1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học loài cây lim xẹt (peltophorum tonkinensis a chev) tại huyện na hang, tỉnh tuyên quang​

97 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần

Trang 1

LỲ PÓ HỪ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC LOÀI CÂY LIM XẸT

(Peltophorum tonkinensis A.Chev) TẠI HUYỆN NA HANG,

TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khóa học : 2016 - 2020

Thái Nguyên - năm 2020

Trang 2

LỲ PÓ HỪ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC LOÀI CÂY LIM XẸT

(Peltophorum tonkinensis A.Chev) TẠI HUYỆN NA HANG,

TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai xót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày……tháng……năm 2020

Xác nhận của GVHD Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả

Trước Hội đồng khoa học!

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của Hội đồng chấm Khóa luận Tốt Nghiệp

(Ký, ghi rõ họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của bản thân trong toàn khóa học, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn” Thực tập tốt nghiệp là khâu cực kỳ quan trọng đối với mỗi sinh viên, giúp cho mỗi sinh viên có điều kiện củng cố lại kiến thức đã học tập trong nhà trường để ứng dụng vào thực tế nhằm chuẩn bị hành trang cho công việc sau này Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên và sự nhất trí của ban

chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học loài Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang” Sau thời gian thực tập đến nay tôi đã

hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Có được kết quả như ngày hôm nay ngoài sự

cố gắng nỗ lực của bản thân tôi còn được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS Nguyễn Thị Thoa Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của các thầy giáo, cô giáo trong khoa và sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ công chức, viên chức và

bà con nhân dân hai xã thuộc huyện Na Hang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, nhưng thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy giáo cô giáo và các bạn

để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Sinh viên

Lỳ Pó Hừ

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Kết quả điều tra trên 12 OTC có loài cây Lim xẹt phân bố 42 Bảng 4.2: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao nơi có loài cây Lim xẹt phân bố tại vị trí chân đồi 43 Bảng 4.3: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao nơi có loài cây Lim xẹt phân bố tại vị trí sườn đồi 44 Bảng 4.4: Hình thái phẫu diện đất tại khu vực Lim xẹt phân bố 48 Bảng 4.5: Đặc điểm tầng cây bụi và thảm tươi nơi có loài Lim xẹt 49 Bảng 4.6: Tổ thành cây tái sinh ở nơi có Lim xẹt phân bố tại vị trí chân đồi 50 Bảng 4.7: Tổ thành cây tái sinh ở nơi có Lim xẹt phân bố tại vị trí sườn đồi 51 Bảng 4.8: Mật độ tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng 52 Bảng 4.9: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 54 Bảng 4.10: Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của lâm phần và

Lim xẹt 55

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Sơ đồ nghiên cứu tổng quát 26

Hình 3.2: Hình dạng, kích thước OTC và sơ đồ bố trí ODB 32

Hình 4.1: Hình thái thân cây Lim xẹt 39

Hình 4.2: Mặt trên lá Lim xẹt 40

Hình 4.3: Mặt dưới lá Lim xẹt 40

Hình 4.4: Hoa Lim xẹt 41

Hình 4.5: Quả Lim xẹt 41

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.2 Nghiên cứu trên thế giới 5

2.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học thực vật 5

2.2.2 Nghiên cứu về họ đậu (Fabaceae) 9

2.3 Nghiên cứu ở Việt Nam 11

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học thực vật 11

2.3.2 Nghiên cứu về họ đậu (Fabaceae) 14

2.3.3 Nghiên cứu về loài cây Lim xẹt(Peltophorum tonkinensis A.Chev) 15

2.3.4 Thảo luận 16

2.4 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 16

2.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 16

2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 19

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

Trang 9

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 25

3.4.2 Phương pháp kế thừa 27

3.4.3 Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp 27

3.4.4 Phương pháp nội nghiệp 34

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài cây Lim xẹt 39

4.1.1 Đặc điểm hình thái thân cây 39

4.1.2 Đặc điểm hình thái lá 39

4.1.3 Đặc điểm hình thái hoa, quả 40

4.2 Đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ nơi có loài cây Lim xẹt phân bố 41

4.2.1 Tổng hợp thông tin trên các OTC đã lập 41

4.2.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ 43

4.2.3 Cấu trúc tầng thứ rừng nơi có Lim xẹt phân bố 45

4.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái nơi loài cây Lim xẹt phân bố 46

4.3.1 Đặc điểm khí hậu nơi loài cây Lim xẹt phân bố 46

4.3.2 Đặc điểm phân bố của cây Lim xẹt theo độ cao 47

4.3.3 Đặc điểm đất đai nơi có loài cây Lim xẹt phân bố 48

4.3.4 Đặc điểm tầng cây bụi và thảm tươi nơi có loài cây Lim xẹt phân bố 49

4.4 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên nơi có loài Lim xẹt phân bố 50

4.4.1 Tổ thành cây tái sinh 50

4.4.2 Đặc điểm cấu trúc mật độ và tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng 52

4.4.3 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 53

4.4.4 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 55

4.5 Đề xuất các biện pháp bảo vệ và phát triển loài Lim xẹt 56

4.5.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 57

4.5.2 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 57

Trang 10

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Tồn tại 60

5.3 Đề nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 11

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay ở Việt Nam, ngành Lâm nghiệp đang phát triển rất nhanh chóng, song những thách thức kèm theo sự phát triển sự nhanh chóng đó cũng không nhỏ, một trong số đó là vấn đề tài nguyên rừng ngày càng suy thoái Chúng ta cần giải quyết vấn đề vừa đáp ứng được sự phát triển của lâm nghiệp chế biến mà không làm ảnh hưởng tới phát triển môi trường rừng Từ đó, đặt ra câu hỏi tìm kiếm một loại cây trồng mới vừa phát triển nhanh đem lại hiệu quả kinh tế, có phẩm chất gỗ tốt đáp ứng được ngành công nghiệp đồ gia dụng cũng như bảo vệ được tài nguyên rừng

Tính đến hết ngày 31/12/2019, tổng diện tích đất có rừng toàn quốc là trên 14,6 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên gần 10,3 triệu ha, rừng trồng trên 4,3 triệu ha Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc là trên 13,8 triệu ha, tỷ lệ che phủ là 41,89%

Mặc dù đã có nhiều hội thảo về cơ cấu cây trồng cho các vùng kinh tế lâm nghiệp và hệ thống cơ cấu cây trồng lâm nghiệp đã được Bộ Lâm nghiệp Tập đoàn cây lâm nghiệp cho các vùng đã xác định để gây tạo, trồng phục hồi rừng, nhưng nhiều diện tích trồng không thành rừng, trong đó có nguyên nhân

kỹ thuật cần được xem xét Những năm gần đây trong công cuộc trồng rừng của nước ta đang có xu hướng bổ sung cơ cấu cây trồng bằng các loài cây địa

phương Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis), họ Vang (Caesalpiniaceae), hoa

cây Lim xẹt thường mọc thành chùm ở phía đầu cành, hoa nhỏ khoảng 2 cm,

có 4 cánh màu vàng có lông Quả dạng quả đậu dẹt dài từ 10 – 12 cm Cây Lim xẹt được trồng để tạo cảnh quan, lấy bóng mát cho các khu đô thị, trường học, bệnh viện, công viên… Cây còn được trồng nhiều tại vùng ven biển để chắn gió, cũng như chống sạt lở đất Gỗ của cây Lim xẹt có giá trị kinh tế cao

