TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG VĂN PHÚ VINH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PROTEIN THÔ LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRỌNG, TỶ LỆ TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT VÀ SỰ TÍCH LŨY NITƠ CỦA G
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
VĂN PHÚ VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PROTEIN THÔ LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRỌNG, TỶ LỆ TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT VÀ SỰ TÍCH LŨY NITƠ CỦA GIỐNG THỎ CALIFORNIAN THUẦN
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS TS Nguyễn Thị Kim Đông Văn Phú Vinh MSSV: 3060645 Lớp: CNTY K32
Cần Thơ, 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ chương trình luận văn nào trước đây
Người thực hiện
VĂN PHÚ VINH
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Lời cảm ơn đầu tiên tôi xin gửi đến gia đình tôi Cha, mẹ đã cố gắn dưỡng dục, tần tảo lao động để tạo mọi điều kiện cho con được học tập và có thêm nhiều kiến thức
ở nơi đây Con cảm ơn Cha, mẹ nhiều lắm !
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị Kim Đông Cô đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.Xin cảm ơn quý Thầy, Cô trong Bộ môn Chăn nuôi đã truyền đạt nhiều kiến thức chuyên môn quý báu để giúp tôi bước ra đời sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến kỹ sư Nguyễn Trường Giang, kỹ sư Lâm Phước Thành và kỹ sư Đặng Hùng Cường đã nhiệt tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian làm thí nghiệm
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn học cùng lớp, các anh chị em trong trại thỏ và trong phòng thí nghiệm đã nhiệt tình giúp tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin cảm ơn tất cả mọi người !
Trang 5ME: năng lượng trao đổi
TLĐTN: trọng lượng đầu thí nghiệm
TLCTN: trọng lượng cuối thí nghiệm
FCR: hệ số chuyển hóa thức ăn
Trang 6DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1: Lượng cỏ đậu và cỏ lông tây tiêu thụ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 27
Biểu đồ 2: Lượng dưỡng chất ăn vào của thỏ trong thí nghiệm nuôi dướng 29
Biểu đồ 3: Tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của thỏ thí nghiệm 33
Biểu đồ 4: Mối liên quan giữa lượng N ăn vào và N tích lũy của thỏ thí nghiệm 39
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 1: Nhu cầu dinh dưỡng của thỏ theo thể trọng 3
Bảng 2: Nhu cầu đạm và axit amin của thỏ 4
Bảng 3: Khối lượng và thể tích các phần đường tiêu hóa 6
Bảng 4: So sánh tỉ lệ dung tích của các phần đường tiêu hoá của các gia súc 6
Bảng 5: Thành phần hóa học của phân cứng và mềm 9
Bảng 6: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ lông tây 13
Bảng 7: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ đậu 13
Bảng 8: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bã đậu nành 14
Bảng 9: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của rau lang 15
Bảng 10: Công thức khẩu phần thức ăn của thí nghiệm 21
Bảng 11: Thành phần hóa học của thực liệu thức ăn dùng trong thí nghiệm nuôi dưỡng 25
Bảng 12: Lượng cỏ đậu và cỏ lông tây tiêu thụ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 26
Bảng 13: Lượng thức ăn và dưỡng chất ăn vào của thỏ trong thí nghiệm nuôi dưỡng 28
Bảng 14: Tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế thỏ thí nghiệm 30
Bảng 15: Thành phần hóa học của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm tiêu hóa 34
Bảng 16: Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của thỏ trong thí nghiệm tiêu hóa 35
Bảng 17: Tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất và nitơ tích lũy của thỏ trong thí nghiệm 37
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1: Cỏ lông tây 19
Hình 2: Bã đậu nành 19
Hình 3: Đậu nành ly trích 19
Hình 4: Cỏ đậu 19
Hình 5: Thỏ trong thí nghiệm tiêu hóa 22
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
TÓM LƯỢC x
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 SƠ LƯỢC VỀ CON THỎ 2
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA THỎ 2
2.2.1 Nhu cầu đạm của thỏ 4
2.2.2 Nhu cầu năng lượng cho sự sinh trưởng và phát triển của thỏ 4
2.2.3 Nhu cầu tinh bột 4
2.2.4 Nhu cầu chất xơ 5
2.2.5 Nhu cầu nước uống 5
2.2.6 Nhu cầu vitamin 5
2.3 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA THỎ 6
2.3.1 Đặc điểm cẩu tạo cơ quan tiêu hóa 6
2.3.2 Đặc điểm tiêu hóa 7
2.3.3 Phân mềm và hiện tượng ăn phân của thỏ 8
2.4 VÀI NÉT VỀ TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT CỦA THỎ 10
2.4.1 Sự tiêu hóa tinh bột 10
2.4.2 Sự tiêu hóa protein 10
2.4.3 Phân mềm và sự tiêu hóa protein 11
2.4.4 Sự tiêu hóa chất béo 12
2.4.5 Xơ và sự biến dưỡng ở manh tràng 12
2.5 MỘT SỐ THỨC ĂN NUÔI THỎ 13
Trang 102.5.1 Cỏ lông tây 13
2.5.2 Cỏ đậu 13
2.5.3 Bã đậu nành 14
2.5.4 Rau lang 14
2.6 SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ GIỐNG THỎ 15
2.6.1 Thỏ New Zealand White 15
2.6.2 Thỏ Chinchilla 15
2.6.3 Thỏ Californian 15
2.6.4 Các giống thỏ được nuôi ở Việt Nam 16
2.6.4.1 Giống thỏ trắng Tân Tây Lan Việt Nam 16
2.6.4.2 Giống thỏ đen Việt Nam 16
2.6.4.3 Giống thỏ xám Việt Nam 16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN & PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 18
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THÒI GIAN NGHIÊN CỨU 18
3.1.1 Địa điểm 18
3.1.2 Thời gian 18
3.2 PHƯƠNG TIÊN NGHIÊN CỨU 18
3.2.1 Động vật thí nghiệm 18
3.2.2 Thức ăn thí nghiệm 18
3.2.3 Chuồng trại 20
3.2.4 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm 20
3.3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM 20
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.3.2 Phương pháp tiến hành 21
3.4 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 23
3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 23
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA THỰC LIỆU THỨC ĂN SỬ DỤNG TRONG THÍ NGHIỆM NUÔI DƯỠNG 25
Trang 114.2 LƯỢNG CỎ ĐẬU VÀ CỎ LÔNG TÂY TIÊU THỤ CỦA THỎ TRONG
THÍ NGHIỆM NUÔI DƯỠNG 26
4.3 LƯỢNG THỨC ĂN VÀ DƯỠNG CHẤT ĂN VÀO CỦA THỎ TRONG GIAI ĐOẠN THÍ NGHIỆM NUÔI DƯỠNG 28
4.4 TĂNG TRỌNG, HỆ SỐ CHUYỂN HÓA THỨC ĂN VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ 31
4.5 THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA THỰC LIỆU THỨC ĂN SỬ DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN THÍ NGHIỆM TIÊU HÓA 34
4.6 LƯỢNG THỨC ĂN VÀ DƯỠNG CHẤT TIÊU THỤ CỦA THỎ TRONG GIAI ĐOẠN THÍ NGHIỆM TIÊU HÓA 35
4.7 TỶ LỆ TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT VÀ NITƠ TÍCH LŨY CỦA THỎ TRONG THÍ NGHIỆM 37
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 KẾT LUẬN 40
5.2 ĐỀ NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 12TÓM LƯỢC
Đề tài : “Ảnh hưởng của các mức độ protein thô lên khả năng trọng, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và sự tích lũy nitơ của giống thỏ Californian thuần” được tiến hành tại Trại Chăn Nuôi số 474 C /18 Khu vực Bình An-Phường Long Hòa-Quận Bình Thủy- Thành phố Cần Thơ và phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ.
