TÓM LƯỢCThí nghiệm “Ảnh hưởng của khẩu phần bổ sung mỡ cá tra, dầu phộng lên năng suất chất lượng trứng của gà đẻ trứng thương phẩm giống ISA Brown lúc 32 – 36 tuần tuổi nuôi trên chuồng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRÊN CHUỒNG KÍN Ở ĐỒNG NAI
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y
Cần Thơ, Tháng 04/2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN BỔ SUNG MỠ CÁ TRA, DẦU PHỘNG LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ĐẺ THƯƠNG PHẨM GIỐNG ISA BROWN LÚC 32 – 36 TUẦN TUỔI NUÔI
TRÊN CHUỒNG KÍN Ở ĐỒNG NAI
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS.TS Nguyễn Nhựt Xuân Dung Nguyễn Thị Hồng Thảo Th.S Trương Văn Phước MSSV: 3060635
Lớp: CN – TY K32
Cần Thơ, Tháng 04/2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN BỔ SUNG MỠ CÁ TRA, DẦU PHỘNG LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ĐẺ THƯƠNG PHẨM GIỐNG ISA BROWN LÚC 32 – 36 TUẦN TUỔI NUÔI
TRÊN CHUỒNG KÍN Ở ĐỒNG NAI
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y
Cần thơ, ngày … tháng … năm … Cần thơ, ngày… tháng… năm …
PGs Ts Nguyễn Nhựt Xuân Dung ……… Th.S Trương Văn Phước
Cần thơ, ngày … tháng … năm … Duyệt khoa nông nghiệp và sinh học ứng dụng
………
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Thảo
Trang 5Xin chân thành cám ơn chú Lâm Thanh Đức và gia đình cùng với tất cả các cô chú, các anh, các chị và các bạn ở trại trại gà Thanh Đức huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm thí nghiệm ở trại
Tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến gia đình và bạn bè đã đông viên, giúp đỡ tôi trong quá trình sống, học tập và cũng như trong quá trình hoàn thành đề tài
Cuối cùng tôi xin chúc mọi người có nhiều sức khỏe và thành đạt!
Chân thành cảm ơn
Cần Thơ, ngày 29 tháng 04 năm 2010 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Thảo
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN 1
-LỜI CẢM TẠ ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH ix
TÓM LƯỢC x
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG GÀ ISA BROWN 2
2.2 SƠ LƯỢC VỀ MỠ CÁ TRA VÀ DẦU PHỘNG 4
2.2.1 Thành phần acid béo của mỡ cá tra 4
2.2.2 Thành phần acid béo của dầu phộng 4
2.2.3 Một số thí nghiệm bổ sung dầu mỡ đã từng tiến hành gần đây 5
2.3 VAI TRÒ CÁC CHẤT DINH DƯỠNG TRONG THỨC ĂN GIA CẦM 7
2.3.1 Vai trò của năng lượng 7
2.3.1.1 Vai trò cung cấp năng lượng của chất bột đường 8
2.3.1.2 Vai trò cung cấp năng lượng của chất béo 8
2.3.2 Vai trò dinh dưỡng protein trong thức ăn gia cầm 9
2.3.3 Vai trò chất xơ trong thức ăn gia cầm 10
2.3.4 Vai trò của chất khoáng 10
2.3.5 Vai trò của vitamin 11
2.3.6 Vai trò của nước 12
2.4 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GÀ MÁI ĐẺ 12
2.4.1 Nhu cầu năng lượng 12
2.4.1.1 Nhu cầu duy trì 12
2.4.1.2 Nhu cầu sinh trưởng 13
2.4.1.3 Nhu cầu sản xuất trứng 13
2.4.2 Nhu cầu protein 14
2.4.2.1 Nhu cầu sinh trưởng 14
Trang 72.4.2.2 Nhu cầu đẻ trứng 15
2.4.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng 15
2.5 QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ ĐẺ TRỨNG THƯƠNG PHẨM 17
2.5.1 Chọn lọc gà đẻ 17
2.5.2 Thức ăn và nuôi dưỡng gà sinh sản 18
2.5.3 Quy luật của sự đẻ trứng 18
2.5.4 Quy trình phòng bệnh 19
2.6 CÁC CHỈ TIÊU VỀ NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG TRỨNG 19
2.6.1 Thành phần dinh dưỡng của trứng 19
2.6.2 Sản lượng trứng 20
2.6.3 Khối lượng trứng 20
2.6.4 Chất lượng trứng 20
2.6.5 Thành phần trứng gia cầm 21
2.6.6 Thành phần hóa học của lòng đỏ 22
2.6.7 Một số yếu tố làm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng quả trứng 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 23
3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 23
3.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 23
3.1.2 Động vật thí nghiệm 23
3.1.3 Chuồng trại thí nghiệm 23
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 24
3.1.5 Quy trình phòng bệnh ở trại 25
3.1.6 Dụng cụ thí nghiệm 25
3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 25
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 25
3.2.2 Quy trình nuôi dưỡng 26
3.2.3 Tiến hành thí nghiệm 26
3.2.4 Phương pháp lấy mẫu 27
3.2.5 Chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật 27
3.2.5.1 Chỉ tiêu năng suất trứng 27
3.2.5.2 Các chỉ tiêu về chất lượng trứng 27
3.2.5.3 Phân tích thành phần dưỡng chất thức ăn .28
3.2.6 Hiệu quả kinh tế 28
Trang 83.2.7 Xử lý số liệu 28
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 NHẬN XÉT CHUNG VỀ ĐÀN GÀ TRONG THỜI GIAN THÍ NGHIỆM 29
4.2 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 29
4.2.1 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên năng suất trứng 29
4.2.2 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 31
4.2.3 Hiệu quả kinh tế của các khẩu phần thí nghiệm 37
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 KẾT LUẬN 39
5.2 ĐỀ NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 2.1: Tiêu chuẩn sản xuất của gà đẻ thương phẩm ISA Brown từ tuần 32 – 36.3
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn dinh dưỡng của gà trứng màu ISA Brown 3