Trang 12

Vì vậy, thực hiện công việc này bằng các giải pháp lâm sinh như

"khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung là một giải pháp lợi dụng triệt để khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng thông qua các biện pháp bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh và trồng bổ sung cần thiết trên

cơ sở sinh vật học - sinh thái học lại càng cấp thiết, nên tôi đã tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học loài Lim xẹt

(Peltophorum tonkinensis A.Chev) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ nơi có loài Lim xẹt phân bố

- Xác định được một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng và loài Lim xẹt tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển loài Lim xẹt nói riêng và các loài cây bản địa nói chung

1.3 Ý nghĩa đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Giúp sinh viên có những kiến thức cơ bản về đặc điểm sinh học, sinh thái, sự phân bố và sinh trưởng của cây Lim xẹt Giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn điều tra rừng, nhận biết cây rừng Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn loài thực vật quý hiếm nói chung và cây Lim xẹt nói riêng trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về loài cây Lim xẹt

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh vật học của loài Lim xẹt nhằm đề xuất một số biện pháp bảo vệ và phát triển loài

Trang 13

Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc việc bảo vệ loài Lim xẹt trong tự nhiên, cũng như là cơ sở cho việc gây trồng, gieo ươm

để phát triển loài này Góp phần bảo vệ vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan môi trường, phát triển kinh tế - xã hội của huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

Trang 14

Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học

Cây Lim xẹt là cây thân gỗ lớn, có chiều cao từ 20 - 30 mét, tán tròn và cành cây tập trung trên ngọn, thân cây có vỏ đen, sần sùi, khi nhỏ có màu đỏ nâu Lá dạng lá kép lông chim 2 lần chẵn, có lá chét nhỏ, xếp đều nhau, lá cây

có màu xanh thẫm ở mặt trên, mặt dưới có xanh trắng khác biệt, lá cây khá nhỏ và cây rụng lá theo mùa Hoa Lim xẹt có màu vàng tươi, mọc theo chùm, cánh hoa nhỏ, nhăn và khá mềm mại, sau khi hoa rụng quả sẽ hình thành, quả dạng dẹp và có cánh, trong quả có chứa từ 2 - 4 hạt khi non có màu xanh, khi già chuyển thành màu xám trắng

Đặc điểm sinh vật học: là một môn khoa học về sự sống (từ tiếng Anh: biology bắt nguồn từ Hy Lạp với bios là sự sống và logos là môn học)

Nó là một nhánh của khoa học tự nhiên, tập trung nghiên cứu các cá thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật (ví dụ: cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi trường sống), cách thức các cá thể và loài tồn tại (ví dụ: nguồn gốc, sự tiến hóa và phân bố của chúng) tròn

Đặc điểm sinh học: là sự thay đổi đặc tính di truyền của một quần thể

sinh học qua những thế hệ nối tiếp nhau Những đặc tính này là sự biểu hiện của các gen được truyền từ bố mẹ sang con cái thông qua quá trình sinh sản Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt của những đặc tính đó trong quần thể là do kết quả của đột biến, tái tổ hợp di truyền và nguồn gốc các biến dị di truyền khác Hiện tượng tiến hóa xảy ra khi các tác nhân tiến hóa như chọn lọc tự nhiên (bao gồm cả chọc lọc giới tính) và trôi dạt di truyền tác động lên

sự đa dạng của những đặc tính này, dẫn đến kết quả là vài đặc tính sẽ trở nên phổ biến hoặc hiếm gặp hơn ở trong quần thể Chính nhờ quá trình tiến hóa

Trang 15

này đã làm nảy sinh sự đa dạng ở mọi mức độ tổ chức sinh học bao gồm loài, các cá thể sinh vật và cả các phân tử như DNA và protein.

Phân bố: Cây Lim xẹt tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai thác rất

mạnh, trước đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và đóng đồ dùng trong gia đình Số cá thể trưởng thành đã bị chặt phá > 50% Tuy có ở các Vườn quốc gia Ba Bể, Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, Vườn quốc gia Xuân Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,… và các Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, Hữu Liên, Na Hang, Bắc Mê, Bát Đại Sơn, Phong Quang, Tây Côn Lĩnh, Kim Hỷ, Nam Xuân Lạc, Thần Sa - Phượng Hoàng,… nhưng tại những nơi đó vẫn bị khai thác trộm Loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao ngoài thiên nhiên

2.2 Nghiên cứu trên thế giới

2.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học thực vật

Thuật ngữ sinh thái học (Ecology) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Oikos và logos, oikos là nhà hay nơi ở và logos là khoa học hay học thuật Nếu hiểu một cách đơn giản (nghĩa hẹp) thì sinh thái học là khoa học nghiên cứu về “nhà”, “nơi ở” của sinh vật Hiểu rộng hơn, sinh thái học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật hoặc một nhóm hay nhiều nhóm sinh vật với môi trường xung quanh Hoặc một định nghĩa khác về sinh thái học: Sinh thái học là một trong những môn học cơ sở của Sinh học, nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với sinh vật và sinh vật với môi trường ở mọi mức tổ chức khác nhau, từ cá thể, quần thể, đến quần xã và hệ sinh thái Thuật ngữ sinh thái học xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX Một định nghĩa chung lần đầu tiên về sinh thái học được nhà khoa học người Đức là Haeckel E Nêu

ra vào năm 1869 Theo ông: “Chúng ta đang hiểu về tổng giá trị kinh tế của tự nhiên: nghiên cứu tổ hợp các mối tương tác của con vật với môi trường của

Trang 16

nó và trước tiên là mối quan hệ “bạn bè” và thù địch với một nhóm động thực vật mà con vật đó tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp”(Baur G.N, (1962)[1] Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm về sinh thái học thực vật nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa các loài thực vật với nhau và giữa chúng với điều kiện nơi mọc, các phương pháp nghiên cứu đó đã được trình bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen, D.Wrattenand, Gary L.A.ry (1986) tác giả đã chỉ rõ sự thích nghi của các loài với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, nhịp điệu khí hậu

E.P Odum (1971) đã phân chia sinh thái học thực vật thành sinh thái học

cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài Trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý Ngoài ra mối quan hệ giữa yếu

tố sinh thái, sinh trưởng có thể định hướng bằng các phương pháp toán học thường được mô phỏng, phản ánh các đặc điểm quy luật tương quan phức tạp trong tự nhiên, tác giả cũng đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, độ nhiệt, độ ẩm, nhịp điệu khí hậu