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức tương ứng với 4 khẩu phần có hàm lượng CP thay đổi từ 11,0; 12,5; 14,0 và 15,5gCP/con/ngày và 3 lần lặp lại tương ứng 3 khối là 3 nhóm thỏ có trọng lượng khác nhau Mỗi đơn vị thí nghiệm gồm 1 thỏ đực và 1 thỏ cái Kết quả thí nghiệm cho thấy lượng vật chất khô, vật chất hữu cơ, protein thô ăn vào tăng khi tăng mức
độ protein thô trong khẩu phần (P<0,001) Lượng xơ trung tính và năng lượng tiêu thụ có xu hướng tăng nhưng không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Tăng trọng hàng ngày cao nhất ở khẩu phần có 14gCP/con/ngày (P<0,001) và hệ số chuyển hóa thức ăn là thấp nhất (P<0,01) Tỷ lệ tiêu hóa protein thô tăng khi tăng các mức độ protein trong khẩu phần (P>0,05) Lượng nitơ ăn vào và lượng nitơ tích lũy cũng tăng khi tăng hàm lượng protein thô trong khẩu phần (P<0,001).
Qua kết quả thí nghiệm, chúng tôi nhận thấy khẩu phần có 14gCP/con/ngày cho tăng trọng, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và hiệu quả kinh tế cao nhất Vì vậy, trong thực tế, để đạt hiệu quả cao khi nuôi thỏ tăng trưởng nên sử dụng khẩu phần
14gCP/con/ngày.
Trang 13Trước tình hình đó thì có khá nhiều hộ chăn nuôi đã chuyển sang hướng chăn nuôi mới, trong đó có chăn nuôi thỏ Thỏ có ưu điểm là sinh sản nhanh, mau lớn, mắn đẻ, thời gian sinh trưởng ngắn, thịt thỏ lại có giá trị dinh dưỡng cao (nhiều đạm, ít mỡ) phù hợp với nhiều lứa tuổi Thỏ là loài dễ nuôi, thức ăn dễ tìm, chi phí cho chuồng trại thấp, có thể dùng các vật liệu có sẵn ở địa phương như: tre, nứa… để làm chuồng Nuôi thỏ công chăm sóc không cao, không đòi hỏi nhiều công lao động, có thể tận dụng lao động nhàn rỗi trong gia đình, người già và trẻ em đều có thể nuôi thỏ được.
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long rất dễ dàng để phát triển ngành chăn nuôi thỏ bởi vì`
ở đây có nguồn thức ăn cho thỏ khá phong phú như các loại cỏ (cỏ lông tây, cỏ mồm, cả sã, cỏ đậu…), các loại phụ phẩm công nghiệp chế biến (bã bia, bã đậu nành), phụ phẩm nông nghiệp (lá rau muống, lá bông cải, dây lá rau lang),… Tuy nhiên, người dân thường nuôi những giống thỏ địa phương mà nhu cầu tiêu thụ thịt thỏ thì ngày càng tăng Hiện nay, nước ta đang có xu hướng nhập một số giống thỏ ngoại có năng suất cao để đáp ứng nhu cầu này, đồng thời để cải thiện giống thỏ địa phương Tuy nhiên, có rất ít những nghiên cứu trên các giống thỏ ngoại, đặc biệt là giống thỏ Californian thuần Từ các vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Ảnh hưởng của các mức độ protein thô lên khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và sự tích lũy nitơ của giống thỏ Californian thuần”.
Mục tiêu của đề tài là:
- Xác định mức độ protein thô tối ưu trong khẩu phần nuôi thỏ tăng trưởng
- Xác định tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của các khẩu phần thí nghiệm
- Xác định lượng nitơ tích lũy của thỏ ở các khẩu phần thí nghiệm
- Tính hiệu quả kinh tế của các khẩu phần
Trang 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 SƠ LƯỢC VỀ CON THỎ
Theo phân loại động vật, thỏ thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ gậm nhấm
(Rodentia), họ Leporidae Thỏ rừng có nhiều loại khác nhau, hiện nay chỉ có loài Oryctolagus Cuniculus được thuần hóa thành thỏ nhà Có nhiều giống thỏ khác
nhau đã được phát triển từ thế kỷ XVIII, thỏ được sử dụng cho sản xuất thịt, lông, động vật thí nghiệm và được coi như là một loại thú cưng Thỏ được phân loại dựa theo kích thước, trọng lượng và bộ lông Theo trọng lượng cơ thể, giống thỏ nhỏ con có trọng lượng lúc trưởng thành từ 2-3kg, giống thỏ tầm trung có trọng lượng từ 4-6kg và giống thỏ lớn con có trọng lượng từ 6-9 kg Hai giống thỏ phổ biến để sản xuất thịt là thỏ New Zealand and the California vì chúng được kết hợp bởi 2 yếu tố
là lông trắng và tăng trưởng tốt, hai giống phổ biến để sản xuất lông là thỏ Rex và thỏ Chinchilla của Mỹ (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)
Quần thể thỏ ở Việt Nam được du nhập từ Pháp khoảng 70-80 năm trước đây Chúng đã bị lai tạp nhiều giữa các giống khác nhau nên cũng có những biến hóa khác nhau về ngoại hình, những thỏ nuôi này không có bộ lông thuần nhất về màu sắc, có con màu trắng tuyền, có con đen hoặc pha giữa hai màu đó, có con màu xám tro nhạt hoặc sẫm, phần ngực bụng và đuôi màu sáng hơn hoặc trắng, lại có màu vàng hoặc đốm trắng Cũng như màu lông, màu mắt thỏ cũng không đồng nhất: có con mắt đỏ, đen hoặc xám Khi cho giao phối hai thỏ cùng màu lông và màu mắt ta được đàn con với nhiều màu lông và màu mắt khác nhau, thể hiện rõ sự phân ly và tính pha tạp về giống Nhìn chung những giống thỏ đang nuôi ở Việt Nam đầu to vừa phải, tai thẳng hơi chữ V, thân hình chắc chắn nhưng cổ không vạm vỡ, lưng hơi cong hay tròn, bụng to, nuôi con khéo, trong lượng 2,5-3,5 kg Khả năng sinh sản tốt, một năm đẻ 5-6 lứa, một lứa 6 con, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng ở nước ta Tuy có nhiều ưu điểm nhưng do bị pha tạp nhiều, thỏ nuôi ở người dân không được chọn lọc, nên giống đang bị thoái hóa dần(Nguyễn Ngọc Nam, 2003)
