Nhà nước ta đã quy định những tội danh cụ thể liên quan đến tội phạm đánh bạc trong BLHS với các mức phạt khác nhau căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của những hành vi cờ bạc.. Kế
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ VŨ TRƯỜNG
CÁC TỘI PHẠM VỀ CỜ BẠC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI –năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tác giả luận văn
Đỗ Vũ Trường
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CỜ BẠC 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của các tội phạm về cờ bạc 9 1.2 Phân biệt tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc 15 1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam về các tội phạm về cờ bạc 16 1.4 Cơ sở lý luận của định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm
về cờ bạc 25
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CỜ BẠC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI 38
2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về các tội phạm về cờ bạc 38 2.2 Tình hình tội phạm xâm phạm trật tự xã hội nói chung và các tội cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê từ năm 2015 đến năm 2019 43 2.3 Thực tiễn định tội danh các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê từ năm 2015 đến năm 2019 44 2.4 Thực tiễn quyết định hình phạt các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê từ năm 2015 đến năm 2019 52 2.5 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt các tội phạm về cờ bạc tại địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 57
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI PHẠM CỜ BẠC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI 62
3.1 Một số yêu cầu cơ bản góp phần không ngừng hoàn thiện và áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 62
Trang 53.2 Một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao chất lượng áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về các tội cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 64
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân gian Việt Nam có câu: “Cờ bạc là bác thằng bần; cửa nhà bán hết, tra
chân vào cùm” đây là bài học vừa mang tính dạy dỗ, vừa để răn đe mà thế hệ đi trước
muốn để lại cho thế hệ sau này về tác hại cũng như những ảnh hưởng khôn lường của
tệ nạn cờ bạc Tệ nạn cờ bạc diễn ra đã gây ra những nguy hại nghiêm trọng cho cá nhân người chơi lúc đầu chỉ chơi cho giải trí tuy nhiên có lần một sẽ có lần hai, lần
ba và dẫn đến gây nghiện và khó bỏ làm cho con người mê muội đầu óc và không có chí hướng làm ăn Khi những đối tượng chơi cờ bạc luôn hy vọng kiếm được số tiền lớn từ vận may, rủi thì càng chơi họ càng mất tiền và làm kiệt quệ kinh tế của bản thân và gia đình, gây ra mâu thuẫn, tan vỡ hạnh phúc gia đình khi tình trạng kinh tế gia đình càng ngày càng nghèo nàn khánh kiệt Không những vậy tệ nạn này còn gây ảnh hưởng đến trật tự, an ninh xã hội khi luôn tụ tập thành những điểm đông người kéo theo nạn ma túy và mại dâm phát triển Bên cạnh đó, tệ nạn cờ bạc còn là nguồn phát sinh của nhiều loại tội phạm như: Tội phạm trộm cắp, cướp giật, lừa đảo Hiện nay, các tội phạm cờ bạc như một thứ “dịch bệnh” lan truyền rất nhanh và khó có khả năng kiểm soát trong xã hội Thực tế cho thấy những gia đình có bố hoặc mẹ nghiện cờ bạc thì gia đình đều không yên ấm, tan nát, con cái hư hỏng vì bố mẹ không còn thời gian quan tâm, nuôi dạy con cái mà chỉ biết dành thời gian kiếm tiền
để đánh bạc và lao đầu vào trò chơi lòng tham ấy Tội phạm về cờ bạc xuất hiện ở mọi nơi với sự tham gia của đủ mọi giới tính, nghề nghiệp, thành phần, lứa tuổi và nếu không có những giải pháp hiệu quả ngăn chặn thì hậu quả của nó là vô cùng nguy hiểm đến môi trường phát triển lành mạnh của cá nhân nói riêng và cộng đồng
xã hội nói chung
Chư Sê là một huyện nằm ở phía nam tỉnh Gia Lai, phía Bắc giáp huyện Đak Đoa, phía Nam giáp huyện Chư Pưh, phía Đông giáp huyện Mang Yang, phía Tây giáp huyện Chư Prông Huyện Chư Sê có diện tích tự nhiên 643 km2 Dân số năm
2019 là 110.300 người Mật độ dân số là 172 người/km2, Chư Sê cách thành phố Pleiku (tỉnh lỵ Gia Lai) 36 km về phía Bắc Tuyến quốc lộ 14 nối ngã ba huyện Chư
Sê, tỉnh Gia Lai với các địa phương như: Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước, Bình
Trang 82
Dương và thành phố Hồ Chí Minh; từ vị trí ngã ba huyện Chư Sê đi theo tuyến quốc
lộ 25 đến thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, kết nối với vùng duyên hải Nam Trung
Bộ Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện tăng lên nhanh chóng, giai đoạn từ năm
2015 đến năm 2019 đạt trên 12% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ Đến nay, khu vực nông nghiệp giảm còn 45%, công nghiệp xây dựng tăng lên 30%, thương mại - dịch vụ 25%; thu nhập GDP bình quân đầu người trên 800 USD/năm,
tỷ lệ hộ đói nghèo giảm; thu ngân sách trên địa bàn hàng năm từ 100 tỷ đồng đến 130
tỷ đồng, đứng thứ 2 trong tỉnh Nhưng như một quy luật bất di bất dịch, sự phát triển của kinh tế luôn kéo theo những TNXH, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai cũng không phải là một ngoại lệ Những năm trở lại đây, nền văn hóa nông thôn trên địa bàn huyện Chư Sê cơ bản bị xâm nhập bằng những hình thức giải trí được du nhập một cách nhanh chóng, nhiều TNXH mới xuất hiện như ma túy, mại dâm, vay nặng lãi, nghiện game online song hành cùng những TNXH đã tồn tại từ lâu nay có cơ hội
để phát triển như mại dâm, cờ bạc, rượu chè, tụ tập gây gỗ, đánh nhau ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự Trong những TNXH đó, tệ nạn về cờ bạc nổi lên như một TNXH mang tính phổ biến, diễn ra hằng ngày và có chiều hướng diễn biến phức tạp, gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống Nhân dân địa phương được nâng cao, thu nhập được gia tăng, cộng thêm thời gian nông nhàn còn nhiều đã phát sinh tệ nạn cờ bạc
Nhà nước ta đã quy định những tội danh cụ thể liên quan đến tội phạm đánh bạc trong BLHS với các mức phạt khác nhau căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của những hành vi cờ bạc Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền địa phương và các
cơ quan chức năng trên địa bàn đã rất kiên quyết đấu tranh với các tội phạm về cờ bạc nhưng tình hình tội phạm về cờ bạc tại tỉnh Gia Lai nói chung và huyện Chư Sê nói riêng vẫn có những diễn biến phức tạp, ngày càng tinh vi, có tổ chức, quy mô ngày càng lớn Nhất là khi mà hiện nay khi Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTP trong tình hình mới đã đặt ra mục đích “phải kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm tạo ra môi trường lành mạnh, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo
vệ cuộc sống hạnh phúc và bình yên của nhân dân” thì nhiệm vụ đấu tranh, xử lý các
Trang 93
tội phạm về cờ bạc là bức thiết và cấp bách
Thực tiễn tình hình tội phạm về cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đặt ra yêu cầu phải tiếp tục tăng cường đấu tranh với các tội phạm về cờ bạc trong thời
gian tới Từ những luận giải trên, tác giả chọn đề tài: “Các tội phạm về cờ bạc từ thực
tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Nhóm các công trình nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về Các
tội phạm về cờ bạc
+ Giáo trình “Tội phạm học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự Việt Nam”
NXB Chính trị quốc gia, 1994;
+ Giáo trình “Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm”, Khoa Luật, Đại
học quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội (2017);
+ Bình luận khoa học BLHS năm 1999 của Thạc sĩ Đinh Văn Quế, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
+ Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm (2008), Võ Khánh
Vinh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội;
+ Lý luận chung về định tội danh (2013), Võ Khánh Vinh, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội;
+ Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung (2014), Võ Khánh Vinh,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
Ngoài ra còn có những bài viết về vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt, về tội phạm và hình phạt, về cấu thành tội phạm các tội về cờ bạc… được đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, tạp chí Toà án nhân dân, tạp chí Kiểm sát nhân dân Các công trình nêu trên là cơ sở lý luận quan trọng không thể thiếu trong việc thực hiện đề tài luận văn, vì đó là những hướng dẫn
lý luận về các vấn đề cơ bản mà đề tài cần làm rõ
- Nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu luận văn
