chức năng điều tiết các mối quan hệ xã hội: chức năng điều hoà thể hiện ở chỗ dư luận xã hội góp phần sắp xếp, điều chỉnh lại các quan hệ xã hội cho đúng mục đích và chuẩn mực Trên cơ sở phán xét, đánh giá các sự kiện, hiện tượng, dư luận xã hội nêu ra các chuẩn mực, chỉ ra những việc nên làm, những việc nên né tránh, hoặc điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của mọi người Nó phát huy làm cho các phong tục cũng như các truyền thống tốt đẹp trong quá khứ, tác dụng tron xã hội hiện tại Đặc biệt, khi xảy ra những biến

Trang 13

cố xã hội lớn, đụng trạm trực tiếp đến lợi ích cộng đồng (như các phong trào cách mạng, chiến tranh), dư luận xã hội thường hình thành nhanh chóng, rộng rãi và có sức mạnh lớn, chỉ hướng hoạt động cho quần chúng, cổ vũ những hành động phối hợp với lợi ích chung, lên án những hành động không phù hợp Trong cuộc sống, những dư luận xã hội của giai cấp tiên tiến thường có vai trò đặc biệt quan trọng góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

- Chức năng giáo dục: gắn với chức năng điều hoà là chức năng giáo dục Dư luận xã hội khi hình thành, nó thường tác động vào ý thức con người, nghĩa là chi phối ý thức cá nhân, nên cần phải điều chỉnh cho phù hợp với ý thức chung của cộng đồng Vì đa số người trong cộng đồng đều quan tâm đến

dư luận xã hội, co sự đánh giá hành vi của mình, có khuynh hướng giữ gìn, bảo vệ cái đúng, sửa chữa những sai sót, đề đáp ứng được yêu cầu của dư luận

xã hội đối với cá nhân và cộng đồng

- Chức năng đánh giá, kiểm soát: thông qua sự phán xét, đánh giá, dư luận xã hội giám sát các hoạt động của bộ máy Nhà nước, các tổ chức xã hội xem có phù hợp với lợi ích, nguyện vọng, xu hướng chung của cộng đồng hay không, gây sức ép lớn đối với tệ tham nhũng, quan liêu, tắc trách Trong các

xã hội dân chủ, công luận ( kể cả báo chí) thường được coi là cơ quan quyền lực thứ tư (sau các cơ quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp) Các quan chức tham nhũng, quan liêu, mất dân chủ rất “ghét” báo chí, dư luận xã hội luôn

“nhòm ngó” vào các công việc mờ ám của họ, sẵn sàng lên án, tố cáo họ

- Chức năng tư vấn, phản biện: trước những vấn đề nan giải của đất nước, dư luận xã hội có thể đưa ra những lời khuyên sáng suốt Dư luận xã hội cũng là người phản biện có uy tín đối với các quyết định của các cơ quan Đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội

Trang 14

- Chức năng giải toả tâm lý - xã hội: Theo các nhà tâm lý học, những nỗi bất bình, oan ức mà không nói ra được sẽ không mất đi mà lắng xuống vô thức trong tâm thức của con người và có thể trở thành những mầm mống bệnh hoạn nghiêm trọng về tinh thần, đến một lúc nào đó sẽ bộc phát thành những phản ứng bất thường, bệnh hoạn không thể kiểm soát được Sự giải bày, bày

tỏ thành lời có thể giải toả nỗi bất bình, uất ức của con người, nhóm xã hộ, làm cho tâm lý của con người, nhóm xã hội trở lại vị trí thăng bằng Bị oan ức

mà nói ra được người ta sẽ cảm thấy nhẹ nhõm 4

2 HỆ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

2.1 Dƣ luận xã hội

2.1.1 Khái niệm dư luận xã hội

Dư luận xã hội hay còn được gọi là công luận xã hội là một trong những hiện tượng tinh thần xã hội từ lâu đã được sử dụng khá phổ biến bởi các nhà tâm lý học, xã hội học cũng như các nhà chính trị Nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Anh Jonsonberi là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này vào năm 1159, cho đến thế kỷ XVIII thuật ngữ này được mọi người công nhận

Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này tuy nhiên không có một định nghĩa nào thống nhất

Có rất nhiều cách hiểu về dư luận xã hội khác nhau, phần đông các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá chung của nhóm xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm Theo B.K Paderin: “ Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu

là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, nhận định (bằng lời hoặc không

4 4 Ban tư tưởng - Văn hoá trung ương - Trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội Nghiên cứu, sử dụng và định hướng dư luận xã hội - Hà Nội, 1999

Trang 15

bằng lời) phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến lợi ích chung của họ” 5 Còn theo Young (1923) dư luận xã hội là kết quả cuối cùng sau các cuộc tranh luận về vấn đề mà cộng đồng quan tâm

Như vậy, chúng ta thấy trong hầu hết các định nghĩa đều đề cập đến những nội dung chính sau:

Dư luận xã hội là một tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ mang tính chất phán xét đánh giá của nhiều người trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng xã hội và những sự kiện, hiện tượng đó phải mang tính thời sự, có liên quan đến lợi ích chung, giá trị chung của các nhóm xã hội, cộng đồng xã hội

Phân biệt dư luận xã hội với tin đồn

Tin đồn cũng là một hiện tượng tâm lý xã hội và dễ nhầm lẫn với dư luận xã hội Tin đồn là tin tức về một sự kiện, hiện tượng được lan truyền từ người này sang người khác mà thiếu sự kiểm chứng Tin đồn thường được phổ biến thông qua kênh giao tiếp cá nhân Tin đồn thường được phát sinh trong tình trạng thiếu thông tin, trong quá trình loan truyền thường có sự thêm thắt, thêu dệt hoặc rút gọn chi tiết Ngược lại, trong dư luận xã hội mọi vấn đề phải được kiểm chứng qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các nguồn tin có trách nhiệm, và thường có tính ổn định cao