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA THỎ
Thỏ là loài ăn thực vật, có khả năng tiêu hóa nhiều chất xơ, cho nên có thể nuôi thỏ bằng các loại rau, quả, củ và các phế phụ phẩm gia đình Nhưng muốn tăng năng suất trong chăn nuôi thỏ thì cần phải bổ sung thêm thức ăn tinh bột, khoáng, đạm,… điều quan trọng là phải biết bổ sung các dưỡng chất đó ở lứa tuổi và thời kỳ nào để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng khác nhau của chúng (Nguyễn Văn Thu, 2003)
Trang 152.2.1 Nhu cầu đạm của thỏ
Tất cả những đặc tính: lông, sinh trưởng, sản xuất và cho sữa của thỏ đều đòi hỏi hàm lượng cao của protein và chất lượng tốt Khả năng tăng trọng của thỏ đang sinh trưởng phụ thuộc rất nhiều vào protein Vì vậy việc đáp ứng nhu cầu protein cho thỏ sinh trưởng là rất quan trọng Thỏ nuôi thâm canh tăng trọng cần 4-5 gam protein/kg thể trọng/ngày Nhu cầu protein tiêu hóa của thỏ 6-7 tuần tuổi là 7-9,5 gam/kg thể trọng Sau 8 tuần tuổi giảm xuống còn 4,5-7 gam/kg thể trọng/ngày.(Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
Chất đạm đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và sinh trưởng của cơ thể Nếu thỏ mẹ trong thời kỳ có chửa và nuôi con mà thiếu đạm thì thỏ con sơ sinh nhỏ, sức
đề kháng kém Sữa mẹ ít dẫn đến tỷ lệ nuôi sống đàn con thấp Sau cai sữa cơ thể thỏ chưa phát triển hoàn hảo, nếu thiếu đạm thì thỏ con sẽ còi cọc, dễ sinh bệnh tật trong giai đoạn vỗ béo (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999)
Bảng 1: Nhu cầu dinh dưỡng của thỏ theo thể trọng
Nguồn: Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức (2000).
*Nhu cầu axit amin
Theo Lebas (2004) cho rằng, thỏ 18-42 ngày tuổi có nhu cầu đạm trong khẩu phần
là 15-16% thỏ 42-80 ngày tuổi và sinh sản có nhu cầu đạm trong khẩu phần lần lượt
là 16-17% và 18-19% Những giá trị này hàm ý rằng chất lượng protein trong khẩu phần phải đủ số lượng các axit amin thiết yếu
Trang 16Bảng 2: Nhu cầu đạm và axit amin của thỏ
Chỉ tiêu (%) Thỏ 18-42 ngày Thỏ 42-80 ngày Thỏ sinh sản
2.2.2 Nhu cầu năng lượng cho sự sinh trưởng và phát triển của thỏ
Qua nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu năng lượng cần thiết cho 1kg tăng trọng thay đổi từ 16-40 MJ Lúc 3 tuần tuổi là 16 MJ, 20 tuần tuổi là 40 MJ Nhu cầu năng lượng của 1kg thỏ hậu bị là 600-700 MJ (140-170 Kcal) tương đương với 25-35 gam tinh bột (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)
Nhu cầu năng lượng cho tăng trọng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: khí hậu, tỷ lệ dinh dưỡng (năng lượng, protein, axit amin), xơ, trạng thái sức khỏe… chất bột đường có nhiều trong thức ăn hạt ngũ cốc, khoai, sắn… những chất này trong quá trình tiêu hóa sẽ được phân giải thành đường cung cấp năng lượng cho cơ thể Theo Robert (2001) thì thỏ có khả năng điều chỉnh mức ăn vào cho phù hợp với nhu cầu năng lượng nhưng cũng đáp ứng đủ nhu cầu protein của chúng Nếu protein
dư thừa quá mức thì thỏ giảm hoạt động ăn vào giai đoạn này
2.2.3 Nhu cầu tinh bột
Có nhiều trong thức ăn hạt ngũ cốc, khoai, sắn…những chất này trong quá trình tiêu hóa sẽ được phân giải thành đường, cung cấp năng lượng cho cơ thể Đối với thỏ sau cai sữa trong thời kỳ vỗ béo thì cần tăng dần lượng tinh bột Đối với thỏ hậu bị 4-6 tháng tuổi và cái giống không sinh đẻ thì phải khống chế lượng tinh bột để tránh
sự vô sinh do quá béo Đến khi thỏ đẻ và nuôi con trong 20 ngày đầu thì phải tăng lượng tinh bột gấp 2-3 lần so với khi có men, bởi vì con mẹ vừa phải phục hồi sức khỏe, vừa phải sản xuất sữa nuôi con Đến khi sức tiết sữa giảm (sau khi đẻ 20 ngày) thì nhu cầu tinh bột cũng cần ít hơn
Trang 172.2.4 Nhu cầu chất xơ
Việc xác định mức độ xơ tối ưu trong khẩu phần thỏ là một trong những mục tiêu chính của việc nghiên cứu về dinh dưỡng thỏ Thỏ được cho ăn khẩu phần xơ thấp thì có những biểu hiện xáo trộn trong hệ thống tiêu hóa với những biểu hiện như tiêu chảy kèm với tỷ lệ chết cao Điều này có thể giải thích là do khẩu phần có mức
độ xơ thấp sẽ kéo dài thời gian lưu trữ thức ăn trong hệ thống tiêu hóa (Hoover &Heitmann, 1972) Hơn thế nữa, ở khẩu phần xơ thấp hơn 12% thì sự thay thế chất chứa trong manh tràng sẽ thấp hơn Tình trạng này dẫn đến hai trường hợp: sự lên men không mong muốn trong manh tràng và sự gia tăng của những vi sinh vật gây bệnh (Carabano, 1988)