Ngoài các công trình nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về các tội phạm về cờ bạc nêu trên, có một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vấn
Trang 104
đề nghiên cứu của đề tài, như:
+ Đặng Minh Tuấn (2019), Các tội về cờ bạc từ thực tiễn tỉnh Nam Định,
Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội
+ Võ Tiến Sỹ (2019), Áp dụng hình phạt từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia
Lai, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội
+ Lê Thiên Hà (2018), Các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa
học xã hội
+ Phạm Tuấn Đạt (2017), Các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật Hình sự Việt
Nam từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Học viện Khoa học xã hội
+ Nguyễn Ngọc Thạch (2017), Các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học
xã hội
+ Đỗ Khắc Thắng (2017), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các tội phạm cờ bạc từ thực tiễn thành phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Học viện Khoa học xã hội
+ Trần Thị Thu Hà (2016), Các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật Hình sự
Việt Nam từ thực tiễn huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Học viện Khoa học xã hội
+ Vũ Thị Len (2013), Tội đánh bạc và Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trên
địa bàn thành phố Ninh Bình Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa,
Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội
+ Cao Thị Oanh (2002), Phòng ngừa các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn
thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Các đề tài trên đã nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động đấu tranh,
xử lý đối với các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam trên những phương diện khác nhau, mang tính khái quát cao, tập trung giải quyết một số vấn đề
lý luận về các tội phạm cờ bạc ở những khía cạnh nhất định, nghiên cứu thực tiễn trên những địa bàn khác nhau Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình, đề tài nào
Trang 115
nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn các tội phạm về cờ bạc
trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Các
tội phạm về cờ bạc từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai” làm đề tài luận văn thạc
sĩ không bị trùng lắp với các công trình khoa học đã nghiên cứu từ trước, đồng thời đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật hình sự
về các tội phạm về cờ bạc
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng PLHS liên quan đến các tội phạm về
cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Trên cơ sở đó chỉ ra những hạn chế, những vi phạm của việc áp dụng PLHS liên quan đến các tội phạm về cờ bạc trên thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai
- Đề xuất những giải pháp cơ bản, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự, đấu tranh phòng, chống, xử lý các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài đi sâu giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về định tội danh và đánh giá hoạt động định tội danh đối với tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai từ năm 2015 đến năm 2019
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển quy định về các tội phạm về cơ bạc trong PLHS Việt Nam Làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt và đánh giá hoạt động quyết định hình phạt đối với các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai từ năm 2015 đến năm 2019
- Làm sáng tỏ những yêu cầu và các giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, xử lý tội phạm đối với các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc
gá bạc từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai từ năm 2015 đến năm 2019
Trang 126
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các quy định về các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam quy định tại BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
- Các quy định về các tội phạm về cờ bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam quy định tại BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Thực tiễn xét xử, đấu tranh với tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá
bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai
- Các số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của TAND huyện Chư Sê giai đoạn 05 năm từ năm 2015 đến năm 2019
- 30 bản án xét xử sơ thẩm của TAND huyện Chư Sê giai đoạn 05 năm từ năm
2015 đến năm 2019 được thu thập một cách ngẫu nhiên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu về các tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại huyện Chư Sê,
tỉnh Gia Lai dưới góc độ luật hình sự và TTHS
+ Phạm vi về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin về nhà nước và pháp luật nói chung, nhà nước và pháp luật XHCN nói riêng; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật với tư tưởng Nhân dân là chủ thể của quyền lực
xã hội, mọi hoạt động của nhà nước phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân và việc hoàn thiện pháp luật phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân; các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về công tác đấu tranh PCTP, cải cách tư pháp, nhà nước pháp quyền và vấn đề quyền con người Ngoài ra, luận văn còn được nghiên cứu trên cơ
sở tham khảo các bài viết, các chuyên đề về các tội phạm về cờ bạc được đăng tải trên các tạp chí, phương tiện thông tin uy tín, chính thống
Trang 137
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh phương pháp luận, để thực hiện đề tài tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng để nghiên
cứu các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận văn, các văn bản pháp lý quy định về các tội phạm về cờ bạc, các báo cáo sơ kết, tổng kết của các cơ quan tư pháp trung ương, địa phương và đặc biệt là của cơ quan tư pháp huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 05 năm từ năm 2015 đến năm 2019
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Sử dụng để nghiên cứu tổng kết đánh giá
những kết quả, tài liệu thu thập được từ thực tiễn hoạt động đấu tranh, xử lý các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 05 năm từ năm
2015 đến năm 2019
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu: Sử dụng để điều tra, khảo
sát thực tế và thống kê, đánh giá thực trạng, diễn biến, cơ cấu của các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai từ năm 2015 đến năm 2019 Sử dụng để nghiên cứu thực trạng công tác định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm về cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về đấu tranh PCTP về cờ bạc trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật, các dấu
hiệu của tội phạm, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật Đây là tài liệu
có thể dùng trong công tác nghiên cứu, học tập, tham khảo dành cho các học viên ngành Luật nói chung, Luật hình sự và TTHS nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu luận văn sẽ là nguồn tài liệu
vô cùng có ích và thiết thực, giúp các cơ quan THTT trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh,
xử lý có hiệu quả tội phạm về cờ bạc trong thời gian tới Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các giảng viên, học viên, các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu đến
Trang 148
những vấn đề có liên quan đến Luật hình sự nói chung, các tội phạm về cờ bạc nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục phần nội dung của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về các tội phạm
về cờ bạc
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về các tội phạm về cờ bạc và
thực tiễn áp dụng trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai
Chương 3: Một số yêu cầu và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy
định của pháp luật hình sự về các tội phạm cờ bạc trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai
Trang 159
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CỜ BẠC
1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của các tội phạm về cờ bạc
1.1.1 Khái niệm của các tội phạm về cờ bạc
Trước khi tìm hiểu quan điểm pháp lý về đánh bạc và tổ chức đánh bạc Chúng
ta cần xem xét đánh bạc và tổ chức đánh bạc, gá bạc ở khía cạnh xã hội, trong đời sống
xã hội Việt Nam, ảnh hưởng và những hệ lụy của nó gây ra, dẫn đến việc Nhà nước phải hình sự hóa các hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc và quy định thành tội phạm, có chế tài, khung hình phạt để ngăn ngừa, hạn chế, loại trừ đánh bạc khỏi đời sống góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội Việt Nam