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành dư luận xã hội

Trang 16

hiểu là trạng thái phổ biến tổng hợp của tình cảm và ý chí của các nhóm xã hội trong những thời kỳ nhất định Tâm trạng xã hội không biểu hiện sự phản ứng trước những sự kiện, hiện tượng, quá trình cụ thể mà là một trạng thái tâm lý chung đối với ý nghĩa của các vấn đề đang diễn ra trong mối quan hệ của chúng với lợi ích, mong đợi của xã hội Tâm trạng xã hội thường được khắc hoạ bởi các trạng thái tâm lý cơ bản: “già cân bằng’; “cân bằng”; “non cân bằng” (quá vui - cân bằng - quá buồn; hăng hái - cân bằng - lừng khừng) Tâm trạng xã hội ảnh hưởng đến dư luận xã hội ở nhiều mặt, đôi khi khó nhận biết được, tuỳ từng thời điểm nhất định, nếu như người ta có tâm trạng phấn chấn, hồ hởi, thì nội dung phán xét đánh giá một hiện tượng lại khác so với tâm trạng chán nản, bi quan Thường khi phấn chấn lạc quan, thì nhiều thuận lợi hơn, ích thấy khó khăn hơn và ngược lại Những nếp bảo thủ, di sản của quá khứ cũng có thể ảnh hưởng tới việc hình thành dư luận nếu như không có

sự hướng dẫn đứng đắn

b Tâm thế xã hội

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến dư luận xã hội được khoa học tâm lý học xã hội nghiên cứu nhiều là tâm thế xã hội và khuôn mẫu tư duy của con người

Tâm thế xã hội là kết cấu tâm lý xã hội thể hiện trạng thái sẵn sàng phản ứng của nhóm xã hội theo những cách thức nhất định trong những bối cảnh xã hội nhất định Tâm thế xã hội được hình thành trên cơ sở các kinh nghiệm sống của nhóm xã hội Nhiều nhà tâm lý học xã hội coi tâm thế xã hội như là nền tảng của dư luận xã hội6 Trong cuộc sống hàng ngày con người chúng ta thường phải có hành vi ứng xử Hành vi ứng xử thậm chí là cả sự

6 Ban tư tưởng - Văn hoá trung ương - Trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội Nghiên cứu, sử dụng và định hướng dư luận xã hội - Hà Nội, 1999

Trang 17

phán xét, đánh giá của chúng ta thường bật ra rất nhanh, thậm chí không cần suy nghĩ và cân nhắc

Tâm thế xã hội là cái cơ sở bên trong của mỗi con người, của các nhóm

xã hội, là nền tảng để hình thành và phát triển xã hội Có thề hình dung mối quan hệ giữa tâm lý xã hội và dư luận xã hội được ví như mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ, giữa ý và lời Có quan điểm cho rằng cấu trúc của dư luận

xã hội gồm ba thành tố yếu tố tình cảm, yếu tố duy lý và yếu tố ý chí giống như cấu trúc của tâm thế xã hội

c Sự phát triển của khuôn mẫu tư duy

Theo nhiều nhà tâm lý học xã hội, yếu tố cơ bản trong thành phần nhận thức của dư luận xã hội là khuôn mẫu tư duy Khái niệm khuôn mẫu tư duy đôi khi còn được dịch là định kiến Khuôn mẫu tư duy là những quan niệm, suy lý, phán xét khái quát, giản đơn, hữu hạn nhưng có tính phổ biến và tương đối bền vững trong một cộng đồng xã hội Những biến cố nổi bật và sự tiếp xúc lập lại đóng vai trò quyết định cho việc hình thành khuôn mẫu tư duy Hay hiểu một cách đơn giản khuôn mẫu tư duy được hình thành như hệ thống niềm tin hay quan niệm của một cá nhân về các thành viên trong một nhóm xã hội nào đó Những quan niệm này được đơn giản hoá tối đa, mang tính đánh giá cao và tính bảo thủ (theo nghĩa là khó thay đổi)7 Khuôn mẫu tư duy tồn tại trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống của con người Sự tồn tại của khuôn mẫu tư duy cực kỳ cần thiết, không có nó sẽ không có hành động xã hội Dư luận xã hội là phương thức tồn tại của khuôn mẫu tư duy xã hội Để chủ động hình thành dư luận xã hội trước hết phải hình thành các khuôn mẫ tư duy xã hội Khi đã có khuôn mẫu tư duy xã hội, dư luận xã hội mà chúng ta muốn có

sẽ tự khắc bật ra khi gặp bối cảnh tương ứng

7

Nguyễn Quý Thanh - Xã hội học về dư luận xã hội

Trang 18

d Trình độ học vấn

Trình độ học vấn là khái niệm chỉ sự tập hợp (hệ thống) những tri thức, hiểu biết về tự nhiên, xã hội, về chính bản thân con người mà mỗi cá nhân tiếp nhận và tích luỹ được trong quá trình học tập ở những cấp học, bậc học nhất định thuộc nền giáo dục của một quốc gia8

Trình độ học vấn là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hướng đến việc hình thành dư luận xã hội Trong bối cảnh hiện nay, nước ta trong quá trình phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, mở cửa với bên ngoài, làm cho môi trường sống và hoạt động của mọi người dân đã có những thay đổi to lớn Người dân Việt Nam đang dần thoát khỏi đói nghèo, trình độ học vấn ngày càng tăng giúp cho họ ngày càng trở nên tự tin hơn Những luồng thông tin đa dạng, không hạn chế bởi giới hạn địa lý, ngôn ngữ, không gian và thời gian của thời đại Internet đang giúp người dân có thêm hiểu biết, so sánh

và cơ hội lựa chọn Có được sự tự do về vật chất và tinh thần, những người dân vốn hiền lành bỗng trở nên khó tính, họ bắt đầu nhận biết quyền lợi của mình, bắt đầu học cách giám sát công quyền, và không hiếm khi, nếu cảm thấy quyền lợi của họ bị đe doạ vi phạm, họ bắt đầu lên tiếng phản đối tạo thành dư luận trong quần chúng nhân dân gây sức ép đối với các hành vi tiêu cực của cán bộ, công chức cấp xã

e Lối sống

Theo nghĩa rộng, lối sống được hiểu là tổng thể các nét đặc trưng cho hoạt động sống của các dân tộc, các nhóm xã hội, các nhóm dân cư trong từng thời kỳ lịch sử xã hội nhất định Lối sống cũng được xem như phương thức sống, phương thức tồn tại của các nhóm xã hội Theo nghĩa hẹp, lối sống là

