1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn mang thai tại trại lợn bùi thanh phong đan phượng hà nội​

58 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có được đàn lợn giống tốt, chất lượng thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nhất là trong giai đoạn mang thai vô cùng quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của đà

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TỐNG THỊ HƯỜNG

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ

BỆNH CHO LỢN MANG THAI TẠI TRẠI LỢN BÙI THANH PHONG -

ĐAN PHƯỢNG - HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y

Khóa học : 2015 - 2019

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TỐNG THỊ HƯỜNG

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ

BỆNH CHO LỢN MANG THAI TẠI TRẠI LỢN BÙI THANH PHONG -

ĐAN PHƯỢNG - HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y

Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Từ Trung Kiên

Thái Nguyên - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành đề tài này

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy

giáo hướng dẫn, PGS.TS Từ Trung Kiên - giảng viên khoa Chăn nuôi Thú

y đã chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn toàn thể kĩ sư, công nhân tại trại Bùi Thanh Phong, đặc biệt là anh Bùi Thanh Phong đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại cơ sở

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân, những người đã cho em niềm tin, động lực trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày.….tháng 12 năm 2019

Sinh viên

Tống Thị Hường

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.3 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ sở vật chất của trại lợn Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức trang trại 6

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 7

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 7

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái 7

2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 10

2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai 15

2.3.1 Sự mang thai 15

2.3.2 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai 16

2.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái 18

2.3.4 Qúa trình đẻ 21

2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai 22

2.4.1 Sảy thai 22

2.4.2 Viêm tử cung 23

2.4.3 Bỏ ăn không rõ nguyên nhân 23

2.4.4 Đau móng, viêm khớp 24

2.5 Một số loại thuốc được sử dụng trong trị bệnh của chuyên đề 24

Trang 5

2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27

2.6.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 28

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30

3.1 Đối tượng và phạm vi tiến hành 30

3.2 Nội dung tiến hành 30

3.3 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tiến hành 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp thực hiện 30

3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 31

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 31

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái trong giai đoạn mang thai tại trại 32

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng tại cơ sở 33

4.2.1 Công tác chăn nuôi 33

4.2.2 Chăm sóc nuôi dưỡng 35

4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh tại cơ sở 36

4.3.1 Công tác phòng bệnh 36

4.3.2 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng chuồng trại tại cơ sở 37

4.3.3 Kết quả tiêm vắc xin cho đàn lợn nái mang thai và lợn nái hậu bị tại trại 38

4.3.4 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng 40

4.3.5 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại cơ sở 41

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA CHUYÊN ĐỀ

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Khẩu phần ăn của lợn nái hậu bị, lợn nái cai sữa, lợn đực khai thác, lợn đực chờ khai thác 18 Bảng 2.2 Định lượng thức ăn và nước uống cho lợn nái mang thai tại trại 20 Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 2 năm 2018-2019 32 Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh tại cơ sở 37 Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 38 Bảng 4.4 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai tại trại 39 Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh ở đàn lợn nái mang thai nuôi tại trại 40 Bảng 4.6 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn mang thai tại trại 42

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta ngày càng phát

triển, điển hình là chăn nuôi lợn Đàn lợn ở nước ta ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Hiện nay, với những chính sách hỗ trợ của nhà nước cùng với sự phát triển về kĩ thuật, về khoa học công nghệ trong chăn nuôi, chăn nuôi lợn càng được mở rộng quy mô Đã có nhiều trang trại có quy mô lớn, được đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, áp dụng nhiều thành tựu khoa học Do đó, mà chăn nuôi lợn ở nước ta vẫn giữ vị trí hàng đầu và ngày càng phát triển

Để có được đàn lợn giống tốt, chất lượng thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nhất là trong giai đoạn mang thai vô cùng quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của đàn lợn giống sau này Ngoài ra việc phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản cũng góp phần đảm bảo chất lượng của con giống khi được sinh ra

Bên cạnh những trang trại quy mô hiện đại thì vẫn còn nhiều cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ, hộ gia đình do thiếu vốn đầu tư cho cơ sở vật chất, khoa học kĩ thuật chưa đảm bảo, kiến thức của người chăn nuôi chưa cao hoặc chưa theo sát được

sự phát triển về kĩ thuật của ngành dẫn đến việc chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh gặp nhiều khó khăn Đàn lợn nái mang thai dễ gặp phải các bệnh như: viêm tử cung, viêm khớp, sảy thai, bại liệt trước và sau khi đẻ…

Xuất phát từ những thực tế trên, nhằm nâng cao khả năng, chất

lượng sinh sản cho đàn lợn nái, em đã tiến hành chuyên đề: “Thực hiện

quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái mang thai nuôi tại trại lợn Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội”

Trang 9

1.2 Mục tiêu của chuyên đề

Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái mang thai

Thành thạo trong việc sử dụng các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

Phát hiện và chẩn đoán các bệnh thường hay xảy ra trên đàn lợn nái

mang thai và phương pháp phòng, điều trị bệnh hiệu quả

1.3 Yêu cầu của chuyên đề

Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bùi Thanh Phong, Đan Phượng, Hà Nội

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái mang thai tại trại

Có những biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái mang thai tại trại

Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại trại

Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái mang thai tại trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Phía đông giáp quận Từ Liêm, huyện Hoài Đức