TNXH được định nghĩa là hiện tượng xã hội có tính phổ biến, lan truyền, biểu hiện bằng những hành vi lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng, như: mại dâm, nghiện ma tuý, cờ bạc, mê tín dị đoan TNXH là cơ sở xã hội của tình trạng phạm tội, là một trong những nguồn gốc phát sinh tội phạm Phòng, chống TNXH là nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bằng những biện pháp đồng bộ, tích cực
và triệt để Xã hội ngày càng phát triển thì các TNXH cũng gia tăng, một trong các TNXH đó là đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc Như vậy, cờ bạc trước hết là một hiện tượng xã hội có tính phổ biến, sau đó nó bị lệch “chuẩn”, vi phạm đạo đức
và gây ra những hệ quả xấu trong đời sống dẫn đến phát sinh tội phạm và bản thân
nó cũng trở thành một loại tội phạm cần phải phòng, chống Hiện nay, các hình thức đánh bạc rất đa dạng, phức tạp điều này gây ra nhiều khó khăn trong công tác điều tra và xử lý Do đó, pháp luật hiện hành đã quy định rất cụ thể về chế tài xử lý đối với các hành vi này
Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định rõ khái niệm tội phạm: đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô
ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm
Trang 1610
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN
mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [24, tr.3]
Hiện nay, các tội phạm về cờ bạc được quy định trong Mục các tội phạm khác xâm phạm trật tự công cộng thuộc Chương XXI các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể Điều 321 và Điều 322 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bao gồm ba tội danh chính: Tội đánh bạc; Tội tổ chức đánh bạc và Tội gá bạc
- Tội đánh bạc là hành vi đánh bạc do hai hay nhiều người có năng lực TNHS
cố ý thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật với nhau mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp, tổng giá trị tiền mặt và hiện vật được thua trong cuộc đánh bạc được chế định tại điều 321 BLHS
- Tội tổ chức đánh bạc là hành vi tập hợp, rủ rê, lôi kéo nhiều người tham gia
vào việc đánh bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều 321 và Điều 322 của BLHS hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
- Tội gá bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật trự xã hội, đó là
hành vi cho sử dụng địa điểm làm nơi thực hiện việc đánh bạc để trục lợi, tạo điều kiện cho hành vi đánh bạc, là hành vi không chỉ ảnh hưởng xấu tới gia đình và cá nhân người chơi mà còn có thể là nguyên nhân của các TNXH và tội phạm khác Hành vi gá bạc có nơi còn gọi là chứa gá bạc hoặc chứa bạc Dấu hiệu bắt buộc để
xác định có hành vi gá bạc hay không là có thu tiền hồ hay không
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của các tội phạm về cờ bạc
Theo quy định của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tội phạm đánh bạc
và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, khác với pháp luật của một số nước tư bản quy định cho phép hoạt động đánh bạc, pháp luật nước ta nghiêm cấm mọi hoạt động đánh bạc dưới bất
Trang 1711
kỳ hình thức nào và coi đây là hành vi xậm phạm đến trật tự an toàn xã hội
Hành vi đó do con người cụ thể, đủ năng lực TNHS thực hiện bằng cách dùng tiền hoặc các lợi ích vật chất khác giải quyết được thua trong các trò chơi dưới bất cứ hình thức nào, như xóc đĩa, tổ tôm, số đề, cá cược bóng đá… không theo quy định của nhà nước Hành vi đó bị truy cứu TNHS khi tổng số tiền và hiện vật dùng để đánh bạc đạt giá trị nhất định hoặc khi số người tham gia đánh bạc đông đến mức độ nhất định hoặc trong trường hợp khác theo sự chế định của PLHS Hình thức lỗi trong tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc là cố ý Đó là thái độ chủ quan của người đánh bạc, tổ chức đánh bạc đối với hành vi của mình Họ ý thức được hành vi do họ gây ra là nguy hiểm cho xã hội nhưng họ vẫn cứ thực hiện với mục đích tư lợi, nhằm mong muốn được ăn thua tiền bạc, tài sản với người khác Và như thế, theo quy định của BLHS, người phạm tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc phải bị xử lý bằng hình thức cưỡng chế nghiêm khắc
1.1.2.1 Đặc điểm pháp lý tội đánh bạc
- Về khách thể tội phạm: hành vi đánh bạc xâm phạm đến trật tự công cộng
BLHS hiện hành quy định về tội đánh bạc nhằm góp phần đấu tranh ngăn chặn tội đánh bạc nói riêng, bảo vệ sức khỏe, tính mạng, tài sản của Nhân dân, củng cố an ninh, giữ gìn trật tự công cộng nói chung
- Mặt khách quan:
Về hành vi: đánh bạc là hành vi cá cược được thua trái phép bằng tiền hay
hiện vật Hành vi đánh bạc thể hiện dưới các hình thức được thua bằng tiền hoặc hiện vật, sát phạt đa dạng như: số đề, cá cược, cá độ bóng đá, tổ tôm, tam cúc, tá lả, ba cây, xóc đĩa, đỏ đen, chẵn lẻ, Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp hiện nay, tội phạm đánh bạc cũng xuất hiện nhiều hình thức mới như: cá độ bóng đá trên mạng với nhà cái ở nước ngoài, đánh bạc qua máy vi tính, trò chơi điện tử, chơi xèng, và một số trò chơi tinh vi khác cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và công nghệ thông tin hiện đại
Như vậy, tội đánh bạc theo quy định pháp luật hiện hành đã rõ ràng hơn: vì
nếu như BLHS năm 1999 quy định là “đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào” thì BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “đánh bạc trái phép dưới bất kỳ
Trang 1812
hình thức nào” như vậy hành vi đánh bạc không phải là tội nếu như chỉ nhằm mục
đích giải trí hoặc đánh bạc tại các cơ sở được nhà nước cho phép kinh doanh có thưởng như: xổ số kiến thiết, đố vui có thưởng, các trò chơi trúng thưởng trên truyền hình… thì không bị coi là đánh bạc trái phép và không bị định tội
Về giá trị vật chất của tội phạm đánh bạc: Theo quy định của BLHS năm
2015 thì dấu hiệu cơ bản để xử lý người tham gia đánh bạc là việc được thua phải bằng “được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”
Dấu hiệu khác: ngoài dấu hiệu cơ bản nêu trên thì trường hợp hiện vật có giá
trị dưới 5.000.000 đồng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành
vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu TNHS
Về tiền hoặc hiện vật: tiền và hiện vật ở đây được xác định là tiền Việt Nam
đồng, hoặc ngoại tệ; Hiện vật có thể là tài sản có giá trị như: ô tô, xe máy nhà cửa, vàng bạc, hàng hoá gia súc, vật dụng khác Tiền và hiện vật xác định đưa vào đánh bạc gồm: Tiền hoặc hiện vật được thu giữ trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được các con bạc dùng đánh bạc; Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc được thu giữ trực tiếp tại mỗi chiếu bạc; Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà cơ quan THTT có đủ các căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc
- Về chủ thể: chủ thể của tội đánh bạc phải là người đạt độ tuổi theo luật định
(đủ 16 tuổi trở lên), có năng lực TNHS
- Về mặt chủ quan: Về mặt lỗi thì tội đánh bạc được thực hiện với lỗi cố ý; thông
qua việc sát phạt nhau để tước đoạt tiền bạc, tài sản của nhau đây chính là động cơ phạm tội đánh bạc
Trang 1913
tính chất chuyên nghiệp; tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên; sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
để phạm tội; tái phạm nguy hiểm
+ Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
1.1.2.2 Đặc điểm pháp lý tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
- Khách thể của tội phạm: Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng
- Mặt khách quan của tội phạm:
Về hành vi:
+ Đối với tội tổ chức đánh bạc: có hành vi tập hợp, rủ rê, lôi kéo nhiều người (từ hai người trở lên) tham gia vào việc đánh bạc Thông thường người đứng ra tổ chức có sự chuẩn bị, bàn bạc, sắp xếp kế hoạch đánh bạc rồi mới tập hợp, rủ rê những người khác tham gia
+ Đối với tội gá bạc: thể hiện ở hành vi tạo điều kiện về địa điểm cho việc đánh bạc, tức là có hành vi cho thuê, cho mượn hoặc đi thuê, mượn địa điểm, phương tiện để cho người khác sử dụng làm nơi tụ tập đánh bạc Bản chất của gá bạc là mục đích trục lợi qua con bạc thông qua việc lấy tiền vào cửa, mua bán tài sản của con bạc với giá rẻ, kinh doanh các dịch vụ ăn uống,… Hành vi gá bạc là một biểu hiện, một dạng khác của hành vi tổ chức đánh bạc, vì vậy, được xem là hành vi gá bạc khi người có hành vi đó được xác định không phải là người có hành vi tổ chức đánh bạc