8 TS Nguyễn Thị Hồng Thuý, ThS Ngọ Văn Nhân “Tác động của dư luận xã hội đến ý thức pháp luật của cán bộ cấp cơ sở”

Trang 19

khuôn mẫu hành vi ứng xử của các nhóm xã hội, các nhóm dân cư, nó như là một phương thức thể hiện các đặc trưng văn hoá của con người, của các nhóm

f Gia đình và dòng họ

Dòng họ trước hết là một thiết chế đặc thù của nhóm xã hội thân tộc, vượt lên trên gia đình và được biểu thị mối quan hệ huyết thống (thân sơ khác nhau), có một mối quan hệ tín ngưỡng và kinh tế nhất định, nhưng không chung một ngôi nhà, một bếp Trong họ hàng các thành viên có thể xả thân vì danh dự, vì vị thế của cộng đồng huyết tộc Chính vì thế trong các làng, vị trí dòng họ rất quan trọng

Khác với cộng đồng làng xã, dòng họ gắn bó chặt chẽ hơn, bởi vì nó hình thành trên quan hệ máu mủ, ruột rà - quan hệ huyết thống Các thành viên có quan hệ ngang và quan hệ trên dưới Cơ sở của các mối quan hệ đó là giá trị, chuẩn mực xã hội trong dòng họ10

10

Tống Văn Chung, Xã hội học nông thôn, NXB Đại học

Trang 20

Trong giai đoạn hiện nay, vai trò của dòng họ trong làng xã không chỉ được củng cố và phát huy quan hệ huyết thống và thân tộc trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng, thờ cúng tổ tiên và đời sống vật chất, kinh tế mà còn cả trong đời sống chính trị làng - xã

Bên cạnh những mặt tích cực của quan hệ dòng họ trong hệ thống chính trị - xã hội làng xã ảnh hưởng trực tiếp đến dư luận xã hội thì còn tồn tại những mặt tiêu cực cần khắc phục

k Phong tục, tập quán

Phong tục tập quán là những chuẩn mực giao tiếp, ứng xử trong xã hội, những quy tắc sinh hoạt của cộng đồng của một cộng đồng dân cư được hình thành qua quá trình lịch sử lặp đi, lặp lại nhiều lần, trở thành thói quen trong lao động, sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng Phong tục tập quán rất đa dạng

và phong phú, thường được thể hiện ra trong nề nếp giao tiếp, ứng xử của mọi người, trong các sinh hoạt văn hoá - văn nghệ dân gian, lễ hội cổ truyền, nghi

lễ tôn giáo, tín ngưỡng hoặc trong sản xuất, sinh hoạt hàng ngày

Về cơ bản, phong tục tập quán và hệ thống các giá trị chuẩn mực văn hoá tạo ra những khuôn mẫu tư duy làm cơ sở cho sự phán xét đánh giá của

dư luận xã hộ về các sự kiện, hiện tượng, quá trình diễn ra trong xã hội Ngay trong cùng một xã hội, các nhóm xã hội cũng có thể đưa ra các phán xét đánh giá khác nhau về cùng một vấn đề

Trang 21

vừa là động lực phát triển sản xuất được mọi thế hệ, đẳng cấp trong cộng đồng tuân theo Mọi tục lệ đều đơn thuần, na ná như nhau, mà mỗi làng xã đều có đặc thù riêng thể hiện sự độc lập của từng cộng đồng Gần nhau mà tập quán khác nhau, đời sống tâm linh về tôn giáo cũng khác nhau “Thánh làng nào làng ấy thờ”

Nếu như pháp luật điều chỉnh hành vi của con người thông qua các thiết chế xã hội, thông qua các tiêu chuẩn pháp chế do các cơ quan nhà nước

thực hiện, thì năng lực tự quản cộng đồng chủ yếu dựa vào sức mạnh của dư luận xã hội, uy tín của các vị chức sắc và vai trò của lệ làng Ở đây dư luận

xã hội có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh hành vi của cá nhân cho phù hợp với các tiêu chuẩn của làng đề ra, mặc dù hoàn toàn mang tính chất tự nguyện

tự giác Chính vì vậy người cán bộ xã phải tìm hiểu “lệ” của các làng để có cách ứng xử phù hợp Cách ứng xử có thể phù hợp với làng này có thể không phù hợp với làng khác

l Truyền thông đại chúng

Hệ thống truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội Hoạt động của hệ thống thông tin đại chúng bao gồm báo, tạp chí, phát thanh, truyền thông, ấn phẩm, internet

… là cơ chế hữu hiệu đảm bảo cho sự hình thành dư luận xã hội trên phạm vi rộng lớn và trong giới hạn thời gian phù hợp để đảm bảo tính thời sự Đặc điểm của hệ thống truyền thông đại chúng là các tin tức từ hệ thống này được chuyển tải đến công chúng một cách nhanh chóng, đều đặn và trực tiếp

Thông tin đại chúng sẽ cung cấp cho các cá nhân những vấn đề thời sự cần thiết Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề mà thông tin đại chúng đưa đến cho công chúng đều tạo ra sự quan tâm của họ mà chỉ những vấn đề có ý nghĩa với họ Trên cơ sở hình thành quan điểm ban đầu thì việc cung cấp

Trang 22

thông tin đầy đủ và khái quát của phương tiện truyền thông đại chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành quan điểm, thái độ của cá nhân trước

sự kiện, hiện tượng xã hội

Trong xu thế phát triển chung của thời cuộc, hệ thống thông tin đại chúng ở nước ta đang trở thành diễn đàn ngôn luận công khai của công chúng