Richards P.W (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng, tương ứng với chiều cao là 6 - 12 m, 12 - 18 m, 18 - 24 m, 24 - 30 m, 30 - 36 m, 36 - 42 m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao Odum E P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả Richards P.W (1952) theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng Ông nhận định:

"Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo

và cũng phong phú nhất về mặt loài cây" Như vậy, nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao còn mang tính cơ giới, nên chưa phản ánh được sự phân tầng

Trang 17

phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng đã và đang được chuyển từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống

kê toán học và tin học Odum E.P (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất Balley (1972) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông, Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết được những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được vận dụng trong đề tài Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây

Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình

thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về

đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp

cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng Tian - XiaoRui trong công trình nghiên cứu về khả năng chịu lửa của

một số loài cây trồng rừng đã rút ra kết luận, Vối thuốc (S wallichii) có sức

chống lửa tốt nhất trong tổng số 12 loài cây nghiên cứu Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006) Vối thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi và ngay cả

Trang 18

nơi ngập nước có độ mặn nhẹ Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xương xẩu khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy Vối thuốc

là loài cây tiên phong sau nương rẫy (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009)[12] Ngoài ra, những nghiên cứu về các đặc tính sinh học và sinh thái học cá thể còn được thực hiện bởi nhiều nhà khoa khác như: I.S.Mankina và I.L.Xeniken (1884, 1980), Uxurai (1891), V.N.Luibimenco (1905,1908), I.Vizner (1907),… Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để chúng tôi lựa chọn hướng đi và các nội dung của nghiên cứu này

Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm

Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập) Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau (dẫn theo Bùi Phi Hoàng, 2012)[13]

Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ nghiên

cứu hệ thực vật có thể Tolmachop A.I cho rằng“Chỉ cần điều tra trên một diện

Trang 19

tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có

sự phân hoá mặt địa lý Ông gọi đó là hệ thực vật có thể Tolmachop đã đưa ra

một nhận định là số loài của một hệ thực vật có thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường

là 1500 - 2000 loài (Dẫn theo Nguyễn Toàn Thắng, 2008)[11]

Về vật hậu học: hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)[16] trong cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” cũng đã đưa

ra phương pháp nghiên cứu về vật hậu của loài cây

2.2.2 Nghiên cứu về họ đậu (Fabaceae)

Họ Đậu (danh pháp khoa học: Fabaceae) là một họ thực vật Theo định nghĩa của hệ thống APG thì nó là một họ lớn: Fabaceae sensu lato (nghĩa rộng) ICBN cho phép sử dụng cả Fabaceae (nghĩa rộng) và Leguminosae

như là các tên gọi thực vật học tương đương nhau ở mức độ họ Hệ thống

APG sử dụng tên gọi Fabaceae, Lê Mộng Châu, Lê Thị Huyên (2000)

Tuy nhiên, họ Fabaceae có thể định nghĩa khác đi như là Fabaceae sensu stricto (nghĩa hẹp), ví dụ như trong hệ thống Cronquist Trong các phân loại như thế thì các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và Vang (Caesalpinioideae) được nâng lên thành cấp họ với tên gọi tương ứng là Mimosaceae và Caesalpiniaceae Nhóm còn lại có các tên gọi thực vật học tương ứng là Fabaceae và Papilionaceae (nhưng không phải là Leguminosae) APG coi nhóm này ở mức độ phân họ, với tên gọi Faboideae (tên gọi tương đương của nó trong Leguminosae là Papilionoideae) Lê Mộng Châu, Lê Thị

Huyên (2000) [18]

Trang 20

Khi tra cứu hay tham khảo bất kỳ cuốn sách nào có sử dụng tên gọi

Fabaceae, cần phải lưu ý là tên gọi này dùng trong ngữ cảnh nào Các tên gọi như Leguminosae hay Papilionaceae là rõ ràng và các nhà phân loại học dùng các từ này chủ yếu cùng với tên gọi Leguminosae Leguminosae (hay Fabaceae sensu lato) là họ lớn thứ hai của thực vật có hoa với 650 chi và trên

18.000 loài, Lê Mộng Châu, Lê Thị Huyên (2000) [18] Các tên gọi thông thường chủ yếu của các loài trong họ này là đỗ hay đậu và họ này chứa một số loài cây quan trọng bậc nhất trong cung cấp thực phẩm cho con người, chẳng hạn các loại đậu, đỗ, lạc, đậu tương và đậu lăng v.v Các loài khác trong họ cũng là các nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm hoặc để làm phân xanh, chẳng hạn đậu lupin, cỏ ba lá, muồng hay đậu tương Một số

chi như Laburnum, Robinia, Gleditsia, Acacia, Mimosa và Delonix là các loại

cây cảnh Một số loài còn có các tính chất y học hoặc diệt trừ sâu bọ (chẳng

hạn Derris) hay sản sinh ra các chất quan trọng như gôm Ả Rập, tanin, thuốc

nhuộm hoặc nhựa Một số loài, như sắn dây, một loài có nguồn gốc ở khu vực Đông Á, đầu tiên được trồng tại miền đông nam Hoa Kỳ nhằm cải tạo đất và làm thức ăn cho gia súc, nhưng đã nhanh chóng trở thành một loài cỏ dại xâm hại nguy hiểm có xu hướng phát triển trên mọi thứ đất và chèn ép nhiều loài bản địa

Tất cả các thành viên trong họ này đều có hoa chứa 5 cánh hoa, trong

đó bầu nhụy lớn khi phát triển được sẽ tạo ra quả thuộc loại quả đậu, hai vỏ của nó có thể tách đôi, bên trong chứa nhiều hạt trong các khoang riêng rẽ Các loài trong họ này theo truyền thống được phân loại trong ba phân họ, đôi

khi được nâng lên thành họ trong bộ Đậu (Fabales), trên cơ sở hình thái học của hoa (đặc biệt là hình dạng cánh hoa): Phân họ Vang (Caesalpinioideae), hay họ Vang - Caesalpiniaceae: Hoa của chúng đối xứng hai bên, nhưng thay đổi nhiều tùy theo từng chi cụ thể, chẳng hạn trong chi Cercis thì hoa tương

Trang 21

tự như hoa của các loài trong phân họ Faboideae, trong khi tại chi Bauhinia

thì nó là đối xứng với 5 cánh hoa bằng nhau, Nguyễn Bá (2006) [2]

Phân họ Trinh nữ (Mimosoideae), hay họ Trinh nữ - Mimosaceae: Các

cánh hoa nhỏ và thông thường có dạng hình cầu hay là cụm hoa dạng bông và các nhị hoa là bộ phận sặc sỡ nhất của hoa, Nguyễn Bá (2006)

Phân họ Đậu (Faboideae hay Papilionoideae) (họ Fabaceae nghĩa hẹp hay họ Papilionaceae): Một cánh hoa lớn và có nếp gấp trên nó, hai cánh hoa

cận kề mọc bên cạnh còn hai cánh hoa dưới chúng nối liền với nhau ở đáy, tạo thành một cấu trúc tương tự như cái thuyền con Một đặc trưng nổi bật của các loài cây thuộc họ Đậu là chúng là các loại cây chủ cho nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng Các loại vi khuẩn này được biết đến như là

vi khuẩn nốt rễ (rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và

chuyển hóa nó thành các dạng chất mà cây có thể hấp thụ được (NO3- hay NH3) Hoạt động này được gọi là cố định đạm.Cây đậu, trong vai trò của cây chủ, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh

2.3 Nghiên cứu ở Việt Nam

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học thực vật

Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài cây bản địa đã được thực hiện, và có thể tổng hợp và liệt kê ra đây một số nghiên cứu có liên quan như sau: Bảo Huy (1993) [8] trong nghiên cứu “Góp phần nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng nửa rụng lá – rụng lá ưu thế Bằng lăng

(Lagerstroemia calyculata) làm cơ sở đề xuất giải pháp lỹ thuật khai thác -

nuôi dưỡng ở Đắk Lắk, Tây Nguyên” đã đề cập đến nhiều nội dung về các đặc điểm sinh học và sinh thái học của loài, các tương quan trong nghiên cứu lâm học, tái sinh, cấu trúc tổ thành, nhưng tập trung theo điều tra rừng Các thành phần đi kèm chính với Bằng lăng là Muồng đen (Cassia siamea), Bình

Trang 22

linh (Vitex pubescens), Kháo (Machulus odoratissima), Quế rừng (Cinnamomum iners), Căm xe (Xylia xylocarpa), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum), Gõ đỏ ( Afzelia xylocarpa).

Thái Văn Trừng (1983) [14] trong nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng ở Kon Hà Nừng đã tổng kết rằng loài cây có tổ thành cao nhất là Giẻ (7,05%) bên cạnh các loài cùng họ là Giẻ đỏ (1,06%) và Giẻ cau (0,42%), tiếp đến là loài Trâm (Syzygium sp.) chiếm 6,56% Các loài cây khác có tổ thành

từ 1%-5% gồm có Chò đen, Hoóc quang, Hoàng đàn giả, Thông nàng, Trường, Giổi, Bời lời, Dung, Chò xót, Gội, Re, Vạng trứng, Cóc đá, Hoa khế, Dầu, Sến mủ, Bằng lăng Các ưu hợp thực vật gồm có: Giẻ-Trâm Hoóc quang, Giẻ-Bời lời-Trâm, Trâm-Vạng trứng-Giẻ, Chò đen-Trâm Trám; Bằng lăng-Chò đen-Thành ngạnh, Cà chít-Dầu, Trâm-Giẻ-Giổi Kết luận cũng đã cho thấy rừng tự nhiên Kon Hà Nừng hiếm thấy có loài cây ưu thế rõ rệt, ngoại trừ một hai hào Cà chít, Cẩm liên, những loài mà mỗi khi dã có kiều kiện tồn tại và phát triển được, chúng chiếm ưu thế tuyệt đối hình thành nên những lâm phần có đặc điểm tiếp cận kiểu hỗn giao song ưu Các loài cây trong cùng nhóm loài ưu thế thường có phạm vi phân bố khá trùng hợp nhau

về điều kiện lập địa

Nguyễn Bá Chất (1996) [7] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa Trần Minh Tuấn (1997) [21] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội (Hà Tây cũ), ngoài những kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này Vũ

Trang 23

Văn Cần (1997) [17] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân bố, tác giả cũng

đã đưa ra những kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi Phan Nguyên Xuất (1999) [15] khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học loài

Thông nàng (Podocarpus imbrricatus Blume) tại tỉnh Gia Lai đã làm rõ được

các đặc điểm hình thái, vật hậu của loài cũng như các đặc trưng sinh thái như tái sinh, cấu trúc rừng nơi có Thông nàng sinh sống Kết quả nêu rõ trong các lâm phần có Thông nàng phân bố thì chúng luôn là loài cây chiếm ưu thế ở tầng cao nhất của lâm phần Thành phần đi kèm với nó chủ yếu là Trâm, Bời lời, Mãi táp, Re, Công, Hồng tùng, Hoa khế, Chò xót, Giẻ Về tái sinh thì loài

có thể tái sinh ở các cấp độ tàn che khác nhau nhưng cao nhất là 0,3-0,4; và tái sinh ở trong, mép và ngoài tán của cây mẹ, nhưng ở mép tán là cao nhất Nghiên cứu cũng chỉ ra một số định hướng biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu đối với loài Thông nàng ở Đắk Lắk Nguyễn Thanh Bình (2003) [18] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang Với những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc

và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả còn cho rằng phân bố N-H và N-D đều có một đỉnh; tương quan giữa Hvn và D1,3 có dạng phương trình Logarit

Lê Phương Triều (2003) [19] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3

Trang 24

Vương Hữu Nhị (2003) [10] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học

và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc - Tây Nguyên, từ kết quả nghiên cứu với những kết luận về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên, tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này Vũ Văn Khoát (2007)[20] trong “Nghiên cứu một

số đặc tính sinh học của loài Dầu đồng và cà chít phân bố trong rừng khộp ở Tây Nguyên” đã kết luận được các đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học cơ bản cảu hai loài trên Dầu đồng có mối quan hệ yếu với Cà chít và mối quan hệ với một số loài cây bạn như Chiêu liêu nghệ, Cẩm liên, Chiêu liêu khế, Bồ kết rừng, Cẩm xe là ngẫu nhiên Nó với các loài cây bạn này có thể chung sống với nhau suốt đời mà không có sự đào thải nhau về mặt sinh học Đối với Cà chít, nghiên cứu chỉ ra rằng loài này có quan với các loài bạn như Chiêu liêu khế, Thẩu tấu, Lòng Mang, Cẩm liên, Muồng và quan hệ với nhau bền vững

2.3.2 Nghiên cứu về họ đậu (Fabaceae)

Họ Đậu hay còn gọi họ Cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae, đồng nghĩa: Leguminosae, Papilionaceae) là một họ thực vật trong bộ Đậu Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng

730 chi và 19.400 loài Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng

9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự Ước tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ Ngoài ra,

họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu

Mỹ và châu Phi Cho đến nay vẫn còn những tranh cãi về việc họ này bao gồm

3 phân họ hay tách các phân họ của nó thành các họ riêng biệt Có rất nhiều thông tin về dữ liệu phân tử và hình thái học chứng minh họ Đậu là một

họ đơn ngành Quan điểm này được xem xét không chỉ ở cấp độ tổng hợp khi

Trang 25

so sánh các nhóm khác nhau trong họ này và các quan hệ họ hàng của trên ADN Các nghiên cứu này xác nhận rằng họ Đậu là một nhóm đơn ngành

và có quan hệ gần gũi với các họ trong bộ Đậu là họ Viễn chí (Polygalaceae), họ Suyên biển (Surianaceae), và họ ( Quillajaceae ).