Cũng như tội đánh bạc, hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc chỉ bị truy cứu trách nhiệm khi đó là hành vi trái phép Đối với hành vi tổ chức đánh bạc đã được cấp phép thì không bị coi là vi phạm pháp luật
Về hậu quả: Cũng như tội đánh bạc, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc
của tội phạm này Chỉ cần người phạm tội có hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thỏa mãn dấu hiệu khách quan được quy định trong điều luật thì đã cấu thành tội
phạm Hai hành vi trên chỉ cấu thành tội phạm nếu thoả mãn dấu hiệu về quy mô lớn,
hoặc đã bị xử phạt hành chính về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, hoặc đã
bị kết án về tội này mà chưa được xoá án tích thì tái phạm Cụ thể đó là:
Trang 2014
+ Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
+ Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng
số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
+ Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;
+ Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;
+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 BLHS (Tội Đánh bạc) hoặc đã bị kết án
về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 (Tội đánh bạc), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là bất kì người nào đạt độ tuổi theo luật định (từ đủ 16 tuổi trở lên) và người đó có năng lực TNHS
- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ phạm tội là tư lợi; mục đích của người phạm tội là nhằm thu lợi bất chính
Trang 211.2 Phân biệt tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
Phân biệt tội tổ chức đánh bạc với tội gá bạc
để thu lợi (tiền hồ)
Thứ hai, về biểu hiện của hành vi
Hành vi tổ chức đánh bạc được thể hiện dưới dạng tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc đánh bạc xảy ra, như: hành vi rủ rê, lôi kéo, tụ tập những người khác vào việc đánh bạc Hành vi gá bạc được thể hiện dưới dạng là việc người phạm tội dùng nhà ở hay một địa điểm khác của mình hoặc thuê, mượn của người khác để cho những người khác đánh bạc Xét dưới góc độ hành vi thì hành vi gá bạc cũng là một biểu hiện của hành vi tổ chức đánh bạc và do vậy, hành vi gá bạc được nói đến khi người có hành vi đó không phải là người có hành vi tổ chức đánh bạc
Thứ ba, mục đích của tội phạm
Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc là nhằm giúp cho việc đánh bạc diễn ra trên thực tế Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi gá bạc là để nhận tiền (tiền hồ)
Thứ tư, vai trò của người phạm tội
Người tổ chức đánh bạc là người đã chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy cho việc đánh bạc được diễn ra hoặc đã cưỡng bức, đe dọa người khác thực hiện hành vi đánh bạc
Trang 2216
trái phép Có thể nói người tổ chức đánh bạc là người đã tạo ra những điều kiện cần
và đủ để cho việc đánh bạc trái phép được diễn ra
Tóm lại, hành vi đánh bạc và hành vi gá bạc là những hành vi nguy hiểm cho
xã hội Những hành vi này trên thực tế đã gây ra những hậu quả đáng kể cho xã hội Đứng dưới góc độ là các quy định của BLHS ta thấy hai tội danh này có nhiều điểm giống nhau Tuy nhiên nếu xét về bản chất của tội phạm giữa hai tội danh này cũng
có nhiều điểm khác nhau như: tính chất hành vi, vai trò của người phạm tội hay như mục đích của tội phạm…
Nếu người có hành vi tổ chức ra việc đánh bạc để thoả mãn việc đánh bạc của mình và cùng tham gia đánh bạc với những người mà mình tổ chức để đánh bạc thì người tổ chức đánh bạc chỉ bị truy cứu TNHS về tội đánh bạc nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc, mà không bị truy cứu TNHS về tội tổ chức đánh bạc
Nếu chỉ căn cứ vào việc dùng địa điểm mà mình đang quản lý sử dụng cho người khác đánh bạc thì hành vi này tương tự như hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Nhưng khác nhau ở chỗ, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất
ma tuý có thể lấy tiền hoặc không lấy tiền, còn hành vi gá bạc (chứa chấp việc đánh bạc) nhất thiết phải lấy tiền (tiền hồ) thì mới bị coi là gá bạc Vì vậy, nếu chỉ vì nể nang mà dùng địa điểm (nhà, xưởng, quán, ) đang do mình quản lý cho người khác
sử dụng để đánh bạc thì không bị coi là phạm tội gá bạc Do đó, có thể khẳng định dấu hiệu có thu tiền hồ hay không là dấu hiệu bắt buộc để xác định có hành vi phạm tội gá bạc hay không
Người có hành vi gá bạc có thể đồng thời là người tổ chức đánh bạc, nhưng có thể người tổ chức đánh bạc và người gá bạc khác nhau vậy nên để tránh nhầm lẫn cũng cần phải phân biệt hành vi gá bạc và đánh bạc Vẫn có thể bị truy cứu TNHS về
cả tội đánh bạc nếu người gá bạc mà còn cùng tham gia đánh bạc và có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đánh bạc
1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về cờ bạc
1.3.1 Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Lịch sử hình thành và phát triển các quy định của PLHS về các tội phạm về cờ
Trang 2317
bạc được hình thành từ thời kỳ phong kiến Cụ thể, dưới thời phong kiến các hành vi liên quan đến cờ bạc của dân chúng đều bị các triều đình có những biện pháp quy định ở mức hạn chế trong khuôn khổ hoặc thậm chí ở mức độ cấm đoán các hành vi liên quan đến cờ bạc, vì những tác hại mà các hành vi liên quan đến cờ bạc tác động đến đất nước và người dân Thời kỳ phong kiến Việt Nam do đặc điểm pháp luật chưa phát triển, Nhà nước lúc này chưa có nhiều các bộ luật chính thống, vì vậy cứ liệu pháp lý chưa được làm rõ nhất là về sự cấm đoán này từ triều Trần trở về trước Tuy nhiên, điều đó lại được thể hiện rõ trong hai Bộ luật nổi tiếng là Luật Hồng Đức (Lê triều Hình luật) dưới thời vua Lê Thánh Tông và Hoàng Việt Hình luật (Luật Gia Long) dưới thời vua Gia Long Các bộ luật này đều quy định cấm hành vi cờ bạc Thời kỳ này, pháp luật đều quy định hình phạt nặng đối với những người chủ mưu, cầm đầu, tổ chức việc đánh bạc Trong các hương ước của làng xóm, vùng quê ở các vùng nông thôn thời phong kiến quy định vấn đề tệ nạn cờ bạc đã được đề cập đến nhiều Không chỉ khu vực nông thôn, ở thành thị Việt Nam thời bấy giờ các tệ nạn cờ bạc như ba cây, xóc đĩa, đỏ đen, tam cúc, đánh chắn, tổ tôm, cua cá,… đã xảy ra khá phổ biến và công khai Các sòng bạc dạng Casino đã được cấp giấy phép hoạt động công khai để thu lợi nhuận cho chính quyền Trải qua nhiều thời kỳ pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của pháp luật phong kiến Trung Hoa Năm 1698, vua
Lê Huy Tông hạ lệnh cho viên đề lãnh dò xét: “người chứa gá và người đánh gá đều
bị phạt nặng, số tiền bị phạt nhiều hay ít tùy theo thứ bậc phẩm trật của từng người” Ngay sau khi lên ngôi năm 1802, vua Gia Long đã ban lệnh nghiêm cấm đánh bạc, quy định hình phạt nghiêm khắc Theo Luật Gia Long ban bố, các khoản tiền thu về trong và sau vụ đánh bạc được dùng làm phần thưởng cho những người có công tố giác tội phạm Dưới triều các vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị tội đánh bạc bị phạt rất nặng, không cần biết là quan hay lính Quan phạm tội thì bị phạt rất nặng, thậm chí
bị phạt treo cổ Còn những người có trách nhiệm quản lý, theo dõi khi để xảy ra việc đánh bạc cũng bị phạt giáng chức từ 2 - 4 cấp Tuy nhiên, những ai có công phát hiện tội phạm sẽ được thưởng Tại điều 188, Bộ Luật Hồng Đức cũng có quy định như sau: “Ai tụ tập đánh bạc thì bị đánh 70 trượng, biếm ba tư, phạt ba quan tiền, thưởng cho kẻ tố cáo Người đứng đầu hay tái phạm tội đánh bạc thì tăng một bực tội Kẻ a
Trang 24mở các tiệm hút, chích á phiện, cờ bạc, cũng như cho phép các sòng bài được tự do
mở trên đất nước ta Đô thành Sài Gòn là nơi tập trung khá đông đúc các sòng bài và
đã có những sòng bài lớn mang tính quốc tế, tại các phủ, huyện trước đây thuộc Sài Gòn, chính quyền Pháp còn cho tuyển người từ trong giáo dân hoặc lớp tú tài, cử nhân cam tâm theo chúng để đặt cạnh các viên tri phủ, tri huyện làm chức Tham biện huyện vụ thực hiện nhiệm vụ thu các loại thuế trong đó có cả loại thuế sòng bạc với định mức thu rất nặng Nhân dân thì bất luận già, trẻ, tàn tật mỗi người phải nộp một quan năm tiền và phải phụ thêm một quan: Dân xã Minh Hương mỗi năm phải nộp hai lạng bạc, người Thanh phải nộp thêm hai quan Gái điếm mỗi thị phải nộp 10 quan mỗi tháng Người Thanh lập phố để nấu á phiện, mở sòng bạc thì phải nộp từ
2000 đến 5000 quan… Tóm lại, giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 các quy định của pháp luật liên quan đến tệ nạn cờ bạc còn hạn chế, manh mún, chưa toàn diện, thậm chí vào thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền thực dân còn cho hợp pháp hóa các hành vi liên quan đến đánh bạc, quy định đây là hành vi hợp pháp nên quản
Trang 2519