Từ đặc điểm sinh lý tiêu hóa của thỏ chúng tôi nhận thấy thức ăn xơ thô vừa là chất chứa đầy dạ dày và manh tràng vừa có tác dụng chống đói đảm bảo sinh lý tiêu hóa bình thường Chất xơ như là nguồn cung cấp năng lượng, tác động tốt cho quá trình lên men của vi khuẩn manh tràng Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: nếu cho thỏ
ăn thức ăn nghèo xơ (dưới 8%) thì thỏ sẽ bị tiêu chảy Nhu cầu tối thiểu về xơ thô là 12% trong khẩu phần ăn của thỏ, tốt nhất là 13-15% Thức ăn này sẽ kích thích sự hoạt động của đường tiêu hóa và nhu động của ruột bình thường Nhưng nếu tỷ lệ
xơ thô trên 16% thì sẽ gây cản trở tăng trọng và khả năng sử dụng thức ăn của thỏ Riêng thỏ trưởng thành có thể sử dụng được khẩu phần có xơ thô trên 16-18% Cung cấp xơ thô có thể theo dạng cỏ, lá xanh, khô hoặc dạng bột nghiền nhỏ 2-5mm trộn vào thức ăn hổn hợp để đóng viên hoặc dạng bột (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)
2.2.5 Nhu cầu nước uống
Có thể thỏ sử dụng hai nguồn nước từ nước trong cỏ xanh và nước uống Nhu cầu nước phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và hàm lượng vật chất khô trong thức ăn hàng ngày Mùa hè thỏ ăn nhiều thức ăn thô thì cần lượng nước gấp ba lần so với nhu cầu bình thường Nhu cầu nước phụ thuộc vào lứa tuổi và các thời kỳ sản xuất khác nhau: thỏ vỗ béo, hậu bị giống cần 0,2-0,5 lít/ngày; thỏ mang thai: 0,6-0,8 lít/ngày; khi tiết sữa tối đa: 0,8-1,5 lít/ngày Nếu cho ăn thức ăn thô xanh, củ quả nhiều có bổ sung thức ăn tinh thì lượng nước thực vật đáp ứng được 60%-80% nhu cầu nước tổng số Nhưng vẫn cần cho uống nước, thỏ thiếu nước nguy hiểm hơn thiếu thức ăn Thỏ nhịn khát đến ngày thứ hai là bỏ ăn dẫn đến ngày thứ 10-12 là chết (Nguyễn Văn Thu, 2004)
2.2.6 Nhu cầu vitamin
Các nhu cầu khoáng và vitamin hiện nay các tài liệu gần như mâu thuẫn nhau Trong chăn nuôi thỏ rất cần thiết phải cung cấp vitamin đặc biệt là thỏ nuôi nhốt và
có năng suất cao Đối với thỏ sinh sản cần thiết phải được cung cấp vitamin A và E,
Trang 18nếu đầy đủ thì tỉ lệ đẻ có thể đạt 70-80%, nếu thiếu tỉ lệ này có thể là 40-50% và tỉ
lệ nuôi sống là 30-40% Cỏ xanh, cà rốt, bí đỏ và lúa lên mầm là những nguồn cung cấp vitamin rất tốt cho thỏ Thỏ có thể tự tổng hợp vitamin nhóm B trong hệ tiêu hóa Người ta cũng cung cấp vitamin dạng bột cho thỏ vào trong thức ăn hỗn hợp (Nguyễn Văn Thu, 2004)
2.3 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA THỎ
2.3.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm cấu tạo đường tiêu hóa ở thỏ là: dạ dày đơn, co giãn tốt nhưng co bóp rất yếu, đường ruột dài 4-6 m, manh tràng lớn hơn dạ dày có khả năng tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật; kết tràng được chia thành 2 phần: phần trên có nhiều lớp vân cuộn sóng, phần dưới nhãn trơn
Một số đoạn của đường tiêu hóa của thỏ được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Khối lượng và thể tích các phần của đường tiêu hóa
Tên bộ phận Trọng lượng (g) Chất chứa (g) % so với cơ thể
Nguồn: Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình (2000).
Tỉ lệ dung tích của các phần đường tiêu hóa của thỏ cũng khác so với của các gia súc khác Dạ dày của bò lớn nhất (71%) so với tổng đường tiêu hóa của nó Còn ở thỏ manh tràng lớn nhất (49%), cụ thể ở bảng 3:
Bảng 4: So sánh tỉ lệ dung tích của các phần đường tiêu hoá của các gia súc (%)
Trang 19Độ pH của các phần đường tiêu hoá ở thỏ cũng khác nhau: dạ dày rất chua, pH trung bình là 2,2 Vật chất khô của chất chứa dạ dày phụ thuộc vào dạng thức ăn, trung bình 17% Chất chứa ruột non có pH = 7,2-7,9 Manh tràng có pH = 6, vật chất khô là 23% Kết tràng có pH = 6,6 Dịch mật và tuyến tụy có tác dụng cân bằng
độ pH của ruột non Tổng số vi khuẩn trong manh tràng là cao nhất Hoạt động lên men của vi khuẩn trong môi trường hơi chua sẽ tạo nên được nhiều axit béo bay hơi
từ chất cellulose
2.3.2 Đặc điểm tiêu hóa
Theo Đinh Văn Bình et al (2000), thỏ gặm thức ăn nhờ răng cửa, rồi đẩy sâu vào
khoang miệng và nghiền bằng răng hàm dưới sự hỗ trợ của cơ hàm dưới rất khoẻ Ở miệng thức ăn luôn ngập trong nước bọt Đó là giai đoạn đầu của sự tiêu hóa Trước khi đến xoang bụng nơi chứa các cơ quan tiêu hoá (dạ dày, ruột non, ruột già…) thực quản đi qua lồng ngực, dọc theo lưng về phía khí quản