2.3.3 Nghiên cứu về loài cây Lim xẹt(Peltophorum tonkinensis A.Chev)

Những nghiên cứu về cây Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) ở

nước ta chưa có nhiều Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu về cây Lim xẹt như sau:

Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000)[6] cho biết Lim xẹt

(Peltophorum tonkinensis A.Chev) là loài cây thuộc phân họ Vang (Caesalpiniaceae R.Br) nằm trong họ lớn là họ Đậu (Fabaceae hay

Leguminosae) phân bố nhiều ở một số tỉnh như Vĩnh Phúc, Phú Thọ…, là loài cây có khả năng tái sinh hạt tốt ở chỗ trống hoặc nơi có độ tàn che nhẹ, có thể chọn làm cây cải tạo rừng nghèo hoặc khoanh nuôi trong rừng đang phục hồi

Gỗ Lim xẹt có màu hồng, thớ tương đối mịn, ít bị mối mọt, cong vênh, được dùng để đóng đồ mộc và xây dựng nhà cửa Đặc biệt Lim xẹt có thể sử dụng làm cây xanh đô thị và được đánh giá là một trong những loài cây có tiềm năng mang lại hiệu quả kinh tế cao Lim xẹt có đặc điểm hình thái là cây gỗ nhỡ, chiều cao có thể đạt 18-20m, đường kính D1.3 đạt 22-23cm.Thân tròn thẳng, tán thưa, đường kính tán đạt trung bình là 5,64 m, cành non phủ nhiều lông màu nâu rỉ sắt, những cây già đã có hiện tượng vỏ bong vảy Lá của Lim xẹt là lá kép lông chim 2 lần chẵn, cuống chính dài 7-16cm không có tuyến Cuống thứ cấp dài 12cm Lá chét mọc đối hình trái xoan thuôn đều gần tròn, đuôi nêm và hơi lệch, dài 1-2cm, rộng 0,5-1cm Hoa loài Lim Xẹt là hoa tự chùm viên chùy ở nách lá gần đầu cành, nụ hình cầu, đường kính dài 0,8-0,9cm, lá bắc sớm rụng Hoa lưỡng tính gần đều đài hợp gốc xẻ 5 thùy, xếp lợp Tràng 5 cánh màu vàng, có cuống ngắn; nhị 10 rời, vươn ra ngoài hoa,

Trang 26

gốc chỉ nhị phủ nhiều lông dài màu nâu gỉ sắt; vòi nhụy dài, đầu nhị nguyên Quả đậu hình trái xoan dài, dẹt, mép mỏng thành cánh, dài 9-13cm, rộng 2,5-3cm Khi non quả màu tím, khi chín màu nâu bóng Không tự nứt Hạt nằm chéo góc 450 trong quả, màu cánh gián, bóng và cứng

Phạm Thị Nga (2000) [9] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và

phân bố của loài Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev), tác giả đã nhận

định loài Lim xẹt là loài có khả năng phân bố rộng tại các tỉnh vùng núi phía Bắc, là loài cây ưu sáng cực đoan thường gặp ở những trạng thái rừng bị tác động mạnh, cấu trúc rừng bị phá vỡ, khả năng tái sinh bằng hạt và bằng chồi của Lim xẹt rất tốt, đây là loài cây phù hợp cho mục đích làm loài cây tiên phong trong việc phục hồi rừng

2.3.4 Thảo luận

Từ các công trình nghiên cứu được trình bày như trên, ta thấy các công trình nghiên cứu lý thuyết về hình thái, vật hậu, sinh thái cũng như các nghiên cứu về tái sinh, mật độ, cấu trúc, nhưng những nghiên cứu về loài cây Lim xẹt còn rất hạn chế nên thiếu các cơ sở khoa học để chọn tạo và nhân giống, có một số công trình nghiên cứu về Lim xẹt nhưng lại chưa có công trình nào hoàn thiện Dựa trên những kiến thức trên là cơ sở cho tôi nghiên cứu về loài cây này

2.4 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Trang 27

Tuyên Quang); Phía Đông giáp với huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); Phía Tây giáp với huyên Bắc Quang (tỉnh Hà Giang)

2.4.1.2 Địa hình

Địa hình đồi núi thuộc cánh cung Sông Gâm, có nhiều núi đá vôi, tập trung ở phía Nam và phía Bắc, độ cao thấp dần từ Bắc xuống Nam, Na Hangđược chia thành 3 tiểu vùng

Tiểu vùng khu A, ở phía Nam của huyện gồm 3 xã và 1 thị trấn, so với

2 khu B, C, giao thông ở khu A thuận lợi hơn

Tiểu vùng khu B, ở phía Bắc của huyện gồm 5 xã, địa hình có nhiều núi

đá cao, xã xa nhất là Xuân Lập, cách trung tâm huyện 51 km

Tiểu vùng khu C, ở phía Đông và Bắc của huyện gồm 8 xã, địa hình chủ yếu là núi cao

Na Hang nằm trong lưu vực của 2 sông lớn: Sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua núi Đổ xã Thượng Tân huyện Bắc Mê vào địa phận Na Hang với chiều dài 53 km, hướng sông chảy từ Bắc xuống Nam; Sông Năng bắt nguồn từ tỉnh Cao Bằng xuống hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) chảy qua Thác Đầu Đẳng vào địa bàn huyện Na Hang với chiều dài 25 km; hai sông hợp với nhau tại chân núi Pắc Tạ cách thượng lưu đập thuỷ điện 2 km Ngoài ra 2 con sông Gâm

và sông Năng, Na Hang còn có nhiều khe, lạch, suối nhỏ và trung bình

Thổ nhưỡng: Nhìn chung đất đai phù hợp với nhiều loại cây ngắn ngày

và dài ngày như: Lúa, ngô, khoai, sắn, nhãn, vải, chè, keo tai tượng, mỡ…

Trang 28

2.4.1.4 Khí hậu thuỷ văn

* Khí hậu:

Là một xã vùng cao, mang đặc điểm của vùng đồi Bắc Bộ Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm chia thành bốn mùa rõ rệt nên rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng và bền vững, đồng thời tạo ra sự đa dạng và phát triển trong hệ sinh thái rừng

* Điều kiện thủy văn:

Địa bàn xã bị chia cắt bởi khe suối quanh co, uốn khúc được bắt nguồn

từ các dãy núi và thượng nguồn

Đặc điểm cạn về mùa đông, sẵn nước về mùa hè nhưng do địa hình dốc

và hẹp nên dễ gây ra lũ nhanh và cường độ lớn

Na Hang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm chia thành 2 mùa, mùa đông lạnh, khô hạn và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 22 – 250C

2.4.1.5 Hiện trạng sử dụng đất

Na Hang là huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, gồm 21 xã và một thị trấn với 14 dân tộc anh em sinh sống Tổng diện tích rừng tự nhiên là 147.166,00 ha

- Đất sản xuất nông nghiệp là 7.583,93 ha (chiếm 5,15%)

- Đất lâm nghiệp là 103.959,21 ha (chiếm 70,64%)

- Đất chưa sử dụng là 34.350,87 ha (chiếm 23,34%)