để mọi người có thể đưa ra những ý kiến phán xét, đánh giá, thái độ của mình trước vấn đề mà họ quan tâm Qua đây, người dân sẽ có được cơ hội tham gia ngày càng tích cực và có trách nhiệm hơn vào quá trình chuẩn bị, thực hiện, giám sát và đánh giá các chủ trương, chính sách của Đảng bộ xã cũng như các hoạt động thường xuyên của chính quyền cấp xã Dư luận xã hội góp phần khắc phục các biểu hiện chủ quan, duy ý chí và nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng của các cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ và chính quyền cấp xã Phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thái độ của dư luận xã hội sẽ mang lại cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã những thông tin đa chiều, phong phú về các hoạt động của chính quyền cấp xã là một trong những căn

cứ quan trọng để Đảng bộ và chính quyền cấp xã kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác của mình, đưa ra những quyết định sát hợp với thực tế

2.2 Khái niệm cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức là lực lượng lao động đặc biệt của đất nước, là nhân

tố quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Họ là lực lượng chủ yếu đảm trách mọi hoạt động của bộ máy Nhà nước Cán bộ, công chức là người tổ chức hoạt động quản lý nhà nước nhằm phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân, giữ trọng trách bảo đảm có hiệu quả và phát huy sức mạnh của bộ máy Nhà nước

Người cán bộ, công chức có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng nên cần

phải có những chế tài riêng của luật pháp quy định cụ thể trong Pháp lệnh

Trang 23

cán bộ, công chức Nghị định số 95 - 1998/NĐ - CP ngày 17 - 11 - 1998 của

Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Pháp lệnh sửa

đổi năm 2003

Pháp lệnh cán bộ công chức đã nêu ra một khái niệm, định nghĩa về cán

bộ, công chức khá rộng; “ Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước bao gồm:

1 Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

2 Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

3 Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan Nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

4 Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Việm kiểm sát nhân dân;

5 Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân

mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là

sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp

2.3 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã

Trang 24

Xã, phường, thị trấn là đơn vị cơ sở của hệ thống chính quyền Nhà nước Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là những người nằm trong hệ thống

bộ máy quản lý hành chính đó

Cán bộ, công chức cấp xã gồm những người do địa phương bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, bí thư, phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị xã hội ở xã, những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, cán bộ, công chức cấp xã

Điều 2 Nghị định số 114/2003/NĐ - CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và Điều 2 Nghị định số 121/2003/NĐ - CP ngày 21/10/2003 về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn quy định:

 Cán bộ chuyên trách cấp xã gồm những người giữ các chức vụ sau:

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Thường trực Đảng uỷ cấp xã (nơi không

có Phó Bí thư chuyên trách công tác đảng); Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ xã (nơi chưa thành lập Đảng uỷ cấp xã);

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

Trang 25

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc;

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

- Chủ Tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ;

- Chủ tịch Hội Nông dân;

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh

 Công chức cấp xã gồm các chức danh sau:

- Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);

- Chỉ huy trưởng quân sự;

- Văn phòng - Thống kê;

- Địa chính - Xây dựng;

- Tài chính - Kế toán;

- Tư pháp - Hộ tịch;

- Văn hoá - Xã hội

 Cán bộ không chuyên trách cấp xã bao gồm các chức danh:

Trưởng Ban Tổ chức đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và 01 cán bộ Văn phòng Đảng uỷ; Phó Trưởng Công an ( nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Phó Chỉ huy trưởng quân sự; cán bộ

kế hoạch - giao thông - thuỷ lợi - nông, lâm ngư, diêm nghiệp; cán bộ lao động - thương binh và xã hội; cán bộ dân số - gia đình và trẻ em; Thuỷ quỹ - văn thư - lưu trữ; cán bộ phụ trách đài truyền thanh; cán bộ quản lý nhà văn hoá; Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc; Phó các đoàn thể cấp xã: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân,

Trang 26

Hội Cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Người cao tuổi; Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

2.3 Khái niệm hành vi

Theo cách hiểu của lý thuyết hành vi chính thống, hành vi của con người chỉ là những phản ứng máy móc và quan sát được sau các tác nhân Theo lý thuyết này, nếu không quan sát được phản ứng thì có thể nói là không

có hành vi Cách hiểu này dựa trên mô hình hành vi của J Watson: S R ( Kích thích Phản ứng)

Tuy nhiên, theo các nhà hành vi mới (hành vi xã hội) họ cho rằng giữa tác nhân và kích thích còn phải có những yếu tố trung gian, được chia thành hai loại: các nhu cầu sinh lý và các yếu tố nhận thức Một số người khác còn chia các yếu tố trung gian thành ba nhóm gồm: hệ thống nhu cầu, hệ thống giá trị và tình huống thực hiện hành vi

Nhà xã hội học Mỹ G Mead cũng có quan điểm gần với quan điểm của chủ nghĩa hành vi “ Chúng ta có thể giải thích hành vi con người bằng hành vi

có tổ chức của nhóm xã hội Hành vi xã hội không thể hiểu được nếu xây dựng từ các tác nhân và các phản ứng Nó cần phân tích một cách linh hoạt, không một bộ phận nào của chỉnh thể được phân tích hoặc có thể được phân tích một cách độc lập” Điều đó có nghĩa là, hành vi xã hội là một chỉnh thể thống nhất gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau11

Trong đề tài nghiên cứu, khái niệm hành vi được sử dụng là hành vi xã hội Cụ thể, nghiên cứu hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức xã, đó

là hành vi có suy nghĩ, cân nhắc, đối chiếu trước các tác nhân khi phản ứng lại

11

Pham Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên), Xã hội học, NXB Giáo dục

Trang 27

2.4 Khái niệm hành vi xử lý công việc

Khái niệm hành vi xử lý công việc được chúng tôi sử dụng trong luận văn là toàn bộ hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thể hiện ở vai trò quản lý, điều hành, phục vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ ở địa phương

và hoạt động giao tiếp giữa cán bộ, công chức cấp xã với người dân khi đến giải quyết công việc tại công sở

II CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cả

về phẩm chất và năng lực của cùng với những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của cán bộ công chức nói chung và nghiên cứu mối quan hệ giữa dư luận xó hội với cỏn bộ, cụng chức cấp xó nói riêng đó và đang là mảng đề tài được nhiều người nghiên cứu quan tâm dưới những góc độ khác nhau