Cấu tạo dạ dày thỏ không thích ứng với tiêu hoá chất xơ Ở thỏ chất xơ được tiêu hoá ở manh tràng Các chất dinh dưỡng trong thức ăn được hấp thu phần lớn là ở tá tràng Dạ dày thỏ chỉ có một ngăn, co giãn tốt nhưng co bóp yếu Thức ăn được đưa vào tới dạ dày là nhờ nhu động của hầu và thực quản Thức ăn không được nhào trộn mà được xếp từng lớp trước sau rồi cứ thế chuyển dần xuống ruột non, ruột già Nếu thức ăn cứng khó tiêu thì dễ gây viêm ruột, viêm dạ dày Thức ăn trong dạ dày được phân hoá chất đạm nhờ dịch dạ dày Nếu thiếu muối trong khẩu phần ăn thì dịch dạ dày tiết ra ít dẫn đến cơ thể không sử dụng hết nguồn đạm trong thức ăn Dạ dày thỏ khoẻ không bao giờ hết thức ăn Nếu dạ dày lép xẹp ít thức ăn hoặc chứa tạp chất ở thể lỏng là thỏ bị bệnh và phân thải ra sẽ nhão không thành viên Thỏ khoẻ mạnh phân thải ra thành dạng viên Ở ruột non các chất đạm, đường, mỡ được phân giải nhờ các men tiêu hoá của dịch ruột Các dưỡng chất cũng được hấp thu chủ yếu ở đây Nếu ruột non bị viêm nhiễm trùng thì không hấp thu được dưỡng chất từ thức ăn, thỏ sẽ gầy yếu (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)
Thức ăn từ miệng xuống tới tá tràng mất từ 8-10 giờ Thức ăn sau khi tiêu hoá ở ruột non, những phần còn lại được đẩy tiếp xuống ruột già được tiêu hoá nhờ hệ vi sinh vật cư trú ở đây tác động, phân huỷ Ở ruột già chủ yếu hấp thu muối và nước Manh tràng dự trữ và tiêu hoá chất xơ nhờ hệ vi sinh vật Các chất dinh dưỡng và vitamin cần thiết được tổng hợp ở manh tràng nhưng không hấp thu hết ở đây mà được tồn tại ở dạng các viên phân mềm, nhỏ mịn, dính kết lại vào nhau và được thỏ thải ra ban đêm gọi là “phân vitamin”, loại phân này được thỏ ăn trở lại
(Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)
Do ruột già nhu động yếu, thời gian thức ăn lưu lại ruột già lâu nên thời gian từ khi thức ăn vào miệng đến khi chuyển hoá thành phân thải ra ngoài cơ thể ở thỏ lớn cần
Trang 2072 giờ, ở thỏ con cần 60 giờ mới hoàn thành Thức ăn tồn tại ở ruột già lâu và ở đây
có vi sinh vật giúp quá trình tiêu hóa Khi vi sinh vật ở ruột già tham gia phân huỷ chất xơ đồng thời các quá trình thối rửa cũng xảy ra và có chất độc hình thành Do
đó, nếu cho thỏ ăn thức ăn nghèo chất xơ khó tiêu hoá, thức ăn rau xanh củ quả chứa nhiều nước, mẫu nát dễ phân huỷ, thức ăn có hàm lượng bột đường nhiều hoặc thức ăn thiu thì dễ lên men gây rối loạn tiêu hoá như tạo khí nhiều, phân không tạo viên gây tiêu chảy, chướng hơi, bệnh do cầu trùng, trực trùng… (Nguyễn Chu Chương, 2003)
2.3.3 Phân mềm và hiện tượng ăn phân của thỏ
Động vật ăn cỏ chỉ có thể tiêu hóa chất xơ từ thức ăn thực vật bằng quá trình lên men vi khuẩn Quá trình này ở động vật nhai lại xảy ra ở dạ dày và phần đầu ruột non, ở thỏ và ngựa thì xảy ra ở manh tràng và ruột già Trong các quá trình trên sự tiêu hóa tinh bột thành axit béo và hấp thụ vào đường máu đều thì giống nhau Nhưng riêng sự hấp thụ axit amin thì có khác nhau: ở động vật nhai lại, axit amin phân hủy và hấp thu ngay ở dạ múi khế và ruột non Đến phần ruột già, từ manh tràng axit amin không có khả năng hấp thụ được Thỏ đã bỗ sung khiếm khuyết đó
bằng hiện tượng sinh lý ăn phân mềm (Caecotrophia) (Đinh Văn Bình và Nguyễn
Quang Sức, 2000)
Đặc điểm tiêu hóa của thỏ là ăn phân (Caecotrophia) Trong đường ruột của thỏ
luôn tạo thành hai loại phân: một loại mềm luôn được thỏ ăn lại gọi là phân mềm
hoặc do xuất phát từ manh tràng nên còn gọi là phân manh tràng (Caecotrophia)
Còn lại phân viên tròn, cứng thỏ không ăn được gọi là phân cứng Phân mềm chứarất nhiều vitamin B, nên được gọi là phân vitamin Phân cứng có vật chất khô cao hơn (57,2%) so với phân mềm (38,6%) nhưng hàm lượng protein lại nhỏ hơn so với phân mềm lần lượt là 15,4% và 25,7% Phân cứng ở dạng viên đơn, phân mềm gồm 5-10 viên nhỏ kết dính thành chùm dài bởi màng mỏng Phân mềm khi thải ra đến cuối hậu môn thì thỏ cuối xuống ăn ngay, nuốt vào dạ dày và tan ra ở đó trộn lẫn với chất chứa dạ dày, đẩy dần vào ruột non, các chất dinh dưỡng được hấp thu ở đó.Thỏ con còn bú mẹ không có hiện tượng ăn phân, hiện tượng này chỉ bắt đầu khi thỏ đến ba tuần tuổi, lúc thỏ ăn được thức ăn cứng Phân cứng còn được gọi là phân ban ngày, phân mềm là phân ban đêm, nhưng đối với thỏ rừng thì ngược lại Như vậy chứng tỏ rằng thỏ ăn phân mềm trong môi trường yên tĩnh (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)
Phân cứng có hàm lượng vật chất khô cao nhưng protein lại thấp hơn phân mềm Phân cứng ở dạng viên đơn, phân mềm ở dạng chùm dài gồm 5-10 viên nhỏ kết lại bởi màng mỏng Phân mềm khi được thải ra đến cửa hậu môn thì thỏ cúi xuống ăn ngay, nuốt chửng vào dạ dày, tan ra và trộn lẫn chất chứa dạ dày đưa xuống ruột
Trang 21non Vì có hiện tượng này nên người ta gọi thỏ là loài “nhai lại giả” (Nguyễn Chu Chương, 2003).
Thực tế thì tỷ lệ phân mềm trong tổng vật chất khô khẩu phần ăn vào thường cố định (khoảng 14%) Chỉ khi nào cỏ hoặc những phụ phẩm trồng trọt khó tiêu hiện diện nhiều trong khẩu phần thì dẫn đến mức độ tiêu thụ cao có thể từ 20-23% phân
mềm trong tổng vật chất khô ăn vào (Carabano et al.,1988).