2.4.1.6 Tài nguyên thực vật rừng

Tài nguyên rừng huyện Na Hang diện tích 22.401,5 ha trong đó rừng tự nhiên và rừng trồng:

- Đối với rừng tự nhiên: 21.251,5 ha

- Đối với rừng trồng: 1.150 ha

Trang 29

2.4.1.7 Tài nguyên động vật rừng

Tiếp giáp với khu bảo tồn thiên nhiên Chạm Chu nói chung và khu vực danh thắng thác Bản Ba có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho thảm động, thực vật phát triển tạo sự phong phú và đa dạng sinh học, trong đó có nhiều loài động vật đã được ghi trong sách Đỏ của Việt Nam và Thế giới như loài

Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) - loài động vật đặc hữu của Việt

Nam, đã được ghi vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007, Sách đỏ thế giới năm

2000 và được ghi vào phụ lục I của công ước CITES; loài Voọc đen má trắng

(Trachypithecus francoisi) - là loài Voọc quý hiếm ở Việt Nam; loài Khỉ mặt

đỏ (Macaca artoides); loài Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus)

2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.4.2.1 Thành phần dân tộc, dân số

Theo thống kê của huyện Na Hang đến năm 2019 Dân số khoảng 54.742 người Na Hang là nơi sinh sống của rất nhiều dân tộc Các dân tộc Na Hang là: dân tộc Tày chiếm khoảng 57,52%, dân tộc Dao chiếm khoảng 23,38%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 9,72%, dân tộc H’Mông chiếm khoảng 5,31%, còn lại là các dân tộc khác

2.4.2.2 Phát triển kinh tế (nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, dịch vụ )

Năm 2019 toàn huyện Na Hang có 54.742 hộ huyện Na Hang trên cơ sở 68,8 ha đất với 87 nhân khẩu của xã Thanh Tương; 675,2 ha đất với 840 nhân khẩu của xã Năng Khả và 925 ha đất với 3.650 nhân khẩu của xã Vĩnh Yên

Ngày 15 tháng 7 năm 1999, chia xã Đức Xuân thành hai xã Xuân Tân

Trang 30

Yên, Sinh Long, Sơn Phú, Thanh Tương, Thượng Giáp, Thượng Lâm, Thượng Nông, Xuân Lập, Yên Hoa

Từ ngày 28 tháng 1 năm 2011, tách 5 xã: Lăng Can, Thượng Lâm, Khuôn Hà, Phúc Yên, Xuân Lập để thành lập huyện Lâm Bình

Huyện Na Hang còn lại 1 thị trấn và 11 xã như hiện nay

 Sản xuất nông nghiệp

Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch giao, tập trung vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu trồng, vật nuôi, đưa ra các loại giống cây con có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, có hiệu quả kinh tế trên diện tích cây trồng chỉ đạo sản xuất vụ đông năm 2019; tổ chức triển khai và thực hiện các

đề án phát triển sản xuất Cam sành Tuyên Quang

 Về lâm nghiệp

Hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả kinh tế của 3 mô hình trồng cây lâm nghiệp: Keo, mỡ, sơn Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2017 đến 2019, huyện Na Hang đã giao đất, giao rừng cho 1.193 hộ với diện tích 2.317,54 ha

và trồng mới được 6.371,5 ha và vượt kế hoạch đề ra Công tác quản lý và bảo

vệ rừng được thực hiện thông qua công tác tuyên truyền, tổ chức tuần tra,

chống cháy rừng, tổ chức chi trả dịch vụ môi trường rừng…

Kết quả điều tra các hộ dân trồng cây lâm nghiệp: mỡ, sơn, keo cho thấy cây Sơn có lợi nhuận bình quân năm lớn nhất, cây keo có lợi nhuận bình quân năm nhỏ nhất

Do vậy, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Na Hang cần phải thực hiện các giải pháp đồng bộ về: công tác tổ chức, cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật và nâng cao nguồn nhân lực tại địa phương

Trang 31

 Chăn nuôi, thú y:

Chăn nuôi phát triển ổn định; Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt gần 680 tấn; thực hiện công tác trồng rừng đạt 108,7% kế hoạch; giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt 1 nghìn 236,7 tỷ đồng; Thu ngân sách trên địa bàn ước đạt gần 25 tỷ đồng, vượt kế hoạch đề ra Văn hóa xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực, đời sống của đồng bào được nâng cao rõ rệt Đây là tiền đề quan trọng để địa phương đưa thị trấn Na Hang sớm trở thành đô thị loại IV trong tương lai

 Thương mại, dịch vụ và du lịch

- Thực hiện thu chi ngân sách trong dự toán giao đảm bảo đúng luật ngân

sách, quyết định giao chỉ tiêu thu các khoản quỹ công chuyên dùng cho các thôn, bản để tổ chức vận động thu, nộp cấp trên Thực hiện quyết toán ngân sách năm 2018 với huyện, công khai dự toán ngân sách năm 2019 theo quy định, đảm bảo sự giám sát, kiểm tra tình hình thu chi ngân sách Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, thực hành tiết kiệm chống lãng phí Đảm bảo chi trả chế độ, tiền lương cho cán bộ, công chức xã và thôn bản, giải ngân kịp thời các nguồn kinh phí thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, đúng thời gian quy định Tổng chi ngân sách là: 10.267.477.600/10.340.107.800 đạt 99% Thu thuế, phí và lệ phí 13.095.000đ/10.000.000 đạt 130,95%

2.4.2.3 Điều kiện giao thông

- Giao thông: Các tuyến đường giao thông nông thôn được tu sửa thường xuyên đảm bảo đi lại an toàn Kiểm tra các tuyến đường huyện phân cấp giao cho xã quản lý, lập phương án, kế hoạch tu sửa đường năm 2019 Tuyên truyền về chấp hành luật giao thông đường bộ, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường

bộ, giải tỏa hành lang đường bộ là: 5 buổi = 675 lượt người nghe, trong ngày 08/4/2019 gió lốc đã làm tốc ván cầu treo thôn Bản Cậy đi Nà Hu UBND xã

đã chỉ đạo sửa chữa khắc phục ngay trong ngày đảm bảo giao thông, thông suốt

Trang 32

2.4.2.4 Y tế và giáo dục

* Về Y tế:

Ủy ban nhân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân gồm: y tế cơ sở; y tế dự phòng; khám, chữa bệnh, khôi phục chức năng; y dược cổ truyền; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người; mỹ phẩm; vệ sinh an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; trang thiết bị

tế; dân số

* Giáo dục và đào tạo

Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình và nội dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử

và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo

2.4.2.5 Về hệ thống An ninh - Quốc phòng

 Quốc phòng

- Thực hiện chế độ trực chỉ huy thường xuyên, quản lý chặt chẽ lực lượng, thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa các lực lượng trong bảo vệ an ninh Quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ Quốc phòng Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu khi có các tình huống xảy ra; tổ chức lễ giao nhận quân, tiễn đưa tân binh lên đường nhập ngũ năm 2019 đạt 100% chỉ tiêu giao là 03 công dân, thực hiện đúng luật nghĩa vụ quân sự

