Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÌNH PHẠT TIỀN ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ Trải qua cả chặng đường dài trong công tác
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THANH LƯƠNG
HÌNH PHẠT TIỀN ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THANH LƯƠNG
HÌNH PHẠT TIỀN ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH)
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS CAO THỊ OANH
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thanh Lương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÌNH PHẠT TIỀN ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ 8
1.1 Một số vấn đề chung về hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong luật hình sự Việt Nam 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Mục đích của hình phạt tiền 12
1.1.3 Ý nghĩa của hình phạt tiền 13
1.1.4 Cơ sở lý luận việc áp dụng hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong Luật hình sự Việt Nam 15
1.2 Hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam trước khi Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực 16
1.2.1 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng 16
1.2.2 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng 19
1.2.3 Những tồn tại, hạn chế 21
1.3 Hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong luật hình sự hiện hành (Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) 24
Trang 51.3.1 Vài nét cơ bản về hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong Bộ luật hình sự hiện hành 24 1.3.2 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính 27 1.3.3 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung 30 1.3.4 Những tồn tại, hạn chế trong qui định áp dụng hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng của BLHS 2015 32 1.4 Hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng trong luật hình sự một số nước trên thế giới 35 1.4.1 Liên Bang Nga 35 1.4.2 Trung Quốc 37 Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TIỀN ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG, AN TOÀN CÔNG CỘNG TRONG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN HAI CẤP TỈNH HÒA BÌNH 40 2.1 Thực trạng việc áp dụng hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật
tự, an toàn công cộng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình (Thời điểm nghiên cứu từ năm 2012 đến 30 tháng 11 năm 2018) 40 2.2 Tồn tại, hạn chế trong thực tiễn xét xử của Tòa án khi áp dụng hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng; Nguyên nhân tồn tại, hạn chế 47 2.2.1 Tồn tại, hạn chế 47 2.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng hình phạt tiền đối với các tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn công cộng 48 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TIỀN ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG, AN TOÀN CÔNG CỘNG TRONG XÉT
XỬ CỦA TÒA ÁN HAI CẤP TỈNH HÒA BÌNH 60 3.1 Giải pháp: 60
Trang 63.2 Kiến nghị: 69 KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 CÁC PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự Nxb : Nhà xuất bản
TAND : Tòa án nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Với nội dung pháp lý là tước bỏ một phần quyền lợi vật chất của người phạm tội, hình phạt tiền có khả năng tác động trực tiếp và mạnh mẽ về mặt kinh tế đến người bị kết án Vai trò tích cực của hình phạt tiền được thể hiện thông qua việc chủ động loại trừ khả năng phạm tội mới của người bị kết án Đây cũng chính là ưu điểm nổi bật của loại hình phạt này, nó tác động trực tiếp vào hoàn cảnh khách quan làm cho người phạm tội mất đi các điều kiện
xã hội có thể để tái phạm, đó là tiền bạc của người bị kết án Hình phạt tiền đặc biệt có hiệu quả trong việc đấu tranh với các loại tội có tính chất vụ lợi, các tội dùng tiền làm phương tiện hoạt động, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính… mà chưa đến mức áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết
số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 với nội dung “sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật…, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội…” [13] Áp dụng hình phạt tiền ngày càng
được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận và khuyến khích áp dụng để thay thế cho một số loại hình phạt khác đối với một số loại tội phạm
cụ thể Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt
là BLHS 2015) đã có một loạt điều chỉnh về việc áp dụng hình phạt tiền, tuy nhiên đó là điều chỉnh tập chung đối với những nhóm tội nghiêm trọng, được
Trang 9dư luận quan tâm Một số điều luật có qui định hình phạt tiền nhưng dường như vẫn để đó mà ít khi được áp dụng trong thực tế làm ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân Những hạn chế trên xuất phát từ việc thiếu những qui định
cụ thể khi áp dụng Các nhà áp dụng pháp luật thường bỏ qua việc áp dụng hình phạt tiền với hai lý do: thứ nhất trong tư tưởng thì hình phạt tiền coi là hình phạt nhẹ nên ngại khi áp dụng sẽ bị cho là “ có vấn đề”; thứ hai nếu áp dụng thì liệu việc áp dụng có thực hiện đúng được không, số tiền phạt liệu quá cao hay quá thấp, vấn đề xác minh tài sản để quyết định đòi hỏi chặt chẽ, tốn nhiều thời gian, công sức, cũng không rõ cần những thủ tục nào Từ những lý do như vậy, học viên thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu việc áp dụng hình phạt tiền để đảm bảo tính đầy đủ, toàn diện, phù hợp của pháp luật, đưa hình phạt tiền được áp dụng thực hiện trong thực tiễn, đặc biệt là đối với loại tội xảy ra phổ biến tại địa phương đó là các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng Vì vậy, học viên lựa
chọn đề tài: “Hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hòa Bình” làm luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu:
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt, tính đến nay tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, trên những khía cạnh, phương diện, phạm vi khác nhau về loại hình phạt này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau:
GS.TSKH Lê Văn Cảm, Chương thứ bảy – Hình phạt và biện pháp tư pháp, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; PGS TS Trịnh Quốc Toản (GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên), Chương XV – Khái niệm hình
Trang 10phạt, hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp, Trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 (tái bản năm 2003 và 2007); PGS TS Trịnh Quốc Toản, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2011; GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên); PGS.TS Trịnh
Quốc Toản, Nghiên cứu hình phạt trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ bảo vệ quyền con người, Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội, 2015; TSKH.GS Lê Cảm chủ biên, Pháp luật hình sự Việt Nam từ thế kỷ X đến nay lịch sử và thực tại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018
Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có đề