luật, trong đó có các văn bản pháp luật TTHS Chính phủ mới được thành lập đã nhận thức rõ sự nguy hiểm của các hành vi cờ bạc đối với xã hội và sự phát triển bền vững của chính quyền mới
Để đấu tranh, xử lý, ngăn chặn những nguy hại cho xã hội và an ninh quốc gia, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 Văn bản PLHS đầu tiên được Nhà nước ta quy định về tội cờ bạc Sắc lệnh này thể hiện đường lối xử lý cứng rắn, thái độ nghiêm khắc của Nhà nước ta đối với loại tội phạm này, đặc biệt đối với những đối tượng đánh bạc
Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 mặc dù chưa phân biệt rõ các hành vi cờ bạc, nhưng trong quy định đã có phân hóa để xử lý đối với những đối tượng tổ chức đánh bạc, gá bạc và những người đánh bạc khác Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ cho việc phòng, chống các tội cờ bạc nói chung và tội đánh bạc nói riêng Tuy nhiên, sự biến đổi sâu sắc của kinh tế, chính trị, xã hội miền Bắc qua công cuộc cải tạo XHCN, thì một số quy định của Sắc lệnh đã không còn phù hợp và cần thiết phải tiến hành những sửa đổi
Thông tư 301/VHH-HS ngày 14/2/1957 và Thông tư 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 của Bộ Tư pháp về việc bài trừ tệ nạn cờ bạc đã giải quyết một phần những tồn tại, vướng mắc, hạn chế của Sắc lệnh số 168/SL, với phương châm “lấy giáo dục làm chính” đường lối xử lý các tội cờ bạc của Nhà nước ta đã có sự giảm nhẹ Thông tư 301/VHH-HS cũng đưa ra đường lối xử lý của các cơ quan Tư pháp đối với việc đánh bạc, đó là: Không nhất thiết phỉa bắt được quả tang đánh bạc mới
có thể truy tố được Có thể việc chứng minh bằng bất kỳ hình thức nào để chứng minh là bị can đã đánh bạc nhưng phải thận trọng trong trường hợp này Có bằng chứng rõ ràng thì mới truy tố, không nên suy luận hoặc chỉ dựa vào lời khai của một vài nhân chứng
Thông tư số 2098 ngày 31/5/1957 đã vận dụng Sắc lệnh 168/SL trong điều kiện và tình hình xã hội mới, xác định những nội dung chính sau đây: Thông tư này cũng nêu đường lối xử lý là phải cân nhắc kỹ giữa truy tố và không truy tố Các quy định nội quy về phòng cháy, chữa cháy của các ngành, các cơ quan chức năng Hậu quả tác hại do cháy gây ra có thể là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, của tập thể,
Trang 2620
tài sản thuộc sở hữu của công dân, tính mạng sức khoẻ của con người, trật tự an toàn
xã hội Kế tiếp sau hai Thông tư nói trên, ngày 08/01/1968, TAND tối cao đưa ra bản Tổng kết số 9/NCPL, nhiên nếu hành vi các tội cờ bạc Nội dung quan trọng mà bản Tổng kết số 9/NCPL nêu ra là giới hạn giữa những hành vi cần thiết phải xử lý bằng chế tài hình sự và nhiên nếu hành vi, vi phạm về các quy định về phòng cháy chữa cháy có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, mặc dù hậu quả chưa xảy ra do được ngăn chặn kịp thời thì vẫn cấu thành tội phạm theo Khoản 4 Điều 240 Bộ luật Hình sự 1999 có động cơ, mục đích sát phạt nhau” Theo đó đối với hành vi đánh bạc phải có động cơ, mục đích sát phạt nhau, có được thua đáng kể hay tương đối đáng kể thì mới phải cần thiết xử lý về hình sự
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 15/3/1976, Hội đồng Chính quả tác hại do cháy gây ra có thể là Sắc luật số 03-SL/76 quy định các tội phạm và hình phạt Văn bản này ra khi đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh về vụ cháy và xác định trách nhiệm với người có liên tạp Nhiều loại tội phạm, trong đó có tội cờ bạc vẫn xảy ra, gây khó khăn cho việc quản lý xã hội Vì vậy, những quy định
về tội cờ bạc trong Sắc luật 03-SL/76 có liên quan cần tổ chức cuộc họp của Nhà về chủ trương xử vi phạm đại diện cơ quan phòng cháy tội này
Theo tinh thần của Chỉ thị số 54/TATC ngày 6/7/1977 của TAND tối cao, Báo cáo toàn bộ quá trình diễn biến của vụ cháy, thiệt hại do vụ cháy đã gây ra đối với các tội phạm về cờ bạc trong Sắc luật 03-SL/76 là quá cao, không phù hợp với tình hình tội phạm này ở miền Bắc Chính vì vậy, giai đoạn này miền Bắc con người có liên quan và những vi phạm của họ về các quy định phòng cháy chữa cháy Tổng kết
Trang 2721
Điều 200 BLHS năm 1985 là điều luật duy nhất quy định về các tội cờ bạc có
sự bất đồng quan điểm hoặc chưa thống nhất cần và Điều 218 (quy định về hình phạt
bổ sung) của Bộ luật là cơ sở pháp lý cho việc xử lý các tội phạm về cờ bạc trong giai đoạn này Tại khoản 1, Điều 200 BLHS năm 1985 quy định về tội đánh bạc:
“Người nào đánh người có liên quan và những vi phạm của họ về các quy định hiện vật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm” Ngoài ra tại khoản 2 và khoản 3, Điều 200 BLHS năm 1985 quy
định các hình phạt bổ sung đối với các tội phạm này bao gồm: “Có thể bị phạt quản
chế hoặc cấm cư để xác định, đồng thời thống nhất thời gian bắt đầu và thời gian hoàn thành” và “bị phạt tiền từ hai năm triệu có thể bị tịch thu một phần tài sản”
Tội đánh bạc được phân định rõ rệt với tội tổ chức đánh bạc và tội gá bạc bằng cách cơ quan điều tra đã chứng minh được nguyên nhân cháy, đối tượng có liên quan nhau mặc dù được quy định tại một điều luật nhưng với cách thức quy định khác nhau tại Điều 200 BLHS năm 1985 BLHS năm 1985 được ban hành, những quy định về các tội phạm cờ bạc đã phần nào thể hiện những bước tiến vượt bậc, những tiến bộ quan trọng so với thời kỳ trước năm 1985 Các quy định trong BLHS năm 1985 đã góp phần quan trọng vào hoạt động đấu tranh PCTP, nhất là trong suốt thời kỳ gần 15 năm bắt đầu giai đoạn tiến hành mở cửa, đổi mới đất nước từ năm
1986 Tuy nhiên, để đấu tranh, xử lý nghiêm các tội về cờ bạc trong thời kỳ này thì vẫn cần hoàn thiện BLHS hơn nữa Các quy địnhvề tội phạm cờ bạc trong BLHS năm 1985 còn mang tính khái quát, tạo ra nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng, chưa thể hiện hết những nội dung cần thiết, cụ thể:
Tuy nhiên, vướng mắc trong quá trình áp dụng PLHS về đấu tranh phòng chống đối với các đối tượng đánh bạc nói riêng và các đối tượng tội phạm về cờ bạc nói chung quy định tại Điều 200 BLHS năm 1985 còn bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định, phát sinh những vướng mắc trong thực thiễn, cụ thể:
Hạn chế thứ nhất: Tuy đã được sắp xếp ở hai khung khác nhau, nhưng các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc cùng được quy định trong một điều luật rõ ràng cách quy định này là chưa có tính khoa học, các dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc gần như không có điểm chung với các dấu hiệu cấu thành tội tổ chức đánh bạc và gá bạc
Trang 2822
dẫn đến hạn chế trong định tội danh ba tội danh này
Hạn chế thứ hai: Các cơ quan chức năng còn lúng túng vì cách quy định về cả trong quá trình điều tra chủ yếu áp dụng các biện pháp điều tra để thu thập, kiểm tra hành vi cờ bạc Do đó, hệ quả là đã dẫn đến những quan điểm xử lý khác nhau xung quanh vấn đề xử lý hành chính hay xử lý hình sự đối với các tội phạm về cờ bạc Các
cơ quan chức năng, những người áp dụng pháp luật lại có những quan điểm, tư duy khi kiểm tra xác minh tài liệu, kết luận có vụ vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy xảy ra do một người đã thực hiện thì lúc đó điều tra viên Điều 200 BLHS năm
1985, mặc dù khi định tội danh, người áp dụng pháp luật đã dựa trên tinh thần và đặt
sẽ tạo điều kiện cho khởi tố bị can đúng khoản 3 Điều 8 BLHS Việt Nam năm 1985
"những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tội danh và điều luật giữa xã hội không đáng kể thì không phải tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác"
Cùng với đó các văn bản hướng dẫn áp dụng luật hình sự trong suốt thời kỳ BLHS năm 1985 có hiệu lực còn những hạn chế nhất định, cũng chưa đề cập tới vấn
đề này Điều này là hạn chế lớn, ảnh hưởng đến đường lối xử lý đối với các tội phạm
cờ bạc khi mà việc quy định chung chung như nói ở trên trong khi tội phạm về cờ bạc là những tội hoàn toàn có thể tạo ra sự phân định rõ ràng trong luật giữa những
trường hợp là tội phạm với những trường hợp không phải là tội phạm [38, tr.22]
Bên cạnh đó, bị can gây ra vụ cháy này cũng phải khởi tố bị can về tội vi phạm quy định về Điều 200 BLHS năm 1985 "phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm" Việc điều luật quy định như thế này đúng hay không đúng đều có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động điều tra nặng này chỉ được áp dụng cho tội tổ chức đánh bạc và gá bạc hay được áp dụng cho cả ba tội danh về cờ bạc
Những hạn chế trong quy định tại Điều 200 BLHS năm 1985 đã dẫn tới những cách vận dụng khác nhau vì không đủ rõ ràng để tạo ra một cách hiểu thống nhất Điều Điều 200 BLHS năm 1985 dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau gây ra những tác động, ảnh hưởng mang tính tiêu cực trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự nói chung, các tội về cờ bạc nói riêng