Bảng 5: Thành phần hóa học của phân cứng và phân mềm
Nguồn: Nguyễn Văn Thu (2004)
2.4 VÀI NÉT VỀ TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT CỦA THỎ
2.4.1 Sự tiêu hóa tinh bột
Do nguyên nhân của việc nuôi tập trung, thỏ được cho ăn với dinh dưỡng cao và vì thế nó bao gồm mức độ cao của hạt ngũ cốc và tinh bột hơn cách nuôi truyền thống Những điều này được chứng minh bởi Cheek & Patton (1980) là việc tăng sự thủy phân nguồn tinh bột trong khẩu phần cùng với khả năng di chuyển nhanh của sự tiêu hóa thức ăn có thể là nguồn cung cấp tinh bột quan trọng cho vi sinh vật manh tràng, gây nên hiện tượng lên men làm tăng nhanh sự xáo trộn tiêu hóa
Wolter et al (1980) chỉ ra rằng khoảng 70% tinh bột khẩu phần đến ruột non không
qua sự phân rã Điều này chỉ ra rằng pH của dạ dày thấp làm cho enzym không ổn định Ngoài ra có khoảng 85% tinh bột được tiêu hóa trước manh tràng với khẩu phần gồm 35% hạt ngũ cốc Thỏ cai sữa dường như nhạy cảm với tinh bột thoát qua ruột sau bởi vì hệ thống enzym tuyến tụy vẫn còn non nớt và chỉ phát triển nhanh lúc thỏ 3-4 tuần tuổi Theo cách này De Blas (1986) đã chỉ ra rằng ở thỏ 28 ngày tuổi thì tinh bột ở hồi tràng khoảng 4% với khẩu phần gồm 30% tinh bột Trong khi
đó ở thỏ trưởng thành, giá trị này thấp hơn 0,5% Sự quan sát này là một thức tế quan trọng để hiểu về xáo trộn tiêu hóa trong suốt tuần lễ đầu sau cai sữa (28-40 ngày tuổi)
Trang 22Lee et al (1985) đã chỉ ra rằng tỉ lệ tiêu hóa của tinh bột lệ thuộc vào nguồn của nó cũng như cách nuôi dưỡng Tuy nhiên, Santomas et al (1987) không thấy về sự
khác nhau giữa tỉ lệ chết, tăng trọng, tỉ lệ chuyển hóa thức ăn, tỉ lệ tiêu hóa vật chất khô, vật chất hữu cơ và tiêu hóa protein khi sử dụng khẩu phần lớn hơn 33% của những hạt ngũ cốc khác nhau (lúa mì, ngô, lúa mạch)
2.4.2 Sự tiêu hóa protein
Theo Henshell (1973) những enzyme phân giải protein của thỏ được hoàn thiện vào tuần tuổi thứ tư, sự phát triển của enzyme phụ thuộc chủ yếu vào sự phát triển của
hệ thống nội tiết và ít nhiều bị ảnh hưởng bởi khẩu phần Có sự khác biệt rõ rệt về
tỷ lệ tiêu hoá protein giữa các loại thức ăn hỗn hợp (gần 80%), ngũ cốc và cám 70%) và cỏ (45-65%) Từ đó, tỷ lệ tiêu hóa CP ở các khẩu phần khác nhau phụ thuộc vào thực liệu hơn là vào thành phần hóa học của chúng Vì vậy mà tỷ lệ tiêu hóa protein thô (CPD) có mức độ chính xác cao hơn protein thô (CP) trong đánh giá
(65-protein thức ăn và thực liệu (De Blas et al.,1986).
Số liệu nghiên cứu về mức độ tiêu hóa protein trước manh tràng còn rất hiếm Gần đây, Gidenne (1988) đã thực hiện thí nghiệm thông lỗ dò hồi tràng thỏ và những kết quả bước đầu cho thấy rằng chỉ có 35% tổng số protein tiêu hoá của cỏ Linh lăng khô xảy ra ở ruột non (protein từ thức ăn hỗn hợp có thể có giá trị cao hơn) Vì vậy,
sự biến dưỡng ở manh tràng dường như có vai trò quan trọng trong tiêu hoá hấp thụ protein của thỏ, nhất là đối với protein có nguồn gốc từ cỏ (Haresign, 1989)
*Sự biến dưỡng Nitơ trong manh tràng
NH3 là sản phẩm chính cuối cùng của sự biến đổi Nitơ trong manh tràng, như là mộtnguồn Nitơ chính cho sự tổng hợp protein của vi sinh vật Giống như những động vật nhai lại, NH3 trong manh tràng đến từ sự biến dưỡng của urê máu (khoảng 25%
NH3 trong manh tràng, Forsythe et al., 1985) và đến sự phân hủy thức ăn của khẩu
phần Ngoài ra Nitơ còn có nguồn gốc từ sự nội sinh của những vi sinh vật manh
tràng, làm gia tăng sự hoạt động phân giải protein (Makkar et al., 1987).
Nồng độ NH3 trong manh tràng từ 6-8,5 mg/100ml chất chứa manh tràng trong
khẩu phần thực tế (Carabano et al., 1988), lượng này dường như đủ cho sự tổng hợp
protein của vi sinh vật khi so sánh với động vật nhai lại và có ý kiến cho rằng năng lượng thì giới hạn hơn cho sự tăng trưởng tối ưu của vi sinh vật trong manh tràng (Just, 1983) Trong các trường hợp này mặc dù NH3 trong manh tràng có thể là yếu
tố giới hạn cho sự tăng trưởng của vi sinh vật thì nguồn urê cung cấp không đáp ứng được nhu cầu (King, 1971) bởi vì urê được thủy phân và hấp thu như NH3 trước khi đến manh tràng dẫn đến gia tăng Nitơ trong nước tiểu Hơn thế nữa, sự gia tăng
NH3 trong manh tràng làm pH cao hơn mức tối ưu vì thế làm tăng nhanh sự xáo trộn tiêu hóa (Lebas, 1986)
Trang 232.4.3 Phân mềm và sự tiêu hóa protein
Sự đóng góp chủ yếu của sự ăn phân mềm như là một nguồn dưỡng chất cung cấp quan trọng như protein Thỏ ăn phân mềm 1 lần một ngày, phân mềm được giữ lại trong bao tử từ 6-8 giờ phụ thuộc vào màng bao bảo vệ chúng thoát khỏi sự phá vỡ của quá trình tiêu hóa Trong khi đó thì vi sinh vật tiếp tục quá trình lên men của chúng sản xuất ra một lượng lớn axit lactic Cuối cùng màng bao bị hủy đi và phân mềm đi vào sự tiêu hóa bình thường (Griff & Davies, 1963)
Protein cung cấp từ phân mềm thay đổi từ 10% (Spreadbury, 1978) đến 55% (Haresigs, 1989) của tổng protein ăn vào tùy thuộc vào thực liệu thức ăn được sử dụng Trong khẩu phần thực tế nguồn protein cung cấp từ phân mềm khoảng 18% trong tổng protein ăn vào (Harasign, 1989) Một trong những thuận lợi chính của hiện tượng ăn phân là ảnh hưởng tích cực đến sự tiêu hóa trong khẩu phần Theo
Fraga et al (1977) thì tỉ lệ tiêu hóa protein tăng từ 5-20% là kết quả của hiện tượng
ăn phân, sự gia tăng đến giá trị cao nhất khi protein trong thức ăn hỗn hợp thấp.Mặc dù có một vài số liệu về thành phần của axit amin và sự đóng góp của phân mềm, nó rõ ràng là một nguồn tốt về lysine và methionin là những axit amin thường giới hạn trong khẩu phần thỏ Phân mềm cũng là một nguồn quan trọng cung cấp vitamin B và có thể tận dụng một số khoáng chất như sắt Mặc dù vitamin B cung cấp có thể đủ cho sự sản xuất của thỏ theo cách nuôi truyền thống nhưng cần cung
cấp thêm vitamin tổng hợp và khoáng cho thỏ nuôi tập trung (Harris et al., 1983).