cập đến hình phạt tiền như: GS.TSKH Lê Văn Cảm, Hình phạt và các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật
4 (8)/2000; PGS.TS Dương Tuyết Miên, Sự mâu thuẫn giữa hình phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều 30 BLHS với một số tội phạm cụ thể và những bất cậpcủa hình phạt này, Tạp chí Tòa án nhân dân (15)/2006; Hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù, Tạp chí Tòa án nhân dân (19)/2008; TS Trịnh Quốc Toản, Về hình phạt tiền trong luật hình sự một số nước trên thế giới, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (7)/2003; TS.Trịnh Tiến Việt, Một số vấn đề mới về hình phạt tiền trong BLHS năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân (7)/2003; Đỗ Văn Chỉnh, Hình phạt tiền và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Tòa án nhân dân (3)/2009; Nguyễn Hoàng Lâm, Một số vấn đề lý luận về hình phạt tiền, Tạp chí Tòa án nhân dân (8)/2009, Lý Văn Tầm, Một số ý kiến về hình phạt tiền theo quy định của BLHS năm 1999, Tạp chí Kiểm sát (4)/2013…
Cấp độ luận án tiến sĩ luật học có các công trình nghiên cứu của các tác
giả Nguyễn Sơn, Các hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2003; Trịnh Quốc Toản, Các hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010…
Trang 11Cấp độ luận văn thạc sĩ thực hiện ở Viện Nhà nước và pháp luật (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) có các đề tài của các tác giả Nguyễn Văn Vĩnh,
Hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, 1996; Vũ Lai Bằng, Hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, 1997; Đặng Đức Thạo,
Hệ thống hình phạt trong luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện ở Đại học Luật Hà Nội có đề tài của tác giả Đào Anh Dũng, Hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự năm 1999 và việc áp dụng hình phạt này của Tòa án nhân dân Hà Nội, Hà Nội, 2002; Trần Lệ Trinh, Hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện nay, Hà Nội, 2009; Nguyễn Đình Duyệt, Hình phạt chính không tước quyền
tự do theo luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, 2013; Phùng Thị Hải Ngọc, Hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, 2015…
Qua kết quả khảo sát trên cho thấy, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về hình phạt tiền nói chung chứ chưa có công trình nghiên cứu về hình phạt tiền đối với nhóm tội phạm cụ thể Trong bối cảnh Bộ luật hình sự mới được thông qua, tuy có nhiều sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn có lỗ hổng, chỗ bất hợp lý về hình phạt tiền chưa được chú ý sửa đổi, đặc biệt là hình phạt tiền đối với những tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng mà ở địa phương tác giả
đó là nhóm tội phổ biến, thường xuyên xảy ra Do đó, có thể khẳng định một lần
nữa việc nghiên cứu đề tài “Hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự công cộng trong Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hòa Bình)” là đòi hỏi khách quan, cần thiết
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong luật hình sự Việt Nam
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng của tòa án nhân dân hai cấp của tỉnh Hòa Bình Thời điểm nghiên cứu từ năm 2012 – 2018
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh hình phạt
tiền đối với tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong luật hình
sự Việt Nam, trong đó tập chung nghiên cứu những điều chỉnh của pháp luật
về hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng trong Bộ luật hình sự năm 1999 và BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 Đánh gía những qui định đó đã phù hợp chưa, điểm nào còn hạn chế, còn có lỗ hổng cần khắc phục Với điều kiện như thế nào thì Tòa án xem xét áp dụng hình phạt tiền đối với nhóm tội trên Nếu hình phạt tiền không được nghiêm chỉnh chấp hành thì xử lý bằng phương án nào Kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng hình phạt tiền trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp tại tỉnh Hòa Bình, chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tạị hạn chế trong việc áp dụng, đồng thời đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tiền trong thực tiễn
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VII, VIII, IX, X, XI và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị
Trang 13Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong các báo cáo của các ngành Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Hòa Bình trong những năm 2012- 2018 và thông tin, tài liệu trên mạng Internet để phân tích, đánh giá, tổng hợp các vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc
áp dụng hình phạt tiền của Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình nói riêng và trên địa bàn cả nước nói chung
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh tình hình áp dụng hình phạt tiền tại tỉnh Hòa Bình; những tồn tại, hạn chế của pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt tiền cũng như những nguyên nhân của các tồn
tại, hạn chế đó
Đề tài nghiên cứu chọn lĩnh vực nghiên cứu trọng tâm để tập chung nghiên cứu Các đề tài trước đây thường nghiên cứu theo hướng tổng quát Nhóm tội phạm xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng xảy ra phổ biến xảy ra ở địa bàn, nhóm tội phạm này phần lớn có áp dụng hình phạt tiền đã được nghiên cứu trong khi sửa đổi luật, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề còn tồn tại cần phải được tiếp tục nghiên cứu Trên cơ sở đó pháp luật có sự điều chỉnh phù hợp, chặt chẽ, cụ thể hơn tạo điều kiện áp dụng thực thi trong thực tế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài bảng chữ cái viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm ba chương:
Trang 14Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về hình phạt tiền đối với
các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng, hình phạt tiền trong xét xử các tội phạm
xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng của Tòa án hai cấp tỉnh Hòa Bình
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp
dụng hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong xét xử của Tòa án hai cấp tỉnh Hòa Bình
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÌNH PHẠT TIỀN ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ
CÔNG CỘNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ
Trải qua cả chặng đường dài trong công tác lập pháp, đến nay một hệ thống hình phạt cụ thể đã được quy định trong BLHS và được áp dụng đối với người phạm tội phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, trong đó có hình phạt tiền
Hình phạt tiền có tên gọi tiếng Pháp là “amende”, tiếng Đức là
“geldstrafe”, tiếng Anh là “fine” và tiếng Ả rập là “diya” và nó thể hiện trong “Fridensgeld” hoặc “argent de la paix”, nghĩa là số tiền nhất định mà người phạm tội phải nộp cho cộng đồng để thiết lập lại hòa bình thông qua quyết định tư pháp của quan tòa [61, tr.63]
Trong pháp luật hình sự của Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm pháp lý chính thức nào về hình phạt tiền, mặc dù hình phạt tiền được ghi nhận khá sớm trong pháp luật hình sự Hiện nay, khái niệm hình phạt tiền mới chỉ được ghi nhận trong các giáo trình, sách báo pháp lý chuyên ngành