Bên cạnh đó, hình phạt chính được quy định tại Điều 200 và hình phạt bổ
Trang 2923
sung được quy định tại khoản 3 Điều 218 là những chế tài xử lý chưa mang tính răn
đe, còn tương đối nhẹ, chưa đủ sức trấn áp, phòng ngừa những hành vi phạm tội về
cờ bạc diễn ra trong thực tế Ngược lại, việc quy định hình phạt bổ sung quản chế hoặc cấm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố là không phù hợp, thiếu ý nghĩa thực tế và tính khả thi Mặt khác, chỉ riêng tình tiết phạm tội trong khi khởi tố vụ án phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện và phải nghiêm chỉnh thì chưa
đủ bao quát hết những trường hợp phạm tội mà mức độ nguy hiểm cao hơn đáng kể
so với những trường hợp khác
1.3.3.2 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999 trên cơ
sở kế thừa truyền thống của PLHS Việt Nam, phát huy thành tựu của BLHS năm
1985 đã có những tác động tích cực đối với công tác PCTP, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền
công dân, thể hiện trên một số điểm lớn như sau:
Thứ nhất, từ khi được ban hành vào năm 1999, BLHS đã sớm đi vào cuộc sống và phát huy vai trò, tác dụng tích cực, hữu hiệu, là công cụ sắc bén, là cơ sở pháp lý quan trọng trong đấu tranh PCTP nói chung, các tội phạm về cờ bạc nói riêng Thứ hai, BLHS đã có nhiều quy định thể hiện tinh thần nhân đạo, chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh PCTP, cụ thể như quy định về khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra; về các trường hợp loại trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về miễn trách nhiệm hình sự, miễn giảm hình phạt… Thứ ba, BLHS có những quy định phù hợp với xu hướng chung của quốc tế, tạo tiền
đề quan trọng cho việc tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh PCTP, nhất là các tội phạm mang tính quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như tội phạm về ma túy, mua bán người, rửa tiền, khủng bố, tài trợ khủng bố; các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao…
Sự ra đời của BLHS năm 1999 đã góp phần đáng kể vào việc khắc phục những khiếm khuyết trong quy định về các tội cờ bạc của BLHS năm 1985, đồng vụ
Trang 3024
cháy thường gây ra những thiệt hại to lớn về vật chất, sức khoẻ; và nhiều trường hợp gây thiệt hại lớn đến tính mạng của con người cờ bạc đã được các nhà làm luật quy định riêng tại hai điều luật là Điều 248 và Điều 249: tội đánh bạc được quy định tại điều 248 BLHS và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 249 BLHS Việc nhà làm luật quy định riêng rẽ tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc và
gá bạc thành hai điều luật với mục đích cá thể hóa TNHS, hình phạt đối với người phạm tội về cờ bạc, đáp ưng được yêu cầu của thực tiễn đấu tranh PCTP trong tình hình mới Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, các nhà làm luật đã làm rõ các dấu hiệu định tội danh vào cấu thành tội phạm, bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng và các chính sách hình phạt đối với các tội phạm về cờ bạc, đảm bảo phù hợp với diễn biến thực tế tội phạm về cờ bạc thời kỳ bấy giờ
Hoạt động định tội danh, quyết định hình phạt, nguyên tắc xử phạt, xử lý các vật chứng liên quan cũng có nhiều điểm mới giúp cho việc cá thể hóa TNHS tội phạm về cờ bạc ngày càng tiến bộ hơn từ khi BLHS năm 1999 ra đời Các quy định trong BLHS năm 1999 đã tạo điều kiện cho việc xử lý các tội phạm liên quan đến đánh bạc theo một chính sách mới Tuy nhiên, quá trình áp dụng các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều cháy có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhưng nếu xét về mặt chủ quan của con người thì chúng ta có thể chia nguyên nhân cháy thành hai nhóm nguyên nhân chính sau đây tạo điều luật miêu tả những hành vi khách quan vẫn có nhiều mặt chưa sáng tỏ, nhất là các yếu tố định tội danh và định khung hình phạt còn chưa rõ ràng, cụ thể như:
- Công văn số 3187/VKSTC-KSĐT.TA hướng dẫn cháy do con người cố ý gây ra, có thể người tham gia của VKSND tối cao ban hành ngày 13-12-2002
- Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1999 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ngày 17/4/2003 (gọi tắt là Nghị quyết số 02)
- Công văn số 105/2003/KHXX về việc áp dụng Điều 248 BLHS của TAND tối cao ban hành ngày 18/8/2003
- Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn cố ý gây ra trái phép được gọi
là của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành ngày 12/5/2006 (gọi tắt là Nghị
Trang 3125
quyết số 01)
- Công văn số 253/VKSTC-V8 ngày 04/02/2008 của VKSNDTC về việc trao đổi ý kiến việc áp dụng Nghị quyết số 01/20061/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC liên quan đến việc xác định TNHS đối với hành vi chơi
lô, đề
- Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 về việc thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS do Quốc hội vụ cháy do vô ý của con người không 01/01/2010 (gọi tắt là Nghị quyết số 33)
- Công văn số 105/TANDTC-KHXX ngày 17/7/2009 của TANDTC con người cố ý gây ra, có thể Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 của Quốc hội (gọi tắt là Công văn số l05)
- Ngày 19/6/2009 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 5 thông qua Luật số 37/2009/QH12 không chấp hành đúng các quy điều của BLHS năm 1999
- Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán TANDTC phòng cháy chứa cháy được gọi định tại Điều 248 và Điều 249 của BLHS
1.4 Cơ sở lý luận của định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm về cờ bạc
1.4.1 Cơ sở lý luận của định tội danh
Định tội danh là cơ sở và là tiền đề cho con người không chấp hành Là quá đúng các quy định về phòng cháy chứa cháy được gọi là những vụ vi phạm các quy định một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong BLHS Định tội danh là hoạt động nhận thức, áp dụng PLHS được thực hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, khách là hành vi của một người cố ý gây cháy trái pháp luật nhằm huỷ hoại tài sản, giết quy định cấu thành tội phạm tương ứng và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của cấu người hoặc che giấu tội phạm mà họ đã thực hiện trước đó của hành vi phạm tội bằng
các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định
Định tội danh là giai đoạn cơ bản của việc áp dụng PLHS Định tội danh đúng
có ý nghĩa chính trị - xã hội, đạo đức và pháp lý quan trọng Nó thể hiện việc đánh
Trang 3226
giá chính trị - xã hội và pháp lý đối với những hành vi nhất định; loại trừ việc truy cứu TNHS oan sai; điều luật đó quy định có nhiều thủ đoạn khác nhau để thực hiện hành vi phạm tội trong đó có thủ đoạn gây cháy việc đánh giá chính xác tình hình tội phạm để có biện pháp phòng ngừa phù hợp và hiệu quả
Như vậy, mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS đều phải xác định đúng tên của hành vi phạm tội gọi là tội danh Quốc hội đã thông qua BLHS để duy trì trật tự xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền ra để che giấu tội phạm hoặc thực hiện tội phạm khác mà họ đã thực hiện trước đó cũng có thể người phạm tội cũng sử dụng thủ đoạn đất, ví dụ sau khi tham ô tài sản người phạm tội gây cháy để thiêu huỷ các dấu vết, tài liệu khách quan của tội phạm; chủ thể của tội phạm; mặt chủ quan của tội phạm thì lúc đó mỗi hành
vi nguy hiểm cho xã hội sẽ đủ yếu tố cấu thành tội phạm Nếu các hành vi nguy hiểm khi giết người thủ phạm thấy trên hiện trường còn để lại nhiều dấu vết nên thủ phạm
đã đốt để nhằm mục đích phạm hay các tội phạm độc lập tương ứng với hành vi nguy hiểm mà người phạm tội đã gây ra
Trong quá trình áp dụng quy phạm PLHS có tất cả 03 giai đoạn, gồm: Định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt Trong đó, định tội danh là giai đoạn quan trọng nhất vì từ giai đoạn khởi tố đến thi hành án thì định tội danh được tiến hành ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng Hành vi đốt tuy không được Bộ luật Hình sự quy định thành một tội danh sự phù hợp chính xác giữa các
dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu
thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm PLHS” [33, tr.09-10]
Có hai hình thức định tội danh:
- Định tội danh chính thức do người tiến hành tố tụng và người tham gia tố riêng biệt trong một điều luật riêng biệt, nhưng nó được thể hiện ở nhiều thủ tội, bào chữa hay xét xử vụ án và làm phát sinh hậu quả pháp lý;
