Xuất phát từ quan điểm trên, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sử dụng chế phẩm chất kích thích
Trang 1TẠI XÃ ĐÔNG VIÊN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học
Khóa học : 2015 – 2019
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 2TẠI XÃ ĐÔNG VIÊN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Lớp : K 47 - TT
Khoa : Nông học Khóa học : 2015 – 2019 Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Đình Hà
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng nhất đối với tất cả các sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học vào thực tế Đồng thời giúp sinh viên có điều kiện làm quen với công việc sản xuất, học hỏi kinh nghiệm nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học Từ
đó tạo cho mình tác phong nhanh nhẹn, tính sáng tạo và say mê trong công việc, trở thành người cán bộ khoa học thực thụ góp phần vào sự phát triển của nền nông nghiệp nước nhà
Xuất phát từ quan điểm trên, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng cho nhân giống bằng giâm cành cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” Để hoàn thành được đề tài này tôi xin được bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa nông học
và toàn thể các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của
giảng viên hướng dẫn TS Trần Đình Hà đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi
vượt qua những bỡ ngỡ, khó khăn trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành nhiệm vụ của mình Nhân dịp này tôi xin được cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới sự giúp đỡ to lớn của quý thầy cô, gia đình và bạn bè cũng như chính quyền địa phương nơi tôi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên bản chuyên đề của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi kính mong các thầy cô giáo
và các bạn đóng góp ý kiến để bản chuyên đề của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Triệu Thị Duyến
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Trà túi lọc sản phẩm từ Chè hoa vàng 6 Hình 2.2: Trà ô long sản phẩm từ Chè hoa vàng 6 Hình 2.3: Thuốc được điều chế từ Chè hoa vàng 6 Hình 4.1: Đặc điểm hình thái lá của 2 loài Chè hoa vàng tại Xã Đông Viên (hình ảnh do người dân địa phương cung cấp) 33 Hình 4.2: Đặc điểm hình thái hoa của Chè hoa vàng tại Xã Đông Viên (hình ảnh do người dân địa phương cung cấp) 33 Hình 4.3: Luống giâm cành Chè hoa vàng tại vườn ươm hộ gia đình ông Nguyễn Tiến Khang xã Đông Viên Tháng 8/2018 (hình ảnh do ông Nguyễn Tiến Khang cung cấp) 35
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Giá trị sử dụng của cây Chè hoa vàng 4
2.1.1 Sử dụng làm dược liệu 4
2.1.2 Dùng làm cây cảnh 6
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7
2.2.1 Nguốc gốc, phân loại Chè hoa vàng 7
2.2.2 Đặc điểm hình thái và phân bố chi Camellia L 8
2.2.3 Đặc điểm phân bố chi Camellia L 8
2.3 Ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình giâm hom 11
2.3.1 Các nhân tố ngoại sinh 11
2.3.2 Nhân tố nội sinh 14
2.4 Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính 17
2.4.1 Cơ sở phát sinh phát triển cá thể 18
2.4.2 Sự hình thành rễ bất định 19
2.5 Tình hình nghiên cứu cây Chè hoa vàng trên thế giới và Việt Nam 19
2.5.1.Tình hình nghiên cứu cây Chè hoa vàng trên thế giới 19
Trang 82.5.2 Tình hình nghiên cứu cây Chè hoa vàng ở Việt Nam 22
Phần 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 27
3.2.Thời gian, địa điểm nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
Phần 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Tình hình khai thác và nhân giống Chè hoa vàng tại xã Đông Viên 32
4.1.1 Tình hình khai thác Chè hoa vàng 32
4.1.2 Tình hình nhân giống cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên 34
4.2 Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ hom sống 35
4.3 Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ hom tái sinh chồi của hom giâm 37
4.4 Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng chồi của hom giâm 38
4.5 Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích sinh trưởng đến khả tái sinh rễ của hom giâm 39
4.6 Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích ra rễ đến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn 40
Phần 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chè hoa vàng hay còn gọi là Kim hoa trà có tên khoa học là: Camellia
spp.) là một loài thực vật hạt kín trong họ Theaceae Nó được tìm thấy ở
Trung Quốc (Tây Nam tỉnh Quảng Tây) và Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh), Vĩnh Phúc (Tam Đảo) (Trình Kim Thủy và cộng sự ,1994) [16]