- Ban chỉ huy quân sự xã đã xây dựng kế hoạch củng cố công tác huấn luyện dân quân tự vệ năm 2019 theo nội dung kế hoạch đề ra, đảm bảo an toàn về người và vũ khí, trong quá trình huấn luyện Kết quả xếp loại huấn luyện đạt loại khá

- Tổ chức diễn tập phòng chống thiên tai tìm kiếm cứu nạn tại xã đảm bảo

an toàn về người và cơ sở vật vật chất đúng theo kế hoạch của Ban chỉ đạo

Trang 33

huyện đề ra kết quả đạt loại suất sắc Trong đợt mưa bão vừa qua ban chỉ huy quân sự xã đã huy động lực lượng dân quân giúp các gia gia đình bị thiệt hại

về nhà cửa khắc phục hậu quả thiên tai cụ thể 60 ngày công, tham gia xây dựng nông thôn mới kè sân trường tiểu học và trung học cơ sở là: 50 ngày công

- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng đối tượng 4 theo kế hoạch của hội đồng giáo dục quốc phòng xã có 51 học viên tham gia đạt loại khá trên 70%

- BCH quân sự xã đã xây dựng kế hoạch huấn luyện bổ sung cho đoàn kiểm tra toàn diện của bộ chỉ huy quân sự tỉnh theo kế hoạch

Ban chỉ huy quân sự xã đã tổ chức khám sơ tuyển đợt 1 năm 2020 xong kết quả đủ điều kiện làm hồ sơ là: 17 công dân, khám đợt 2 tại bệnh viện đa khoa huyện đạt 6 công dân đủ điều kiện xét nhiệm HIV, ma túy

An ninh trật tự

- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã năm luôn được giữ vững và ổn định, nhân dân yên tâm lao động sản xuất Lực lượng Công an luôn chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết kịp thời các vụ việc xảy ra theo quy định của pháp luật

- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân, chủ động phòng ngừa với các hoạt động của bọn tội phạm, tích cực đấu tranh tố giác tội phạm

- Triển khai phương án kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội tại địa phương

Trang 34

- Trong năm có 486 lượt người đi chợ thăm thân ở Trung Quốc đều làm giấy thông hành xuất nhập cảnh trong đó có 36 nữ, 450 nam, hiện tại còn 26 người đang thăm thân và buôn bán ở bên Trung Quốc trong đó 6 nữ, 20 nam

Trang 35

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Loài Lim xẹt có tên khoa học (Peltophorum tonkinensis)

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây

gỗ, đặc điểm tái sinh của loài Lim xẹt

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: tại khu C xã Yên Hoa, xã Thượng Nông, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng được các mục tiêu đưa ra, đề tài nghiên cứu các nội dung sau:

* Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Lim xẹt

* Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ nơi loài cây Lim xẹt phân bố

* Nghiên cứu đặc điểm sinh thái nơi loài Lim xẹt phân bố

* Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Lim xẹt

* Đề xuất một số biện pháp để bảo vệ và phát triển loài Lim xẹt

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung

- Sơ đồ các bước nghiên cứu như sau:

Trang 36

Hình 3.1: Sơ đồ nghiên cứu tổng quát

Thu thập, kế thừa các tài liệu, số liệu đã có

Điều tra, thu thập số liệu tại hiện trường nghiên cứu

Đặc điểm hình

thái: Thân, lá,

hoa, quả

Cấu trúc tổ thành, mật độ tầng thứ tầng cây gỗ

Đặc điểm cấu trúc mật độ, tổ thành, chất lượng, nguồn gốc tái sinh

Tổng hợp, phân tích, đánh giá, kết quả nghiên cứu

Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp

Trang 37

3.4.2 Phương pháp kế thừa

Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu

Tư liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu

Sử dụng và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có về cây Lim xẹt ở trong

và ngoài nước (về đặc điểm sinh thái, phân bố, cấu trúc và điều kiện lập địa…)

3.4.3 Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp

3.4.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài cây Lim xẹt

- Đặc điểm hình thái thân, cành

- Đặc điểm hình thái tán cây, lá

- Đặc điểm hình thái hoa, quả

Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Đây là phương pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu thực vật học Cụ thể như sau:

+ Mỗi tuyến điều tra chọn 03 cây Lim xẹt để tiến hành quan sát, mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa, quả, hạt và rễ của cây Lim xẹt (cây được quan sát phải đạt độ trưởng thành nhất định, hiện đang tồn tại trong rừng tự nhiên) Kết quả ghi vào phiếu mô tả cây tương ứng

+ Dụng cụ và thiết bị hỗ trợ: máy ảnh, thước dây, GPS, kẹp tiêu bản,…

Do thời gian nghiên cứu có giới hạn, nên quan điểm kế thừa các nghiên cứu đã có và chỉ tiến hành điều tra bổ sung các thông tin còn thiếu được quán triệt sử dụng Tiếp cận đa chiều theo nhiều hướng khác nhau để thu được kết quả là tốt nhất và có độ tin cậy cao

Trang 38

3.4.3.2 Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái loài Lim xẹt

3.4.3.2.1 Đặc điểm khí hậu nơi loài cây Lim xẹt phân bố

Kế thừa số liệu điều kiện khí hậu các năm của địa phương mà có loài cây Lim xẹt để nghiên cứu

3.4.3.2.2 Đặc điểm đất của cây Lim xẹt

Kết quả điều tra sơ bộ cho thấy, loài Lim xẹt chủ yếu phân bố ở các vị trí chân núi, sườn núi vì vậy trên các vị trí địa hình có loài Lim xẹt phân bố tiến hành đào 1 phẫu diện đại diện có kích thước (1,2x0,8x1,0m), mô tả theo hướng dẫn trong “Sổ tay điều tra quy hoạch rừng” (1995) gồm:

a, Tầng đất

Tầng thảm mục (Ao), tầng rửa trôi (A), tầng tích tụ (B), mẫu chất (C) và

đá mẹ (D) và tầng chuyển tiếp giữa các tầng Chi tiết từng tầng đất như sau:

Tầng A:

- Tầng A0: Tầng thảm mục ký hiệu A0, là tầng bề mặt trên cùng của phẫu diện đất Tầng này chứa các cành khô, lá mục chưa phân giải hoặc đã phân giải trên bề mặt

- Tầng A1: Là tầng hình thành mùn, có màu đen, cường độ màu phụ thuộc nhiều vào hàm lượng mùn có trong đất Tầng đất A1 thường là tơi xốp,

có kết cấu viên hạt, chứa nhiều chất dinh dưỡng khoáng, nhiều vi sinh vật

- Tầng A2: Tầng A2 là tầng đất rửa trôi, do vậy tầng này thường có màu hơn so với tấng đất A1 và A3 Tầng đất này nghèo dinh dưỡng, đất chua

- Tầng AB: Tầng đất chuyển tiếp từ A xuống B, vừa mang tính chất của tấng đất A vừa mang tính chất của tầng đất B