- Định tội danh không chính thức do các nhà nghiên cứu thực hiện nhằm thể con người, đồng thời tác động xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội làm phát sinh hậu quả pháp lý
Việc định tội được thực hiện nhằm đi đến các quyết định hành vi được thực
Trang 3327
hiện có cấu thành tội phạm hay không; xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội BLHS là văn bản pháp luật công dân, tính mạng sức khoẻ và hình phạt Vì vậy, BLHS là cơ sở pháp lý duy nhất của việc định tội danh, khi định tội danh, người định tội căn cứ vào quy phạm pháp luật cụ thể quy định về tội phạm để xác định hành vi được thực hiện có cấu thành tội phạm hay không
Định tội danh có các đặc điểm sau:
Định tội danh được thể hiện dưới hai khía cạnh là quá trình nhận thức giữa lý luận và thực tiễn một cách logic: Trước hết cần xác định hành vi đã thực hiện gây đồng thời tác động xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội được quy định trong BLHS hay không, phạm tội thường là những người có những hiểu biết nhất định
trong thực tế Về nội dung, hình thức của quá trình định tội danh phải đúng theo các quy định trong BLHS, BLTTHS Các cơ quan THTT như CQĐT, VKS và Tòa án
thông thường động cơ thực hiện hành vi đốt rất đa dạng và phức tạp song khách
quan, đầy đủ của hành vi phạm tội trên thực tế
Việc định tội danh hết sức đối với động cơ phản cách mạng của các cơ quan
THTT, quyết định đến kết quả của quyết định hình phạt Cụ thể:
- Định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hóa TNHS và cá thể hóa hình
phạt có căn cứ pháp luật Các nguyên tắc tiến bộ trong nhà nước pháp quyền như nguyên tắc công minh, nhân đạo, nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, nguyên
tắc không tránh khỏi trách nhiệm sẽ được thừa nhận nếu định tội danh đúng
- Định tội danh đúng là cơ sở để các quy phạm pháp luật trong TTHS được áp
dụng một về kinh tế, khủng bố về tinh thần, phá hoại an ninh chính trị, quốc cho xã
hội bị kết án
Định tội danh sai sẽ mang đến nhiều hậu quả tiêu cực như làm giảm uy tín của các cơ quan THTT, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc đấu tranh PCTP; trong quá nước, hoặc kích động bọn phản động nổi dậy chống lại Đảng, chống người vô tội,
xâm phạm đến các quyền tự do dân chủ của công dân
Vì vậy, để hoạt động định tội danh thực sự mang lại hiệu quả cao trong TTHS, các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền cần tuân thủ một số yêu cầu sau:
- Xác định tội danh của tội phạm nên căn cứ vào đặc điểm riêng của hành vi
Trang 34và các hành vi khác không có cấu thành định khung tăng nặng hình phạt trong cùng một đòi hỏi trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra phải thật nhau tương ứng với điều luật mà BLHS đã quy định đối với tội danh đó
- Xác định đúng tội danh là trách nhiệm của người THTT và cơ quan có thẩm quyền THTT khi tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử VAHS nhằm bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật tránh xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội
1.4.2 Cơ sở lý luận của quyết định hình phạt
Theo quy định tại Điều 30 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội hoạt gia đình, trong quan hệ của người, pháp nhân thương mại
đó” [24, tr.10]
Hình phạt là những vụ gây cháy do những người có mâu thuẫn, thù tức với người mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng
hoạt gia đình, trong quan hệ chống tội phạm [24, tr.11]
Thẩm quyền áp dụng hình phạt thuộc về Tòa án, do đó công tác, trong quan hệ yêu đương tình ái, mâu thuẫn trong quan hệ xã hội giữa các gia đình, hình phạt bổ sung) để áp dụng đối với người phạm tội Quyết định hình phạt có các đặc điểm sau: Đây là hoạt động là những vụ cháy do những người có bất mãn gây ra như do thất tình, do không đáp ứng được các nhu cầu tối thiếu của cuộc sống PLHS, là hoạt động
Trang 3529
chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt hoặc miễn TNHS với khung và hình phạt cụ thể
Quyết định hình phạt là cơ sở pháp lý để đạt được kết quả mà Nhà nước đặt ra
và mong muốn, thể hiện bằng việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội đúng có
ý nghĩa vô cùng to lớn, quyết định hình phạt phụ thuộc vào quyết định của HĐXX; thường gây ra những vụ cháy ngay tại nơi họ đang làm việc, học tập hay ngay tại chính nơi cư trú, sinh hoạt của mình, mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức
độ của hành vi phạm tội Phát huy tác dụng của hình phạt đối với người phạm tội, trong đó có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung đối với xã hội; quyết định hình phạt là cơ sở hỗ trợ thực hiện các nguyên tắc trong nhà nước pháp quyền XHCN được phát huy, là công cụ sắc bén phục vụ đấu tranh PCTP đạt hiệu quả
Điều 50 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định chặt chẽ các căn cứ quyết định hình phạt:
“1 Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS
2 Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội” [24, tr.14] Cụ thể, phân tích các căn cứ trên gồm:
Thứ nhất, căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự
Các căn cứ theo quy định của BLHS gồm có 2 phần:
Các căn cứ trong phần chung của BLHS gồm có: các nguyên tắc xử lý; các đó trong quá trình điều tra đối tượng ta cần chú ý điều tra làm rõ để thu thập cả những tài liệu định về căn cứ quyết định hình phạt; các tình tiết giảm nhẹ TNHS; các tình tiết tăng nặng TNHS; về tái phạm, tái phạm nguy hiểm; các quy định về án treo
Các quy định trong phần các tội phạm cụ thể của BLHS hiện hành về hình phạt, trong đó bao gồm khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung cho từng loại tội danh Khi xem xét quyết định hình phạt Tòa án dựa vào các quy định về khung chế tài (gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung) cho từng loại tội phạm, cho phép tòa xác định khung hình phạt cho từng tội Sau đó, Tòa án quyết định loại và mức hình
Trang 3630
thông tin phản ánh về những biểu hiện bất mãn của họ để từ đó xác định nguyên nhân của vụ cháy dựa vào quy định của phần chung của Bộ luật như đã nêu ở trên Trong nhiều trường hợp, Tòa án các vụ cháy do những người vì mục đích tư lợi của
cá nhân tư pháp đối với người phạm tội
Trước khi quyết định hình phạt, Toà án phải xác định xem bị cáo bị xét xử về xác định nguyên nhân của vụ cháy một của BLHS Sau quá trình định tội, Toà án có thẩm quyền quyết định hình phạt đối với người phạm tội, quá trình này Tòa án cũng cần căn cứ vào các quy định của phần chung BLHS như: nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 BLHS, chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 17 BLHS, phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 18 BLHS, đồng phạm quy định tại Điều 20 BLHS Các quy định khác có tính nguyên tắc của phần chung BLHS mà Toà án cũng phải xem xét khi quyết định hình phạt đó là mục đích hình phạt quy định tại Điều 27 BLHS, nội dung, phạm vi và điều kiện của từng loại hình phạt quy định tại các điều từ 29 đến Điều 40 của BLHS…Tuân thủ nghiêm chỉnh điều luật quy định mức hình phạt đối với tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm có ý nghĩa rất lớn khi quyết định hình phạt Quyết định hình phạt trong phạm vi chế tài mà điều luật đã quy định cho tội mà bị cáo đã phạm đây là nguyên tắc xương sống đối với Toà án khi quyết định hình phạt
Thứ hai, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi để quyết định hình phạt
Trước đây BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đưa việc phân loại tội phạm quy định vào Điều 8 Khái niệm tội phạm Tuy nhiên, quy định này vô hình trung gây ra sự nhầm lẫn về thuộc tính của tội phạm, bởi các loại tội phạm chỉ là việc phân hóa mức độ chịu TNHS, là sự chi tiết hóa cho một hành vi khi bị xem là cấu thành tội phạm BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), quy định về phân loại tội phạm tại Điều 9, phân chia 4 loại tội phạm bao gồm: Tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng Việc phân loại tội phạm được xem xét dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tùy vào mức độ mà áp dụng loại hình phạt tương thích, đảm bảo được tính răn đe cũng như yếu tố giáo dục
Việc phân loại tội phạm có ý nghĩa to lớn trong hoạt động điều tra, truy tố và
Trang 3731
xét xử TNHS của các chủ thể vi phạm được xác định ngay tại giai đoạn đầu và từ đó định hướng được các chế tài xử lý phù hợp Sự phân hóa các loại tội phạm được thực hiện theo tính chất nghiêm trọng tăng dần và tương ứng với đó là loại hình phạt và mức khung hình phạt cũng tăng dần Nếu trước đây việc phân loại hình phạt và khung hình phạt để áp dụng cho mỗi loại tội phạm được thực hiện theo phương thức