Có thể kể đến một số quan điểm sau:
Trang 16Phạt tiền là một loại hình phạt được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác Phạt tiền do Tòa án quyết định trong những trường hợp do luật định mà theo đó người bị kết án bị tước một số tiền tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, đồng thời xem xét đến tình hình tài sản của người bị kết án và sự biến động của giá cả [54, tr.11]
Phạt tiền là hình phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền nhất định [25, tr.51]
Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước [22, tr.195]
Về cơ bản các quan điểm trên về hình phạt tiền là thống nhất song các khái niệm này còn dài dòng, chưa thực sự phù hợp với một khái niệm mang
tính chất pháp lý Thuật ngữ pháp lý “người phạm tội” trong khái niệm
“Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước” dùng để chỉ đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền
có phần chưa hợp lý vì chỉ những người bị Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền mới bị tước một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước Do
vậy, sẽ là chính xác hơn nếu sử dụng thuật ngữ “người bị kết án” thay cho thuật ngữ “người phạm tội”
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, hình phạt tiền vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung Với vai trò này, hình phạt tiền mang những đặc điểm của hình phạt nói chung đồng thời nó còn
có những đặc trưng khác biệt với các hình phạt còn lại trong hệ thống hình phạt Có thể chỉ ra những đặc điểm cơ bản của hình phạt tiền bao gồm:
Một là, hình phạt tiền là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất của nhà nước Là một hình phạt, bản thân phạt tiền đã là một
Trang 17trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước So sánh với phạt tiền được quy định trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước thì phạt tiền với tư cách là một hình phạt được quy định trong BLHS mang tính cưỡng chế nghiêm khắc hơn cả Với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, theo thứ tự từ nhẹ đến nặng thì hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính được xếp ở vị trí thứ hai, nặng hơn hình phạt cảnh cáo nhưng lại nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù
có thời hạn, tù chung thân và tử hình; với tính chất là hình phạt bổ sung, theo thứ tự từ nặng đến nhẹ thì phạt tiền cũng được xếp ở vị trí thứ hai, nhẹ hơn hình phạt trục xuất, nhưng nặng hơn các hình phạt: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một
số quyền công dân và tịch thu tài sản Tính nghiêm khắc nhất của hình phạt tiền trong luật hình sự thể hiện ở việc nó tước đi của người phạm tội một khoản tiền nhất định, nghĩa là trực tiếp làm hạn chế về mặt lợi ích vật chất của người phạm tội Đồng thời người bị kết án phạt tiền còn phải gánh chịu hậu quả là phải mang án tích trong một khoảng thời gian nhất định Thêm nữa, mức tiền phạt tối thiểu và tối đa trong luật hình sự cũng cao hơn so với quy định trong các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước
Hai là, hình phạt tiền phải được quy định trong BLHS Cũng như các
loại hình phạt khác trong luật hình sự, hình phạt tiền phải được quy định trong văn bản luật hình sự, cụ thể hiện nay là BLHS năm 2015 Trong BLHS năm 2015, hình phạt tiền được quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm Phần chung quy định điều kiện, nội dung, phạm vi và nguyên tắc áp dụng hình phạt tiền, cách thức thi hành hình phạt tiền Phần các tội phạm quy định hình phạt tiền với tư cách hình phạt chính hay hình phạt bổ sung với các tội phạm cụ thể
Ba là, phạt tiền là một loại hình phạt nên phải do Tòa án quyết định
Trang 18đối với chính cá nhân người phạm tội đã thực hiện tội phạm theo một trình
tự riêng biệt Theo quy định của pháp luật thì Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt đối với người phạm tội
và việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục được quy định trong BLTTHS
Bốn là, phạt tiền là buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất
định để sung quỹ nhà nước trong những trường hợp do luật định Khoản tiền nhất định mà người bị kết án phải nộp là khoản tiền nằm trong giới hạn mức tối thiểu và mức tối đa của điều luật cụ thể quy định Người phạm tội cũng chỉ bị áp dụng hình phạt tiền khi mà điều luật cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS quy định về tội phạm mà người đó đã thực hiện có quy định hình phạt tiền là hình phạtchính hoặc là hình phạt bổ sung Trường hợp ngược lại, điều luật không quy định thì Tòa án không được áp dụng hình phạt tiền với người phạm tội
Năm là, khoản tiền bị tước phải tùy thuộc vào tính chất và mức độ
nghiêm trọng của tội phạm, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, cũng như sự biến động của giá cả thị trường Khi xem xét việc áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội, Tòa án không những phải xem xét và cân nhắc đến các quy định của BLHS, tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà còn phải xem xét đến tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động của giá cả thị trường Có như vậy Tòa án mới có thể quyết định mức phạt tiền hợp lý đảm bảo tính khả thi của hình phạt tiền trên thực tế
Sáu là, phạt tiền là loại hình phạt được áp dụng là hình phạt chính,
hoặc được áp dụng là hình phạt bổ sung khi hình phạt chính là loại hình phạt khác
Trang 19Từ những đặc trưng cơ bản của hình phạt tiền cùng với việc tiếp thu quan ðiểm về hình phạt tiền của các nhà nghiên cứu luật hình sự, chúng ta
có thể đưa ra một khái niệm khoa học về h nh phạt tiền như sau: “Phạt tiền
là hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước” Đây là
khái niệm ngắn gọn, phản ánh tương đối đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cũng như nội dung pháp lý của hình phạt tiền
1.1.2 Mục đích của hình phạt tiền
Giống như đối với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, khi áp dụng hình phạt tiền Tòa án cũng nhằm hướng tới những mục đích như trừng trị người phạm tội, đồng thời giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm Hình phạt tiền được luật hình sự quy định với nội dung pháp lý là tước bỏ một phần quyền lợi vật chất của người phạm tội Do đó, hình phạt tiền là hình phạt có khả năng tác động trực tiếp và mạnh mẽ về mặt kinh tế đến người phạm tội, nó đặc biệt có hiệu quả trong việc đấu tranh với loại tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng.…mà chưa đến mức áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn, hạn chế hoặc tước tự do của người bị kết án Bằng việc tước đi một khoản tiền nhất định của người bị kết án, hình phạt này làm cho họ nhận ra được hành vi sai lầm của mình, nhận ra tính tất yếu của hình phạt đối với tội phạm mà họ đã thực hiện, để từ đó giáo dục và tự giáo dục trở thành người có ích trong xã hội và đạt được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt
Mặc dù là một loại hình phạt tác động trực tiếp về kinh tế đối với người phạm tội song hình phạt tiền không chỉ mang bản chất kinh tế thuần túy, bởi lẽ ngoài việc bị tước đi một khoản tiền nhất định người phạm tội còn bị mang án tích trong một thời gian nhất định Đây chính là đặc điểm
cơ bản phân biệt hình phạt tiền với các biện pháp cưỡng chế khác như tịch thu tài sản, tịch thu vật tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, hay phạt tiền
Trang 20với tư cách là một hình thức xử lý vi phạm hành chính Dù khoản tiền người
bị kết án phải nộp được sung công quỹ nhà nước sẽ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhưng khi quy định và áp dụng hình phạt tiền trên thực tế, luật hình sự không đặt ra mục đích kinh tế với hình phạt tiền, không phải
dùng hình phạt tiền để tăng thu cho ngân sách nhà nước mà “nguồn thu này chỉ là hệ quả của việc áp dụng hình phạt tiền, chứ không phải mục đích của hình phạt tiền” [72, tr.167]
1.1.3 Ý nghĩa của hình phạt tiền
Là một trong các hình phạt thuộc hệ thống hình phạt được luật hình sự quy định, hình phạt tiền cũng như các hình phạt khác có ý nghĩa quan trọng trong việc cải tạo, giáo dục người phạm tội, răn đe và phòng ngừa tội phạm Phạt tiền tước đi quyền lợi vật chất của người phạm tội, tác động trực tiếp vào tình hình tài sản của họ, qua đó tác động vào ý thức của người phạm tội, làm cho họ nhận
ra sai lầm của mình, sửa chữa và không tái phạm Đối với những người khác, việc người phạm tội bị áp dụng hình phạt tiền có ý nghĩa như một sự răn đe
mà còn bổ sung cho họ những kiến thức pháp luật nhất định
Việc quy định hình phạt tiền trong luật hình sự nước ta đã góp phần đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội
phạm “Đa dạng hóa hình phạt trong hệ thống hình phạt là điều kiện đảm bảo tính thống nhất trong thực tiễn xét xử của các tňa án, đảm bảo cho việc xét xử được bình đẳng, công bằng” [30, tr.2] Quy định hình phạt tiền và cải tạo không
giam giữ trong hệ thống hình phạt đã rút ngắn, thu hẹp khoảng cách về mức độ nghiêm khắc giữa hình phạt cảnh cáo và hình phạt tù có thời hạn, giúp Tòa án
có cơ sở để thực hiện việc xét xử một cách công bằng, chính xác
Áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội một mặt tiết kiệm được những chi phí xã hội cho việc giáo dục, cải tạo, hạn chế mặt tiêu cực có thể phát sinh do áp dụng hình phạt tù, mặt khác vẫn đạt được mục đích cải tạo,
Trang 21giáo dục, phòng ngừa tội phạm Nếu bị áp dụng hình phạt tiền thì người phạm tội không bị cách ly khỏi xã hội, được sống và làm việc trong một môi trường hoàn toàn bình thường, qua đó cũng thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự của nhà nước ta
Hình phạt tiền tạo ra khả năng cá thể hóa hình phạt đối với các trường hợp phạm tội khác nhau về tính chất cũng như mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, góp phần thực hiện chính sách nghiêm trị kết hợp với khoan hồng của luật hình sự Việt Nam
Ngoài ra, hình phạt tiền còn là loại hình phạt vừa được áp dụng là hình phạt chính, vừa được áp dụng là hình phạt bổ sung Thế nhưng hình phạt tiền không thể được áp dụng đồng thời vừa là hình phạt chính lại vừa là hình phạt bổ sung đối với một trường hợp phạm tội cụ thể với một loại tội cụ thể
Tính chất “lưỡng tính” của hình phạt tiền được quy định làm tăng sự linh hoạt
trong việc áp dụng hình phạt tiền đối với các loại tội trong những trường hợp cụ thể khác nhau Xem xét khi hình phạt tiền là hình phạt chính, theo thứ tự từ nhẹ đến nặng thì loại hình phạt này được xếp ở vị trí thứ hai, nặng hơn hình phạt cảnh cáo nhưng lại nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù có thời hạn Có thể thấy hình phạt tiền đóng vai trò là cầu nối giữa hình phạt cảnh cáo, biện pháp ít nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt với cải tạo không giam giữ là biện pháp xử lý nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn, nhờ đó tạo ra sự liên tục theo hướng tăng dần mức độ nghiêm khắc của các hình phạt, góp phần tạo nên tính thống nhất trong hệ thống hình phạt Bên cạnh đó, với tư cách là hình phạt bổ sung, phạt tiền cùng với các hình phạt bổ sung khác trong hệ thống hình phạt đã làm cho các biện pháp hình sự được áp dụng trở nên phong phú hơn nhằm thực hiện chức năng xã hội của hình phạt
Trang 221.1.4 Cơ sở lý luận việc áp dụng hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong Luật hình sự Việt Nam
Các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cố ý hoặc vô ý xâm hại an toàn, trật tự trong các lĩnh vực giao thông vận tải, lao động sản xuất, hoạt động xây dựng, quản lý chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, phòng cháy, vệ sinh thực phẩm, hoạt động
y tế, bảo vệ môi trường, trật tự xã hội và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.Theo nghĩa rộng: Trật tự công cộng và an toàn công cộng là trật tự, an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân tại khu vực sinh hoạt đông người [33, tr 74] Quy định về hình phạt tiền áp dụng hiệu quả đối với một số tội phạm xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng, trong đó chủ yếu đối với các tội có tính chất vụ lợi, dùng tiền làm phương tiện phạm tội hoặc các tội phạm khác tuy không có tính chất vụ lợi hoặc dùng tiền làm phương tiện phạm tội, nhưng việc áp dụng hình phạt tiền vẫn đảm bảo được mục đích của hình phạt, ví dụ: Các tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông; Các tội về tin học Điều này được lý giải như sau: Một số tội phạm mà mục đích của người phạm tội không gì khác hơn ngoài tiền ví dụ như tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, môi giới mại dâm, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có… tất cả những tội này mục đích chính của người phạm tội hướng đến là tiền Do đó, biện pháp chế tài bằng phạt tiền bằng hoặc nhiều hơn số tiền mà họ kiếm được do phạm tội cũng đủ để giáo dục họ không tiếp tục phạm tội Đối với các tội dùng tiền làm phương tiện phạm tội thì hình phạt tiền tác động trực tiếp vào hoàn cảnh khách quan làm cho người phạm tội mất đi các điều kiện xã hội có thể để tái phạm, đó là tiền bạc của người bị kết án Hoặc những tội phạm gây thiệt hại về sức khỏe, tài sản nhưng với lỗi vô ý thì trong một số trường hợp áp dụng hình phạt tiền cũng phát huy được hiệu quả của hình phạt
Trang 231.2 Hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam trước khi Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực
1.2.1 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng
Như đã đề cập ở phần trên trong thời kỳ trước năm 1985 do hoàn cảnh đất nước nên các văn bản hướng dẫn còn chưa thống nhất, đồng bộ, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung chưa được đề cập
cụ thể Do vậy tác giả chỉ đề cập phân tích hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng trong pháp luật h nh sự Việt Nam kể từ khi có Bộ luật h nh sự năm 1985
* Trong Bộ luật hình sự năm 1985: “Phạt tiền được áp dụng đối với người phạm các tội có tính chất vụ lợi, tham nhũng, các tội có tiền dùng làm phương tiện hoạt động hoặc những trường hợp khác do pháp luật quy định” [38, Điều 23].