Phía tây giáp huyện Phúc Thọ

Phía nam giáp huyện Hoài Đức

* Đặc điểm khí hậu

Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt, nên huyện Đan Phượng cũng chịu ảnh hưởng nhiều của kiểu thời tiết này Mùa đông có gió mùa Đông Bắc, lạnh, khô, ít mưa Mùa hè có gió Tây khô nóng, nóng, ẩm, mưa nhiều

Từ tháng 1 đến tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng vì là tiết xuân nên có mưa nhẹ (mưa xuân) đủ độ ẩm cho sinh vật phát triển Từ tháng 5 đến tháng 9

là mùa nóng có mưa to và bão Tháng 8, 9, 10 là ngày thu, khí hậu mát

Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá lạnh, không mưa to, những ngày cuối thu se se lạnh và chóng hoà nhập vào mùa đông Nhiệt độ trung bình mùa đông: 17,2ºC (lúc thấp xuống tới 2,7ºC) Trung bình mùa hạ: 29,2ºC (lúc cao nhất lên tới 39ºC) Nhiệt độ trung bình cả năm: 23,2ºC; lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800mm

Trang 11

* Giao thông, thủy lợi

Huyện Đan Phượng có Quốc lộ 32 chạy qua khoảng 4 km, nếu đi từ phía Hà Nội lên Sơn Tây đến km 16 + 500 là ngã Tư Trôi (thuộc huyện Hoài Đức) rẽ phải khoảng 300m sẽ đến xã Tân Lập - huyện Đan Phượng

Huyện Đan Phượng là huyện có hệ thống sông Hồng, sông Đáy chảy qua Xưa kia là ngã ba sông (sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy) nên địa hình của huyện là tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa Chiều cao trung bình là 6 - 8 m so với mực nước biển

2.1.2 Cơ sở vật chất của trại lợn Bùi Thanh Phong - Đan Phượng - Hà Nội

2.1.2.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại

Trang trại sản xuất lợn giống của ông Bùi Thanh Phong nằm trên địa

phận xã Đồng Tháp - huyện Đan Phượng - Hà Nội Trại được thành lập năm

2003, có diện tích là 7200 m² Là trại lợn tư nhân do ông Nguyễn Xuân Tiến

thành lập

Giai đoạn năm 2003 - 2015 trại cho công ty C.P thuê làm trại gia công,

từ năm 2015 đến nay trại chuyển lại thành trại tư nhân do ông Nguyễn Xuân Tiến, ông Bùi Thanh Phong và ông Vũ Thanh Biện cùng làm chủ và ông Nguyễn Xuân Tiến quản lí

2.1.2.2 Cơ sở vật chất của trại

* Khu nhà ở của công nhân viên

Trại được xây dựng trên đất 5% của xã Đồng Tháp với thời gian thuê là

50 năm Trại chia làm 2 khu riêng biệt là khu trại chăn nuôi và khu nhà ở, được ngăn cách với nhau bởi 1 ao cá và 1 vườn rau Trại được bao bọc bởi hệ thống cây xanh phân tầng, đảm bảo vừa mát mẻ, vừa thanh lọc không khí, giảm mùi, tránh ô nhiễm môi trường

Khu nhà ở của công nhân viên được xây dựng phù hợp với yêu cầu thực tế của trại 300 nái Gồm: 1 phòng kĩ sư, 2 phòng công nhân, 1 phòng của

Trang 12

công nhân trực đêm Hệ thống nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh cũng được xây dựng phù hợp, có hệ thống nóng lạnh đầy đủ

* Khu trại chăn nuôi

Khu trại chăn nuôi được xây dựng theo đúng tiêu chuẩn Gồm: chuồng cách li, chuồng cai sữa, chuồng bầu, chuồng đẻ, phòng khai thác tinh, khu để phân, bể ngâm rửa dụng cụ, sân phơi, nhà vệ sinh và hệ thống xử lí chất thải Khu chuồng bầu có 2 ô lớn dành cho lợn đực hoạt động và phối, 5 ô cho lợn đực, 320 ô chuồng dành cho lợn nái Khu lợn nái chia ra 4 khu vực riêng: khu lợn bầu, khu lợn cai sữa, khu lợn vấn đề, khu phối Khu lợn bầu được sắp xếp riêng theo từng giai đoạn mang thai của lợn Khu lợn cai sữa, khu lợn vấn đề và khu phối được xếp sát nhau để tiện cho việc theo dõi Chuồng bầu mỗi ô nái có kích thước 2,4m x 0,65m/ô; hai ô chuồng đực giống

có kích thước 5m x 6m Lợn nằm trên sàn bê tông cao 0,5m có khe thoát nước Ngoài ra, chuồng bầu trang bị 5 bóng đèn hồng ngoại ở mỗi đầu dãy chuồng để sưởi ấm vào mùa đông

Chuồng đẻ được chia ra: 50 ô chuồng chờ đẻ, 74 ô chuồng đẻ Hai khu chuồng này đều xây dựng hệ thống sàn bê tông cao khoảng 1m, có khe thoát nước và chia từng ô riêng biệt, chuồng đẻ mỗi ô có kích thước 2,4m x 1,6m/ô

và trang bị hệ thống lồng úm

Các chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng có 8 quạt thông gió, 2 quạt đối với các chuồng cách li và cai sữa Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m2; cách nền 1,2m; khoảng cách giữa các cửa là 2,5m Trên trần được lắp hệ thống chống nóng tôn lạnh Ngoài ra, mỗi chuồng đều có hệ thống ống nước, máy bơm để đáp ứng nhu cầu uống nước và vệ sinh chuồng trại Máng