Cây Chè hoa vàng trước đây chủ yếu dùng làm cảnh vì sắc màu vàng đượm, lung linh của Chè hoa vàng khiến người chơi cảnh bị mê hoặc Nhưng hiện nay, qua các quá trình nghiên cứu và sử dụng, ta đã biết Chè hoa vàng không những chỉ để chơi cảnh mà còn dùng làm trà uống hàng ngày rất ngon
và bổ dưỡng
Ngày nay với khoa học hiện đại, Chè hoa vàng trở nên quý giá hơn bao giờ hết bởi công dụng và những lợi ích của Chè hoa vàng mang lại Những hợp chất trong Chè hoa vàng nhiều và quý Người ta tìm thấy chè chứa hơn
400 hoạt chất và trong đó quý giá là các saponin Tea polyphenon và các nguyên tố như Selenium (Se), Germannium (Ge), Kalium (K) Kẽm (Zn), Molypden (Mo), Vanadium (V), Mangan (Mn) và các vitamin B1, B2, C Chè hoa vàng được giới y học nghiên cứu rất nhiều và đã được ứng dụng trên nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Việt Nam [2] Chè hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc nước
ta năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về Chè hoa vàng không đáng kể Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài khác nhau (Trần Ninh, 2002) [13] Trong đó Vườn Quốc gia Tam Đảo có 8 loài Tuy nhiên, trong những năm qua, tư thương đã thu gom từ rừng tự nhiên rất nhiều hoa chè để buôn bán, với giá khoảng trên 1.500.000/1kg hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá 20.000đ/kg… Sau đó sẽ được xuất khẩu sang
Trang 10Trung Quốc theo đường tiểu ngạch Cùng một số nguyên nhân khác làm cho Chè hoa vàng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên
Tại Bắc Kạn, cây Chè hoa vàng có ở các huyện Chợ Đồn, Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Mới Do có giá trị dược lý và kinh tế cao, trong thời gian qua người dân địa phương đã phát hiện và khai thác Chè hoa vàng trong tự nhiên
để bán cho các tư thương với giá khoảng 0,5 triệu đồng/kg nụ hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá khoảng 7.000 – 10.000 đ/kg Do vậy nguồn vật liệu này ngày càng có nguy có cạn kiệt, cần có biện pháp bảo tồn và khai
thác hợp lý
Vì thế việc nghiên cứu các biện pháp nhân giống, chăm sóc để bảo tồn
và phát triển các loài Chè hoa vàng này là một việc làm cần thiết Tuy nhiên cho tới nay những nghiên cứu về các loài Chè hoa vàng còn rất hạn chế Để góp phần cho công tác bảo tồn phát triển loại cây Chè hoa vàng và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học Đồng thời tạo hướng sản xuất hàng hóa loại cây này phục vụ nhu cầu sử dụng cây cảnh, cây dược liệu, tăng thu nhập cho người dân địa phương
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, để có cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển, nâng cao hiệu quả khai thác cây Chè hoa vàng thành sản phẩm hàng hóa
có giá trị cao từ lâm sản ngoài gỗ của tỉnh Bắc Kạn, tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng cho nhân giống bằng giâm cành cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên, huyện Chợ đồn, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu, xác định chế phẩm chất kích thích sinh trưởng phù hợp áp dụng trong quá trình nhân giống bằng hom cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên huyện Chợ Đồn góp phần xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cây Chè hoa vàng tại địa phương
Trang 111.3 Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng nhân giống Chè hoa vàng
- Kết quả nhiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu Chè hoa vàng nói chung và Chè hoa vàng nói riêng
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giá trị sử dụng của cây Chè hoa vàng
Golden Camellia có giá tới 4.67 triệu đồng/chai Đây là hướng sử dụng Chè
hoa vàng đặc biệt hữu hiệu và có lợi đối với sức khỏe con người
Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc, trong một công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Chè hoa vàng “có những công dụng y học vô giá” Theo chuyên gia này, sử dụng sản phẩm từ Chè hoa vàng có thể làm giảm triệu chứng xơ vữa động mạch do máu nhiễm mỡ sau khoảng 20 ngày Chè hoa vàng còn rất tốt cho bệnh cao huyết áp vì khả năng làm giảm và điều hòa huyết áp của nó Sử dụng Chè hoa vàng có thể chữa được rất nhiều bệnh như táo bón, hạ đường huyết đối với người bị tiểu đường Bên cạnh đó, một số bệnh về đường hô hấp, bài tiết (chứng tiểu khó và vàng), khí thũng hay co thắt dạ con ở phụ nữ đều có thể sử dụng thức uống này như một phương pháp chữa trị đơn giản lại sớm mang lại kết quả (Rosmann J.C., 2000) [23]
Tiến sĩ John Welsburger - thành viên cao cấp của Tổ chức Sức khỏe Hoa
Kỳ phát biểu: “Dường như những thành phần chứa trong Chè có khả năng