Hình phạt tiền trong BLHS năm 1985 được quy định vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung và là một bộ phận cấu thành hệ thống hình phạt, góp phần đa dạng hóa các loại hình phạt, thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật của Nhà nước ta Trong BLHS năm 1985 có 9 tội tương ứng với
11 khung có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, trong đó có 2 tội thuộc nhóm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, 1 tội thuộc các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân, 4 tội thuộc nhóm các tội phạm về ma túy, 1 tội trong nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, 1 tội thuộc nhóm các tội xâm phạm về kinh tế Trong 19 điều qui định về các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng thì hình phạt tiền không được áp dụng là hình phạt chính
Trang 24*BLHS năm 1999 quy định “Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm các tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do bộ luật này quy định” [44, Điều 30, Khoản 1]
Phạm vi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính căn cứ vào khách thể
mà các tội phạm đó xâm phạm chứ không chỉ căn cứ vào tính chất của tội phạm như BLHS năm 1985 Phạt tiền chỉ được áp dụng là hình phạt chính khi điều luật
có quy định áp dụng hình phạt này là hình phạt chính BLHS 1999 không cho phép áp dụng hình phạt tiền thay cho các hình phạt chính khác và ngược lại Vì vậy dù trong trường hợp phạm tội cụ thể có đủ khả năng chuyển sang áp dụng hình phạt khác nhẹ hơn như theo quy định tại Điều 47 nhưng điều luật cụ thể không quy định áp dụng hình phạt này là hình phạt chính thì cũng không được
áp dụng Đặc biệt khi xét xử Tòa án không được xử phạt liên đới cùng nhau nộp tiền phạt mà phải cá thể hóa đối với từng bị cáo [76, tr 62]
BLHS năm 1999 có 68 tội tương ứng với 75 khung có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, chiếm xấp xỉ 25,9% tổng số các điều luật quy định tội phạm cụ thể (68/263 tội) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã tăng số tội có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính lên 76 tội tương ứng với 85 khung, chiếm xấp xỉ 27,9% tổng số các điều luật quy định tội phạm cụ thể (76/272 tội), tăng hơn 8 lần so với BLHS năm 1985 (con số này trong BLHS năm 1985 là 09 tội, điều này cho thấy xu hướng mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền trong pháp luật hình
sự Việt Nam
Áp dụng đối với các tội ít nghiêm trọng xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Trong 59 tội quy định tại chương Các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng (chương XIX) thì hình phạt tiền được áp dụng
là hình phạt chính chủ yếu với các tội có tính chất vụ lợi, dùng tiền làm
Trang 25phương tiện phạm tội, ví dụ: Tội đánh bạc (Điều 248 BLHS); Tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250 BLHS)…; hoặc các tội phạm khác tuy không có tính chất vụ lợi hoặc dùng tiền làm phương tiện phạm tội, nhưng việc áp dụng hình phạt tiền vẫn đảm bảo được mục đích của hình phạt, ví dụ: Các tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông (Điều 202, 208, 216 BLHS); Các tội về tin học (Điều 224, 225, 226BLHS) Trong đó: Có 34/59 điều luật có quy định áp dụng hình phạt tiền
là hình phạt chính trong chương Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng (chương XIX) Trong đó:
* Mức phạt tiền tối thiểu:
* Mức phạt tiền tối đa:
Trang 26+ Mức 800 triệu đồng, gồm 01 Điều;
+ Mức 01 tỷ đồng , gồm 01 Điều
Mức phạt tiền tối đa áp dụng là hình phạt chính đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng phổ biến ở mức 50 triệu đồng (17 Điều, chiếm 50%)
1.2.2 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng
Hình phạt tiền với tính chất là HPBS có vai trò hỗ trợ, tăng cường những tác động của HPC trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, loại trừ điều kiện phạm tội mới ở họ Đồng thời phạt tiền qua đó còn thực hiện mục đích răn đe, phòng ngừa chung đối với các cá nhân không vững vàng trong xã hội
*Trong BLHS năm 1985
Hình phạt bổ sung là hình phạt được áp dụng kèm theo hình phạt chính Nếu Tòa án không áp dụng hình phạt chính đối với người phạm tội thì cũng không được phép áp dụng hình phạt bổ sung đối với họ Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ có thể bị áp dụng một hình phạt chính nhưng lại có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hoặc không bị áp dụng hình phạt bổ sung nào Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung được quy định tại 42 tội trong BLHS năm 1985 Trong đó các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng gồm 19 Điều, trong đó có 05 Điều (Điều 199 đến Điều 203) áp dụng hình phạt tiền hình phạt
bổ sung.Trong BLHS 1985, hình phạt bổ sung đối với nhóm tội xâm phạm trật
tự công cộng, an toàn công cộng không được qui định riêng trong từng điều luật mà qui định chung trong một điều (Điều 218), trong đó mức tối thiểu là 1.000 đồng; mức cao nhất là 50.000 đồng (khoảng cách tối đa là 50 lần)
* Trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):
Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung được qui định về phạm vi áp dụng cụ
thể hơn so với BLHS 1985: “ Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung
Trang 27đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác
do Bộ luật này quy định”.[44, Điều 30, Khoản 2]
BLHS 1999 có 111 điều luật áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung trong tổng số 272 điều luật, chiếm khoảng 40,8% tổng số các điều luật, tăng gần
3 lần so với BLHS năm 1985 Nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng có 30 điều luật quy định cho phép áp dụng hình phạt tiền là hình phạt
bổ sung, trong đó mức tối thiểu là 2.000.000đ, mức cao nhất là 1.000.000.000 đồng (Con số này không có nghĩa là BLHS 1999 tăng mức tối thiểu hình phạt tiền lên 2.000 lần; tăng mức cao nhất lên 200.000 lần, mà sự chênh lệch do chính sách đổi tiền lần thứ 6 của nhà nước vào năm 1985) Trong đó:
* Mức phạt tiền tối đa:
Trang 28phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng phổ biến ở mức 50 triệu đồng (chiếm 50%)
1.2.3 Những tồn tại, hạn chế
BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), gọi tắt là BLHS