Thứ nhất, xét về mảng đề tài nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng những đũi hỏi của sự nghiệp cải cách nền hành chính đất nước đó cú nhiều những nghiờn cứu đó quan tõm viết về vấn đề này Trong phạm vi có hạn của đề tài, ở đây chỉ xin trỡnh bày một số cụng trỡnh tiờu biểu, cung cấp cho chỳng ta những nền tảng, những hiểu biết quan trọng khi tiếp cận nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến phẩm chất đạo đức cũng như cách ứng xử của cán bộ công chức trong thời kỳ hiện nay của đất nước

Viết về vấn đề xây dựng đạo đức cán bộ, công chức có lẽ phải kể đến

đề tài nghiên cứu chủ biên: GS.TS Bùi Thế Vĩnh về “ Xây dựng đạo đức cán

bộ, công chức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại

Trang 28

hoá đất nước và hội nhập quốc tế” (NXB Thống kê Hà Nội, năm 2003) Đề

tài đó đưa ra 6 biểu hiện về sự suy thoái phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán

bộ, công chức Đây là nhận xét xác đáng về thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức Đề tài cũng chỉ ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các biểu hiện suy thoái về đạo đức nói trên từ đó xác định hệ thống các tiêu chuẩn đạo đức công chức Ngoài ra đề tài này cũn kế thừa sự chọn lọc những kinh nghiệm gắn đạo đức với việc đào tạo, bổ nhiệm sử dụng quan chức trong các thời kỳ phong kiến nước ta, bao gồm: khuyến khích giới thiệu người hiền tài,

áp dụng chế độ khảo khoá, luật hoá các vấn đề về đạo đức, thưởng phạt nghiêm minh, kịp thời, sử dụng dư luận xó hội Việc xõy dựng tiờu chuẩn đạo đức công chức Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một trong những cơ sở để từ đó luận văn xác định những hành vi biểu hiện của cán

bộ công chức có phù hợp với chuẩn mực đạo đức đề ra

Cùng với việc tác động đến lũng tự trọng và tớnh tự giỏc của người công chức thông qua công tác giáo dục đạo đức công chức, vấn đề giáo dục ý thức phỏp luật cho cỏn bộ, cụng chức cũng là một cụng việc khụng kộm phần quan trọng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xó hội chủ nghĩa

Việt Nam Đề tài “ Giỏo dục ý thức phỏp luật cho cỏn bộ, cụng chức” ( Chủ

nhiệm: TS Huỳnh Văn Thới) đó đưa ra một hệ thống những biện pháp giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ công chức trong điều kiện hiện nay : Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, xử lý nghiờm minh vi phạm phỏp luật của cỏn bộ, cụng chức Tăng cường kỷ luật kỷ cương trong các cơ quan nhà nước, Nâng cao đời sống, thực hiện chế độ đói ngộ cho cỏn

bộ, cụng chức Đề tài cung cấp cho chúng ta những ảnh hưởng đó và đang tác động đến ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế việc vi phạm pháp luật của cán bộ công chức giúp cho chúng ta

Trang 29

có cái nhỡn bao quỏt về những tỏc động nhằm nâng cao chất lượng và phẩm chất của cán bộ, công chức

Thứ hai, xột về mảng nghiờn cứu về vai trũ của người dân trong công cuộc đổi mới và ảnh hưởng của người dân đến nhận thức và hành vi của cán

bộ công chức nhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch, từng bước hiện đại hoá và ngày càng “gần dân” hơn ta có thể điểm qua một số nghiên cứu tiêu biểu như: Đề tài khoa học cấp Bộ chủ nhiệm đề tài PGS.TS Nguyễn Văn

Thâm về “ Các giải pháo nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và giải quyết

công việc cho dân của các cơ quan nhà nước trong quỏ trỡnh cải cỏch hành chớnh” đó xuất phỏt từ thực trạng tiếp cận và giải quyết cụng việc cho

dõn của cỏc cơ quan nhà nước ta trong thời gian qua để xây dựng nên một hệ thống những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tiếp cận và giải quyết công việc cho dân của các cơ quan nhà nước là những đóng góp có ý nghĩa thiết thực cho lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước hiện nay, đặc biệt là trong tiến trỡnh cải cỏch nền hành chớnh nhà nước

Đề tài nghiên cứu khoa học do PGS TS Nguyến Đình Tấn làm chủ

biên “Đánh giá qua điều tra dư luận xó hội về cải cỏch hành chớnh theo

mô hình “một cửa” ở Đắc Lắc” đó cho thấy phản ỏnh của người dõn với cỏc

thủ tục hành chớnh, cụ thể ở đõy là ý kiến đỏnh giỏ của người dõn về thỏi độ

và hành vi của cỏn bộ hành chớnh trong giao tiếp và ứng xử với người dõn khi giải quyết cỏc thủ tục hành chớnh Trong nghiờn cứu này cũn cho chỳng

ta thấy những tỏc động của cải cỏch hành chớnh theo mụ hỡnh “một cửa”: Tỏc động về mặt tõm lý xó hội, tỏc động đoàn kết xó hội, tỏc động tăng trưởng kinh tế, tỏc động nõng cao hiệu quả quản lya và điều hành bộ mỏy nhà nước, tỏc động thỳc đẩy cải cỏch tổng thể nền hành chớnh Ngoài ra trong nghiờn cứu này cũng đưa ra một số phương hướng tăng cường cải cỏch hành chớnh: Thỏi độ và thời gian làm việc của cỏn bộ hành chớnh, về cụng tỏc

Trang 30

thụng tin tuyờn truyền Duy trỡ và mở rộng mụ hỡnh cải cỏch hành chớnh

“một cửa”, ngoài ra cần mở rộng mụ hỡnh này sang cỏc lĩnh vực khỏc và xuống cấp xó Đề tài này khỏ hữu ớch cho cỏc nghiờn cứu về hoạt động hành chớnh Tuy nhiờn nghiờn cứu này chủ yếu quan tõm đến phản ỏnh của dư luận xó hội đối với cỏn bộ hành chớnh chứ chưa quan tõm đến tỏc động ngược trở lại của cỏn bộ hành chớnh đối với dư luận xó hội