2.4.4 Sự tiêu hóa chất béo
Do khẩu phần của thỏ thường chứa xơ tự nhiên nên các chất béo được xem là nguồn tiềm năng cho sự gia tăng năng lượng Dù các thông tin về tỷ lệ tiêu hóa chất béo của thỏ còn hiếm nhưng kết quả nghiên cứu sự tiêu hóa xác định rằng thỏ cũng
giống như những động vật dạ dày đơn khác Theo cách này Santoma et al (1987)
đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa mức độ của axit béo chưa bão hòa và tỉ lệ tiêu hóa của chúng cũng giống như ở heo và gia cầm Họ cũng chỉ ra rằng có sự đối lập giữa mức độ chất béo của khẩu phần và tỉ lệ tiêu hóa chất béo bão hòa
Santoma (1987) đã phát hiện hiệu quả đặc biệt của chất béo, điều này giống như ở gia cầm (Mateos & Sell, 1981) và điều này được giải thích là tỉ lệ tiêu hóa của những thành phần không phải là béo tăng 5,8% khi chất béo được thêm trên 3%
2.4.5 Xơ và sự biến dưỡng ở manh tràng
Nguồn năng lượng cung cấp từ xơ thường thấp trong khẩu phần (ít hơn 5% tổng năng lượng tiêu hóa của khẩu phần) Nơi đây xơ trung bình tiêu hóa khoảng 17%
(De Blas et al., 1986) Tuy nhiên, loại xơ đặc biệt và hòa tan trong manh tràng được
lên men chủ yếu bằng vi sinh vật tạo ra axit béo bay hơi (VFA) Theo Carabano
Trang 24(1988) thì năng lượng là một yếu tố giới hạn cho sự tăng trưởng của vi sinh vật manh tràng Axit propionic được sản xuất thì rất thấp (8% trong tổng số) Với axitacetic chiếm số lượng lớn (73%) và cao hơn mức độ của axit butyric (17%) Thành phần của VFA trong manh tràng thay đổi rất lớn từ 34,5 µmol/gam DM đến 351 µmol/gam DM Tuy nhiên, cũng có thể kết luận rằng các yếu tố được đề cập ở trên thích hợp làm gia tăng thời gian lưu giữ thức ăn trong ruột cũng làm gia tăng thành phần của VFA trong manh tràng, đặc biệt là axit acetic khi tiêu hóa nhiều xơ và axitbutyric khi tiêu hóa nguồn xơ ít trong khẩu phần (nhỏ hơn 14% CF/DM) làm pH trong manh tràng giảm xuống.
Theo Borriello & Carman (1983) cũng chỉ ra sự biến đổi trong manh tràng và sự tăng trưởng của những vi sinh vật gây bệnh khác tạo cơ hội cho sự xáo trộn tiêu hóa Tuy nhiên, những nghiên cứu khác rất cần thiết để hiểu được ảnh hưởng của khẩu phần về sự biến dưỡng của năng lượng trong manh tràng Thành phần hóa học của những thức ăn tiêu hóa nhiều hơn xơ có thể đóng vai trò quan trọng trong sự sản xuất VFA Từ những đạt được đầu tiên chỉ ra rằng có một vài sự khác nhau giữa nguồn năng lượng được cung cấp từ xơ (khoảng 5% năng lượng của khẩu phần) và năng lượng cung cấp từ VFA thì khoảng 12-40% của nhu cầu năng lượng cho nhu cầu duy trì ở thỏ trưởng thành (Hoover & Heitmann, 1972)
2.5 MỘT SỐ THỨC ĂN NUÔI THỎ
2.5.1 Cỏ lông tây (Brachiaria mutica)
Loại cỏ thân bò trên mặt đất, rễ nhiều, thân dài 0,6-2,0m, lá to bản, có lông Giống
cỏ này có nguồn gốc từ Châu Phi Thuộc giống cỏ đa niên, giàu protein, dễ trồng, chịu được đất ẩm ướt Ở Việt Nam cỏ lông tây được nhập trồng ở Nam Bộ từ năm
1887 tại các cơ sở nuôi bò sữa, nay đã trở thành cây mọc tự nhiên ở khắp hai miền Nam Bắc Sau 1,5-2 tháng trồng thì có thể thu hoạch lứa đầu Từ đó cứ khoảng 30 ngày thì thu hoạch được một lần, trừ mùa khô phải hơn hai tháng mới cắt được nên thu hoạch lúc cỏ cao 50-60cm và khi thu hoạch thì nên cắt cách mặt đất 5-10cm Cỏ lông tây rất thích hợp trồng ở các vùng đồng bằng, năng suất cỏ thay đổi nhiều, có nơi đạt 120 tấn/ha trong 5 lần cắt Có thể sử dụng cỏ lông tây cho gia súc ăn dưới dạng cỏ tươi hoặc phơi khô (Nguyễn Thiện, 2003)
Bảng 6: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ lông tây (%)
Cỏ lông tây 18,9 90,5 8,6 63,9 35,5 9,5
DM: vật chất khô, OM: vật chất hữu cơ, CP: đạm thô, NDF: xơ trung tính, ADF: xơ axit, Ash: khoáng
Nguồn: Phạm Huỳnh Khiết Tâm (2007)
Trang 25Bảng 7: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ đậu (%)
DM: vật chất khô, OM: vật chất hữu cơ, CP: đạm thô, NDF: xơ trung tính, ADF: xơ axit, Ash: khoáng
Nguồn: Đặng Hùng Cường (2008)
2.5.3 Bã đậu nành
Bã đậu nành là phụ phẩm của quá trình chế biến hạt đậu nành thành đậu phụ hoặc thành sữa đậu nành Bã đậu nành có mùi thơm vị ngọt, gia súc thích ăn Hàm lượng chất béo và protein trong bã đậu nành rất cao (27,61%DM) Bã đậu nành có thể được coi là loại thức ăn cung cấp protein cho gia súc Có thể cung cấp cho gia súc
ăn hàng ngày (Lưu Hữu Mãnh, 1999)
Bảng 8: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bã đậu nành
Bã đậu nành 8,38 95,7 23,8 4,85 32,2 27,1 4,29
DM: vật chất khô, OM: vật chất hữu cơ, CP: đạm thô, EE: béo thô, NDF: xơ trung tính, ADF: xơ axit, Ash: khoáng tổng số
Nguồn: Nguyen Thi Kim Dong et al., (2005)
2.5.4 Rau lang (Ipomoea batatas)
Trên thế giới khoai lang được trồng ở 111 nước khác nhau Trong đó có 101 nước là các nước đang phát triển Về vị trí kinh tế và giá trị sử dụng của khoai lang các tác giả đều đánh giá khoai lang là cây lương thực quan trọng của nhiều nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh Ngoài ra khoai lang còn được dùng làm nguyên liệu
Trang 26chế biến ra một số mặt hàng thực phẩm công nghiệp, đã làm tăng giá trị kinh tế của khoai lang Ở Việt Nam hiện nay, khoai lang làm lương thực cho người giảm dần Chủ yếu làm thức ăn chăn nuôi hoặc được sử dụng làm rau xanh giáp vụ hay rau sạch cho nhân dân (Mai Thạch Hoành và Nguyễn Công Vinh, 2003).