Trang 13làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như đột quỵ, trụy tim và ung thư” Theo một số nghiên cứu ở Hà Lan, những người uống 4 - 5 tách Chè đen hàng ngày giảm 70% nguy cơ đột quỵ so với những người chỉ dùng 2 tách hoặc ít hơn Đó chính là do chất flavonoid có trong chè đen đã ngăn ngừa sự vón cục nguy hiểm của tiểu huyết cầu trong máu - nguyên nhân dẫn đến hầu hết các chứng đột quỵ và các cơn đau tim Loại chè đen nhắc đến trên đây là một dạng Chè được chế biến từ Chè hoa vàng (Rosmann J.C., 2000) [23]
Y học cổ truyền Trung Quốc đã tổng kết 9 tác dụng chính của lá Chè hoa vàng: (1) Trong lá trà có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (choles - terol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt) (2) Nước sắc lá trà có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và được duy trì trong thời gian tương đối dài (3) Nước sắc lá trà có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu (4) Phòng ngừa ung thư và ức chế sự phát triển của các khối u khác (5) Hưng phấn thần kinh (6) Lợi tiểu mạnh (7) Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu (8) Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn (9) Lá trà có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp (Ninh Tr.; Hakoda N., 1998) [21]
Từ nhiều năm nay, người cao tuổi ở các xã trong huyện Quế Phong biết về cây Chè hoa vàng dùng để nấu nước uống như Chè xanh Đây là loài cây mọc
tự nhiên trong rừng Người dân dùng Chè hoa vàng nấu lấy nước uống, người
ốm yếu đau nhức cơ thể trở nên khỏe mạnh, hoạt bát còn người khỏe mạnh ăn được nhiều cơm, đêm ngủ ngon giấc Lá của Chè hoa vàng còn được dùng như một loại thức ăn được nấu với măng làm canh dùng cho người mới ốm dậy, người suy nhược sức khỏe Ngoài ra, khi bị các vết thương lở loét, người dân địa phương còn lấy hoa và lá của Chè hoa vàng giã nhỏ đắp lên vết thương, mỗi ngày thay 2 - 3 lần thì sau 2 - 3 ngày, vết thương sẽ khô và liền da (Rosmann J.C., 2000) [23]
Trang 14Một nghiên cứu khác về công dụng trà cho thấy dùng trà mang lại hiệu quả gần 90% trong việc ngăn ngừa chứng sạm da - một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư da Gần đây, các nhà khoa học Nhật Bản vừa phát hiện hoạt chất epigallocatechin gallat (EGCG) trong Chè hoa vàng có tác dụng ngăn HIV bám vào tế bào miễn dịch khoẻ mạnh Khám phá mới có thể đưa tới những phương pháp mới chống lại căn bệnh nguy hiểm này (Rosmann J.C., 2000) [23]
Trong quá trình điều tra khảo sát về cây Chè hoa vàng, đoàn chúng tôi tìm hiểu, tiếp xúc với một vài thầy lang trong vùng, được biết Chè hoa vàng là
vị thuốc nam hết sức có hiệu quả Ngoài tác dụng của hoa thì lá của Chè hoa vàng còn có tác dụng chống mệt mỏi, giúp tinh thần tỉnh táo, tăng cường chức năng tiêu hóa, lợi tiểu, giải độc rất tốt Đây là vốn quý cần phát huy, nhất là trong điều trị dự phòng ở cơ sở
Hình 2.1: Trà túi lọc sản
phẩm từ Chè hoa vàng Hình 2.2: Trà ô long sản phẩm từ Chè hoa vàng
Hình 2.3: Thuốc được điều chế từ Chè hoa vàng
2.1.2 Dùng làm cây cảnh
Giá trị lớn nhất và dễ nhận thấy nhất của các loài thuộc chi Camellia là
làm cây cảnh Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều loài thuộc chi
Camellia có hoa đẹp với đủ các màu sắc khác nhau như trắng, đỏ, vàng và
nhiều màu sắc độc đáo, lạ mắt được tạo ra do lai tạo đã thu hút sự quan tâm của những nhà chơi cây cảnh Trong số đó, các loài Chè hoa vàng rất hiếm chỉ gặp ở Việt Nam và Trung Quốc
Trang 15Cũng như nhiều loài khác trong chi Camellia, giá trị đầu tiên dễ nhận thấy
nhất của Chè hoa vàng là làm cảnh Màu vàng của Chè hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo được bằng phương pháp lai tạo, nên càng thu hút được nhiều sự
quan tâm của các lai tạo trên thế giới Chỉ riêng Camellia nitidissima, các nhà
cây giống đã phải nỗ lực trong suốt 20 năm để khắc phục sự bất thụ lai trà này
với Camellia flava của Việt Nam là loài rất dễ lai tạo và đã tạo được nhiều loài
lai giữa loài này với các loài chè lai mới được bổ sung vào bộ sưu tập các loài chè làm cảnh của toàn thế giới (Ngô Quang Đê, 1996) [4]
Nghiên cứu của tác giả Ngô Quang Đê bằng phương pháp điều tra theo tuyến đã điều tra phát hiện khu vực phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài Chè hoa vàng tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Tây (nay là Hà Nội)
đã cho thấy ở Vườn Quốc gia Ba Vì có hai loài Camellia có triển vọng thuần
hóa làm cây cảnh Phần lớn những loài này đều phân bố ở độ cao trên 600m, nơi có tầng đất dày, xốp ẩm, hơi chua dưới tán rừng, là các loài sinh trưởng chậm, chịu bóng nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh nên cần có kỹ thuật tốt Hơn nữa, tác giả Ngô Quang Đê đã di thực thuần hóa thành công 2 loài: Chè
hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis) và Chè hoa vàng Ba Vì (Camellia
tonkinensis (Pitard) Cohen Stuart) tại vườn chè ở Xuân Mai - Chương Mỹ -
Hà Nội, hiện 2 loài này sinh trưởng phát triển tốt đồng thời cho hoa đẹp vào dịp xuân về (Ngô Quang Đê, 1996) [4]
Ngoài ra, các nghiên cứu của nước ngoài cũng chỉ ra rằng, Chè hoa còn
có khả năng hấp thu CO2, H2S, Cl, HF và các thể khí độc hại khác, có tác dụng bảo vệ môi trường mạnh, làm sạch không khí Một công viên Chè hoa vàng đã được xây dựng tại Nam Ninh - Trung Quốc để phục vụ người dân thăm quan và là nơi bảo vệ nguồn gen cho các nhà khoa học nghiên cứu
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Nguốc gốc, phân loại Chè hoa vàng
Chè hoa vàng có tên khoa học là Camellia L tên Việt Nam gọi là Trà hoa vàng (Trà mi), thuộc Họ Theaceae (Họ chè), Chi Camellia L (Chi chè)
Trang 16Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan, vị trí phân loại của
chi Camellia L có thể được tóm tắt như sau:
2.2.2 Đặc điểm hình thái và phân bố chi Camellia L
Cây bụi hoặc cây nhỏ, thường xanh, cành nhẵn hay có lông Lá thường có cuống, đơn, mọc so le, không có lá kèm; chóp lá nhọn, có đầu nhọn hoặc kéo dài thành đuôi; gốc lá hình nêm hẹp, nêm rộng, tròn hay hình tim; mép có răng cưa nhọn hoặc tù Hoa đều, lưỡng tính, kích thước lớn hoặc nhỏ, mọc đơn độc
ở nách lá hoặc đầu cành Hoa màu đỏ, trắng hoặc vàng Cuống hoa ngắn hoặc gần như không có cuống Lá bắc 2 - 10, mọc xoắn trên cuống hoa Cánh hoa 4 -
19, hợp một phần ở gốc cùng với vòng nhị ngoài Nhị nhiều, dính với nhau ở phía gốc, vòng nhị phía trong rời nhau, chỉ nhị dài Bầu trên, 1 - 5 ô, vòi nhụy 1
- 5, dạng sợi, rời hoặc dính nhau; bầu và vòi nhụy nhẵn hay phủ lông mịn Quả nang, hình cầu dẹt hoặc hình trứng, khi khô chẻ ô từ trên xuống thành 3, 4 hay
5 mảnh; có trụ haykhông; vỏ quả dày hay mỏng, hóa gỗ Hạt 1 đến nhiều hạt trong mỗi ô, hình cầu, nửa cầu hay hình nêm, vỏ hạt màu nâu, nâu hạt giẻ nhạt hoặc nâu hồng, phủ lông hay nhẵn [9], [6], [7], [2]
2.2.3 Đặc điểm phân bố chi Camellia L
* Trên thế giới
Chi Camellia L có khoảng 280 loài, phân bố chủ yếu ở nhiệt đới và á nhiệt
đới, có nguồn gốc ở khu vực miền Đông và miền Nam châu Á, từ phía Đông dãy Himalaya tới Nhật Bản và Indonesia
- Châu Á: Ấn độ, Bangladesh, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Iran, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nhật Bản, Sri-lanka, Trung Quốc, Việt Nam
Trang 17- Châu Phi: Burundi, Ethiopia, Kenya, Maritius, Nam Phi, Uganda
- Nam Mỹ: Argentina, Brazil, Ecuador, Peru
- Châu Đại Dương: Australia, New-Zeland
- Châu Âu: Thổ Nhĩ Kỳ, Liên xô (cũ)
Ở Trung Quốc, các loài Camellia đã được quan tâm bảo tồn và phát triển
từ khá sớm Đến nay có nhiều trung tâm bảo tồn và nghiên cứu phát triển Chè,
trong đó có Chè hoa vàng Vườn ngân hàng gen Camellia ở Nam Ninh là nơi lưu giữ bộ sưu tập lớn nhất Chè hoa vàng (Camellia chrysantha.M.Sealy) trên thế giới Lưu giữ hơn 20 loài Camellia và 15 thứ trà hoa vàng (Camellia
chrysantha) nhằm bảo tồn, nghiên cứu, lai tạo giống và nghiên cứu về trồng
trọt Có 3.000 cá thể được lưu giữ, từ đó tạo ra 7.000 dòng lai từ cây bố mẹ là
Chè hoa vàng (Camellia chrysantha.M.Sealy) và các loài khác trong chi
Camellia L Có 6 loài trong bộ sưu tập được thu từ Việt Nam, gồm: C chrysantha.M.Sealy, C ptilosperma S Ye Liang & Q T Chen, C tunghinensis
H.T Chang, C murauchii Ninh & Hakoda, C impressinervis Hung T Chang
& S Ye Liang và C amplexicaulis (Pitard) Cohen-Stuart Ngoài ra, còn nhiều
vườn khác lưu giữ các loài và giống Camellia, bao gồm: Guilin Botanic
Garden Yanshan - Quảng Tây (20 loài); The Jinhua International Camellia Species Garden - Chiết Giang (25 loài); The Fangcheng Golden Camellia
Nature Reserve and Gene Bank - Quảng Tây (28 loài và giống Trà hoa vàng); Kunming Institute of Botany - Vân Nam (25 loài, trong đó có 8 loài từ Việt Nam),
bao gồm: C crassiphylla Ninh & Hakoda;
C cucphuongensis Ninh &Rosmann; C hakodae.M.Sealy;
C rosmannii Ninh; C vidalii J C.Rosmann; C dongnaiensis Orel; C luteocerata Orel; C inusitata Orel, Curry & Luu (Trần Ninh và Hakoda
Naotoshi, 2010) [6]
*Ở Việt Nam
Việt Nam được các nhà khoa học xác định nằm trong trung tâm đa dạng sinh học của các loài Chè hoa vàng được tìm thấy ở một số khu vực như Tam
Trang 18Đảo, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Tuyên Quang, Yên Bái, Cúc Phương… Đến
nay đã xác định có 58 loài Camellia L., thuộc các nhóm: Trà, Hải đường, Trà
mi, Sở (Trà dầu), trong đó có 27 loài Camellia L có hoa màu vàng (Trần
Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [12]
Bảng 1.1 Danh mục các loài Camellia L có hoa vàng ở Việt Nam
học
Tên Việt Nam Phân bố
1 Camellia aurea Hung T Chang Trà hoa vàng kim VN
2 Camellia crassiphylla Ninh & Hakoda Trà hoa vàng lá dày VN
3 Camellia cucphuongensis Ninh & Rosmann Trà hoa vàng Cúc
Phương
VN
4 Camellia dalatensis Luong, Tran & Hakoda Trà hoa vàng Đà Lạt VN