Đề tài “ Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật của đội

ngũ cán bộ cấp xã phường trên điạ bàn Hà Nội” của TS Trần Thị Hồng

Thuý và Th.s Ngọ Văn Nhân làm chủ nhiệm đã phân tích thực trạng tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp xã bao gồm tác động tích cực và tiêu cực và các giải pháp sử dụng dư luận xã hội để nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ cấp xã trên địa bàn Hà Nội là một trong những cơ sở lý luận giúp luận văn xác định vấn đề chính xác

Ngoài ra, cũn cú rất nhiều cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu khỏc cũng ớt nhiều đề cập đến việc nõng cao chất lượng đội ngũ cỏn bộ, cụng chức nhằm

thỳc đẩy cải cỏch hành chớnh như Hoàng Xuõn Tuyền “ Về nguồn lực văn

hoỏ trong hoạt động quản lý cụng sở”, “ Cải cỏch dịch vụ hành chớnh cụng ở Việt Nam” chủ biờn Lờ Chi Mai, NXB Chớnh trị Quốc gia, Hà Nội,

năm 2003… Tuy nhiờn những nghiờn cứu này chỉ tập trung vào cỏc vấn đề giải phỏp và đề xuất cho việc củng cố tăng cường chất lượng hoạt động của đội ngũ cỏn bộ, cụng chức, viờn chức nhà nước núi chung và nguyờn nhõn chủ yếu dẫn đến thực trạng tỡnh hỡnh cỏn bộ, cụng chức hiện nay, hoặc nghiờn cứu cỏc giải phỏp nhằm tăng cường quỏ trỡnh dõn chủ hoỏ để người dõn cú thể tham gia vào cụng cuộc cải cỏch hành chớnh Do vậy, nghiờn cứu

về cỏn bộ hành chớnh suy nghĩ thế nào trước dư luận xó hội đang lờn tiếng phản ỏnh chớnh họ tuy khụng phải là vấn đề mới nhưng cũng gúp một phần vào thực trạng đội ngũ cỏn bộ, cụng chức hiện nay bằng việc tiến hành điều

Trang 31

tra cụ thể trờn thực tế Đề tài nghiên cứu “Tỏc động của dư luận xó hội tới

hành vi xử lý cụng việc của cỏn bộ, cụng chức cấp xó” được thực hiện với mong muốn tỡm hiểu mức độ nhận thức và ảnh hưởng của dư luận xó hội đến cán bộ,công chức hành chính trước những phản ỏnh của người dõn nhằm góp thêm một nghiên cứu nữa để cú cỏi nhỡn bao quỏt về cỏn bộ, cụng chức núi chung và cỏn bộ cụng chức cấp xó núi riờng cũng như hiệu quả tiếng núi người dõn trong tiến trỡnh cải cỏch hành chớnh nhằm giỳp cho nhà quản lý nhỡn vấn đề từ nhiều khớa cạnh

2 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Đông Sơn là một huyện đồng bằng của châu thổ sông Mã, nằm ở trung tâm của tỉnh Thanh Hoá, cách 5km về phía Tây thành phố Đông Sơn là huyện có nhiều tiềm năng đất đai và con người, có một vị trí quan trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Thanh Hoá Là một huyện có diện tích nhỏ nhất tỉnh Thanh Hoá Theo số liệu thống kê năm 2003, Đông Sơn có tổng diện tích là 10.635,42ha Bình quân diện tích tự nhiên là 0,1ha/người

Đông Sơn có quốc lộ 45 và 47 đi qua, có hệ thống nông giang và đoạn đường sắt Bắc - Nam qua các xã Đông Hưng, Đông Phú, Đông Nam tạo thành một hệ thống giao thông xuyên huyện, thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế - văn hoá, cho việc sử dụng các phương tiện vận tải cơ giới, nửa cơ giới và thô

Trên địa bàn Đông Sơn có hệ thống sông đào Nhà Lê, sông Hoàng, và kênh Bắc Từ Hậu Hiền, sông Nhà Lê chảy qua Kẻ Rị, Kẻ Chè, Kẻ Bôn đền

Bố Vệ rồi qua Quảng Xương ra biển

Với điều kiện địa lý, tự nhiên thuận lợi, người dân Đông Sơn từ ngàn xưa đã tạo dựng nên một nền văn hoá rực rỡ, đóng góp cho đất nước, dân tộc Việt Nam những sản phẩm, những con người nổi tiếng

Trang 32

Từ ngàn xưa, người Việt cổ đại sống trên vùng đất này đã để lại cho chúng ta những di sản nằm sâu trong lòng đất Nhóm di tích Núi Đọ, Quan Yên tiêu biểu cho di tích đồ đá là dấu vết của người Việt cổ sống cách đây gần 40 vạn năm Đặc biệt, Đông Sơn là khu di tích được phát hiện vào năm

1924, qua nhiều lần khai quật, nghiên cứu đã khẳng định là vết tích của nền văn minh rực rỡ của tổ tiên ta từ xa xưa

Cho đến ngày nay, trên địa bàn Đông Sơn có rất nhiều di tích lịch sử - văn hoá ghi nhận sự đóng góp của ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như khẳng định vị thế của vùng đất và bàn tay khéo léo của cư dân ở đây

Tại Đông Sơn còn có các di tích thành Đông Phố, quận trị của quận Cửu Châu thời Tiền Tống (nay thuộc xã Đông Ninh), nhiều nhà thờ các anh hùng dân tộc và danh nhân của đất nước như nhà thờ Nguyễn Chichs (làng Vạn Lộc, xã Đông Ninh) …

Đông Sơn còn có nhiều di tích cách mạng ghi nhận sự đóng góp của địa phưong trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta dưới

sự lãnh đạo của Đảng

Hiện nay dân số Đông Sơn là 109.797 người, bao gồm 24.880 hộ Trong đó dân số nông thôn 106.927 người, chiếm 97,35%, thành thị 2.870 người, chiếm 2,65% Mật độ dân số trung bình 1.030 người/km2

Nhìn chung, mật độ dân số cao và phân bố không đều Đời sống của cư dân Đông Sơn ngày càng khá lên, dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ - Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện đã tích cực phát huy những tiềm năng thuận lợi và kinh nghiệm sẵn có, khắc phục khó khăn, tồn tại hạn chế để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Do vậy, kinh tế tăng trưởng khá, an ninh chính trị - trật tự xã hội trên địa bàn được ổn định và giữ vững

Trang 33

Về tổ chức hành chính, huyện Đông Sơn được chia thành 19 xã và 2 thị trấn Các xã có những đặc điểm riêng biệt, song đã cùng nhau đoàn kết nhằm xây dựng huyện Đông Sơn trở thành đơn vị mạnh của tỉnh Thanh Hoá

Trang 34

CHƯƠNG 2:

TÁC ĐỘNG CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐẾN HÀNH VI XỬ LÝ

CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, trực tiếp tiếp xúc

và giải quyết các công việc hàng ngày của nhân dân Trong hệ thống chính trị của chúng ta, chính quyền cấp cơ sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh trật

tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được triển khai thực hiện trong cuộc sống Cán bộ cấp cơ sở là những người gần dân nhất, giải quyết các công việc của dân, vì vậy họ chịu ảnh hưởng rất lớn của dư luận xã hội trên địa bàn Điều này có tác động mạnh mẽ tới hành vi xử lý công việc của cán bộ cấp xã

I CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VỚI DƯ LUẬN XÃ HỘI

1 NHẬN BIẾT CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ VỀ DƯ LUẬN XÃ HỘI

Dư luận xã hội được hình thành trên cơ sở các ý kiến cá nhân Mỗi cá nhân được trực tiếp chứng kiến hoặc được nghe kể lại về các sự kiện, hiện tượng về hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã xảy ra trong thực tế xã hội Từ đó nảy sinh tâm lý, tình cảm, ý kiến bước đầu về các sự kiện, hiện tượng đó Đây là cơ sở đầu tiên để dư luận xã hội ảnh hưởng tới hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, dư luận xã hội không phải là tập hợp cơ học các ý kiến cá nhân Nói cách khách, không thể coi dư luận xã hội đơn giản chỉ là kết quả trung

Trang 35

bình cộng cơ học những ý kiến khác biệt của cá nhân, mà nó được coi như sự thảo luận, đối thoại của người trả lời với các cá nhân và nhóm xã hội khác hoặc đối thoại với chính bản thân họ thông qua những chuẩn mực và giá trị xã hội mà họ công nhận Tuy vậy, chúng ta không thể phủ nhận dư luận xã hội vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của các ý kiến cá nhân Chính vì vậy, cần phải tìm hiểu sự nhận biết và thái độ của cá nhân về dư luận xã hội trước hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã

Để nắm bắt được thực trạng đánh giá vai trò của dư luận xã hội, trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu mức độ nhận biết của cán bộ, công chức cấp xã trước dư luận xã hội về hành vi xử lý công việc Bảng số liệu dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ điều này

Bảng 1: Nhận biết của cán bộ cấp xã về dư luận xã hội

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, cán bộ, công chức xã bước đầu tỏ ra rất quan tâm đến sự phản ánh của dư luận xã hội về chính mình

Để có cái nhìn cụ thể hơn về những thông tin này được biết từ nguồn nào biểu 1 sẽ cho ta thấy rõ điều này:

Trang 36

Biểu 1: Nguồn thông tin về dư luận xã hội

Chú thích: 1 Phương tiện truyền thông đại chúng

về chính mình qua đồng nghiệp trong cơ quan chiếm vị trí khá cao 35,8%, điều này cho chúng ta thấy dường như chính những người trong cuộc họ cũng bàn bạc trao đổi với nhau về vấn đề thuộc về mình, rõ ràng ở đây cũng

đã có sự thẳng thắn trong việc nhìn nhận và đánh giá cán bộ

1 2 3 4 5

69.1 36.4

35.8 24.1

11.1

Trang 37

Để có cái nhìn khái quát và tổng thể về sự phản ánh của người dân, chúng ta cần phải biết người dân phản ánh về những vấn đề gì? Một ý kiến phỏng vấn sâu cho biết:

Hộp 1: Nội dung của các luồng dƣ luận xã hội

“Trước hết là sự phản ánh của người dân về thời gian giải quyết công việc thường là chậm trễ, kéo dài, khiến cho người dân đi lại nhiều lần vừa tốn công vừa tốn của

- Năng lực hạn chế của cán bộ cấp xã trong giải quyết công việc đã dẫn đến tình trạng cán bộ xã giải thích và hướng dẫn cho người dân không đầy đủ làm họ mất công làm lại nhiều lần

- Tác phong làm việc của cán bộ, công chức cấp xã thường tuỳ tiện không bài bản

- Điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn

- Nhiều cuộc họp còn tiến hành hình thức, chưa sát dân, tuyên truyền chưa thường xuyên

- Một số xã đã lợi dụng quyền hạn của mình mà làm trái với quy định

- Còn nhiều thủ tục gây phiền hà cho nhân dân, chưa tạo điều kiện giúp

Trang 38

2 THÁI ĐỘ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

VỀ DƢ LUẬN XÃ HỘI

Thái độ của xã hội là cái cốt lõi của dư luận xã hội Sự hình thành của

dư luận xã hội phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái định hình của thái độ xã hội

về vấn đề mà nó đề cập đến Cũng tương tự như mối quan hệ của dư luận xã hội với ý kiến cá nhân, thái độ xã hội không phải là tập hợp cơ học của những thái độ cá nhân Tuy nhiên, sự hình thành của thái độ chịu tác động và có cơ

sở là thái độ cá nhân12 Chính vì vậy mà mức độ ủng hộ dư luận xã hội là một chỉ báo quan trọng để bước đầu đánh giá mức độ thành công của dư luận xã hội tác động đến hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có thái độ ủng hộ rất cao đối với luồng dư luận phản ánh của người dân về chính họ Có thể thấy điều này qua bảng số liệu dưới đây:

Bảng 2: Thái độ của cán bộ, công chức trước sự phản ánh của

dư luận xã hội

Trang 39

Đa số cán bộ, công chức cấp xã trả lời đều có thái độ ủng hộ dư luận xã hội đối với hành vi xử lý công việc của họ, 133 người chiếm 82,1% đánh giá

là rất cần thiết và cần thiết Trả lời phỏng vấn của chúng tôi, một cán bộ xã khẳng định “ Tôi hoàn toàn ủng hộ dư luận xã hội, đây cũng có thể được xem

là một cách để chúng tôi kiểm điểm lại bản thân trong quá trình công tác, ngoài ra dư luận xã hội còn là một hình thức để khẳng định người nào có năng lực thực sự trong công việc”( Trích phỏng vấn sâu nam, 37 tuổi, cán bộ

văn hoá - xã hội, trình độ học vấn: CĐ)

Tuy nhiên cũng có một số ít người chiếm 11,7% lưỡng lự trước dư luận

xã hội phản ánh về hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã Trả

lời phỏng vấn của chúng tôi, một cán bộ xã nói rằng: “ Không phải dư luận

xã hội lúc nào cũng đúng, có những người lợi dụng dư luận nhằm đạt mục đích xấu của mình mà tôi là một trong những nạn nhân, mặc dù mình giải quyết công việc theo đúng pháp luật, điều này đã tạo cho tôi tâm lý rất ức chế Chính vì vậy trước những luồng dư luận tôi phải kiểm chứng lại.” (Trích

phỏng vấn sâu nữ, 30 tuổi, cán bộ tư pháp, trình độ học vấn: TC)

Rõ ràng ở đây có hai luồng ý kiến trái ngược nhau tuy không rõ rệt Như vậy, dư luận xã hội cũng có những mặt tích cực và tiêu cực, để hiểu rõ hơn chúng ta sẽ thấy rõ ở phần tác động của dư luận xã hôi đến hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã

3 ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ VỀ VAI TRÒ CỦA DƢ LUẬN XÃ HỘI

Để tìm hiểu về vai trò của dư luận xã hội tới hành vi xử lý công việc của cán bộ, công chức cấp xã, chúng tôi đặt câu hỏi “ Ông bà đánh giá thế nào

về vai trò của dư luận xã hội khi giải quyết công việc theo thẩm quyền?”

Trang 40

Biểu 2: Đánh giá của cán bộ, công chức cấp xã về vai trò của DLXH

khi giải quyết công việc theo thẩm quyền

xã khẳng định: “ Dư luận xã hội có tác động mạnh tới hành vi xử lý công việc của cán bộ chúng tội vì nếu cán bộ xã làm đúng thì dư luận xã hội sẽ biểu dương, đồng tình Ngược lại, nếu cán bộ xã có hành vi xử lý công việc sai thì

0 10 20 30 40 50 60

§¸nh gi¸ 58.6 35.2 1.9 3.7 0.6

Ngày đăng: 06/02/2021, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chung Á - Nguyễn Đình Tấn, Nghiên cứu Xã hội học, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Xã hội học
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
2. Tony Bilton và các tác giả khác, Nhập môn Xã hội học, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Xã hội học
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
3. B.K.Paderin, Dư luận xã hội trong xã hội chủ nghĩa phát triển, bản chất và quy luật hình thành, NXB. Đại học tổng hợp Kazan, 1980, Tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư luận xã hội trong xã hội chủ nghĩa phát triển, bản chất và quy luật hình thành
Nhà XB: NXB. Đại học tổng hợp Kazan
4. Ban chấp hành đảng bộ huyện Đông Sơn, Lịch sử đảng bộ huyện đông sơn 1930 - 2000, NXB. Thanh Hoá, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ huyện đông sơn 1930 - 2000
Nhà XB: NXB. Thanh Hoá
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
6. Tống Văn Chung, Xã hội học Nông thôn, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Nông thôn
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia Hà Nội
7. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên), Xã hội học đại cương, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Nhà XB: NXB. Giáo dục
8. Phạm Kim Dung, Cẩm nang pháp luật dành cho cán bộ, công chức cấp xã, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang pháp luật dành cho cán bộ, công chức cấp xã
Nhà XB: NXB Tư pháp
9. Trần Thị Minh Đức, Tâm lý học xã hội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
10. Nguyễn Hữu Đức, Cải cách bộ máy chính quyền cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Số 1 + 2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách bộ máy chính quyền cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh hội nhập quốc tế
11. Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép nước, NXB. Pháp lý, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ làng phép nước
Nhà XB: NXB. Pháp lý
12. Từ Điển, Điều tra thăm dò dư luận xã hội, NXB. Thống kê, Hà Nội,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thăm dò dư luận xã hội
Nhà XB: NXB. Thống kê
13. Tô Duy Hợp, Định hướng phát triển làng xã đồng bằng sông Hồng ngày nay, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển làng xã đồng bằng sông Hồng ngày nay
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
14. Nguyễn Lân, Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam
Nhà XB: NXB. Thành phố Hồ Chí Minh
15. Lê Chi Mai, Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
16. Mai Quỳnh Nam, Dư luận xã hội - mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu, Tạp chí Xã hội học, số 1 năm 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư luận xã hội - mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu
17. Mai Quỳnh Nam, Dư luận xã hội và truyền thông đại chúng, Viện xã hội học, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư luận xã hội và truyền thông đại chúng
18. Mai Quỳnh Nam, Mấy vấn đề về dư luận xã hội trong công cuộc đổi mới, Tạp chí Xã hội học, số 2 năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về dư luận xã hội trong công cuộc đổi mới
19. Cao Thị Kim Ngân, Nguyền Hoàng Anh, Đặng Lệ Thu, Xung đột xã hội trong hoạt động lãnh đạo và quản lý cấp phường. Báo cáo khoa học tại trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột xã hội trong hoạt động lãnh đạo và quản lý cấp phường
20. Ngọ Văn Nhân, Ảnh hưởng của lối sống nông thôn đến ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ xã ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số chuyên đề tháng 2 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của lối sống nông thôn đến ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ xã ở nước ta hiện nay

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w