1999 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam, phát huy thành tựu của BLHS năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 2009) Sau hơn 06 năm thi hành, BLHS năm 1999 đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, BLHS 1999 cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế nói chung và những tồn tại hạn chế về h nh phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng Gồm tồn tại, hạn chế xuất phát từ những qui định ở phần chung nhưng tác động đến phần các tội phạm trong nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng và chính những qui định cụ thể trong nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng Đó là: Thứ nhất: Điều 30 BLHS không quy định rõ phạt tiền là hình phạt bổ sung được áp dụng kèm theo những hình phạt chính nào nên dẫn đến cách hiểu là nó có thể được áp dụng đối với mọi hình phạt chính, bao gồm từ cảnh cáo đến tử hình được quy định trong BLHS năm 1999 Trong khi đó thực tiễn xét xử cho thấy, tuyệt đa số các trường hợp hình phạt tiền bổ sung chỉ được
áp dụng kèm theo hình phạt tù, phạt tù cho hưởng án treo hoặc tù chung thân,
tử hình
Về nội dung của khoản 4 Điều 30 BLHS năm 1999 Mặc dù lần đầu tiên cách thức thi hành hình phạt tiền được quy định tương đối chi tiết, cụ thể “tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do toà án quyết
Trang 29định” nhưng hình như nội dung này vẫn thiếu tính cưỡng chế cần thiết, bởi lẽ nhà làm luật đã không quy định hình thức xử lí đối với trường hợp người bị kết án cố tình chây ỳ, dây dưa không chịu nộp phạt hoặc không có khả năng nộp tiền phạt Do đó, trong nhiều trường hợp việc áp dụng quy định này là thiếu tính khả thi [1, tr.64]
Thứ hai: về khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong BLHS năm 1999, tuy đã có sự tiến bộ trong việc thu hẹp khoảng cách giữa hai mức này trong một khung hình phạt nhưng nhìn chung, trong nhiều khung hình phạt của các điều luật có quy định hình phạt tiền thì khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa vẫn còn lớn, ví dụ: Điều 202, 205, 208, 216 220,
224, 226, 226B, 249, khoảng cách tối thiểu và tối đa là 10 lần Với khoảng cách lớn như đã nêu, tuy tạo điều kiện thuận lợi cho những người áp dụng luật hình sự có thể dễ dàng lựa chọn mức hình phạt cụ thể tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm Song bên cạnh đó cũng cần phải kể đến mặt trái của nó là rất dễ dẫn đến sự tuỳ tiện, không thống nhất trong khi giải quyết những vụ việc giống nhau chỉ vì những “lí do” khác nhau của những người áp dụng [63]
Thứ ba: trong khi nhiều nước trên thế giới đã qui định chủ thể tội phạm
có thể là pháp nhân từ rất sớm thì Luật hình sự Việt Nam vẫn chưa có qui định chủ thể tội phạm là pháp nhân, do vậy trong nhóm tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn công cộng chưa có qui định về hình phạt tiền đối với loại chủ thể này
Thứ tư: Trong nhóm tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, ngoài các tội phạm ít nghiêm trọng mà điều luật quy định cho phép áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính còn một số trường hợp điều luật quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với cả các tội nghiêm trọng và rất
Trang 30nghiêm trọng Đó là tội qui định tại các Điều 201, 202, 204, 206, 208, 209,
210, 211, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 229, 249, BLHS năm 1999 cũng quy định hình phạt tiền có thể áp dụng là hình phạt chính trong khi mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội này là 05 năm tù (thuộc tội nghiêm trọng); Điều 222 mức cao nhất khung hình phạt là 10 năm tù (thuộc tội rất nghiêm trọng) Như vậy, mâu thuẫn với phần chung của BLHS 1999, chỉ áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các tội ít nghiêm trọng [64] Thứ năm: Về mức phạt tiền một số tội còn khá thấp chưa đủ sức răn
đe, phòng chống tội phạm
Theo quan điểm của TS.Trần Văn Dũng (Vụ Pháp luật hình sự, hành
chính – Bộ Tư pháp) đưa ra ý kiến: “Cần mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt có tính chất kinh tế như hình phạt tiền đồng thời tăng mức hình phạt tiền cao hơn hiện nay nhằm tăng khả năng răn đe và triệt tiêu khả năng tái phạm của người phạm tội” [79]
Tán thành với ý kiến tăng mức phạt tiền, PGS.TS Dương Tuyết Miên (Trường Đại học Luật Hà Nội) phân tích: Việc nâng mức khởi điểm của phạt tiền sẽ đảm bảo cho hình phạt này có đủ sức mạnh cưỡng chế đối với người phạm tội, làm cho người phạm tội thức tỉnh và thấy được sự nghiêm minh của pháp luật, thấy được sai trái của hành vi phạm tội [80]
Như vậy, theo các quan điểm trên thì mức khởi điểm của hình phạt tiền nếu được nâng lên ở mức tương đối thì sẽ có hiệu quả trong việc răn đe, phòng chống tội phạm Tuy nhiên, một số tội thuộc nhóm tội xâm phạm trật
tự công cộng, an toàn công cộng qui định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung với mức tối thiểu và mức tối đa khá thấp, không thể hiện được mức độ nghiêm khắc của tội phạm, không đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Ví dụ: Tội môi giới mại dâm (Điều 255 BLHS 1999), mức khởi điểm là một triệu đồng, mức cao nhất là mười triệu đồng; Tội mua
Trang 31dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS 1999), có mức phạt tiền cao nhất là mười triệu đồng
Thứ sáu: Trên bình diện lý luận, các hình phạt bổ sung, trong đó có hình phạt tiền giữ vai trò chủ yếu là củng cố, hỗ trợ cho hình phạt chính đạt hiệu quả tối
đa mục đích của hình phạt Cho nên, nếu hình phạt tiền cùng được qui định trong một điều luật về tội phạm vừa với tính chất là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung thì dứt khoát phải có sự khác biệt Mức của hình phạt tiền bổ sung phải thấp hơn mức hình phạt tiền là hình phạt chính có như vậy mới thể hiện rõ vai trò hỗ trợ của hình phạt tiền bổ sung cho những hình phạt chính [63].Tuy nhiên, một số
tội phạm xâm phạm công cộng, trật tự công cộng khi nhà làm luật quy định phạt
tiền là hình phạt bổ sung, mức phạt tiền được quy định có khi bằng hoặc cao hơn mức phạt tiền được quy định trong hình phạt chính tại khung hình phạt đối với loại tội ấy, đó là các Điều 206; 207, 220, 226, 226a
1.3 Hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong luật hình sự hiện hành (Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017)
1.3.1 Vài nét cơ bản về hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng trong Bộ luật hình sự hiện hành
Tiếp tục thừa kế các qui định của BLHS 1999, trong BLHS 2015 tiếp tục qui định phạt tiền là một hình phạt cùng với những hình phạt khác trong
hệ thống hình phạt áp dụng đối với người phạm tội, theo đó:
1 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:
a) Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định;
b) Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác
do Bộ luật này quy định