ăn được xây dựng hiện đại, có kệ để thuốc, dụng cụ cần thiết và đảm bảo an toàn vệ sinh

Trang 13

Phòng khai thác tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Kho chứa thức ăn: một kho chứa thức ăn được đóng trần kín, có sàn gỗ cách mặt đất 20cm để chứa thức ăn trong chăn nuôi

Hệ thống sát trùng: có 1 máy phun sát trùng là máy bơm nén ở cổng ra vào, hố vôi sát trùng, cạnh khu ở của công nhân có phòng sát trùng gồm 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm được trang bị đầy đủ bình nóng lạnh, vòi hoa sen, chậu tắm…

Hệ thống điện: lưới điện cung cấp đủ cho hoạt động các bóng đèn cung cấp điện sáng cho công nhân chăn nuôi, bóng sưởi, quạt thông gió Ngoài ra trại còn trang bị thêm máy phát điện công suất lớn để đề phòng trường hợp mất điện, trục trặc về điện để đảm bảo hoạt động chăn nuôi diễn ra bình thường

Một số dụng cụ, trang thiết bị khác như: tủ lạnh chứa vắc xin, tủ đựng thuốc dự trữ có đèn tia UV để khử trùng thuốc trước khi mang vào trong chuồng sử dụng, máy bơm nén, xe chở cám từ nhà kho tới chuồng…

2.1.3 Cơ cấu tổ chức trang trại

Trang 14

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn

 Thuận lợi

Trại được thiết kế, xây dựng hợp lí, thuận lợi giao thông, cách xa với khu dân cư Chủ trại nắm bắt được tình hình chăn nuôi, thị trường, quan tâm đến đời sống tinh thần của công nhân Đội ngũ công nhân nhiều kinh nghiệm,

có trách nhiệm làm việc cao, tay nghề vững, kỹ thuật quản lý trại có năng lực cao, trình độ chuyên môn vững vàng Con giống tốt, chất lượng thức ăn, thuốc thú y tốt, đảm bảo quy trình chăn nuôi khép kín khoa học, nâng cao năng suất chăn nuôi

 Khó khăn

Dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp nên chi phí cho phòng bệnh và chữa bệnh nhiều, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sản xuất của lợn nái Cơ sở vật chất tuy đầy đủ nhưng đã cũ, có phần hư hỏng Nhiều công nhân có tay nghề nhưng vẫn còn lạc hậu trong kỹ thuật, ít học hỏi những kỹ thuật mới, hiện đại Số lượng lợn nuôi nhiều khiến cho công tác xử lí nước thải tránh gây ô nhiễm môi trường cần đầu tư nhiều, gặp nhiều khó khăn Giá thành của ngành chăn nuôi nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng có nhiều biến động lớn, làm ảnh hưởng tới đầu ra của lợn, làm cho ngành chăn nuôi ngày càng khó khăn

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái

Cơ quan sinh dục của lợn cái cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên trong

và bộ phận sinh dục bên ngoài

Bộ phận sinh dục bên ngoài: âm môn, âm vật, tiền đình

Bộ phận sinh dục bên trong: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4] cho biết: đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái như sau:

Trang 15

* Bộ phận sinh dục bên ngoài

- Âm môn (Vulva): Hay còn gọi là âm hộ Nằm ở dưới hậu môn Phía

ngoài âm môn có 2 môi Nối liền 2 môi là 2 mép Trên 2 môi âm môn có sắc

tố đen và nhiều tuyến tiết Tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi

- Âm vật (Clitoris): Cấu tạo cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật

có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Âm vật được phủ bởi một lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, do đó trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, người thụ tinh thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để cổ tử cung co thắt và con vật trở lại trạng thái bình thường

- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis): Là giới hạn giữa âm

môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm đạo, phía sau là âm môn, sau màng trinh là lỗ niệu đạo Tiền đình có một số

tuyến hướng quay về âm vật

* Bộ phận sinh dục bên trong

- Âm đạo (Vigina): Phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền

đình có màng trinh che lỗ âm đạo Âm đạo là lỗ tròn để chứa cơ quan sinh dục sinh đực khi giao phối Đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình đẻ, kích thước âm đạo của lợn là 10 - 12 cm

- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng

cho sự phát triển của bào thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung

+ Ngoài cùng là lớp tương mạc được nối với dây chằng rộng Lớp cơ:

cơ trơn rất phát triển dày, khỏe có cấu tạo với chức năng chứa thai phát triển

và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong Cơ vòng phát triển mạnh

ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt có nhiều nếp gấp, trong niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn Niêm mạc đến cổ tử cung thì thắt tùy thuộc vào từng loại gia súc

Trang 16

+ Mạch quản thần kinh: Động mạch đến từ động mạch tử cung - buồng trứng và động mạch tử cung Thần kinh đến từ đám rối treo đằng sau và đám rối hạ vị Sừng tử cung của lợn dài ngoằn nghèo như ruột non dài từ 0,5 - 1m Dây chằng rộng dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được

+ Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung Cổ tử cung không có nếp gấp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau

- Buồng trứng (Ovarium): Có hai buồng trứng treo ở cạnh trước dây

chằng rộng và nằm trong xoang chậu Bên ngoài là một màng liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, được cấu tạo bởi lớp mô liên kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm

+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng chín và rụng

+ Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo

vệ trứng

Buồng trứng như một tuyến nội tiết của gia súc cái Buồng trứng có hai chức năng: Nội tiết (tiết ra hormone sinh dục cái oestrogen) và ngoại tiết (bài noãn) Các hormone sinh dục cái: estrogen, progesteron và inhibin tham gia

vào việc điều khiển chu kì sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát

triển của tử cung và hệ thống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng tiết

ra kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytocin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Relaxin do thể vàng tiết ra gây

Trang 17

dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh

dục khi lợn sắp sinh Inhinbin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn

(FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kì

Khi noãn nang bào thành thục thì màng liên kết buồng trứng sẽ tách ra

Tế bào trứng rời khỏi buồng trứng đi vào loa kèn, noãn nang bào rách ra sẽ liền ngay Các tế bào phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn bào và trở thành thể vàng Nếu tế bào trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại và tiết ra hóoc môn progesterone có tác dụng an thai và ngược lại

- Ống dẫn trứng (Oviductus): Là một ống nhỏ ngoằn ngoèo nằm ở màng

treo buồng trứng

Cấu tạo gồm 3 phần: ngoài cùng là sợi liên kết được kéo dài từ màng treo buồng trứng Giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là niêm mạc được cấu tạo bằng tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết dịch Bề ngoài niêm mạc được phủ một lớp nhung mao, luôn rung động để đẩy tế bào trứng hoặc hợp

tử xuống tử cung làm tổ

Ống dẫn trứng có chức năng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau Bộ phận giống như tua diềm vận chuyển trứng đã rụng từ bề mặt buồng trứng đến phễu Trứng được chuyển qua những lớp nhầy đi đến phồng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và được lưu lại trong ống dẫn trứng khoảng 3 ngày trước khi chúng được chuyển đến tử cung Thời gian trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thuận lợi cho sự hợp nhất của các giao tử và cho sự phát triển

ban đầu của phôi (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2012) [4]

2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái

* Sự thành thục về tính

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [9]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 - 70kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55kg

Trang 18

Thời điểm động dục của lợn cái khác nhau trên cùng một giống lợn Con vật được chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ thành thục sớm hơn những con ít được chăm sóc Sự kích thích của con đực làm con lợn cái nhanh động dục hơn so với những con không được tiếp xúc với lợn đực

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4] thì sự thành thục về tính dục ngoài việc phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: Giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái… Các giống lợn nội thành thục sớm hơn lợn ngoại, lợn lai Gia súc nhiệt đới thành thục sớm hơn gia súc ôn đới

Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng

 Sự thành thục về thể vóc

Sự thành thục về thể vóc là sự phát triển hoàn toàn về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường muộn hơn sự thành thục về tính Sự thành thục về tính được đánh dấu khi xuất hiện khi có dấu hiệu động dục lần đầu, nhưng sự sinh trưởng và phát dục về cơ thể vẫn tiếp tục Nếu cho phối giống ngay ở giai đoạn thành thục về tính này sẽ không tốt cho lợn nái Lợn mẹ vẫn thụ thai nhưng không đảm bảo bào thai phát triển tốt, chất lượng đàn con kém, đồng thời cơ quan sinh dục chưa phát triển hoàn thiện, xương chậu hẹp gây ra hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này, do đó không nên phối giống khi lợn chưa thành thục về thể vóc Đối với lợn nội ta chỉ nên phối giống khi lợn được 7 - 8 tháng tuổi, đạt 40 - 50kg thể trọng, lợn nái ngoại nên phối khi lợn được 8 - 9 tháng tuổi và đạt 100 - 110kg thể trọng

Trang 19

 Chu kỳ động dục

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4]: Sau khi thành thục tính dục, gia súc cái bắt đầu có hoạt động sinh sản Dưới sự điều hòa của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín) và rụng Kèm theo quá trình này là hàng loạt biến đổi toàn thân và cơ quan sinh dục được biểu hiện

bởi các triệu chứng đặc biệt, gọi là triệu chứng động dục

Ở lợn thường động dục không theo mùa, chu kì động dục trung bình là

21 ngày, giao động trong koảng từ 18 - 22 ngày Thời gian xuất hiện động dục sau khi đẻ liên quan đến vấn đề cho con bú Thời gian lợn động dục sau khi cai sữa lợn con là từ 3 - 5 ngày Nếu không cho con bú thì sau đẻ 3 - 5 ngày lợn động dục trở lại vì thể vàng ở lợn teo đi rất nhanh

Thời gian động dục lần thứ hai sau 20 - 22 ngày, quá trình động dục kéo dài cao độ trong khoảng 24 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng là ngày thứ 2 sau động dục

Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: Là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường

Giai đoạn này các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Nhưng tính hưng phấn chưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục

+ Giai đoạn động dục: Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục

có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu,

Trang 20

rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này

tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện

+ Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn

+ Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý

hộ sung huyết, sung, mẩy đỏ, có dịch trong chảy ra, loãng và ít, sau dần

chuyển sang đặc dính Sau khi phát hiện động dục thì ta tiến hành cho phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo

 Thời điểm phối giống thích hợp

Quá trình chăn nuôi lợn nái sinh sản, người chăn nuôi phải biết chính xác chu kỳ và các giai đoạn của quá trình động dục để chủ động điều chỉnh thời điểm phối giống, sinh đẻ của lợn nái cho thuận lợi nhất, đem lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế được rủi ro tới mức thấp nhất Đồng thời có thể cân bằng được chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc sao cho phù hợp nhất Có thể phối giống kịp thời, đúng thời điểm, vừa tăng số lượng lợn con/lứa vừa không bỏ

Trang 21

lỡ mất chu kì phối giống, tăng số lần phối/năm, nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

Tinh trùng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ, tinh trùng có thể sống trong

âm đạo từ 30 - 48 giờ Thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, do vậy phải tiến hành đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực

Chỉ nên phối giống cho nái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi nặng trên 80 - 90 kg đối với lợn

ngoại và lợn lai (ngoại x ngoại)

Đối với lợn nái ngoại, lợn nái lai thời điểm phối giống thích hợp nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ hoặc cho phối vào cuối ngày thứ ba

và sáng ngày thứ tư kể từ khi bắt đầu động dục

Đối với lợn nái nội nên phối giống vào cuối ngày thứ hai và sáng ngày thứ ba vì thời gian động dục ngắn hơn

Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có biểu hiện chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau phối, thường cho phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng

Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái gồm các bước:

Bước 1: xác định thời điểm động dục, thời điểm chịu đực chính xác

(thường sau 24 - 29 giờ)

Bước 2: chuẩn bị dụng cụ như dẫn tinh quản, bình xịt nước muối sinh

lí, gel bôi trợn, bông thấm

Bước 3: chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (mỗi liều khoảng 80

-100ml), tỉ lệ tinh trùng tiến thẳng trong một liều tinh, tinh dịch đã được pha chế và kiểm tra hoạt lực

Trang 22

Bước 4: vệ sinh lợn nái, vệ sinh phía ngoài của bộ phận sinh dục,

mông, chân bằng nước sạch, sau đó rửa lại cơ quan sinh dục bên ngoài bằng nước muối sinh lý, lau khô bằng khăn sạch

Bước 5: tiến hành phối giống:

 Kích thích lợn cái bằng cách cưỡi lên trên lưng lợn hoặc sử dụng đai đặt lên trên phần lưng hông của lợn trong khoảng 5 phút

 Bôi trơn đầu mút của dẫn tinh quản bằng gel bôi trơn

 Đưa ống dẫn tinh quản vào cơ quan sinh dục cái, xoay nhẹ theo chiều kim đồng hồ, khi kịch thì rút nhẹ ra khoảng 2cm, cắm liều tinh đã chuẩn bị vào đầu dẫn tinh quản, khi hết tinh thì rút liều tinh ra, lưu lại ống dẫn tinh quản trong đường sinh dục cái khoảng 5 phút

 Rút nhẹ ống dẫn tinh quản theo chiều kim đồng hồ, vỗ mạnh vào lưng lợn một cách đột ngột để lợn đóng cổ tử cung lại

Bước 6: sau khi dẫn tinh xong thì vệ sinh dụng cụ sạch sẽ, số lần thụ

tinh trong một chu kì là 2 - 3 liều tinh, được ghi lại trên thẻ của từng nái Sau khi thụ tinh 21 - 25 ngày tiếp tục quan sát hiệu quả thụ thai, phát hiện kịp thời lợn nái động dục trở lại để tiến hành thụ tinh lại Kết quả thụ thai của thời kỳ động dục nào sẽ ghi vào kết quả thụ thai của thời kỳ đó

2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai

2.3.1 Sự mang thai

Sau khi phối giống 21 ngày mà lợn nái không thấy có dấu hiệu động dục lại thì lợn nái đã đậu thai Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm xuống ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời

Trang 23

gian có chửa để an thai, ức chế động dục, 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian mang thai của lợn nái có thể kéo dài trong khoảng là 115 -

118 ngày

Thời gian mang thai được tính từ khi phối giống lần cuối cùng, thời gian mang thai cũng phụ thuốc vào một số yếu tố và điều kiện khác nhau Thời gian mang thai dài hay ngắn phụ thuộc vào loài, giống gia súc, tuổi gia súc, lứa sinh sản, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe, số lượng bào thai, trạng thái của

cơ quan sinh sản

Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kì:

+ Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84 + Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày 85 đến ngày đẻ dự kiến

2.3.2 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai

Công tác quan trọng nhất trong chăm sóc, quản lý lợn nái mang thai đó

là phòng ngừa sảy thai, nghĩa là công tác bảo vệ bào thai để thai sinh trưởng, phát dục bình thường, tránh các tác động từ ngoại lực gây đẻ non, sảy thai, nhất là trong giai đoạn mang thai thứ II

Nguyên nhân sảy thai chủ yếu do nền chuồng hay sân chơi mấp mô, gồ ghề làm cho lợn trượt ngã, cửa ra vào nhỏ lợn phải chen lấn, xô đẩy nhau, đánh đập lợn, tắm nước lạnh đột ngột

 Vận động

Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái mang thai trong giai đoạn I cần chú ý cho vận động nhất là đối với lợn nái có thể trạng béo Đối với những cơ sở chăn nuôi có điều kiện tài chính khó khăn tiêu chuẩn và khẩu phần ăn cho lợn nái còn thấp nhưng cho chăn thả, vận động hợp lý kết hợp với thức ăn mà lợn kiếm được từ chăn thả thì lợn nái vẫn khỏe mạnh, thai sinh trưởng, phát dục tốt, lợn con có sức sống cao