5 Camellia dilinhensis Ninh & V.D.Luong Trà hoa vàng Di Linh VN
6 Camellia dormoyana (Pierre) Sealy Trà hoa vàng Đo môi VN
7 Camellia euphlebia M.Sealy Trà hoa vàng Tiên Yên VN, TQ
8 Camellia flava (Pit.) Sealy Trà hoa vàng nhạt VN
9 Camellia chrysantha (Hu) Tuyama Trà hoa vàng VN, TQ
10 Camellia gilbertii (A Chev ex Gagnep.) Sealy Trà hoa Gilbert VN, TQ
11 Camellia hakodae M.Sealy Trà hoa vàng Hako VN
12 Camellia hamyenensis M.Sealy Trà hoa vàng Hàm Yên VN
14 Camellia huulungensis Rosmann & Ninh Trà hoa vàng Hữu Lũng VN
15 Camellia impressinervis Hung T Chang & S Ye
Liang
Trà hoa vàng gân lõm VN, TQ
17 Camellia limonia C.F.Liang & S.L.Mo Trà hoa vàng da cam VN, TQ
18 Camellia murauchii Ninh & Hakoda Trà hoa vàng Murô VN
19 Camellia megasepala Hung T.Chang & Trin
Ninh
Trà hoa vàng Ba Bể VN, TQ
20 Camellia petelotii (Merr.) Sealy Trà hoa vàng Petelot VN
21 Camellia phanii Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Phan VN
22 Camellia quephongensis Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Quế Phong VN
23 Camellia rosmannii Ninh Trà hoa vàng Yên Tử VN
24 Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda Trà hoa vàng Tam đảo VN
25 Camellia thanxaensis Trà hoa vàng Thần Sa VN
26 Camellia tonkinensis (Pit.) Cohen-Stuart Trà hoa vàng Bắc bộ VN
Trang 192.3 Ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình giâm hom
Nhóm nhân tố ngoại sinh: Gồm các loại chất kích thích ra rễ và các nhân
tố ngoại cảnh như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ, thời vụ giâm hom,…
Nhóm nhân tố nội sinh: Gồm những đặc điểm di truyền của loài, của xuất xứ
và của cá thể, vai trò của tuổi cây, tuổi cành, vị trí cành
2.3.1 Các nhân tố ngoại sinh
Khả năng ra rễ của hom giâm chịu ảnh hưởng của các nhân tố ngoại sinh như điều kiện sinh sống của cây mẹ và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom như mùa vụ, nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ và giá thể giâm hom,…
- Thời vụ giâm hom
Thời vụ là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm Một số loài cây có thể giâm quanh năm, song nhiều loài có thời vụ giâm hom rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterov (1967) thì mùa mưa tỷ lệ ra rễ của hom giâm cao hơn so với các mùa khác, kết quả giâm hom tốt hay xấu thường gắn liền với các yếu tố như diễn biến khí hậu thời tiết trong năm, mùa sinh trưởng của cây và trạng thái sinh lý của cành (Akula, A.,
C Akula & M Bateson, 2000) [19]
Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiện thời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân – hè, sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông Vì vậy thời gian giâm hom tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu Thời vụ giâm hom có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của nhân giống bằng hom cành Đối với loài cây nghiên cứu là cây gỗ cứng và rụng lá thì nên lấy cành lúc cây bắt đầu vào thời ngủ nghỉ, còn đối với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì nên lấy hom vào mùa sinh trưởng để có kết quả giâm hom tốt nhất và cho hiệu quả cao nhất
Trang 20- Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, hô hấp và quá trình vận chuyển chất Vì thế nhiệt độ không khí là một yếu tố quyết định đến tốc độ phát triển và hình thành nên rễ của hom Các loài cây nhiệt đới thường có yêu cầu cao hơn các loài cây ôn đới Đối với cây nhiệt đới:
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hơp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 –
7oC cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốt nhất là 25 – 30oC và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10 –
20oC cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 – 40oC và nhiệt độ tối cao 45
-50oC cây sẽ bị phá hủy
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chất trong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các sợi protein, cản trở tốc độ dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bào kèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển, nhiệt độ quá cao làm cho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh dẫn đến mất nước gây ra héo, nhiệt độ tối ưu 25 – 30oC
Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm: Ở nhiệt
độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩm và không ra rễ, ở nhiệt độ quá cao tăng cường hô hấp và hom bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm Nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là từ 28 – 33oC và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25 – 30oC Nhiệt độ trên 35oC làm tăng tỷ lệ héo của cành giâm hom Nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom nên cao hơn nhiệt độ giá thể là 2 – 3oC