Trang 322 Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định
3 Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội,
sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng
4 Hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều 77 của Bộ luật này [51, Điều 35]
BLHS 2015 hình phạt tiền tiếp tục được áp dụng đối với một số tội phạm
ít nghiêm trọng như trong BLHS 1999; BLHS 2015 còn mở rộng việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với cả trường hợp phạm tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng
Do lần đầu tiên trong pháp luật hình sự Việt Nam qui định pháp nhân là chủ thể của tội phạm nên hình phạt tiền cũng lần đầu tiên qui định áp dụng đối với pháp nhân phạm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng
Nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng có tỷ lệ số điều luật áp dụng hình phạt tiền đứng thứ hai so với các nhóm tội phạm khác trong Bộ luật hình sự (sau nhóm tội phạm về kinh tế) Mức khởi điểm hình phạt tiền thấp nhất cao hơn nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (là nhóm khởi điểm thấp nhất); Mức cao nhất hình phạt tiền chỉ thấp hơn nhóm tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (nhóm có mức phạt cao nhất) Cụ thể:
- Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người: 06/34 tội áp dụng hình phạt tiền (17.64%) Mức phạt tiền thấp nhất là 10.000.000 đồng; cao nhất là 200.000.000 đồng
- Nhóm tội xâm phạm quyền tự do của công dân: 03/11 tội áp dụng hình phạt tiền (27.27%) Mức phạt tiền thấp nhất là 10.000.000 đồng; cao nhất là 200.000.000 đồng;
Trang 33- Nhóm tội xâm phạm sở hữu: 11/13 tội áp dụng hình phạt tiền( 84.61%) Mức phạt tiền thấp nhất là 10.000.000 đồng; cao nhất là 100.000.000 đồng;
- Nhóm tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình: 02/7 tội áp dụng hình phạt tiền (28.57%) Mức phạt tiền thấp nhất là 10.000.000 đồng; cao nhất là 50.000.000 đồng;
- Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: 12/12 Điều luật áp dụng hình phạt tiền (100%) Mức phạt tiền thấp nhất là 10.000.000 đồng; cao nhất
là 18.000.000.000 đồng;
- Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính: 10/22 Điều luật áp dụng hình phạt tiền (45.45%) Mức phạt tiền thấp nhất là 5.000.000 đồng; cao nhất là 100.000.000 đồng;
- Nhóm tội xâm phạm về chức vụ: 10/14 điều luật áp dụng hình phạt tiền (71.42%) Mức phạt tiền thấp nhất là 10.000.000 đồng; cao nhất là 200.000.000 đồng;
- Nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp: 01/24 tội áp dụng hình phạt tiền (4.16%) Mức phạt tiền thấp nhất là 10.000.000 đồng; cao nhất là 100.000.000 đồng;
- Nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng: 59/69 tội
áp dụng hình phạt tiền (85.50 %) Mức phạt tiền thấp nhất là 5.000.000 đồng; cao nhất là 20.000.000.000 đồng
BLHS năm 2015 đã thay đổi hình thức thể hiện mức tiền phạt từ chữ sang
số, mức phạt tiền mức thấp nhất và mức cao nhất cũng tăng lên để phù hợp với giá
cả thị trường và tình hình đấu tranh phòng chống các loại tội phạm
BLHS 2015 đã thu hẹp khoảng cách giữa mức cao nhất, thấp nhất của hình phạt tiền là hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng so với BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm
2009 (trong đó thu hẹp lớn nhất là đối với tội tổ chức đánh bạc- Điều 249
Trang 34BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009) Duy chỉ có tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS 1999; Điều 329 BLHS 2015) là tăng khoảng
cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa từ 02 lần lên 05 lần (điều này lý giải do tình hình đấu tranh tội phạm, hiện nay tình hình loại tội phạm này đang ngày càng có xu hướng gia tăng, cần phải nâng các mức phạt, trong đó có hình phạt tiền lên ở mức cao hơn để tăng mức độ nghiêm khắc, đáp ứng công cuộc đấu tranh tội phạm của nhà nước ta)
BLHS năm 2015 thống nhất qui định mức phạt tiền trong giới hạn nhất định từ mức tối thiểu đến mức tối đa bằng lượng tiền cụ thể đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng: Bỏ qui định về định lượng mức hình phạt tiền bằng số lần của tiền phạm pháp (Điều 324 BLHS 2015 Tội rửa tiền) Sự sửa đổi này xuất phát từ luận điểm cho rằng việc quy định mức phạt tiền theo bội số tiền phạm pháp, thu lợi bất chính sẽ khó áp dụng vì nó không chính xác khi dựa vào lời khai của người bị kết án, do đó không khách quan
và mục đích hình phạt không đảm bảo [65]
1.3.2 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính
Áp dụng đối với các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Trong 69 tội quy định tại chương Các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng (chương XXI) thì hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính gồm 47 tội Nhìn chung, BLHS 2015 áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính mở rộng hơn cả
về số tội, số khoản; Nâng mức tiền phạt áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính so với BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Ngoài ra, nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng trong BLHS 2015 cũng được bổ sung một số điều mới mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, gồm 14 Điều,
cụ thể như sau: Điều 260 (Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ); Điều 264(Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện
Trang 35tham gia giao thông đường bộ); Điều 271(Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt); Điều 276 (Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy); Điều 285 (Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng, cho công cụ, thiết bị, phần mềm sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 287; Điều 288 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 288 (Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông); Điều 291 (Tội thu thập, tàng trữ trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng); Điều 293 (tội
sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh; Điều 294 (Tội cố ý gây nhiễu có hại); Điều 297 (tội cưỡng bức lao động); Điều 307 (Tội vi phạm qui định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ); Điều 314 (Tội vi phạm qui định về an toàn vận hành công trình điện lực); Điều 317 (Tội vi phạm qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm)