Bảng 2.3: Khuyến cáo về nhu cầu dinh dưỡng của giống gà chuyên trứng ISA Brown giai đoạn sau đỉnh cao 28 tuần đến kết thúc 3
Bảng 2.4: Thành phần acid béo và năng lượng trong mỡ cá tra 4
Bảng 2.5: Hàm lượng chất béo và tỉ lệ acid béo có trong dầu phộng 5
Bảng 2.6: Thành phần acid béo của dầu phộng 5
Bảng 2.7: Công thức của khẩu phần cơ sở 5
Bảng 2.8: Ảnh hưởng bổ sung các mức độ mỡ cá tra và dầu phộng lên năng suất, chất lượng trứng của gà đẻ thương phẩm ISA Brown giai đoạn 44 – 49 tuần tuổi 6
Bảng 2.9: Công thức của khẩu phần cơ sở 6
Bảng 2.10: Ảnh hưởng các mức độ bổ sung mỡ cá và dầu phộng lên năng suất, chất lượng trứng của gà đẻ thương phẩm ISA Brown giai đoạn 44 – 49 tuần tuổi 7
Bảng 2.11: Mức chất xơ khuyến cáo cho gà công nghiệp 10
Bảng 2.12: Mức năng lượng trong khẩu phần theo tỷ lệ đẻ 14
Bảng 2.13: tỷ lệ protein thô trong thức ăn gà đẻ ISA Brown tăng theo nhiệt độ môi trường 14
Bảng 2.14: Định mức Protein thô và năng lượng trao đổi của gà ISA Brown 15
Bảng 2.15: Tiêu chuẩn dinh dưỡng trong thức ăn cho gà đẻ (19 – 72 tuần tuổi) 17
Bảng 2.16: Những đặc điểm bên ngoài của gà mái hậu bị tốt và xấu 17
Bảng 2.17: Những đặc điểm bên ngoài của gà mái đẻ tốt và đẻ kém 18
Bảng 2.18: Định mức thức ăn cho gà mái đẻ theo trọng lượng cơ thể và năng suất trứng trong điều kiện nhiệt đới 18
Bảng 2.19: Lịch tiêm phòng vaccine cho gà đẻ 19
Bảng 3.1: Công thức phối trộn khẩu phần cơ sở 24
Bảng 3.2: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các thức ăn thí nghiệm ở trạng thái khô hoàn toàn 24
Bảng 3.3: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các thức ăn thí nghiệm ở trạng thái cho ăn 25
Bảng 3.4: quy trình phòng bệnh cho đàn gà ở trại 25
Bảng 3.5: Bố trí thí nghiệm 26
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên năng suất trứng 29
Trang 11Bảng 4.2: Lượng Protein (CP) và năng lượng trao đổi (ME) ăn vào ở các nghiệm
thức thí nghiệm 29
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 31
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các nghiệm thức thí nghiệm lên béo của trứng 31
Bảng 4.5: Hiệu quả kinh tế của các khẩu phần thức ăn thí nghiệm 38
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
TrangHình 2.1: Gà mái ISA Brown 2Hình 3.1: Đàn gà ISA Brown thí nghiệm (lúc 32 tuần tuổi) 23Hình 3.2: Tấm làm mát, máy bơm trước dãy chuồng và hệ thống quạt ở cuối dãy chuồng 23Hình 4.1: Biểu đồ ảnh hưởng của các nghiệm thức thí nghiệm lên tỷ lệ đẻ và tiêu tốn thức ăn 30Hình 4.2: Biểu đồ ảnh hưởng của loại chất béo và lượng CP ăn vào đến trọng lượng trứng 32Hình 4.3: Biểu đồ so sánh chỉ số hình dáng và màu lòng đỏ của trứng ở các nghiệm thức thí nghiệm 33Hình 4.4: Biểu đồ so sánh đơn vị Haugh và độ dày vỏ của trứng ở các nghiệm thức thí nghiệm 34Hình 4.5: Biểu đồ so sánh chỉ số lòng trắng đặc và chỉ số lòng đỏ của trứng ở các nghiệm thức thí nghiệm 35Hình 4.6: Biểu đồ so sánh tỷ lệ các thành phần của trứng ở các nghiệm thức thí nghiệm 36Hình 4.7: Biểu đồ so sánh hàm lượng béo và số gam béo/ trứng của trứng ở các nghiệm thức thí nghiệm 37
Trang 13TÓM LƯỢC
Thí nghiệm “Ảnh hưởng của khẩu phần bổ sung mỡ cá tra, dầu phộng lên năng suất chất lượng trứng của gà đẻ trứng thương phẩm giống ISA Brown lúc 32 – 36 tuần tuổi nuôi trên chuồng kín ở Đồng Nai” được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức và mười lần lặp lại:
Nghiệm thức 1: khẩu phần cơ sở bổ sung 1% mỡ cá tra
Nghiệm thức 2: khẩu phần cơ sở bổ sung 3% mỡ cá tra
Nghiệm thức 3: khẩu phần cơ sở bổ sung 1% dầu phộng
Nghiệm thức 4: khẩu phần cơ sở bổ sung 3% dầu phộng
Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: chỉ tiêu năng suất trứng (tỷ lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn), chỉ tiêu chất lượng trứng (trọng lượng trứng, các chỉ tiêu về độ dày vỏ, chỉ số Haugh, màu lòng đỏ, chỉ số hình dáng, chỉ số lòng trắng, chỉ số lòng đỏ, tỷ lệ các phần của trứng và béo tổng số của lòng đỏ) và hiệu quả kinh tế
Sau thời gian nuôi thí nghiệm chúng tôi thu được một số kết quả như sau:
Về tỷ lệ đẻ: không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (P>0,05) Trong đó MC1% cho tỷ lệ đẻ cao nhất (97,2%), kế đến là DP1% (95%)
và thấp nhất là MC3% (89,6%)
Tiêu tốn thức ăn/ gà: có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (P<0,01) Cùng với tỷ lệ đẻ cao nhất thì TTTA/ gà ở MC1% cũng là cao nhất (118,5g) và thấp nhất là DP1% (111,38g).
Tiêu tốn thức ăn/ trứng: do tỷ lệ đẻ là thấp nhất nên TTTA/ trứng ở MC3% là cao nhất (129,98g), thấp nhất cũng là DP1% (117,66g) và sự khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê (P<0,01).
Về các chỉ tiêu chất lượng trứng thì chỉ có trọng lượng trứng, hàm lượng béo/ trứng
và số gam béo/ trứng là có sự khác biệt về mặt thống kê (P<0,05), trọng lượng trứng cao nhất là MC1%, đạt tới 65,55g kế đến là MC3% là 64,08g và cuối cùng trọng lượng trứng nhỏ nhất là DP1% và DP3% (62,16g và 62,83g) Còn các chỉ tiêu như màu lòng đỏ, độ dày vỏ, các chỉ số của trứng, tỷ lệ các thành phần của trứng, chỉ số Hao và béo tổng số trong lòng đỏ thì khác biệt không ý nghĩa giữa các nghiệm thức Trong đó MC1% là nghiệm thức có các chỉ tiêu này cao hơn hết.