Trang 21tạo nên các chất đồng hóa tham gia vào vận chuyển trong mạch libe và ánh sáng có tác dụng kích thích dòng vận chuyển các chất hữu cơ ra khỏi lá, ở ngoài sáng tốc độ vận chuyển các chất đồng hóa trong libe nhanh hơn trong tối Nhưng trong hom giâm không có lá thì quá trình quang hợp không diễn ra
do đó không thể có hoạt động ra rễ, trừ một số loại cây đặc biệt có thể ra rễ trong bóng tối Hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện tối hoàn toàn Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh và nhiệt độ cao làm cho quá trình ra rễ giảm Vì vậy trong quá trình giâm hom phải che bóng thích hợp cho từng loài cây khác nhau với độ tàn che khác nhau Trên thực tế ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm thường mang tính chất tổng hợp: Ánh sáng - nhiệt - ẩm mà không phải từng nhân tố riêng lẻ
Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hom
- Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể
Độ ẩm không khí và độ ảm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trong giâm hom Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa các chất cần đến nước Thiếu nước thì hom bị héo, thừa nước thì hoạt động của men thủy phân tăng lên, quá trình quang hợp bị ngừng trệ Khi giâ hom mỗi loài cây đều cần một độ ẩm thích hợp, làm mất độ ẩm của hom khoảng
15 – 20% thì cây hoàn toàn mất khả năng ra rễ Đối với nhiều loài cây, độ ẩm thích hợp cho giâm hom là 50 – 70% Nếu tăng lên 10% thì hầu hết các hom giâm giảm khả năng ra rễ
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm thay đổi theo loài, théo mức độ hóa gỗ của hom Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, gíup làm tăng
độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá.Vào từng thời điểm mà mức độ phun khác nhau Trong mùa nóng thời gian phun sương và thời gian ngắt quãng có thể ngắn hơn trong mùa lạnh
Trang 22Để duy trì độ ẩm của giá thể thích hợp cho hom ra rễ cần lựa chọn vật liệu làm giá thể có khả năng thông thoáng tốt, thoát nước song phải giữ được
độ ẩm thích hợp
- Các chất kích thích sinh trưởng
Romixarop (1964) đã tìm hiểu ảnh hưởng của các chất kích thích ra rễ ở
130 loài cây, trong đó tác giả cho thấy thuốc kích thích đã làm tăng hiệu quả
ra rễ lên 1,5 đến 3 lần ở 27 loài, 23 loài cho kết quả trung bình, 72 loài không
có hiệu quả và 8 loài kém hơn cả đối chứng Điều đó chứng tỏ không phải thuốc kích thích là phương sách quy nhất để tăng tỉ lệ ra rễ của các loài cây rừng Đối với từng loài cây, cần xác định rõ loại thuốc, nồng độ và thời gian
xử lý thích hợp nhất Trạng thái hom khác nhau (hom hoá gỗ yếu, hom nửa hoá gỗ hay hom đã hoá gỗ) cũng yêu cầu nồng độ và thời gian xử lý thuốc khác nhau và điều này cần được quan tâm khi có kế hoạch xử lý một số lượng lớn hom cành cho sản xuất (Nakamura, Y., 1991)[22]
- Giá thể hay môi trường giâm hom
Giá thể cũng góp phần vào thành công của giâm hom Các loại giá thể giâm hom thường dùng là mùn cưa để mục, xơ dừa băm nhỏ, đất tầng B, cát tinh …giá thể giâm hom tốt phải duy trì được ẩm độ trong thời gian dài và không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời phải sạch, không
bị nhiễm nấm và không có nguồn sâu bệnh, độ pH khoảng 6,0 - 7,0
- Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành như điều kiện chiếu sáng, độ
ẩm không khí, độ ẩm đất có ảnh hưởng khá rõ đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm, nhất là hom lấy từ những cây non
2.3.2 Nhân tố nội sinh
- Tuổi cây mẹ lấy cành
Khả năng ra rễ của hom giâm không những do tính di truyền quy định
mà còn phụ thuộc rất lớn về tuổi cây mẹ lấy cành Thông thường cây chưa ra
Trang 23hoa kết quả dễ nhân giống bằng hom hơn khi đã cho quả, những cây mẹ còn trẻ, sức sống mạnh mẽ, có năng lực phân sinh mạnh nên hom ra rễ tốt hơn Cây càng già khả năng ra rễ của hom càng yếu Thậm chí ở một số loài cây
khả năng ra rễ chỉ tồn tại ở những cây 1 - 2 tuổi (Nakamura, Y., 1991 ) [22]
- Vị trí cành và tuổi cành lấy hom
Hom lấy từ các phần khác nhau thì sẽ có tỷ lệ ra rễ khác nhau Thông thường thì hom lấy từ các cành dưới dễ ra rễ hơn ở cành trên, cành cấp 1 dễ ra
rễ hơn cành cấp 2, 3 …
- Cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy trong tán cây Cho nên ở một số loài cây người ta xử lý sao cho cây ra chồi vượt để lấy hom giâm Tuy nhiên khả năng ra rễ của cành chồi vượt cũng phụ thuộc vào vị trí lấy hom
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ Thông thường thì cành nửa hóa gỗ có tỷ lệ ra rễ lớn nhất, cành hóa gỗ thường cho tỷ lệ kém hơn Như vậy cành non và cành nửa hóa gỗ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất
- Kích thước hom
Đường kính và chiều dài hom ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm Tùy từng loại cây kích thước hom có thể khác nhau