Trang 24

Thời gian vận động trong khoảng 1 - 2 lần/ngày, mỗi lần 60 - 90 phút/lần Lợn nái mang thai kỳ II hạn chế cho vận động, lúc gần đẻ một tuần thì chỉ cho

đi lại quanh sân

Chú ý: khi thời tiết xấu hay nơi chăn thả không bằng phẳng, có nhiều

rãnh thì không cho vận động Trước khi cho vận động thì cho uống đủ nước

để lợn nái không uống nước bẩn bên ngoài

 Tắm chải

Tắm chải cho lợn nái là rất cần thiết, vệ sinh sạch sẽ lông da của lợn, giúp tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, lợn nái cảm thấy thoải mái, kích thích thèm

ăn, phòng các loại bệnh ngoài da Việc tắm chải cho lợn nái nên thực hiện đặc biệt

là trong mùa hè, ngoài loại bỏ kí sinh trùng thì còn chống nóng cho lợn nái

 Chuồng trại

Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đúng quy định để nuôi lợn nái mang thai Có chế độ nuôi nhốt phù hợp theo từng giai đoạn, tại trại quy mô công nghiệp thì ngay từ khi nhập lợn hậu bị người ta đã tiến hành nhốt mỗi con một ô đề có thể dễ dàng chăm sóc, theo dõi trong từng giai đoạn mang thai của lợn, lợn nái sẽ được nuôi theo từng khu theo từng giai đoạn mang thai Chuồng nuôi phải luôn được vệ sinh sạch sẽ, nhiệt độ phù hợp theo từng mùa, khô ráo thoáng mát Trước khi lợn đẻ theo lịch dự kiến một 1 tuần thì cho lợn nái sang ô đẻ

Chuồng nuôi phải đảm bảo yên tĩnh, thoải mái cho lợn nái trong giai đoạn thai kỳ, tránh tạo ra những tiếng động mạnh, đột ngột, ảnh hưởng không tốt tới lợn nái

Mỗi nái mang thai đều được gắn thẻ mang mã số riêng từng con, thẻ ghi thông tin về ngày phối, ngày đẻ dự kiến, ngày đẻ thực tế, lứa đẻ, số con đẻ

ra, số con chết, số con hiện nuôi, số con cai sữa hay sự cố sảy ra như sảy thai, không đậu thai, chết thai để có biện pháp xử lý

Trang 25

2.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái

Đối với lợn nái hậu bị hay lợn nái vừa cai sữa, khẩu phần ăn phù hợp rất cần thiết Lợn hậu bị trước khi đến thời điểm phối cần có khối lượng cơ thể cân đối cùng với sức khỏe đảm bảo không mắc bệnh, quá gầy, ảnh hưởng đến thời gian động dục, khả năng đậu thai Lợn nái sau khi cai sữa xong thường giảm khối lượng cơ thể, có nhiều con sức khỏe giảm, gầy yếu, việc cung cấp khẩu phần ăn đầy đủ về dinh dưỡng là để bù đắp lại khối lượng cơ thể để chu kỳ động dục xuất hiện nhanh và tỷ lệ đậu thai cao Lợn đực có khẩu phần ăn vừa đủ để không quá béo, không quá gầy Việc nuôi dưỡng, cung cấp khẩu phần ăn phù hợp cho lợn đực là rất quan trọng, để đảm bảo chất lượng tinh trùng Lợn đực cũng có chế độ khai thác phù hợp, khai thác khi lợn đực không quá non, không quá già, khai thác không quá dày đặc khiến lợn đực quá sức Dưới đây là bảng thể hiện khẩu phần ăn dành cho lợn nái hậu bị, lợn nái sau cai sữa, lợn đực, lợn đực chờ khai thác tại trại

Bảng 2.1 Khẩu phần ăn của lợn nái hậu bị, lợn nái cai sữa, lợn đực

khai thác, lợn đực chờ khai thác

Loại lợn Tiêu chuẩn khẩu phần ăn

(kg/con/ngày) Loại thức ăn

(Nguồn: Phòng kỹ thuật trại)

Cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái để đảm bảo nhu cầu cho sự phát triển của thai, nhu cầu duy trì cơ thể và tích lũy trong giai đoạn tiết sữa nuôi con sau này Đối với lợn nái hậu bị, mang thai lần đầu thì lượng dinh dưỡng cần cao hơn để lợn nái hậu bị tiếp tục phát triển hoàn thiện

Trang 26

Trong giai đoạn chửa kỳ I khẩu phần ăn của lợn phải có tỷ lệ protein là

13 - 14%, năng lượng trao đổi từ 2800 - 2900 Kcal Nhưng ở giai đoạn II tỷ lệ protein trong khẩu phần ăn phải cao hơn từ 15 - 20% Ở giai đoạn I bào thai chưa phát triển mạnh, dinh dưỡng chủ yếu dành cho lợn nái để duy trì cơ thể, một phần nhỏ là để nuôi bào thai Giai đoạn II tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, cần dinh dưỡng nhiều cho bào thai để lợn con khi sinh ra đạt yêu cầu về khối lượng theo từng giống Đối với lợn Landrace thì khối lượng lợn con sơ sinh trung bình đạt 1,4kg/con, lợn Yorkshire khối lượng lợn con sơ sinh là 1,3kg/con