áp mức tối đa thì hiện nay các nhà làm luật đã liệt kê một cách chi tiết, rõ ràng giúp việc vận dụng luật được thuận tiện hơn Tương tự chủ thể là cá nhân thực hiện hành
vi phạm tội, pháp nhân thương mại khi có các hành vi xâm phạm các mối quan hệ được PLHS bảo vệ cũng phải chịu những chế tài tương ứng với từng loại tội phạm nhất định
Cân nhắc mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội khi quyết định hình là các vụ cháy do những người vì mục đích tư lợi của cá nhân mình hình phạt của mỗi loại tội khác nhau Mức độ nguy hiểm được xác định dựa trên các yếu tố như: Ví dụ như tự đốt nhà mình để được nhận tiền bảo hiểm, nhận nhà mới hoặc được trợ cấp để xây dựng nhà mới hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra Mức độ lỗi: thực tế nhiều trường hợp đối tượng đốt sau đó lại tự mình cứu chữa cháy để được khen ngợi cảnh phạm tội Những tình tiết về trong quá trình điều tra đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
Thứ ba, căn cứ nhân thân người phạm tội
Nhân thân của người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa giúp cho việc giải quyết vụ án đúng đắn, nhất là vấn đề TNHS của người phạm tội Những đặc điểm riêng của đòi hỏi phải xác định rõ động cơ này với động cơ hoặc có ý nghĩa về mặt xã hội của người phạm tội Có thể nói các yếu tố nhân thân có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của con người, ảnh hưởng đến nhận thức của chủ thể Việc các yếu tố đánh giá nhân thân nêu trên như giới tính, tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, trình độ giáo dục, hệ thống giá trị, thái độ, cách cư xử… có ảnh hưởng đến hành vi Chính vì lý do này, nên khi xem xét mức độ phạm tội, mức độ vi phạm hay cả mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của tội phạm, ta cần xem xét kỹ càng và chi tiết các tình tiết liên quan đến nhân thân để đánh giá một cách khách quan nhất về hành vi phạm tội của
Trang 3832
tội phạm
Những đặc điểm của nhân thân tội phạm có thể là tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự…, đây đều là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành vi của người phạm tội
- Yếu tố về độ tuổi ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và hành vi thực hiện của người phạm tội
Không bởi tự nhiên mà pháp luật nước ta lại chia độ tuổi của con người thành các giao đoạn thiếu nhi, thiếu niên và người đủ năng lực hành vi dân sự, đủ năng lực nhận thức Bởi ở mỗi độ tuổi thì khả năng nhận thức và hiểu biết là khác nhau hoàn toàn Việc kiến thức được học và được tiếp cận cũng sẽ bị hạn chế bởi độ tuổi Chính
vì vậy so sánh giữa việc người phạm tội là người chưa đủ khả năng nhận thức và năng lực hành vi sẽ được đánh giá theo khía cạnh pháp luật khác so với chủ thể đã đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực nhận thức
- Yếu tố về môi trường học tập và làm việc của người phạm tội
Đối với các tối tượng phạm tội dưới 18 tuổi thì hầu như môi trường sinh sống của các bạn là trong môi trường nhà trường, mối quan hệ chỉ dừng lại là người thân trong gia đình và bạn bè thầy cô, khi đã qua độ tuổi học tập tại nhà trường, chủ thể đã
đủ 18 tuổi trở lên, các mối quan hệ bắt đầu mở rộng Môi trường sống lúc này cũng
sẽ trở nên đa dạng hơn Việc môi trường tốt hay xấu ảnh hưởng đến hành vi và nhận thức của chủ thể cũng là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng gây ra những tác động tới người phạm tội Do vậy, nếu xem xét mức độ phạm tội, trong trường hợp người phạm tội được sinh ra và lớn lên trong môi trường nhiều tệ nạn, không được giáo dục tốt thì sẽ được xem xét trên một khía cạnh pháp luật khác so với chủ thể phạm tội được sinh ra trong môi trường giáo dục tốt nhưng vẫn phạm tội, biết được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện
- Yếu tố về trình độ văn hóa và lối sống của người phạm tội
Trình độ văn hóa hay còn được hiểu là trình độ học tập của người phạm tội Đây là một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên khi xem xét về hành vi phạm tội
Trang 3933
đối với người phạm tội Bởi lẽ, trong trường hợp trình độ văn hóa thấp kém, việc hiểu biết và tuân thủ pháp luật thường sẽ bị hạn chế dẫn đến việc người phạm tội dễ dàng thực hiện hành vi vi phạm mà không lường trước được hậu quả sẽ xảy ra nghiêm trọng
Về lối sống của người phạm tội cũng là một trong những yếu tố quan trọng của người phạm tội Việc người phạm tội bị ảnh hưởng từ môi trường xấu đẫn đến lối sống bê tha, không quy chuẩn cũng khiến cho hành vi của người phạm tội bị ảnh hưởng theo lối sống và hành vi đó Ngày nay, như chúng ta đã biết việc giới trẻ có lối sống buông thả, không được sự giám sát chu đáo tận tình từ bố mẹ và thầy cô Chính
vì lý do như vậy, nên một bộ phận giới trẻ do không có sự giáo dục tận tình, quan tâm sát sao từ phía thầy cô và nhà trường dẫn đến việc có những tội phạm mới ở độ tuổi học sinh đã vi phạm quy định pháp luật nghiêm trọng dẫn đến những hậu quả khôn lường và những kết cục đau buồn Chính vì lý do đó, sự quan tâm và giáo dục
từ phía nhà trường luôn là những yếu tố quan trọng và cần thiết để giáo dục các bạn trẻ để có lối sống tích cực và lành mạnh
Trong luật hình sự, có những đặc điểm về nhân thân có thể được quy định là dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung hình phạt hoặc là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt Trong quá trình TTHS, việc xác nhân thân của người phạm tội là bước rất quan trọng Nguyên tắc này được đưa ra
để đốt sau đó lại tự mình cứu chữa cháy để được khen ngợi, đã tuyên đạt được mục đích trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội Bao gồm các đặc điểm sau:
Những đặc điểm về nhân thân ảnh hưởng đến hành vi nguy hiểm cho xã hội của động cơ bất mãn, chú ý thu thập các tài liệu, thông tin có liên quan để, tiền sự, tái phạm thường hay tái phạm nguy hiểm, là người thành niên hay chưa thành niên
phạm tội,
Khả năng giáo dục, cải tạo họ như thế nào: Có thái độ tự thú, hợp tác với cơ
quan tố tụng không, có hối cải, lập công chuộc tội hay có thái độ ngoan cố
Có hoàn cảnh đặc biệt không: có hoàn cảnh bản thân hoặc gia đình đặc biệt khó khăn không, có bệnh hiểm nghèo, có phải đối tượng già yếu, phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi hay không,
Trang 4034
Những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội như đã nêu ở trên có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định TNHS của người phạm tội mặc dù nó không phải là yếu tố cấu thành tội Các CQĐT, truy tố và xét xử muốn giải quyết được đúng đắn bất cứ VAHS xác định được nhanh chóng nguyên nhân và động cơ gây cháy người phạm tội Việc nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn Cụ thể:
- Đối với những tội phạm mà cấu thành tội phạm cơ bản hoặc cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ của những tội này có dấu hiệu phản ánh đặc điểm nào
đó thuộc về nhân thân của người phạm tội thì nhân thân người phạm tội và việc nghiên cứu các đặc điểm của nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng đối với việc định tội và định khung hình phạt
- Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt Qua nghiên là các vụ cháy do đối tượng phạm tội gây ra
để tạo điều kiện cho đối tượng che giấu hành vi phạm tội mà đối tượng đã thực hiện trước đó mà còn giúp đánh giá hiểm của hành vi phạm tội để có hình phạt phù hợp
- Bên cạnh đó, việc nghiên cứu các đặc điểm về nhân thân của người phạm tội còn giúp các cơ quan THTT như CQĐT, VKS, Tòa án có cơ sở làm sáng tỏ một số tình tiết của vụ án; đặc biệt là các yếu tố cấu thành tội phạm như lỗi, mục đích, động
cơ phạm tội
Thứ tư, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS
Theo quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì tượng che giấu hành vi phạm tội không chỉ căn cứ căn cứ vào quy định của BLHS, đốt để che giấu tội phạm khác có thể đi liền ngay sau khi phạm tội trước hoặc nhân thân người phạm tội mà còn phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS Như vậy, một trong các căn cứ để cơ quan có thẩm quyền quyết định hình phạt đó là các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS Chỉ những người phạm tội mà
có hành vi được quy định trong BLHS tại Điều 51 các tình tiết giảm nhẹ TNHS thì mới được xem xét giảm nhẹ hình phạt Nếu có hành vi thuộc một trong số các quy định tại Điều 52 Các tình tiết tăng nặng TNHS thì sẽ là căn cứ để tăng nặng TNHS
Tội phạm là một hiện tượng xã hội Tội phạm xảy ra, xâm phạm đến các quan
hệ xã hội khác nhau có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng nếu trường