- Sự tồn tại của lá trên hom
Lá là cơ quan quang hợp tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho cây, đồng thời cũng là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán các chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của hom Lá còn là cơ quan điều tiết các chất điều hoà sinh trưởng ở hom giâm, vì thế khi giâm hom phải để lại một diện tích lá cần thiết, song diện tích lá quá lớn, quá trình thoát hơi nước mạnh sẽ làm cho hom bị héo và có thể chết trước khi ra rễ Do vậy hom phải có 1 - 2 lá, và phải cắt bớt một phần (chỉ để lại 1/3 - 1/2) diện tích lá (Nakamura, Y., 1991) [22]
- Đặc điểm di truyền loài
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả năng ra rễ như nhau, tuỳ theo đặc điểm di truyền các loài cây khác nhau có tỉ
Trang 24lệ ra rễ khác nhau đã dựa theo khả năng ra rễ để chia các loài cây gỗ thành các nhóm chính sau:
+ Nhóm các loài cây tương đối khó ra rễ gồm 26 loài trong đó có các
chi Morus sp, Ficus sp, Populus sp …
+ Nhóm các loài cây có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài trong đó
có các chi Eucaluptus sp, Quercus sp …
+ Nhóm các loài cây dễ ra rễ gồm có 29 loài như một số loài thuộc các
chi Malus sp., Prunus sp., Pyrus sp … thuộc họ Rosaceae, và một số chi khác như Aesculus ps, Bauhinia sp …
Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang ý nghĩa tương đối vì có một số loài ở nhóm 1, hoặc nhóm 2 vẫn dễ ra rễ như Gạo, Liễu sam, Vân sam … do vậy theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là: + Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành gồm các loài thuộc họ Dâu
tằm (Moraceae) như Dâu tằm, Sung… và họ Liễu (Salicaseae) như Sắn,
Mía… đối với nhóm này khi giâm hom không cần phải xử lý thuốc hom vẫn
ra rễ bình thường
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom giâm bị hạn chế ở mức độ khác nhau Những loài cây dễ ra rễ như Sở đến 35 tuổi vẫn
có khả năng ra rễ 70 - 90% Những loài cây khó ra rễ như Mỡ (Manglietia
glauca) 5 tuổi vẫn chỉ ra rễ 14% , với nhóm này muốn có tỉ lệ ra rễ cao phải
dùng cây non và xử lý các chất kích thích ra rễ thích hợp (Akula, A., C Akula
& M Bateson, 2000) [19]
- Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau Nghiên cứu cho Bạch đàn trắng Caman
(E.Camaldulensis) 4 tháng tuổi đã thấy rằng trong lúc xuất xứ Katherine có tỉ
lệ ra rễ 95% thì xuất xứ Gilbert River có tỉ lệ ra rễ 50%, còn xuất xứ Nghĩa Bình chỉ ra rễ được 35% (Akula, A., C Akula & M Bateson, 2000) [19]
Trang 25- Các chất điều hoà sinh trưởng
Các chất điều hòa sinh trưởng chia theo hoạt tính sinh lý gồm hai nhóm tác dụng là nhóm kích thích sinh trưởng và nhóm kìm hãm sinh trưởng Một
số chất kích thích sinh trưởng như Auxin, Giberellin và Xytokinin Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom Xong nhiều chất tác động cùng Auxin cùng tồn tại một cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra
rễ của chúng, trong đó quan trọng nhất là : Rhizocalin,đồng nhân tố ra rễ và các chất kích thích, kìm hãm ra rễ (Turesskaia, 2005) [25]
Rhizocalin bản chất là axit được coi là chất đặc biệt cần thiết trong quá trình hình thành rễ nhiều loài cây
Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng: Nhóm Auxin gồm NAA (a.Naphthalene acctic acid), IBA (Indol-3acctic acid), IBA (Indol butyric acid), IPA (Indol-3yl-Acctonitrile) và một số chất khác; nhóm Cytokinin gồm Zeatin, Kinetin; nhóm Giberellin gồm: GA3 (Giberellin acid), GA8
(Giberellin-Lịc Substances) và nhiều chất giống Giberellin khác nhóm chất có khả năng kìm hãm sinh trưởng hoặc thúc đẩy quá trình già hóa như ABA (Abscisic acid), Ethophone (2-chlororthyl), Phosphoric acid, các phenol, retedant…
2.4 Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để cung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho bước cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp
Nhân giống bằng hom là một trong những phương pháp nhân giống sinh dưỡng Đó là việc dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành, hoặc đoạn rẽ
để tạo nên cây mới gọi là hom, cây hom có đặc tính di truyền của cây mẹ Nhân giống vô tính là một phần của cơ quan dinh dưỡng (như rễ, thân,
lá dùng phương pháp nuôi nhân tạo để mọc cây mới Đặc điểm chủ yếu của nhân giống vô tính là chúng có thể giữ được đặc tính của bố mẹ, có thể ra hoa
Trang 26sớm, nhưng sự phát triển bộ rễ cây có thể kém hơn, tính thích ứng và sức sống không mạnh và không thể trồng hàng loạt như cây gieo hạt
* Ưu điểm của giâm hom
- Hệ số nhân cao: Từ một cây mẹ, giống tốt có thể lấy được nhiều cành hom để tạo ra nhiều cây con Trong khi chiết không cho phép lấy nhiều cành trên một cây
- Giữ được những đặc tính di truyền của cây mẹ, chất lượng và tính chống chịu ổn định: Trong giâm hom đặc tính di truyền, phẩm chất và tình trạng trội của cây mẹ được giữ nguyên Có khả năng khống chế số lượng đực hóa
- Năng suất, sản lượng cao: Cây giâm hom hầu hết đều ra quả nhanh hơn cây trồng bằng hạt, vì nó hoàn thành diện tích tán lá cần thiết để ra hoa sớm hơn
* Nhược điểm của giâm hom
- Cây mẹ truyền bệnh virus sang cho cây con, cây giống nhanh bị thoái hóa (sinh trưởng phát triển không đều, giảm giá trị thương phẩm), hệ số nhân thấp, cần số lượng lớn cây bố mẹ
- Giâm hom đòi hỏi kỹ thuật công phu, giá thành cao hơn nhân giống bằng hạt (chi phí cao gấp 6 - 8 lần so với trồng bằng hạt) Hạn chế tuổi của cây mẹ lấy hom
2.4.1 Cơ sở phát sinh phát triển cá thể
Bất kỳ một loài sinh vật nào trong quá trình sinh trưởng và phát triển đều chịu sự điều hoà của bộ gen và bộ gen do môi trường xung quanh điều chỉnh Trong bộ gen sẽ có những gen hoạt động theo điều kiện nhất định và được điều khiển nhịp nhàng theo môi trường với sự phát triển cá thể đặc trưng cho từng loài cụ thể
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục Khả năng ra chồi rễ ở các bộ phận cũng khác nhau, ở các bộ phận thuộc giai đoạn non trẻ khả năng ra rễ lớn hơn ở giai đoạn trưởng thành Do vậy việc xử lý trẻ hoá là một biện pháp quan trọng trong nhân giống bằng hom ở những loài cây khó ra rễ
Trang 27Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất xứ, có loại hom dễ ra
rễ có loại hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ tốt hơn chồi nách, đặc biệt là cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây Mỗi loài cây có một loại hom phù hợp riêng, tuỳ từng loài mà lấy hom ở tuổi, vị trí nào cho phù hợp (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [11]
Có 2 loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ
- Rễ mới sinh: Là loại rễ sinh ra sau khi cắt và giâm hom Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị tổn thương, và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được mở ra là giai đoạn các chu trình trao đổi chất và vận chuyển các chất trong thân cây, dẫn đến dòng nhựa luyện được dẫn từ lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm 3 giai đoạn:
- Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt
- Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo
- Các tế bào vùng thượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ
2.5 Tình hình nghiên cứu cây Chè hoa vàng trên thế giới và Việt Nam
2.5.1.Tình hình nghiên cứu cây Chè hoa vàng trên thế giới
Chi Camellia bắt đầu nghiên cứu từ đầu thế kỷ XVII, tên Camellia do
nhà thực vật học nổi tiếng Thụy Điển tên là Line đặt Trong cuốn “Genera
Trang 28plantarum” để tưởng nhớ vị cha cổ kính yêu là “Camellus Job” và dần 20 năm
sau mới có một số loài được nghiên cứu và mô tả Loài đầu tiên được nghiên
cứu và mô tả là Camellia japonica, sau đó là loài Camellia sinensis Mặc dù
những nghiên cứu về các loài thuộc chi này còn ít và chưa sâu Đồng thời lịch
sử nghiên cứu về các loài Camelliacos rất nhiều thay đổi và chi Camellia mới
thực sự được các nhà thực vật học chú ý nghiên cứu kỹ từ khoảng cuối thế kỷ
17 nhưng đó đã đánh dấu một bước khởi đầu và là tiền đề cho các nghiên cứu
về chi Camellia sau này (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [12]
Từ những năm đầu của thế kỷ XX (1940-1931) nhà sưu tập thực vật học
G Forest (người Anh) đã đến Vân Nam – Trung Quốc và thu thập các loài
Camellia reticulata, Camellia saluenensis…về trồng tại vườn thực vật hoàng
gia Anh Và các thực vật học Robert Sealy cũng đã đi sâu và nghiên cứu kỹ
chi Camellia, trong cuốn “Revesion of the gennus Camellia” năm 1958 ông
đã giới thiệu và mô tả 82 loài, trong đó có 62 loài ông đã căn cứ vào những đặc điểm cần thiết để phân loại chúng thành 12 nhánh, còn lại 20 loài không được xếp vào nhánh nào có lẽ vì thiếu những đặc điểm cần thiết (Trần Ninh
và Hakoda Naotoshi, 2010) [12]
Các nhà thực vật học Trung Quốc đã phát hiện ra loài Camellia hoa vàng đầu tiên tại Quảng Tây vào năm 1964, đó lá loài Camellia chrysantha Tuyama, kể từ đó đến nay việc nghiên cứu về chi Camellia ở Trung Quốc
được đặc biệt chú ý (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [12]
Theo Đat Truong Hong (1998) đã có 16 loài Camellia hoa vàng được
phát hiện tại Trung Quốc và họ đã nhanh chóng tìm ra tác dụng nhiều mặt của nó Có thể nói Trung Quốc là nước đi đầu trong việc nghiên cứu ứng
dụng và khai thác các nguồn lợi từ các loài trong chi Camellia đặc biệt trong nghệ thuật làm cây cảnh Việc nghiên cứu về chi Camellia ở Trung Quốc đã
được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản và có hệ thống từ cuối thế kỷ 19 cho tới hiện nay như nghiên cứu của Cheng Jin Shui và các cộng sự đã tiến