Có duy nhất 01 điều luật về nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng mà BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nhưng BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bãi bỏ hình phạt tiền là hình phạt chính, đó là: Điều 226b BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, nay là Điều 290 BLHS 2015 Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Lý do việc bãi bỏ: Tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, các thiết bị số nhằm chiếm đoạt tài sản trong những năm gần đây xảy ra rất nhiều, thậm chí có trường hợp tội phạm đánh sập hệ thống mạng của một quốc gia gây nên những thiệt hại vô cùng to lớn với mức tiền chiếm đoạt khủng Pháp luật quốc tế đã có sự điều chỉnh pháp luật liên
Trang 36quan tới việc áp dụng hình phạt đối với loại tội này Việt Nam cũng đã và đang trở thành đích nhắm thực hiện hành vi phạm tội của loại tội phạm này
Để đáp ứng công cuộc phòng, chống loại tội phạm này thì cần thiết phải áp dụng các khung hình phạt nặng mới đủ sức răn đe Do vậy, hình phạt tiền được bãi bỏ thay vào đó là các loại hình phạt nặng hơn
Hình phạt tiền là hình phạt chính đã được qui định đối với pháp nhân phạm tội thuộc nhóm xâm phạm trật tự, an toàn công cộng Đó là qui định tại
Điều 324 BLHS 2015: (“6 Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng; b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g
và h khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng; c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm) [51, Điều 324]
* Các mức phạt tiền tối thiểu khi phạt tiền áp dụng là hình phạt chính như sau:
Như vậy, so với mức phạt tối thiểu qui định trong phần chung của
BLHS (không thấp hơn 1 triệu đồng) thì hình phạt tiền là hình phạt chính có mức tối thiểu áp dụng đã ở mức tương đối (gấp 05 lần) Mức phạt tiền tối
Trang 37thiểu khi phạt tiền áp dụng là hình phạt chính phổ biến nhiều nhất ở mức 30 triệu đồng (chiếm 29.78%)
* Các mức phạt tiền tối đa khi phạt tiền áp dụng là hình phạt chính:
1.3.3 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung
Trong 69 tội quy định tại chương Các tội xâm phạm trật tự công cộng,
an toàn công cộng (chương XXI) thì hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung gồm 37 tội BLHS 2015 áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung mở rộng hơn về số điều luật áp dụng so với BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (tăng 08 Điều luật áp dụng, gồm: Điều 263 Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; Điều 264 Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiệ tham gia giao thông đường bộ; Điều 282 Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Điều 285 Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng, cho công cụ, thiết bị, phần mềm sử dụng vào mục đích trái pháp luật; Điều 291 Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin
về tài khoản ngân hàng; Điều 297 Tội cưỡng bức lao động; Điều 317 Tội
Trang 38vi phạm qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm; Điều 324 Tội rửa tiền), không có trường hợp nào bãi bỏ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền so với BLHS 1999 Thể hiện như sau:
* Các mức phạt tiền tối thiểu khi phạt tiền áp dụng là hình phạt bổ sung:
Mức phạt tiền tối đa khi phạt tiền áp dụng là hình phạt bổ sung phổ biến
ở mức 50 triệu đồng (21 Điều, chiếm 56.75%)
Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cũng lần đầu tiên được qui định đối với pháp nhân phạm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng Đó là qui định
về tội rửa tiền- Điều 324 BLHS 2015: “6 Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”
Trang 391.3.4 Những tồn tại, hạn chế trong qui định áp dụng hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng của BLHS 2015
Bộ luật hình sự 2015 đã khắc phục những tồn tại, hạn chế của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, trong đó có tồn tại, hạn chế đối với nhóm tội xâm phạm trật tự,
an toàn công cộng, bao gồm những tồn tại, hạn chế của hình phạt tiền nói chung nhưng tác động đến hạn chế riêng đối với việc áp dụng hình phạt tiền đối với nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng và chính những qui định cụ thể trong nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng Đó là:
Thứ nhất: Khi áp dụng hình phạt tiền đối với các loại tội vi phạm trật tự, an toàn công cộng nói riêng hay việc áp dụng hình phạt tiền nói chung đều có điểm chưa hợp lý, chưa thống nhất giữa Điều 35 và Điều 50 BLHS 2015 Cụ thể:
Tại khoản 3 Điều 35 BLHS Phạt tiền qui định: “Mức phạt tiền được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng”
Điều 50 Căn cứ quyết định hình phạt (BLHS 2015) qui định:
“1 Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
2 Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội”
So sánh Điều 35 BLHS 2015 có xuất hiện cụm từ tình hình tài sản
người phạm tội; còn Điều 50 BLHS 2015 có cụm từ khả năng thi hành của người phạm tội Có nên hiểu khả năng thi hành của người phạm tội chỉ đơn
Trang 40giản là có tài sản hay không có tài sản để áp dụng hình phạt tiền Hay hiểu theo nghĩa rộng hơn là tài sản nhiều hay ít, cụ thể là bao nhiêu (trùng với nội
hàm tình hình tài sản ngýời phạm tội) Nếu theo các qui định trên thì đối với
người phạm tội và được áp dụng hình phạt tiền nhưng qua xác minh tài sản ít thì phạt ít tiền, người phạm tội mà có nhiều tài sản thì phạt nhiều tiền, điều này là không công bằng Hay nếu trong vụ án có đồng phạm mà những người đồng phạm cùng vai trò nhưng tình hình tài sản mỗi người mỗi khác thì nên căn cứ vào tài sản người có tài sản ít nhất hay như thế nào? Điều này chưa có hướng dẫn cụ thể nên còn nhiều cách hiểu khác nhau
Thứ hai: Đối với việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đã được qui định ở các khung khác nhau của điều luật tương ứng với mức độ nghiêm trọng tội phạm Tuy nhiên, đối với việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung thì vẫn chưa được chú trọng Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung vẫn chỉ qui định duy nhất tại khoản cuối của điều luật (nếu có áp dụng) và sử dụng chung cho các khung hình phạt phía trên mà chưa có sự phân khung, điều này chưa thể hiện được sự phân hóa hình phạt như các loại hình phạt khác [66] Thứ ba: So sánh giữa việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính của Điều 261 và Điều 263 BLHS 2015 thấy có điểm chưa hợp lý Cụ thể:
Điều 261 Tội cản trở giao thông đường bộ:
“1 Người nào đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt, để trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, đổ chất gây trơn, vật sắc nhọn hoặc các chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc các thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy; sử dụng trái phép hành lang an toàn đường bộ