Tầng B:

- Tầng B1: Là tầng đất chuyển tiếp từ các tầng đất A xuống các tầng đất

B, nhưng mang tính chất tầng đất B nhiều hơn

- Tầng B2: Là tầng tích tụ điển hình, chứa một số chất bị rửa trôi từ các tầng đất phía trên xuống

Trang 39

- Tầng BC: Tầng B là tầng đất chuyển tiếp từ B sang C, nó vừa mang tính chất của tầng đất B2 vừa mang tính chất của tầng C

Tầng C: Là tầng mẫu chất khí hiệu là C, tầng C là sán phẩm phong hóa

từ đá, nó đã bị tơi xốp, đã có khả năng chứa khí, chứa nước nhưng độ phì chưa hoàn thiện

Tầng D: Đôi khi được ký hiệu là R, là tầng đá mẹ, đá nền Tầng này được xét vào phẫu diện đất tuy nhiên lại không phải là tầng đất, nó được quan tâm chủ yếu bởi các ngành xây dựng, giao thông, thủy lợi, mỏ địa chất

Trên phẫu diện đất, người ta phân tầng chủ yếu dựa vào các đặc điểm riêng của các tầng cũng như các chỉ tiêu cụ thể: màu, kết cấu, thành phần cơ giới,

độ chặt, tỷ lệ đá lẫn, kết von, rễ cây, chất mới sinh có nguồn gốc động vật

Dùng thước dây xác định chiều sâu tầng đất, kết quả được bao nhiêu ghi vào cột (2)

Được mô tả ngoài thực địa bằng phương pháp vê giun Làm cho tầng A

và B, hoặc các tầng chuyển tiếp, kết qủa ghi vào cột (04)

Trang 40

- Cách làm: Dùng nước làm đất ẩm, xoe đất trong lòng bàn tay thành hình giun có đường kính 3-5mm

- Nếu:

+ Không vê được giun: Đất cát

+ Vê được giun nhưng đứt đoạn rời rạc: Thịt nhẹ (cát pha)

+ Vê được giun nhưng nhiều vết rạn nứt, không uốn tròn được: Thịt + Vê được giun, nhưng khi uốn trong thì đứt đoạn: Thịt nặng (sét nhẹ) + Vê được giun, uốn tròn không đứt đoạn: Sét

d, Kết cấu đất

Biểu hiện là kết cấu đất, làm theo các tầng đất theo bản mô tả phẫu diện

- Cách làm: Lấy các tảng đất lớn từ các tầng khác nhau của phẫu diện

để quan sát và tìm hiểu, tác động lực vào đó xem đất rời rạc theo hạt đơn dời (đất cát) hay viên, tảng, cục hay khối Kết quả ghi vào cột (05)

e, Độ chặt

- Xác định theo cấp: Xốp nhẹ, hơi chặt, chặt và rất chặt

- Cách xác định: Dùng lực tác động bằng mũi dao, hay xẻng vào bề mặt đất Cấp độ chặt được đánh giá thông qua mức độ dùng lực tác động và đất bám theo đầu mũi dao khi rút khỏi bề mặt đất

h, Tỷ lệ đá lẫn, rễ cây:

Lấy đất ở vị trí đường chéo của tầng cần xác định (3 vị trí khác nhau), sau đó trộn đều, lấy 100g, dùng giấy trắng nhặt toàn bộ rễ cây, đá riêng biệt

và cân trọng lượng rễ, đá lẫn và đánh giá %

- Lưu ý: Lấy đất theo dạng khối (3 - 5cm3) đảm bảo cắt được rễ cây và

đá lẫn không bị rơi

- Ghi chú: Nếu có các chất mới sinh, hay lẫn vào như tổ mối, kiến, kim

loại, kết von… thì ghi vào cột ghi chú

Ngày đăng: 06/02/2021, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Bùi Phi Hoàng (2012), Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài Vàng tâm (Maglietia fordiana Oliv) tại vườn quốc gia pù mát, tỉnh Nghệ An. Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài Vàng tâm (Maglietia fordiana Oliv) tại vườn quốc gia pù mát, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Bùi Phi Hoàng
Năm: 2012
14. Thái Văn Trừng (1983), Những hệ sinh thái rừng Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hệ sinh thái rừng Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1983
15. Phan Nguyên Xuất (1999), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học loài Thông nàng (Podocarpus imbrricatus Blume) tại tỉnh Gia Lai, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học loài Thông nàng (Podocarpus imbrricatus Blume) tại tỉnh Gia Lai
Tác giả: Phan Nguyên Xuất
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
16. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
17. Vũ Văn Cần (1997), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng, Vườn Quốc gia Cúc Phương 18. Nguyễn Thanh Binh (2003), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học củaloài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng", Vườn Quốc gia Cúc Phương 18. Nguyễn Thanh Binh (2003), "Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của "loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại
Tác giả: Vũ Văn Cần (1997), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng, Vườn Quốc gia Cúc Phương 18. Nguyễn Thanh Binh
Năm: 2003
19. Lê Phương triều (2003), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại
Tác giả: Lê Phương triều
Năm: 2003
20. Vũ Văn Khoát (2007), Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của loài Dầu đồng và cà chít phân bố trong rừng khộp ở Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của loài Dầu đồng và cà chít phân bố trong rừng khộp ở
Tác giả: Vũ Văn Khoát
Năm: 2007
21. Trần Minh Tuấn (1997), Nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội (Hà Tây cũ).II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại
Tác giả: Trần Minh Tuấn
Năm: 1997
23. Baghai, N.L. 1988. Liriodendron (Magnoliaceae) from the Miocene Clarkia flora of Idaho. Amer. J. Bot. 75(4): 451-464 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liriodendron (Magnoliaceae) from the Miocene Clarkia flora of Idaho
24. Balley, Dell, (1972), Quantifying Diameter Distribution with the WEIBULL function, Forest Soi, (19): 216-223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantifying Diameter Distribution with the WEIBULL function
Tác giả: Balley, Dell
Năm: 1972
25. Canright, J.E. 1952. The comparative morphology and relationships of the Magnoliaceae I: Trends of specialization in the stamens. Amer. J. Bot. 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The comparative morphology and relationships of the Magnoliaceae I: Trends of specialization in the stamens
26. Canright, J.E. 1955. The comparative morphology and relationships of the Magnoliaceae IV: Wood and nodal anatomy. Jour. Arnold Arb.36(2&3):119-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The comparative morphology and relationships of the Magnoliaceae IV: Wood and nodal anatomy. Jour
27. Odum E.P. (1971), Fundamental of Ecology, 3rd ed. Press WB. Saunders Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamental of Ecology, 3rd ed
Tác giả: Odum E.P
Năm: 1971
28. Richards P.W, (1952), The tropical rain forest, Cambridge University Press, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: The tropical rain forest
Tác giả: Richards P.W
Năm: 1952
22. Andrew T., Steven Sw., Mark G. and Hanna S., (1999), Hoang Lien Nature reserve, Biodiversity survey and conservation evaluation Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w