Theo nhiều nghiên cứu dây lá rau lang là nguồn thức ăn tốt sử dụng nuôi thỏ, thỏ rất thích ăn dây lá khoai lang Dây lá rau lang cung cấp nguồn protein cần thiết cho sự tăng trưởng của thỏ Chúng ta có thể sử dụng dây lá rau lang để nuôi thỏ vì cho tăng trọng nhanh Khoai lang có đặc tính dễ trồng, sinh trưởng quanh năm, nhân giống
dễ Có hai cách nhân giống: bằng dây và bằng củ Trong 100g phần ăn được của lá rau lang cho 22 kcal, 245g vitamin A, 11mg vitamin C và vitamin B1… (Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính, 2002)
Bảng 9: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân, rau lang
Thành phần hóa học ( % DM ) Khoai lang
Dây lá tươi 8,70 21,9 3,40 15,0 41,7 18,0 Dây lá khô 86,6 16,6 5,20 27,4 38,4 12,6
Củ khô ngiền 87,1 4,6 0,8 13,3 75,2 6,10
Nguồn: Lưu Hữu Mãnh (1999)
2.6 SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ GIỐNG THỎ
2.6.1 Thỏ New Zealand White
Có nguồn gốc từ New Zealand, được nuôi phổ biến ở Châu Âu, Châu Mỹ, được nhập vào Việt Nam từ Hungari năm 1978 và năm 2000, thuộc giống thỏ tầm trung mắn đẻ, sinh trưởng nhanh, thành thục sớm, nhiều thịt, lông dày, trắng tuyền, mắt hồng, khối lượng trưởng thành từ 5-5,5 kg/con Tuổi động dục lần đầu 4-4,5 tháng, tuổi phối giống lần đầu 5-6 tháng, khối lượng phối giống lần đầu 3-3,2 kg/con, đẻ 5-
6 lứa/năm, 6-7 con/lứa, khối lượng con sơ sinh 50-60 gam/con, tỉ lệ thịt xẻ từ
52-55% (Chu Thị Thơm et al., 2006).
2.6.2 Thỏ Chinchilla
Lần đầu được trình diễn ở Pháp năm 1913 bởi Dybowki Được tạo ra từ thỏ rừng và
Trang 27len, nuôi nhiều ở một số nước Châu Âu Giống thỏ này có hai dòng, một có trọng lượng 4,5-5 kg (Chinchilla giganta) và dòng kia đạt 2-2,5 kg lúc trưởng thành Trung bình mỗi lứa đẻ từ 6-8 con, khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi khác nhau Thỏ có lông màu xanh, lông đuôi trắng pha lẫn xanh đen, bụng màu trắng xám (Nguyễn Ngọc Nam, 2002)
Đặc điểm của giống thỏ này là có bộ lông màu tuyết trắng Riêng hai tai, mũi, đuôi
và bốn chân có màu tro hoặc đen, trong chăn nuôi công nghiệp rất được ưa chuộng Thỏ trưởng thành có trọng lượng 4-4,5kg, con đực nặng từ 3,6-4,5kg, con cái nặng
từ 3,8-4,7kg Mỗi năm đẻ khoảng 5 lứa, mỗi lứa đẻ khoảng 5-6 con Thỏ Californian được nhập vào nước ta ở Sơn Tây năm 1977 và đã thích nghi với điều kiện khí hậu cũng như nuôi dưỡng chăm sóc Tỷ lệ thịt xẻ của thỏ vào khoảng 55-
60% (Chu Thị Thơm et al., 2006).
2.6.4 Các giống thỏ được nuôi ở Việt Nam
Từ năm 1978, nước ta đã tiến hành nhập một số giống thỏ ngoại và xây dựng một Trung tâm nghiên cứu về chăn nuôi thỏ tại Sơn Tây-Hà Nội Sau 10 năm nghiên cứu lai tạo, hiện nay tại Trung tâm giống thỏ Sơn Tây đã có 3 giống thỏ phát triển ra sản xuất
2.6.4.1 Giống thỏ trắng Tân Tây Lan Việt Nam (New Zealand White- Việt Nam)
Được nhập từ Hungari năm 1978, đến nay sau 10 năm nuôi dưỡng và chọn lọc đàn thỏ đã thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng và khí hậu ở Việt Nam Thỏ màu lông trắng tuyền, mắt đỏ, trọng lượng trưởng thành 4-4,5kg; một năm đẻ 5-6 lứa, mỗi lứa 5-6 con, trọng lượng sơ sinh 55-60g, thỏ con cai sữa 550-600g, trọng lượng thỏ lúc 3 tháng nặng 1,8-2kg, tỉ lệ thịt xẻ 54 -56% Đây là giống thỏ kiêm dụng cho thịt và lông da Hiện nay giống thỏ này ngoài việc nuôi thuần chủng còn dùng để lai kinh tế với thỏ nội và tạo giống mới có hiệu quả tốt trong sản xuất (Nguyễn Chu Chương, 2003)
2.6.4.2 Giống thỏ đen Việt Nam
Giống thỏ này được gây tạo ra từ Trung tâm giống thỏ Sơn Tây-Hà Nội Giống thỏ này có màu lông đen tuyền, mắt đen, đầu nhỏ, mõm nhỏ, cổ không vạm vỡ nhưng
Trang 28thân hình chắc chắn, thịt ngon Trọng lượng trưởng thành 3-3,5kg, thỏ mắn đẻ, một năm đẻ 7 lứa, một lứa 6-7 con Đặc điểm nổi bật của thỏ này là sức chống đỡ với bệnh tật tốt hơn thỏ xám, thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng thấp và khí hậu ở
nước ta (Chu Thị Thơm et al., 2006).
2.6.4.3 Giống thỏ xám Việt Nam
Cũng theo Chu Thị Thơm (2006), giống thỏ này cũng được gây tạo tại Trung tâm giống thỏ thịt Sơn Tây-Hà Nội, bằng phương pháp lai phân tích và chọn lọc qua nhiều thế hệ Giống thỏ này màu lông xám tro hoặc xám ghi, riêng phần dưới ngực, bụng và đuôi màu trắng nhờ, mắt đen, đầu to vừa phải, lưng hơi cong, trọng lượng trưởng thành 3-3,5kg Thỏ đẻ khỏe, một năm đẻ 6-7 lứa, một lứa 6-7 con Thỏ có khả năng chịu đựng với điều kiện nuôi dưỡng thấp và thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ở nước ta
Trang 29CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Địa điểm
Thí nghiệm được tiến hành tại Trại Chăn Nuôi số 474C/18, Khu vực Bình An, Phường Long Hòa, Quận Bình Thủy, Thành Phố Cần Thơ và Phòng thí nghiệm thuộc Bộ Môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
3.1.2 Thời gian
Thời gian tiến hành thí nghiệm từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 04 năm 2010
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
Đậu nành ly trích được mua ở cửa hàng thức ăn gia súc
Khoai mì tươi được mua ở hộ dân trong Thành phố Cần Thơ, mang về lột bỏ vỏ, lát mỏng, phơi khô rồi sau đó đem sấy khô cho thỏ ăn
Trang 30Hình 2: Bã đậu nành
Hình 1: Cỏ lông tây
Hình 3: Đậu nành ly trích
Hình 4: Cỏ đậu