Về hiệu quả kinh tế: cao nhất là MC1% (742.585 đồng) và thấp nhất là DP3% (371.184 đồng).
Nhìn chung, năng suất và chất lượng trứng của MC1% là cao nhất và tốt nhất trong các nghiệm thức Nên bổ sung 1% mỡ cá tra vào khẩu phần gà đẻ thương phẩm ISA Brown 32 – 36 tuần tuổi là hiệu quả kinh tế nhất.
Trang 14CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, khi mức sống con người ngày càng được nâng cao thì yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng được chú trọng, đặc biệt là các sản phẩm từ chăn nuôi Người chăn nuôi thì đòi hỏi năng suất chăn nuôi phải cao, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng, còn người tiêu dùng thì ngoài việc đòi hỏi sản phẩm phải sạch thì một một vấn đề không thể bỏ qua đó là sản phẩm đó phải đầy đủ và cân đối về mặt dưỡng chất
Trong ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay thì con gà đang chiếm giữ một vị trí hết sức quan trọng, nó đã góp phần cung cấp một nguồn thực phẩm rất lớn cho con người Ngoài thịt ra thì trứng gà là một sản phẩm hết sức có giá trị, theo Bùi Xuân Mến (2006) trứng được coi là nguồn protein an toàn nhất trong các nguồn protein có nguồn gốc từ động vật, là một thực phẩm giàu dinh dưỡng và khá cân bằng về mặt dưỡng chất cũng như là các acid amin thiết yếu Chính gì vậy mà hiện nay ngành chăn nuôi gà lấy trứng rất được quan tâm phát triển
Để nâng cao được năng suất cũng như chất lượng của quả trứng gà đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về nhiều lĩnh vực như: giống, chuồng trại, dinh dưỡng, thức ăn Trong đó, do thức ăn chiếm hơn 70 % trong cơ cấu giá thành sản phẩm nên nó rất được quan tâm và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nó
Theo Dương Thanh Liêm (2003), trong nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ trứng thương phẩm chất béo là một dưỡng chất rất quan trọng, chất béo là một nguồn cung cấp năng lượng tuyệt vời, nó có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng của quả trứng Chính vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng chất béo để bổ sung vào khẩu phần thức ăn gà đẻ trứng là rất quan trọng
Trong các nguồn cung cấp chất béo thì mỡ cá tra và dầu phộng đang rất được quan tâm Mỡ cá tra là một nguồn phụ phẩm rất phổ biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.Theo kế hoạch, năm 2010, sản lượng cá tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ đạt 1,5 triệu tấn, xuất khẩu đạt 600.000 tấn (theo tin từ báo Kinh Tế trên trang baokinhteht.com.vn) Đây là một nguồn cung cấp mỡ cá tra dồi giàu, là nguồn cung chất béo chất béo với đầy đủ các acid béo thiết yếu cần thiết cho cơ thể như acid linoleic, acid linolenic, acid arachidonic Nó đã và đang được tận dụng để đưa vào làm thức ăn gia súc gia cầm
Cây đậu phộng là một loại cây rất phổ biến ở nước ta Đây là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến dầu phộng Dầu phộng cũng đã và đang được nghiên cứu để
bổ sung vào khẩu phần của một số loại gia súc gia cầm
Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu về “Ảnh hưởng của khẩu
phần bổ sung mỡ cá tra, dầu phộng lên năng suất, chất lượng trứng của gà đẻ thương phẩm giống ISA Brown lúc 32 – 36 tuần tuổi nuôi trên chuồng kín ở Đồng Nai ”.
Mục tiêu của đề tài: Xác định tỷ lệ mỡ cá tra và dầu phộng thích hợp lên năng suất, chất lượng trứng và có hiệu quả kinh tế nhất
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG GÀ ISA BROWN
Theo Võ Bá Thọ (1996), gà ISA Brown là giống gà chuyên trứng có nguồn gốc từ Pháp, là tổ hợp gà đẻ trứng nâu của viện chọn giống súc vật ISA Đây là giống gà được nhận xét là phù hợp với nhiều phương thức nuôi khác nhau ở nước ta, dễ thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam, cho năng suất trứng cao, tỷ lệ hao hụt thấp Hiện nay gà ISA Brown được nuôi rất phổ biến ở các tỉnh phía Nam với qui mô công nghiệp
Về ngoại hình gà bố mẹ: gà bố lông màu nâu đỏ, gà mẹ có màu lông trắng, gà mái thương phẩm có màu lông nâu đỏ giống bố
Hình 2.1: Gà mái ISA Brown
Theo tài liệu kỹ thuật của ISA (1993), gà đẻ thương phẩm ISA Brown 20 – 78 tuần tuổi có đặc tính sản xuất như sau:
Tỷ lệ nuôi sống: 93,3 %
Số trứng bình quân trên gà mái đầu kỳ: 320,6 quả
Khối lượng trứng bình quân trên gà mái đầu kỳ: 20,112 kg
Khối lượng quả trứng bình quân từ tuần tuổi thứ 32 đạt trên 60g
Rớt hột vào tuần tuẩi thứ 19, đẻ 50 % vào tuần thứ 21, tỷ lệ đạt đỉnh cao (93 %) tuần thứ 26 – 33, và tuần 76 còn lại 73 %
Đối với gà giống cha mẹ Isabrown, tài liệu kỹ thuật của ISA năm 1994 có giới thiệu một số chỉ tiêu chuẩn từ tuần tuổi 20 – 70 như sau:
Tỷ lệ nuôi sống: 89,6 %
Tuổi rớt hột: 20 tuần
Tuổi đẻ được 50 %: 22 tuần
Tuổi đẻ đạt đỉnh cao (92 %): tuần 28 – 32
Tỷ lệ đẻ ở tuần 70: 65 %
Trang 16Số lượng trứng bình quân trên gà mái đầu kỳ vào đẻ: 265,5 quả.
Trong đó trứng đủ tiêu chuẩn để ấp: 228,22 quả
Số gà con mái bình quân trên gà mái đầu kỳ vào đẻ: 90,7 con
Tuổi đẻ trứng có tỷ lệ ấp nở cao (95 %): tuần 32 – 39
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn sản xuất của gà đẻ thương phẩm ISA Brown từ tuần 32 – 36
g32
61,461,76262,262,4
(Nguồn: Võ Bá Thọ (1996), tài liệu 1993)
Từ bảng 2.1 ta tính được tỷ lệ đẻ và trọng lượng trứng trung bình giai đoạn gà ISA Brown từ 32 – 36 tuần tuổi là 92,48 % và 61,96g
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn dinh dưỡng của gà trứng màu ISA Brown
Tiêu chuẩn dinh dưỡng Gà đẻ 20 – 42 tuần tuổi Gà đẻ sau 42 tuần tuổiNăng lượng trao đổi, kcal/
0,740,340,623,40,450,65
2700 – 280015,5
0,680,310,583,70,350,55
18,64,1 –4,30,391,20
17,73,9 –4,10,371,15
17,03,8 –4,00,351,10
16,33,6 – 3,80,341,05
15,53,5 –3,70,311,00
(Nguồn: Dương Thanh Liêm (1999))
Trang 172.2 SƠ LƯỢC VỀ MỠ CÁ TRA VÀ DẦU PHỘNG
2.2.1 Thành phần acid béo của mỡ cá tra
Cá tra được xếp vào loại cá da trơn, hiện nay mỡ cá tra sẵn có trên thị trường, là phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến cá nên giá rẻ và đây cũng là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng trong chăn nuôi hiện nay Trong thành phần mỡ cá tra tỷ lệ 3 acid béo thiết yếu là acid linoleic (C18:2), acid linolenic (C18:3) và acid arachidonic (C20:4) là khá cao, nên sử dụng mỡ cá tra trong khẩu phần nuôi dưỡng
sẽ đảm bảo nhu cầu acid béo thiết yếu đối với cơ thể gia súc gia cầm Ngoài ra, theo White more (1998), acid palmitic (C16.0) chiếm một tỷ lệ khá lớn trong thành phần
mỡ cá tra (24,27 – 30,11 %) Đây là acid béo no và chuỗi acid béo trung bình, nhìn chung hấp thu kém, ngược lại acid oleic (C18:1) chiếm tỷ lệ cao nhất trong thành phần mỡ cá tra (36,37 – 38,27 %) là acid béo chưa no chuỗi dài được hấp thu và tiêu hóa nhanh hơn
Bảng 2.4: Thành phần acid béo và năng lượng trong mỡ cá tra
Acid béo Phần lõng của mỡ, % Toàn bộ mỡ, %
(Nguồn: Châu Thị Ngọc Dung (2007))
2.2.2 Thành phần acid béo của dầu phộng
Theo Nông Thế Cận (2005), thành phần acid béo của dầu phộng có sự hiện diện đầy
đủ các acid béo Trong đó, các acid béo không bão hòa chiếm tỷ lệ khá cao (trên 80
%) Đáng lưu ý là lượng acid linolenic dễ bị oxi hóa chỉ có 0,76 %, trái lại acid oleic
có khả năng chống chịu oxi cao (gần 47 %) Đây là yếu tố tạo ra độ bền của dầu phộng
Trong các acid béo bão hòa của dầu phộng, có acid arachidic 1,15 %, acid behenic 3,25 % và acid lignoceric 1,06 % với số lượng không lớn, nhưng ở nhiệt độ 8 – 12
0C các acid này tạo vẩn đục của dầu, không phải là hiện tượng biến hóa hỏng
Trang 18Bảng 2.5: Hàm lượng chất béo và tỉ lệ acid béo có trong dầu phộng
Hàm lượng Acid béo chưa no, % Nguyên
liệu
Hàm lượng chất béo, %
Hàm lượng acid béo no, % 1 nối đôi Nhiều nối đôi
(Nguồn: Hoàng Đức Như (1997))
Bảng 2.6: Thành phần acid béo của dầu phộng
2.2.3 Một số thí nghiệm bổ sung dầu mỡ đã từng tiến hành gần đây
Năm 2009, Lê Văn Hậu đã tiến hành thí nghiệm về việc bổ sung mỡ cá tra và dầu phộng với tỷ lệ 1 và 3 % vào khẩu phần gà ISA Brown đẻ trứng thương phẩm giai đoạn 44 – 49 tuần tuổi nuôi trên chuồng hở với các nghiệm thức như sau:
MC1%: khẩu phần cơ sở + mỡ cá tra 1 %
MC3%: khẩu phần cơ sở + mỡ cá tra 3 %
DP1%: khẩu phần cơ sở + dầu phộng 1 %
DP3%: khẩu phần cơ sở + dầu phộng 3 %
Bảng 2.7: Công thức của khẩu phần cơ sở
(Nguồn: Lê Văn Hậu (2009))
Kết quả thí nghiệm được công bố ở bảng 2.8:
Trang 19Bảng 2.8: Ảnh hưởng bổ sung các mức độ mỡ cá tra và dầu phộng lên năng suất, chất lượng trứng của gà đẻ thương phẩm ISA Brown giai đoạn 44 – 49 tuần tuổi
Tỷ lệ đẻ, % 77,58 76,69 74,32 76,87 0,31 1,27 TTTĂ/ gà/ ngày 143,85 145,48 151,35 148,05 0,10 2,94 TTTĂ/ trứng/ ngày 109,87 109,79 109,84 109,65 0,32 0,06
Béo lòng đỏ, % 30,18 31,31 30,59 30,81 0,41 0,45
Trong cùng một hàng, những số có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê.
(Nguồn: Lê Văn Hậu (2009))
Cùng thời điểm với Lê Văn Hậu (2009) thì Trần Phước Hưng cũng tiến hành thí nghiệm như trên nhưng gà dược nuôi trên chuồng kín với công thức khẩu phần cơ
Trang 20Bảng 2.10: Ảnh hưởng các mức độ bổ sung mỡ cá và dầu phộng lên năng suất, chất lượng trứng của gà đẻ thương phẩm ISA Brown giai đoạn 44 – 49 tuần tuổi
Tỷ lệ đẻ, % 92,5a 90,8ab 89,3b 90,6ab <0,01 0,6 TTTĂ/ gà/ ngày 123,4 122,7 121,1 121,23 0,20 0,9 TTTĂ/ trứng/ ngày 130,4 132,2 133,9 130,9 0,43 1,6
Trong cùng một hàng, những số có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê.
(Nguồn: Trần Phước Hưng (2009))
2.3 VAI TRÒ CÁC CHẤT DINH DƯỠNG TRONG THỨC ĂN GIA CẦM 2.3.1 Vai trò của năng lượng
Năng lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn Năng lượng toả nhiệt tuỳ thuộc vào môi trường nuôi dưỡng, thành phần dinh dưỡng của khẩu phần và trạng thái, chức năng sinh lý của cơ thể (Vũ Duy Giảng, 1997)
Khi nhiệt độ môi trường tăng cao gà có phản ứng tự nhiên để chống lại là điều tiết thân nhiệt bằng cách tăng tần số hô hấp, ăn ít, uống nhiều nước Khi ấy việc tăng năng lượng và protein trong khẩu phần là rất cần thiết để bù đắp hao tổn nói trên nhưng khi tiếp tục tăng quá 27 % thì cơ thể gà sẽ bị rối loạn Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng nữa thì cơ thể không bị mất năng lượng như trường hợp trên lúc này không nên tăng năng lượng trong thức ăn mà còn phải giảm xuống một cách hợp lí (Dương Thanh Liêm, 1999)
Ngoài ra, hàm lượng năng lượng của thức ăn gia tăng thì gà mái sẽ ăn ít đi Quy luật
là sự tiêu tốn thức ăn sẽ giảm 4 % cho mỗi 50 kcal gia tăng Nếu chỉ dựa trên sự gia tăng trọng lượng của gà mái không thể biết được mức độ thức ăn Bởi lẽ một phần rất lớn năng lượng tiêu thụ được dùng vào việc tăng cường sản sinh nhiệt (Dương Thanh Liêm ,1999)
Theo Nguyễn Nhựt Xuân Dung (1999), nhu cầu để sản xuất một quả trứng tiêu chuẩn nặng 57 g là 122 kcal
Trang 21Năng lượng trong thức ăn của gà đẻ phụ thuộc vào hướng giống (trứng hay thịt), hàm lượng protein trong thức ăn và mùa vụ Cũng theo tác giả này thì gà mái tiêu thụ thức ăn giảm khi hàm lượng năng lượng trong khẩu phần tăng và nhiệt độ môi trường tăng Như vậy, khi tăng hàm lượng năng lượng thì phải tăng hàm lượng protein trong khẩu phần, để đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu protein và axit amin cho
gà (Scott ,1999)
2.3.1.1 Vai trò cung cấp năng lượng của chất bột đường
Theo Dương Thanh Liêm (2003), chất bột đường chiếm trên 50 % trong thức ăn gia cầm Đây là nguyên liệu ban đầu để chuyển hóa ra chất béo, cung cấp khung carbon
để tạo ra các acid amin không thiết yếu và nhiều chất khác trong cơ thể Ngoài ra, gia cầm có khả năng tiêu hóa chất bột đường rất tốt Lúc mới nở ra gà con có thể ăn tấm và trong đường tiêu hóa đã bắt đầu có men amylase để tiêu hóa tinh bột Mặt khác, gia cầm có mề có thể nghiền nát thức ăn hạt để tiêu hóa tinh bột vì thế bắp xay mảnh gia cầm tiêu hóa tốt hơn heo Tuy nhiên ở giai đoạn nhồi béo tỷ lệ tiêu hóa tinh bột có kém hơn vì lượng thức ăn tiêu thụ quá nhiều
Khi sử dụng củ bột hoặc mật đường để nuôi gia cầm thì cần lưu ý cung cấp đầy đủ vitamin nhóm B, đặc biệt là B1 vì chúng tham gia hệ thống men để chuyển hóa tinh bột Nếu thiếu vitamin nhóm B thì sẽ làm giảm rất đáng kể khả năng lợi dụng tinh bột của gia cầm (Dương Thanh Liêm, 1996)
2.3.1.2 Vai trò cung cấp năng lượng của chất béo
Trong thức ăn hỗn hợp cho gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể thiếu Hầu hết các lipit thực vật đều có chứa với tỷ lệ khác nhau 2 loại acid béo, là acid béo bão hoà và acid béo chưa bão hoà Trong đó các acid béo chưa bão hoà như acid linoleic, acid lenolenic và acid arachinoic, đây là những acid béo thiết yếu cho cơ thể gà (Võ Bá Thọ, 1996)
Theo Dương Thanh Liêm (2003) thì chất béo là nguồn cung cấp năng lượng cao cho gia cầm Năng lượng đốt cháy trong cơ thể của chất béo cao gấp 2 – 2,5 lần so với bột đường và chất protein Xu hướng trong dinh dưỡng người trên thế giới, người ta
sử dụng dầu thực vật, nên mỡ động vật ngày càng ít được sử dụng Số lượng mỡ dư này được dùng để làm giàu năng lượng trong thức ăn gia cầm vốn có nhu cầu năng lượng cao hơn các loại thú khác
Theo Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam (2002), 1 g mỡ cho 9,3 kcal năng lượng tổng số Vì năng lượng cao nên khi bổ sung thêm vào thức ăn gà thịt sẽ nâng cao khả năng sinh trưởng của gia cầm đáng kể nơi giống gà có tốc độ sinh trưởng lớn Nếu khẩu phần có nhiều chất đạm thường khó nâng cao được giá trị năng lượng Nếu ta thêm chất béo vào sẽ cân đối tốt hơn
Năng lượng tỏa nhiệt khi chuyển hóa chất béo ít hơn chuyển hóa chất đạm và chất bột đường nên trong mùa hè giải quyết năng lượng bằng chất béo cho gà tốt hơn chất bột đường và protein Ngoài ra, acid linoleic dùng bổ sung năng lượng cho gà nhưng không sinh thêm nhiều nhiệt, trong trường hợp gà bị stress do nóng, ăn không hết khẩu phần, không hấp thu đủ năng lượng cần thiết ta có thể bổ sung cho
gà nhằm duy trì năng suất đẻ và kích cỡ trứng (Võ Bá Thọ, 1996)
Trang 22Chất béo cũng là chất dung môi để hòa tan các vitamin và sắc tố tan trong béo giúp cho cơ thể hấp thu thuận tiện Nếu thiếu béo thì sự hấp thu carotene, vitamin A, D,
E, K sẽ giảm Đặc biệt ở gia cầm chất béo xúc tiến hấp thu và tích lũy sắc tố vàng
để sơn màu lòng đỏ và da gà thích hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Chất béo còn có tác dụng bôi trơn (lubriean) khi gia cầm nuốt thức ăn Nếu ta thay thế bột bắp, cám gạo bởi bột củ mì có rất ít chất béo thì gà ăn rất khó nuốt, từ đó nó ăn ít thức ăn Ngược lại nếu phun chất béo vào từ 4 – 5 % trong thức ăn thì thức ăn êm dịu lại, ít bay bụi, gà sẽ ăn nhiều lên (Dương Thanh Liêm, 2003)
Ngoài ra, chất béo còn chứa acid linoleic rất cần thiết cho sự sinh trưởng và mọc lông của gia cầm, nếu thiếu chúng thì gà sẽ còi cọc, trụi lông, lở da, gan bị tích mỡ Khả năng chống đở bệnh đường tiêu hóa sẽ giảm Sức đẻ trứng của gia cầm sẽ giảm, chất lượng trứng kém, có ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ ấp nở Từ acid linoleic cơ thể có thể chuyển hóa thành acid arachidonic với sự có mặt của vitamin B6, từ acid linolenic thì không (Dương Thanh Liêm, 2003)
Theo Bùi Xuân Mến (2007) thì acid linoleic phải có trong thức ăn của gà con nếu không chúng sẽ sinh trưởng kém, gây tích lũy mỡ trong gan và dễ cảm nhiễm với bệnh đường hô hấp Những mái đẻ cho ăn thức ăn thiếu acid linoleic trầm trọng sẽ làm cho gà đẻ trứng rất nhỏ và cho khả năng ấp nở kém
2.3.2 Vai trò dinh dưỡng protein trong thức ăn gia cầm
Theo Dương Thanh Liêm (2003) vai trò của protein được trình bày như sau:
Protein tham gia cấu trúc tế bào, đơn vị quan trọng của sự sống Ở gia cầm tế bào lông vũ chủ yếu do protein cấu tạo nên Vì vậy nếu trong thức ăn thiếu protein gia cầm sẽ mọc lông chậm
Cấu tạo nên chất xúc tác sinh học, chất điều khiển sinh học như: enzyme, hormone,
tế bào thần kinh để điều khiển mọi hoạt động sống trong cơ thể
Cấu tạo nên hệ thống đệm giữ pH ổn định, hệ thống vận chuyển, dịch gian bào Do cấu trúc phức tạp, nhiều bậc và phân tử lớn nên protein có thể vận chuyển rất nhiều hợp chất phức tạp và các ion, đặc biệt là các ion kim loại nặng Phần lớn là do các β-globulin đảm nhiệm, nó được coi là các protein vận chuyển
Cấu tạo nên các chất kháng thể đặc hiệu và không đặc hiệu Chất kháng thể trong máu chủ yếu là các γ-globulin Một khẩu phần nếu thiếu protein sẽ làm cho cơ thể chống đỡ bệnh tật kém, đáp ứng miễn dịch sau khi chủng ngừa yếu
Cấu tạo nên chất thông tin di truyền, chủ yếu là các nucleoprotein
Cấu tạo nên hệ thống tế bào sinh dục để thực hiện chức năng sinh sản duy trì nòi giống
Khi protein chuyển hóa, phân giải nó cung cấp năng lượng tương đương với năng lượng của tinh bột cung cấp cho cơ thể hoạt động sống
Protein bảo đảm cho cơ thể sinh trưởng lớn lên bình thường Nếu thiếu gia cầm chậm lớn, chậm thay lông
Cuối cùng protein là nguyên liệu chính cấu tạo nên sản phẩm thịt, trứng gia cầm để cung cấp thực phẩm giàu protein cho con người
Trang 232.3.3 Vai trò chất xơ trong thức ăn gia cầm
Theo Dương Thanh Liêm (2003), do ống tiêu hóa của gia cầm rất ngắn và hệ vi sinh vật để phân giải chất xơ kém phát triển nên gia cầm tiêu hóa chất xơ rất khó khăn Ở
gà con hầu như không tiêu hóa được chất xơ Ở gà trưởng thành, manh tràng chúng
có sự hoạt động của vi sinh vật nên có thể tiêu hóa được một lượng thấp chất xơ, khoảng từ 3 – 6 % Vì lẽ đó về mặt giá trị dinh dưỡng coi như chúng không có giá trị Tuy nhiên về tác dụng khác của chất xơ trong thức ăn cũng nên lưu ý
Chất xơ có trong thức ăn với tỷ lệ vừa phải, có tác dụng kích thích nhu động diều,
dạ dày cơ, ruột già làm cho sự chuyển vận thức ăn trong ống tiêu hóa và tạo ra khuôn phân giúp cho gia cầm đi tiêu phân bình thường (Dương Thanh Liêm, 2003).Đối với gia cầm giống, trong giai đoạn nuôi hậu bị, chất xơ trong thức ăn có tác dụng kích thích dạ dày cơ và dung tích ống tiêu hóa phát triễn Điều này rất có lợi cho giai đoạn đẻ trứng sau này Ứng dụng điều này, trong thức ăn để nuôi gà giống
ta có thể đưa chất xơ từ 3 % (giai đoạn gà con), giai đoạn gà giò tăng dần lên 4 %rồi 5 % thậm chí có thể đến 6 % trong khẩu phần tùy theo giống
Khi ta hạn chế thức ăn để tránh sự mập mỡ của gia cầm, nếu tăng chất xơ trong khẩu phần lên sẽ tránh sự cắn mổ lẫn nhau Tuy nhiên, chất xơ tăng lên quá nhiều trong thức ăn sẽ làm giảm thấp sự tiêu hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức
ăn mà quan trọng nhất là protein và chất bột đường, cản trở tiêu hóa, làm giảm giá trị năng lượng thức ăn làm giảm sức sản xuất của gia cầm, làm giảm tính ngon miệng của gia cầm Tóm lại, tùy theo giống, lứa tuổi gia cầm, mục tiêu chăn nuôi hay phương thức chăn nuôi mà người ta khuyến cáo cụ thể mức chất xơ thích hợp trong thức ăn của gia cầm (Dương Thanh Liêm, 2003)
Bảng 2.11: Mức chất xơ khuyến cáo cho gà công nghiệp
Các loại gà Tỷ lệ xơ trong thức ăn, %
Gà con nuôi ăn thịt 3
Gà giò nuôi ăn thịt 4
Gà con nuôi làm giống 3 – 4
Gà giò hậu bị giống (8 – 13 tuần) 4 – 5
Gà giò hậu bị giống (14 – 21 tuần) 5 – 6
(Nguồn: Dương Thanh Liêm (2003))
2.3.4 Vai trò của chất khoáng
Người ta phát hiện trong cơ thể động vật có tới 70 nguyên tố của bảng hệ thống tuần hoàn Bao gồm các nguyên tố vi lượng, đa lượng và các nguyên tố khác (Melekhin
và Gridin, 1997)
Các nguyên tố vi lượng bao gồm: mangan, kẽm, sắt, iod, đồng, coban… Đây là các chất xúc tác trong quá trình đồng hóa và dị hóa, là thành phần chất không thể thiếu được trong cấu trúc các tổ chức của cơ thể (Lê Văn Năm, 2004)
Canxi và phospho: giữ vai trò dinh dưỡng khoáng quan trọng, trước hết nó là thành phần cấu trúc của xương, răng P là thành phần của acid nucleic, phospholipid, tham
Trang 24gia vào những phản ứng phosphoryl hóa và những phản ứng chuyển hóa năng lượng Ca, Mg có vai trò quan trọng trong kích thích thần kinh hai nguyên tố này có tác dụng ức chế sự hưng phấn cho nên nếu thiếu chúng sẽ xuất hiện quá trình hưng phấn, nếu nghiêm trọng sẽ xuất hiện co giật, liệt Do những vai trò như vậy nên khi thiếu Ca, P sẽ có những biểu hiện xấu đến khả năng sinh sản, tốc độ sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật nuôi.
Đối với gà đẻ trứng Ca rõ ràng có ảnh hưởng quan trọng một gà mái nặng 2 kg có khoảng 135ml máu chứa 25 mg Ca, trong 15 giờ canxi hóa vỏ trứng nó sử dụng 100
mg canxi mỗi giờ Như vậy cứ 15 phút canxi huyết tương lại đổi một lần do gà mái
đẻ có tốc độ chuyển đổi canxi rất mạnh Nếu không cung cấp đủ canxi gà mái đẻ trứng có vỏ mỏng, dễ vỡ không đủ tiêu chuẩn trứng giống và thương phẩm
Cần cung cấp đầy đủ canxi cho cho gà mái để phục hồi lại kho dự trữ xương Có thể
dự trữ canxi dưới dạng carbonate canxi (40 % Ca), bột sò (30 – 35 % Ca), bột xương (23 % Ca) (Nguyễn Thị Đào, 1999)
Muối ăn: cần cho việc hình thành dịch vị tiêu hóa, duy trì pH ổn định, duy trì sự cân bằng các dịch thể, áp lực thẩm thấu bên trong cơ thể
Mangan: cần cho cấu tạo xương, chống bệnh Perosis, tăng tỷ lệ ấp nở, trnáh tình trạng phôi dị dạng
Iod: cần cho tuyến giáp trạng tiết hoormone thyroxin, điều hòa trao dổi năng lượng Thiếu iod gà còi cọc giảm đẻ
Selen: có quan hệ chặt chẽ đến trao đổi chất của vitamin E, dùng phòng bệnh thoái hóa cơ, tích nước xoang bụng do thiếu vitamin E (Võ Bá Thọ, 1996)
2.3.5 Vai trò của vitamin
Vai trò của vitamin trong cơ thể là xúc tác nên chỉ cần lượng vitamin rất ít mà các chuyển hóa trong cơ thể cũng đạt tốc độ phản ứng nhanh và hiệu quả sử dụng cao.Vitamin A cần cho việc bảo vệ niêm mạc, nội mạc của cơ thể chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh Thiếu vitamin A gà có biểu hiện khô lông, khô da, viêm kết mạc mắt, gà còi cọc, rối lọan thần kinh gà chết ồ ạt như bị dịch Gà mái đẻ giảm,trứng ấp nở kém
Vitamin D là tác nhân chống còi xương Thiếu D3 gà chậm lớn, xương bị biến dạng,
gà giảm đẻ, vỏ trứng miềm, tỷ lệ ấp nở giảm
Vitamin E tác dụng trên khả năng sinh sản của gà Thiếu vitamin E gà trống bị teo dịch hoàn, gà mái bị thoái hóa buồng trứng khả năng thụ tinh ấp nở giảm hoặc mất hẳn
Vitamin B1 là tác nhân chống phù thủng, viêm thần kinh đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất bột đường
Vitamin B2 là nhân tố quan trọng cho quá trình oxi hóa của tế bào, chống rối lọan thần kinh, đảm bảo tỷ lệ đẻ Thiếu B2 gà bị khèo chân chậm lớn Nếu bệnh nặng thì
bị liệt, run rẩy và chết trong 3 tuần đầu tiên
Vitamin B6 cần cho quá trình trao đổi chất đạm, chất béo để phát triển cơ thể, chống viêm da
Trang 25Vitamin B12 rất quan trọng trong cấu tạo máu, tổng hợp các protit tế bào, thúc đẩy quá trình sinh trưởn bình thường của cơ thể, mọc lông, đảm bảo tỷ lệ ấp nở của trứng.
Vitamin K là nhân tố làm đông máu, chống chảy máu
Vitamin C làm tăng sức đề kháng cho gia cầm đối với các yếu tố stress hoặc bị bệnh
và tránh tình trạng vỏ trứng bị mỏng (Võ Bá Thọ, 1996)
2.3.6 Vai trò của nước
Theo Lê Văn Năm (2004), nguyên tắc bất di bất dịch trong chăn nuôi gà là phải có nguồn nước dồi giàu, ổn định và càng sạch càng tốt Nước cần cho việc phân giải protein, lipid, Glucid Nuớc tạo điều kiện để thấm hút các chất khoáng, các vitamin
và các sản phẩm phân giải khác Nước là môi trường cần thiết cho các quá trình lên men của trao đổi chất trong cơ thể cũng như đối với sự thẩm thấu và khuếch tán các chất Nó vận chuyển các chất dinh dưỡng và các sản phẩm của trao đổi chất trong
cơ thể
Nếu không có nước gia cầm sẽ bị chết nhanh hơn là bị đói hoàn toàn Người ta biết rằng thiếu thức ăn gia cầm có thể sống được hơn 12 ngày, không có nước gà sẽ chết vào ngày thứ 3 – 4 Gia cầm càng non cơ thể càng chứa nhiều nước Như vậy nước
tỷ lệ với khối lượng của cơ thể (Bùi Thị Kim Dung, 1996)
2.4 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GÀ MÁI ĐẺ
2.4.1 Nhu cầu năng lượng
2.4.1.1 Nhu cầu duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2007) thì nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng cho duy trì sự sống Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản và hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn của vật nuôi tăng thì sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản của gà con mới nở vào khoảng 5,5 calo trên một gam thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái trưởng thành thì chỉ cần phân nữa số năng lượng này
Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đổi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50 % của sự trao đổi cơ bản Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng như giống gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến sự tiêu phí năng lượng thấp hơn, cỡ khoảng 30 %của sự trao đổi cơ bản so với nuôi nền
Mặc dù thực tế những động vật lớn hơn yêu cầu năng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cần cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với vật nhỏ hơn Từ quan điểm thực tiễn cho thấy, một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhỏ nhất, đẻ trứng lớn và sức sống cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm đạt hiệu quả nhất, vì tiêu phí năng lượng duy trì
Trang 26thấp Chăn nuôi gà hoặc gà tây thịt đạt đến độ bán trong một thời gian ngắn nhất sẽ đạt hiệu quả nhất về biến đổi thức ăn thành sản phẩm, vì nếu kéo dài thời gian nuôi
sẽ phải chi phí duy trì lớn hơn
Hầu hết gà đang đẻ trứng và gà thịt đang sinh trưởng đều được cho ăn tự do theo yêu cầu sản xuất Lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có liên quan trước hết đến nhu cầu năng lương của gia cầm trong thời gian này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hang ngày có thể đo bằng kilocalo năng lương trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức ăn tiêu thụ, nếu trong khẩu phần có chứa các mức năng lượng khác nhau
2.4.1.2 Nhu cầu sinh trưởng
Trong hầu hết các trường hợp, nhu cầu năng lượng không được trình bày một cách chính xác như các nhu cầu về acid amin, vitamin và khoáng Tốc độ tăng trưởng tốt
có thể đạt được với một biên độ rộng của các mức năng lượng, bởi vì gia cầm có khả năng điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào để duy trì một mức tiêu thụ năng lượng khá ổn định Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tối đa sẽ không đạt được với khẩu phần khởi động cho gà và gà tây con có mức năng lượng dưới 2640 kcal ME/ kg Gà thịt thường được cho ăn mức năng lượng cao hơn gà hậu bị thay thế Trong sản xuất gà thịt, tốc độ tăng trọng tối đa là yêu cầu cần thiết để gà đạt trọng lượng bán trong thời gian ngắn nhất, nhưng với những gà hậu bị thay thế thì tốc độ tăng trưởng nhanh lại ít quan trọng hơn Thực tế sản xuất cho thấy, khẩu phần khởi động cho gà con làm gà hậu bị thay thế có từ 2750 – 2970 kcal/ kg TĂ, ngược lại khẩu phần khởi động của gà thịt lại chứa mức năng lượng cao hơn, trong phạm vi từ 3080 –
3410 kcal/ kg TĂ (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.4.1.3 Nhu cầu sản xuất trứng
Năng lượng thuần cần cho một mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng Một gà mái nặng 1,8 kg, trong môi trường thích hợp đẻ một trứng một ngày sẽ cần khoảng 250 kcal năng lượng trong một ngày Hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi cho mục đích sản xuất này là 75
%, do đó năng lượng trao đổi cần ăn vào khoảng 330 kcal ME Như vậy, lượng thức
ăn cần thiết để đáp ứng một ngày cho gà đẻ là 110 g, chứa 2974 kcal ME/ kg (Bùi Xuân Mến, 2007)
Tuy nhiên, mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần của gà đang đẻ không thể dưới mức 2640 kcal ME/ kg Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 kcal ME/ kg Thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất (Bùi Xuân Mến, 2007)
Trang 27Bảng 2.12: Mức năng lượng trong khẩu phần theo tỷ lệ đẻ
2.4.2 Nhu cầu protein
Nhu cầu protein của gà đẻ phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và tỷ lệ đẻ Ví dụ như
tỷ lệ protein thô trong thức ăn gà đẻ ISA Brown tăng theo nhiệt độ môi trường thể hiện ở bảng 2.13
Bảng 2.13: tỷ lệ protein thô trong thức ăn gà đẻ ISA Brown tăng theo nhiệt độ môi trường
Nhiệt độ môi trường 20oC 25oC 30oC
Giai đoạn 19 – 35 tuần tuổi 16,6 % 17,7 % 19,0 %
Giai đoạn sau 35 tuần tuổi 15,7 % 16,8 % 18,0 %
(Nguồn: Võ Bá Thọ (1996))
Theo Bùi Xuân Mến (2007), protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp, vì thế yêu cầu protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích sản xuất Để đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amin thiết yếu phải được cung cấp đủ lượng và tổng lượng nitơ trong khẩu phần phải đủ cao và ở dạng thích hợp để cho phép tổng lượng acid amin không thiết yếu Trong thực tế sản xuất, protein luôn là thành phần thức ăn đắt nhất của một khẩu phần, sẽ không kinh tế nếu nuôi động vật quá mức protein Vì lý do này mà mức protein trong khẩu phần cho vật nuôi luôn phải giữ gần với mức nhu cầu tối thiểu hơn là các chất dinh dưỡng khác
2.4.2.1 Nhu cầu sinh trưởng
Nhu cầu protein và acid amin của gia cầm non đang sinh trưởng là đặc biệt quan trọng Sự thiếu hụt của protein tổng số hoặc là một acid amin thiết yếu nào đó đều
sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng Sự tổng hợp protein yêu cầu tất cả các acid amin cần thiết phải có mặt trong cơ thể gần như cùng một lúc Khi thiếu một acid amin thiết yếu thì không có sự tổng hợp protein Các acid amin không được sử dụng cho tổng hợp protein sẽ chuyển đổi thành carbohydrate hoặc mỡ, đồng thời nó có thể dễ dàng bị oxy hóa cho nhu cầu năng lượng trực tiếp hay được dự trữ dưới dạng mô
mỡ Thân thịt của những vật nuôi cho ăn khẩu phần thiếu protein hoặc các acid