Khi xác định được lượng thức ăn cho ăn trong một ngày cần phải chú ý đến thể trạng của lợn nái, sức khỏe, giống và khối lượng của lợn nái, giai đoạn thai kỳ của lợn nái mang thai, loại thức ăn, chất lượng, phẩm chất của thức ăn, nhiệt độ chuồng nuôi Ví dụ như lợn nái mang thai kì II cho ăn với khẩu phần ăn nhiều hơn giai đoạn I, gầy cho ăn nhiều hơn, lợn béo cho ăn ít hơn Mùa đông thì cho ăn với khẩu phần ăn tăng lên khoảng 0,3 - 0,5kg /nái, nhiệt độ chuồng phù hợp là nằm trong khoảng từ 25 - 30°C

Đối với lợn nái mang thai lần đầu thì dinh dưỡng có thể tăng lên 10 - 15% vì ngoài dinh dưỡng nuôi bào thai thì lợn cần dinh dưỡng để phát triển

cơ thể Đối với lợn nái tách con thì cần phải cho ăn tăng lên để rụng nhiều trứng, tăng số con đẻ ra cho lứa sau Việc tăng giảm khẩu phần ăn còn tùy thuộc vào lợn nái béo hay gầy Tại trại, khẩu phần ăn của lợn nái theo từng giai đoạn mang thai từng loại thức ăn và theo thể trạng của từng con lợn

Trang 27

Bảng 2.2 Định lượng thức ăn và nước uống cho lợn nái mang thai tại trại Giai đoạn

Thể trạng lợn nái

Loại thức ăn Nái gầy Nái trung

(Nguồn: Phòng kỹ thuật trại)

Trong chăn nuôi công nghiệp người ta sử dụng thức ăn tinh, mùi thơm ngon, không bị ôi thịu, ẩm mốc, hàm lượng dinh dưỡng phù hợp với lợn nái trong từng giai đoạn mang thai

Gần đến ngày đẻ cần giảm lượng thức ăn xuống nhưng vẫn đảm bảo dinh dưỡng bằng cách sử dụng thức ăn giàu dinh dưỡng Không được cho lợn nái ăn thức ăn ôi thiu, nấm mốc, thức ăn có độc gây sảy thai, đẻ non Không cho ăn quá nhiều với lợn sau phối 35 ngày

Ảnh hưởng của khẩu phần ăn không phù hợp đối với lợn nái mang thai: Cho lợn nái ăn quá nhiều:

Về mặt kinh tế: Khẩu phần ăn phù hợp không bị lãng phí dư thừa thức ăn giúp người chăn nuôi tiết kiệm tiển bạc, nâng cao lợi nhuận trong chăn nuôi

Trang 28

Về mặt kỹ thuật: lợn nái không bị thừa nhu cầu của giai đoạn chửa Nếu cho ăn quá nhiều thì lợn nái sẽ quá béo, tỷ lệ chết phôi cao, đặc biệt là giai đoạn sau 35 ngày Lợn nái quá béo làm cho chân yếu, đứng dậy đi lại khó khăn, dễ đè con trong giai đoạn nuôi con, tiết sữa kém do mỡ chèn ép lên tuyến sữa, làm cho nái khó đẻ, kéo dài thời gian đẻ

Cho lợn nái ăn quá ít:

Lợn nái trong quá trình mang thai cần nhiều dinh dưỡng để nuôi thai, nếu như khẩu phần ăn quá ít lợn nái sẽ bị gầy, thiếu dinh dưỡng để nuôi cơ thể và nuôi thai Sức đề kháng với bệnh yếu, sức rặn khi đẻ yếu

Không đủ dinh dưỡng dự trữ cho kỳ tiết sữa, sản lượng sữa thấp, nuôi con kém, lợn con còi cọc, dễ mắc bệnh, tỷ lệ lợn con sống thấp

Thời gian động dục sau khi tách con kéo dài, tỷ lệ số lứa trên năm thấp, hao mòn lợn nái, tốn nhiều thức ăn, giảm thời gian khai thác

2.3.4 Qúa trình đẻ

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần

kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục

Khi gần đẻ, con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần nút niêm dịch cổ tử cung, dịch trong đường sinh dục lỏng, sánh và dính chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Lợn nái có hiện tượng cắn ổ, bứt rứt, khó chịu, thường đứng lên nằm xuống liên tục Lợn cong lưng rặn, ỉa liên tục, mỗi lần ỉa rất ít

Thời gian đẻ của lợn thường từ 1 - 6 giờ, được tính từ khi cổ tử cung

mở cho đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời gian lợn đẻ:

Trang 29

Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa đầu

Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt ra sữa đầu

Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt ra sữa đầu

2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai

2.4.1 Sảy thai

Các trường hợp thai bị đẩy ra ngoài trước ngày đẻ dự kiến dược gọi là sảy thai Sảy thai do sức sống của thai yếu, bộ phận sinh dục hoặc cơ thể của con mẹ bị bệnh Có biểu hiện đẻ dù chưa tới ngày đẻ dự kiến, con sơ sinh khi

đẻ ra thường bị chết, con ít, con sinh non có sức sống rất yếu

Sảy thai có thể do các nguyên nhân sau:

- Nguyên nhân truyền nhiễm:

Lợn mẹ mắc các bệnh truyền nhiễm như brucellosis, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus… Chuồng trại chật hẹp, thời tiết nắng nóng làm khả năng sảy thai tăng cao hơn

- Nguyên nhân không do truyền nhiễm:

Do cơ thể lợn nái mẹ bị các bệnh lý như nhiễm trùng đường sinh dục: viêm niêm mạc tử cung, viêm âm đạo do vi khuẩn có sẵn trong chuồng nuôi hoặc bị nhiễm khi thụ tinh, sảy thai do thói quen hoặc do vận động mạnh, hoặc bị đánh đập gây sảy thai

Chế độ dinh dưỡng chăm sóc trong thời kỳ mang thai kém, thiếu tein, khoáng chất cần thiết cho cơ thể mẹ và sự phát triển của bào thai Thức

pro-ăn bị nấm mốc, nhiễm độc làm cho lợn bị ngộ độc gây sảy thai

Lợn nái bị mắc các bệnh lý ở nhau thai hay bào thai: nhau thai phát triển không bình thường, bào thai có sức sống quá yếu

- Phòng bệnh:

Khi chọn lợn làm giống không được chọn những con bị mắc các bệnh truyền nhiễm như Leptospilosis, Brucellosis…

Ngày đăng: 06/02/2021, 12:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
2. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
3. Bùi Thị Kim Dung và Bùi Huy Như Phúc (2008), Ảnh hưởng các nguyên liệu giàu xơ (cám lúa mỳ, vỏ đậu nành và lá khoai mì) lên một số chỉ tiêu sinh sản lợn nái, Khoa học kỹ thuật. Tạp chí Chăn nuôi. Số 7-08 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng các nguyên liệu giàu xơ (cám lúa mỳ, vỏ đậu nành và lá khoai mì) lên một số chỉ tiêu sinh sản lợn nái
Tác giả: Bùi Thị Kim Dung và Bùi Huy Như Phúc
Năm: 2008
4. Nguyễn Mạnh Hà, Đào Đức Thà, Nguyễn Đức Hùng (2012), Giáo trình công nghệ sinh sản vật nuôi, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công nghệ sinh sản vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Đào Đức Thà, Nguyễn Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2012
5. Lã Văn Kính, Đoàn Vĩnh, Lã Thị Thanh Huyền, Phan Thị Tường Vi và Đoàn Phương Thúy (2019), Xác định lượng xơ thô thích hợp trong khẩu phần lợn nái mang thai giống ông bà Landrace và Yorshire -Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - số 98. Tháng 4/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định lượng xơ thô thích hợp trong khẩu phần lợn nái mang thai giống ông bà Landrace và Yorshire
Tác giả: Lã Văn Kính, Đoàn Vĩnh, Lã Thị Thanh Huyền, Phan Thị Tường Vi và Đoàn Phương Thúy
Năm: 2019
6. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Quán, Hoàng Văn Hoan, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Huy Đăng Và Đỗ Ngọc Thúy (2011), Bệnh sinh sản ở vật nuôi, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Quán, Hoàng Văn Hoan, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Huy Đăng Và Đỗ Ngọc Thúy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
8. Tô Thị Phượng, Khương Văn Nam (2014), Tình hình bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản và thử nghiệm điều trị tại Công ty cổ phần đầu tư Nông nghiệp huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa - Tạp chí khoa học, trường Đại học Hồng Đức - số 21.2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản và thử nghiệm điều trị tại Công ty cổ phần đầu tư Nông nghiệp huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa -
Tác giả: Tô Thị Phượng, Khương Văn Nam
Năm: 2014
9. Nguyễn Văn Trí (2008), Hỏi đáp kĩ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở hộ gia đình, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp kĩ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở hộ gia đình
Tác giả: Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2008
11. Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường (2017), Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa
Tác giả: Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2017
12. Smith, B.B. Martineau, G., Bisaillon, A. (1995), “Mammary gland and lactaion problems”, In disease of swine, 7 thedition, Iowa state univer- sity press, pp. 40- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mammary gland and lactaion problems
Tác giả: Smith, B.B. Martineau, G., Bisaillon, A
Năm: 1995
14. Untaru, Ramona Caliopi; Petroman,I; Pacala,N; Petroman, Cornelia-IA; Marin;Diana;Pet,I;sandru,o (2011) "Seanon and parity influence upon sows prolificacy and stillborn”, Agricultural Management / Lucrari Sti- intifice Seria I, Management Agricol . Apr2011, Vol. 13 Issue 2, p325-329.5p. 2 Charts, 2 Graphs Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seanon and parity influence upon sows prolificacy and stillborn
15. Urban.U.K, V.P., Schnur, V.I., Grechukhin, A.N. (1983), “The metritis mastitis agalactia syndome of sows as seen on a large pig farm”, Vest- nik sel, skhozyaistvennoinauki, 6, pp. 69 - 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The metritis mastitis agalactia syndome of sows as seen on a large pig farm”
Tác giả: Urban.U.K, V.P., Schnur, V.I., Grechukhin, A.N
Năm: 1983
10. Vương Nam Trung, Phan Thị Tường Vi, Trần Văn Hào và Hoàng Thị Xuân Nguyên (2017),” Ảnh hưởng của việc điều chỉnh mức ăn dự vào độ dày mỡ lưng và điểm thể trạng lên năng suất sinh sản lợn nái thuần Đan Mạch trong giai đoạn mang thai”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 80. Tháng 10/2017 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm