1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng các nguồn đạm vô cơ lên khả năng thích nghi của bò và sự sinh khí in vitro

50 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 535,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thu được như sau:  Khi sử dụng đạm nitrate cho thấy lượng khí sinh ra ở các khẩu phần có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê.. Tỉ lệ acid béo bay hơi phụ thuộc vào tỉ lệ thức ăn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CÁC NGUỒN ĐẠM VÔ CƠ LÊN KHẢ

NĂNG THÍCH NGHI CỦA BÒ

VÀ SỰ SINH KHÍ IN VITRO

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS Hồ Quảng Đồ Phạm Navy

MSSV: 3060619 Lớp: CN K32

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của nhóm chúng tôi Các số liệu, kết luận trình bài trong luận văn là trung thực

Sinh viên thực hiện:

Phạm Navy

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành cảm ơn Ts Hồ Quảng Đồ đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ kinh phí trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Bộ môn Chăn nuôi, đặc biệt là thầy Nguyễn Văn Hớn

và cô Nguyễn Thị Hồng Nhân đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt những năm qua trong vai trò là cố vấn học tập; cảm ơn PGS.Ts Lê thị Mến, cô Huỳnh Thị Thu Loan đã tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi tiến hành tốt quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình chú Lộc, chủ trại bò Tầm Vu đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn chị Lê Thị Ngọc Huyền đã nhiệt tình hướng dẫn về lý thuyết và thực tế thí nghiệm; và cảm ơn các bạn đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Các kí hiệu, chữ viết tắt Ý nghĩa

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.2b Công thức khẩu phần cơ bản của các nghiệm thức trong thí

Bảng 4.5 Trọng lượng đầu kỳ, cuối kỳ và mức tăng trọng (Kg/con/ngày) 28

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.2 Sự chuyển hóa của Pyruvate thành các axit béo bay hơi

Hình 4.2a Biểu đồ lượng khí sinh ra ở 12h của 3 nghiệm thức 25Hình 4.2b Biểu đồ lượng khí sinh ra ở 24h của 3 nghiệm thức 26Hình 4.5 Biểu độ mức tăng trọng (Kg/con/ngày) của 3 nghiệm thức 29

Trang 7

TÓM LƯỢC

Thí nghiệm: “Ảnh hưởng các nguồn đạm vô cơ lên khả năng thích nghi của bò và sự

sinh khí in vitro” được tiến hành tại phòng thí nghiệm, Bộ môn Chăn nuôi, trường Đại

Học Cần Thơ và tại trại bò Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Cái Răng

Gồm 2 thí nghiệm:

* Thí nghiệm 1: theo dõi và so sánh lượng khí sinh ra với các khẩu phần bổ sung

nguồn đạm vô cơ bằng phương pháp in vitro Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn

toàn ngẩu nhiên gồm 3 nghiệm thức x 4 lần lặp lại

 Nghiệm thức 1: Bổ sung Sodium nitrate

 Nghiệm thức 2: Bổ sung Ammonium nitrate

 Nghiệm thức 3: Bổ sung Urê

* Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của các nguồn đạm vô cơ có trong khẩu phần lên sự tăng trưởng và khả năng chấp nhận khẩu phần của bò Thí nghiệm được tiến hành trên 3 bò đực lai sind, có mổ lỗ dò, trọng lượng 150 -170 Kg Thí nghiệm bố trí theo kiểu hình vuông Latin gồm 3 nghiệm thức x 3 lần lặp lại

 Nghiệm thức 1: Bổ sung Sodium nitrate

 Nghiệm thức 2: Bổ sung Ammonium nitrate

 Nghiệm thức 3: Bổ sung Urê

Kết quả thu được như sau:

 Khi sử dụng đạm nitrate cho thấy lượng khí sinh ra ở các khẩu phần có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê Cho thấy sự ảnh hưởng của nitrate lên quá trình hoạt động của vi sinh vật dạ cỏ

 Bò thích nghi tốt nếu tăng dần lượng nitrate trong khẩu phần lên

 Có thể dùng nitrate thay thế Urê cho gia súc nhai lại, đồng thời làm giảm lượng khí thải sinh ra

Trang 8

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nuôi dưỡng gia súc nhai lại theo đúng nhu cầu của chúng không những cần thiết cho bản thân gia súc và cho người chăn nuôi xét về mặt tài chính, mà còn dang trở thành một ưu tiên để giảm ô nhiễm môi trường do các chất thải (phân, nước tiểu) (De

Boever et al, 1999) Nitrate có thể thay thế urê như một nguồn cung cấp ammonia cho

vi sinh vật phát triển nhưng ít được để ý đến bởi vì tác động độc của nitrate

Theo Leng (2007), tác dụng độc của nitrate chỉ xảy ra đối gia súc nhai lại chưa thích nghi và khi chúng được làm quen với nitrate ở nồng độ cao Sự khử nitrate có thể được thúc đẩy để sản sinh ammonia trong dạ cỏ, và có thể làm giảm lượng metan sản sinh lên đến 100%

Có nhiều vi sinh vật ở dạ cỏ có khả năng khử nitrate thành nitrite, sau đó biến thành

ammonia (Cheng et al 1997) Khả năng sử dụng nitrate có thể chuyển đổi giữa các gia súc nhai lại (Cheng et al, 1983) Một vài loài vi sinh vật ở dạ cỏ giải phóng ammonia

thành hồ chứa ammonia dạ cỏ, nhưng một số khác sử dụng trực tiếp ammonia để tổng

hợp nên tế bào vi sinh vật (H Kudu et al, 1989) Sự khử nitrate sẽ thúc đẩy tăng

nitrate trong khẩu phần (Alaboudi và Jones, 1985)

Việc sử dụng nitrate được tăng lên khi số lượng vi sinh được tăng lên bởi sự bổ sung

nhiều thức ăn dễ tiêu hóa như tinh bột và đường (Burrows et al, 1987) Hàm lượng

ammonia được duy trì khi nitrate bị khử Ở hàm lượng cao nitrate trong thức ăn, có ít hoặc không có triệu chứng gây độc của nitrate Khi các gia súc này đã có thời gian làm quen với nitrate

Động vật nhai lại cho ăn thức ăn xanh có hàm lượng protein thấp có thể thay đổi bổ sung Urêa bằng nitrate như một nguồn nitơ quan trọng của khẩu phần Các chỉ tiêu cần được thử nghiệm khi thay thế Urê bằng nitrate như: Lượng ăn vào, sự tăng trưởng,

sự thay đổi các thông số của môi trường dạ cỏ

Từ những tranh luận trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng các

nguồn đạm vô cơ lên khả năng thích nghi của bò và sự sinh khí in vitro”.

Nhằm các mục tiêu sau đây:

 Ảnh hưởng các nguồn đạm vô cơ lên sự thích nghi của bò

 Ảnh hưởng các nguồn đạm vô cơ lên sự sinh khí in vitro.

Trang 9

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN

2.1 SƠ LƯỢC GIỐNG BÒ LAI SIND

Bò lai Sind thuộc nhóm bò Zebu, được lai từ bò vàng Việt Nam với bò đực Sind dùng

để cày kéo lấy thịt và sữa

 Bò có lông màu vàng, vàng đậm hoặc vàng cánh dán, có nhiều đặc điểm gần giống như bò Sind

 - Khối lượng bò cái trưởng thành 270-280Kg, bò đực 400 - 450Kg Sản lượng sữa 1200 - 1400Kg/chu kỳ 240 - 270 ngày, tỷ lệ mỡ sữa 5 - 5,5% Tỷ lệ thịt xẻ 48 -49% Bê sơ sinh nặng 18 - 22Kg, so với bò vàng Việt Nam, bò lai Sind có khối lượng tăng 30 - 35%, sản lượng sữa tăng gấp 2 lần, tỷ lệ thịt xẻ tăng 5%

 Dùng bò đực lai Sind lai với bò vàng Việt Nam cũng có thể nâng cao tầm vóc, khối lượng và khả năng sản xuất của đàn bò địa phương Bò lai Sind có khả năng thích nghi rộng rãi ở mọi miền đất nước

2.2 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA LOÀI NHAI LẠI

Đường tiêu hoá của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi, trong

đó ba túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) được gọi chung là là dạ dày trước, không

có tuyến tiêu hoá riêng Túi thứ 4, gọi là dạ múi khế, tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, có hệ thống tuyến tiêu hoá phát triển mạnh Đối với gia súc non bú sữa dạ cỏ và dạ tổ ong kém phát triển, còn sữa sau khi xuống qua thực quản được dẫn trực tiếp xuống dạ lá sách và dạ múi khế qua rãnh thực quản Rãnh thực quản gồm có đáy và hai mép Hai mép này khi khép lại sẽ tạo ra một cái ống để dẫn thức ăn lỏng Khi bê bắt đầu ăn thức ăn cứng thì dạ cỏ và dạ tổ ong phát triển nhanh và đến khi trưởng thành thì chiếm đến khoảng 85% tổng dung tích dạ dày nói chung Trong điều kiện bình thường ở gia súc trưởng thành rãnh thực quản không hoạt động nên cả thức

ăn và nước uống đều đi thẳng vào dạ cỏ và dạ tổ ong

- Dạ cỏ: là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu Dạ cỏ chiếm 85-90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào trộn và chuyển hoá thức ăn Dạ cỏ không có tuyến tiêu hoá mà niêm mạc có nhiều núm hình gai Sự tiêu hoá thức ăn trong đó là nhờ hệ VSV cộng sinh Dạ cỏ có môi trường thuận lợi cho VSV lên men yếm khí: yếm khí, nhiệt độ tương đối ổn định trong khoảng 38-42oC, pH từ 5,5-7,4 Hơn nữa dinh dưỡng được bổ sung đều đặn từ thức ăn, còn thức ăn không lên men cùng các chất dinh dưỡng hoà tan

và sinh khối VSV được thường xuyên chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hoá

Có tới khoảng 50-80% các chất dinh dưỡng thức ăn được lên men ở dạ cỏ Sản phẩm lên men chính là các ABBH, sinh khối VSV và các khí thể (metan và cácbônic) Phần lớn ABBH được hấp thu qua vách dạ cỏ trở thành nguồn năng lượng chính cho gia súc nhai lại Các khí thể được thải ra ngoài qua phản xạ ợ hơi Trong dạ cỏ còn có sự tổng

Trang 10

hợp các vitamin nhóm B và vitamin K Sinh khối VSV và các thành phần không lên men được chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hoá.

- Dạ tổ ong: là túi nối liền với dạ cỏ, niêm mạc có cấu tạo giống như tổ ong Dạ tổ ong

có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại

dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách Dạ tổ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn lên miệng để nhai lại Sự lên men và hấp thu các chất dinh dưỡng trong dạ tổ ong tương tự như ở dạ cỏ

- Dạ lá sách: là túi thứ ba, niêm mạc được cấu tạo thành nhiều nếp gấp (tương tự các

tờ giấy của quyển sách) Dạ lá sách có nhiệm vụ chính là nghiền ép các tiểu phần thức

ăn, hấp thu nước, muối khoáng và các a-xit béo bay hơi trong dưỡng chấp đi qua

- Dạ múi khế: là dạ dày tuyến gồm có thân vị và hạ vị Các dịch tuyến múi khế được tiết liên tục vì dưỡng chấp từ dạ dày trước thường xuyên được chuyển xuống Dạ múi khế có chức năng tiêu hoá men tương tự như dạ dày đơn nhờ có HCl, pepsin, kimozin

và lipaza

Nước bọt ở trâu bò được phân tiết và nuốt xuống dạ cỏ tương đối liên tục Nước bọt

có kiềm tính nên có tác dụng trung hoà các sản phẩm axit sinh ra trong dạ cỏ Nó còn

có tác dụng quan trọng trong việc thấm ướt thức ăn, giúp cho quá trình nuốt và nhai lại được dễ dàng Nước bọt còn cung cấp cho môi trường dạ cỏ các chất điện giải như Na+, K+, Ca++, Mg++ Đặc biệt trong nước bọt còn có urê và phốt-pho, có tác dụng điều hoà dinh dưỡng N và P cho nhu cầu của VSV dạ cỏ, đặc biệt là khi các nguyên tố này bị thiếu trong khẩu phần

Sự phân tiết nước bọt chịu tác động bởi bản chất vật lý của thức ăn, hàm lượng vật chất khô trong khẩu phần, dung tích đường tiêu hoá và trạng thái tâm-sinh lý Trâu bò

ăn nhiều thức ăn xơ thô sẽ phân tiết nhiều nước bọt Ngược lại trâu bò ăn nhiều thức

ăn tinh, thức ăn nghiền quá nhỏ sẽ giảm tiết nước bọt nên tác dụng đệm đối với dịch

dạ cỏ sẽ kém và kết quả là tiêu hoá thức ăn xơ sẽ giảm xuống

Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non của gia súc nhai lại cũng diễn ra tương tự như

ở gia súc dạ dày đơn nhờ các men tiêu hoá của dịch ruột, dịch tuỵ và sự tham gia của dịch mật Trong ruột già có sự lên men VSV lần thứ hai Sự tiêu hoá ở ruột già có ý nghĩa đối với các thành phần xơ chưa được phân giải hết ở dạ cỏ Các ABBH sinh ra trong ruột già được hấp thu và sử dụng, nhưng protein VSV thì bị thải ra ngoài qua phân mà không được tiêu hoá sau đó như ở phần trên

2.2.1 Tiêu hóa carbohydrate

Quá trình tiêu hóa carbohydrate ở dạ cỏ có thể chia ra làm 2 giai đoạn: giai đoạn thứnhất là tiêu hóa các carbohydrate phức tạp thành các carbohydrate đơn giản do tác dụng của các enzyme vi sinh vật ngoại bào thực hiện

Trang 11

Pectin Uronic acid

Frustose-6-phosphate Fructose FructanseHemicellulose Pentose

Fructose-1,6-diphosphate

Pentosan

Pyruvice Acid

Hình 2.1: Diễn biến tiêu hóa carbohydrate ở dạ cỏ

Glucose, fructose tiến tục bị phân giải tạo các sản phẩm chính của quá trình lên men là acid acetic, acid propionic, acid butyric, CO2, và CH4 Các acid pyruvic, succinic, lactic là những sản phẩm trung gian quan trọng, thỉnh thoảng cũng phát hiện ra acid lactic trong dạ cỏ

Acid chủ yếu là acid acetic, khẩu phẩn cao chất xơ làm gia tăng hỗn hợp acid đặc biệt

là acetic Khi tỉ lệ thức ăn hỗn hợp trong khẩu phần cao, tỉ lệ acid acetic sẽ giảm lại và acid propionic sẽ tăng lên Với khẩu phần hầu như hoàn toàn là thức ăn hỗn hợp, có lẽ nồng độ acid propionic hầu như vượt quá acid acetic Khi khẩu phần chỉ toàn thức ăn thô khô được nghiền mịn hoặc đóng viên không ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ acid béo bay hơi sản sinh

Phần lớn các acid sản sinh được hấp thu vào dạ cỏ, tổ ong, lá sách chỉ có một số thoát qua vào dạ múi khế và được hấp thu ở ruột non

Tỉ lệ khí sản sinh rất lớn và nhanh, ngay sau bữa ăn một con bò có thể sản sinh hơn 30 lít khí/ giờ gồm CO2 40%, CH4 30-40%, H2 5% và một lượng nhỏ O2 và N2 từ không khí Các chất khí sẽ thoát ra ngoài theo đường ợ hơi, nếu chất khí tích tụ gây hiện tượng chướng hơi dạ cỏ và con vật suy sụp có thể chết

Giai đoạn thứ 2 tương tự sự tiêu hóa của thu không nhai lại, tiêu hóa carbohydrate đơn giản do các enzyme của con vật

Sự tiêu hóa carbohydrate phần lớn phụ thuộc vào lignin và cutin, chúng đề kháng với

sự tấn công của vi sinh vật Lignin gây cản trở cho sự phân giải celuulose mà nó kết

Trang 12

hợp Tỉ lệ acid béo bay hơi phụ thuộc vào tỉ lệ thức ăn tinh, thô trong khẩu phần cũng như loại thức ăn và hình thức thức ăn (Lưu Hữu Mãnh, 1999).

2.2.2 Tiêu hóa protein

Protein của thức ăn được các vi sinh vật phân giải thành các peptid và amino acid, một

số amino acid còn được phân giải xa hơn tạo thành các acid hữu cơ, ammonia và CO2 Những amino mạch phân nhánh tìm thấy trong dịch dạ cỏ dẫn xuất từ amino acid Các amino acid được sản sinh, cùng với các peptid và các amino acid tự do lại bị các vi sinh vật sử dụng để tổng hợp thành protein của vi sinh vật Khi các vi sinh vật đi đến

dạ múi khế và ruột non sẽ bị tiêu hóa và hấp thu ở đó, một đặc điểm quan trọng trong việc hình thành protein vi sinh vật là vi khuẩn có khả năng tổng hợp các acid amin giới hạn thành các acid amin không giới hạn, như vậy chúng cung cấp cho vật chù nguồn protein khác với protein của khẩu phần Ở điểm này đủ để nhấn mạnh rằng phần lớn protein tiến đến ruột non của thú nhai lại sẽ là protein của vi sinh vật theo một thành phần hợp lý ổn định, phần protein còn lại ít hơn là protein của thức ăn không phân giải, thành phần acid amin thay đổi tùy theo đặc tính tự nhiên của khẩu phần

Các ammonia dịch dạ cỏ giống như chìa khóa trung gian trong sự phân giải và tổng hợp protein Nếu khẩu phần thấp protein hoặc protein đề kháng với sự phần giải thì ammonia của dịch dạ cỏ sẽ thấp (50mg/L) và sự tăng trưởng của vi sinh vật sẽ kém, hậu quả là sự phân giải cellulose sẽ bị đình trệ Ngược lại nếu quá trình phân giải protein nhanh hơn tổng hợp, ammonia sẽ tích tụ trong dạ cỏ với nồng độ quá cao Khi điều này xảy ra thì ammonia sẽ hấp thu vào máu, chuyên chở đến gan và chuyển đổi thành urê một phần urê này sẽ đưa ngược trở lại dạ cỏ bằng con đường của tuyến nước bọt, trực tiếp đi qua vách tế bào, phần lớn sẽ bị bài tiết trong nước tiểu và như thế là lãng phí Nồng độ tối hảo của ammonia trong dạ cỏ rất thay đổi, từ 85 – 300mg/L.Nếu thức ăn cung cấp protein kém thì nồng độ của các vi sinh vật trong dạ cỏ thấp, số lượng nitrogen trở ngược về dạ cỏ bằng dạng ammonia từ máu nhiều hơn lượng ammonia hấp thu từ dạ cỏ Như vậy, số protein tiến tới ruột lớn hơn lượng protein trong thức ăn Bằng cách này thú nhai lại có thể bảo tồn lượng nitrogen bằng cách chuyển hóa urê về dạ cỏ, nếu không lượng urê sẽ bị thải trong nước tiểu

2.2.3 Sử dụng đạm phi protein ở gia súc nhai lại

Vi sinh vật có khả năng chuyển hóa các hợp chất đạm phi protein thành protein Vì vậy các hợp chất đạm vô cơ có thể đưa vào khẩu phần thú nhai lại, urê được dung phổ biến, các dẫn xuất khác của urê ngay cả muối ammonium cũng được sử dụng

Urê đi vào dạ cỏ được thủy giải nhanh chóng thành ammonia bởi enzyme Urêase của

vi khuẩn tạo thành ammonia dịch dạ cỏ Để ammonia này kết hợp thành protein vi khuẩn có hiệu quả thì phải có 2 điều kiện: (1) nồng độ ammonia ban đầu phải thấp hơn so với nhu cầu (2) hệ vi sinh vật phải có một nguồn năng lượng sẵn có để tổng hợp protein Trong thực tế nuôi dưỡng, để đáp ứng những điều kiện trên bao gồm việc trộn urê với thức ăn có sự phân giải protein ở dạ cỏ kém và lên men carbohydrate cao (Lưu Hữu Mãnh, 1999)

Trang 13

2.2.4 Tổng hợp vitamin

Hệ vi sinh vật dạ cỏ có thể tổng hợp tất cả các vitamin nhóm B và vitamin K Thức ăn

ăn vào chỉ cung cấp một lượng nhỏ vitamin B cho con vật Lượng vitamin được tạo ra trong dạ cỏ lớn hơn nhiều lượng vitamin có trong thức ăn

Thức ăn canh hang ngày có chứa một lượng lớn thiamine, riboflavin và nicotinic acid Hẩu hết thiamin bị hòa tan, riboflavin, nicotinic acid, floci acid và vitamin B12 chiếm một lượng lớn trong tế bào và được hấp thu một ít trên bề mặt dạ cỏ

Có một cái hay ở đây là sự thiết lập liên kết giữa sự thiếu vitamin B với sự thiếu cobalt trong khẩu phần tạo thành một nhóm cyanocobalamin giả được biết như vitamin B12 Thiếu cobalt dẫn đến thiếu vitamin B12 làm cho con vật chán ăn, chậm lớn ở gia súc non

2.3 ĐIỀU HÒA HOẠT ĐỘNG CỦA VI SINH VẬT DẠ CỎ

Dạ cỏ ở gia súc nhai lại được ví như một cái thùng lên men yếm khí có hiệu quả cao,

nó được đặt ngay tại phần đầu của ống tiêu hoá Nhờ có dạ cỏ sử dụng nitơ phi protein

để tổng hợp vật chất vi sinh vật mà gia súc nhai lại không cạnh tranh với con người về lương thực, thực phẩm

Vì sự có mặt của một quần thể vi sinh vật phong phú và phức tạp ở trong dạ cỏ, gia súc nhai lại có nhiều chức năng tiêu hoá khác như có độ mẫn cảm thấp đối với các độc

tố thực vật, có khả năng sử dụng các chất khoáng vô cơ Các thành phần của thức ăn không được tiêu hoá ở dạ cỏ và các vật chất vi sinh vật được tổng hợp trong dạ cỏ sau

đó được qua quá trình tiêu hoá ở múi khế và ruột non và thêm tiêu hoá vi sinh vật ở ruột già Quá trình tiêu hoá này giải thích vì sao gia súc nhai lại được trang bị tốt hơn gia súc dạ dày đơn và các động vật ăn cỏ khác để sử dụng những khẩu phần dựa trên thức ăn thô Tuy nhiên lượng thức ăn thô ăn vào bị ảnh hưởng lớn bởi tốc độ phân giải

và vì vậy hiệu quả sử dụng thức ăn được xác định chính bởi hiệu quả của hoạt động vi sinh vật trong dạ cỏ

Sự cường độ hoá chăn nuôi đã thúc đẩy các nhà khoa học tìm kiếm các biện pháp để cải thiện sự sử dụng thức ăn và nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành trong suốt? hai thập kỷ qua Các thí nghiệm xử lý thức ăn (bằng hoá, lý học

để tăng phân giải thành tế bào, giảm phân giải protein và tinh bột do vi sinh vật) để điều hoà tiêu hoá (mức độ tiêu hoá, vị trí trong đường tiêu hoá, tiêu hoá vi sinh vật hay tiêu hoá nội sinh) Các loại phụ gia thức ăn khác nhau cũng được thử nghiệm để điêù hoà hoạt động vi sinh vật

(Theo J.P Jouany-INRA)

Trang 14

2.4 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN

2.4.1 Đánh giá chất lượng thức ăn thô bằng tỉ lệ tiêu hóa invivo

Qui trình và cách tính toán của nó được trình bày bởi nhiều tác giả khác nhau và được

mô tả chung nhất trong tài liệu của McDonald el at (2002) Kỹ thuật xác định tỉ lệ tiêu hóa ở invivo được áp dụng rộng rãi hiện nay là thu gom toàn bộ lượng thức ăn ăn vào

và lượng phân thải ra hàng ngày hoặc sử dụng chất chỉ thị trộn vào thức ăn cho gia súc

ăn sau đó xác định nồng độ chất chỉ trong phân để tính tỉ lệ tiêu hóa Kỹ thuật ghi nhận và lấy mẫu thức ăn ăn vào và phân thải ra hàng ngày đòi hỏi có nhiều công lao động, thời gian và chi phí thức ăn

Nhưng kỹ thuật này được chấp nhận cao dùng để xác định tỉ lệ tiêu hóa, tính năng lượng trao đổi của thức ăn và được xem như là kỹ thuật nền tảng để đánh giá các kỹ thuật khác

2.4.2 Đánh giá chất lượng thức ăn thô bằng tỉ lệ tiêu hóa invitro

Sự tiêu hóa thức ăn ở gia súc nhai lại có thể phân chia ra làm hai giai đoạn chính là sự tiêu hóa sinh học diễn ra ở dạ cỏ - dạ tổ ong và sự tiêu hóa hóa học diễn ra ở dạ múi khế - ruột non, mặc dù có dù có một phần tiêu hóa xảy ra ở ruột sau nhưng không

đáng kể (Omed el at,2000) Phỏng theo nguyên lý này, kỹ thuật xác định tỉ lệ tiêu hóa

ở invitro được chia ra làm hai giai đoạn, giai đoạn đầu tiên là tiêu hóa với hệ vi sinh

vật dạ cỏ (Tilley và Terry, 1963; Goering và Van Soest, 1970), và giai đoạn tiêu hóa thứ hai là với pepsin (Tilley và Terry, 1963) hoặc sự tẩy rửa của dung dịch tẩy trung tính (Goering và Van Soest, 1970)

Tuy nhiên kỹ thuật này cần sử dụng nhiều loại hóa chất làm nguồn dưỡng chất cho vi sinh vật phát triển còn khan hiếm và đắt tiền, đồng thời phải mổ lỗ dò để lấy dịch dạ

cỏ làm nguồn vi sinh vật Do vậy kỹ thuật tiêu hóa invitro truyền thống cần được

nghiên cứu và cải tiến

2.4.3 Đánh giá chất lượng thức ăn thô bằng sinh khí in vitro

Phương pháp sinh khí in vitro ra đời dựa trên nền tảng của in vitro Tilley và Terry

(1963), sự tiêu hóa vi sinh vật dạ cỏ có thể quan sát được trong điều kiện ống nghiệm dưới sự tham gia của vi sinh vật dạ cỏ trong môi trường nước bọt nhận tạo của McDougall (1948) Kết quả của sự lên men này có thể được quan sát từ thức ăn còn

lại sau khi được tiêu hóa ở phương pháp in vitro Tilley và Terry (1963) hoặc từ sản phẩm sinh ra của sự tiêu hóa ở phương pháp sinh khí in vitro của Menke et al (1979) Mặc dù phương pháp in vitro của Tilley và Terry (1963) đã được đánh giá và cho thấy

có nhiều thuận lợi trong ước lượng thức ăn như ít tốn chi phí, nhanh nhưng nó vẫn có những hạn chế nhất định: 1) yêu cầu phải có gia súc để cung cấp dịch dạ cỏ; 2) cách

đo lường vật chất không bị tiêu hóa phức tạp có thể dẫn đến sai số lớn, đặc biệt các

loại thức ăn có chứa tannin cao, do tannin có thể tan trong môi trường ủ của in vitro

nhưng đây lại là thành phần không thể tiêu hóa (Makkar, 2004) Từ những hạn chế

trên El Shaer et al (1987) đã đề nghị sử dụng phân làm nguồn vi sinh vật thay thế cho

Trang 15

dịch dạ cỏ trong phương pháp tiêu hóa in vitro và Menke et al (1979) giới thiệu phương pháp sinh khí in vitro, thay thế cho việc đo trọng lượng trong phương pháp in vitro Tilley và Terry (1963) bằng sự đo lượng khí sinh ra từ sự lên men Từ đó sinh khí in vitro được ra đời bởi Menke et al (1979).

Menke et al (1979) đã phát triển kỹ thuật sinh khí (in vitro gas production) để đánh

giá giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn Kỹ thuật này phát hiện được các sai khác nhỏ trong một số loại thức ăn và cho phép lấy mẫu lặp lại thường xuyên hơn so với

các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa in vitro (De Peters et al, 2003)

 Mô tả chung

Nguyên lý hoạt động của sinh khí in vitro cũng tương tự như phương pháp in vitro

Tilley và Terry (1963) Thức ăn được ủ trong môi trường dịch dạ cỏ có chất đệm yếm khí ở 39oC, sẽ được tiêu hóa bởi vi sinh vật dạ cỏ Sau khi bắt đầu ủ, thức ăn được tiêu hóa sinh ra các acid béo bay hơi và một lượng khí là CO2, CH4, H2 Acid béo bay hơi

giải phóng kích thích chất đệm sinh khí và đo lường được trong hệ thống sinh khí in vitro Lượng khí sinh ra trong hệ thống sinh khí in vitro có thể được ghi nhận qua một

hay nhiều thời điểm khác nhau Sự sinh khí này được xem như là sản phẩm hoạt động tiêu hóa thức ăn của vi sinh vật dạ cỏ và phản ánh được khả năng tiêu hóa của mỗi loại thức ăn

 Nguyên lý sinh khí

Khi thức ăn được ủ trong môi trường in vitro, sẽ được chuyển thành các acid béo bay

hơi, khí (CO2 và CH4) và tế bào vi sinh vật Trong môi trường in vitro có chất đệm

bicarbonate, khi acid béo bay hơi sinh ra lập tức CO2 được giải phóng để ổn định pH

Như vậy lượng khí sinh ra trong hệ thống sinh khí in vitro bao gồm khí sinh ra trực

tiếp từ sự lên men là CO2, CH4, H2, và khí sinh ra gián tiếp từ sự lên men là CO2 Đối với thức ăn thô, khoảng 50% khí sinh ra từ chất đệm và phần còn lại là lượng khí sinh

ra trực tiếp từ quá trình lên men (Blümmel và Ørskov, 1993) Còn đối với thức ăn hỗn

hợp, khí sinh ra từ chất đệm khoảng 60% (Getachew et al., 1998).

Người ta thấy rằng mỗi mmol acid béo bay hơi sinh ra sẽ giải phóng khoảng 0,8-1,0 mmol CO2 từ dung dịch đệm và điều này còn phụ thuộc vào hàm lượng phosphate hiện diện trong dung dịch đệm (Beuvick và Spoelstra, 1992; Blümmel và Ørskov, 1993) Đặc biệt lượng khí sinh ra có mối tương quan cao với acid béo bay hơi và từ đó người ta xem lượng khí sinh ra như là một chỉ thị để đo lường sản phẩm sinh ra từ quá

trình lên men trong kỹ thuật sinh khí in vitro (Blümmel và Ørskov, 1993) Lượng khí

sinh ra còn phụ thuộc vào thành phần dưỡng chất của thức ăn, thức ăn chứa nhiều carbohydrate có lượng khí sinh ra cao Rong khi sự lên men của đạm giải phóng khí chỉ với lượng nhỏ khí sinh ra từ sự lên men béo thì không đáng kể (Makkar, 2004)

 Vai trò của sinh khí in vitro

Phương pháp in vitro sinh khí đã được sử dụng rộng rãi để ước lượng giá trị dinh dưỡng thức ăn Phương pháp in vitro sinh khí được sử dụng để dự đoán nhiều chỉ tiêu khác nhau trong đánh giá thức ăn Menke el al, (1979) lần đầu tiên đề xuất và sử dụng

in vitro sinh khí để dự đoán tỉ lên tiêu hóa in vivo và năng lượng trao đổi (ME) Gần

đây hơn người ta quan tâm nhiều đến hiệu quả sử dụng thức ăn thô của gia súc Cho

nên kỹ thuật in vitro sinh khí được nghiên cứu để ứng dụng trong việc xác định động

Trang 16

lực tiêu hóa thức ăn với ưu điểm nhanh và tiện nghi hơn Tham số quan trọng hơn cả

để diễn tả khả năng sử dụng thức ăn là mức tiêu thụ thức ăn, tham số này cũng có thể

được dự đoán từ in vitro sinh khí (Getachew et al., 1998) Phương pháp in vitro sinh

khí còn được dùng để dự đoán các chất kháng dưỡng có trong thức ăn (Makkar, 2004) Dựa vào kết quả lượng khí khí sinh ra có mối liện hệ rất gần với acid báo bay hơi, người ta thiệt lập được phương trình hồi qui để dự đoán acid béo bay hơi trong dạ cỏ

(Blümmel et al., 1999) Nhìn chung phương pháp in vitro sinh khí như là một dụng cụ

hữu hiệu để dự đoán các chỉ số dinh dưỡng thức ăn gia súc nhai lại, phương pháp này

dự đoán được nhiều tham số phản ánh được giá trị dinh dưỡng thức ăn khác nhau

2.5 SỰ NGỘ ĐỘC NITRATE

Trong một số điều kiện, các loại cây trồng như ngô, lúa, mì, mạch chứa lượng lớn nitrat trong thân lá vượt quá giới hạn cho phép Bò sữa ăn các loại thức ăn này sẽ dẫn đến sự thu nhận khối lượng lớn như nitrat trong một thời gian ngắn, mặc dù động vật nhai lại có thể sử dụng nitrat như là nguồn nitơ phi protein, nhưng với mức độ quá cao của nitrat, một phần nitrat sẽ bị khử thành nitrit Nitrit độc hơn nitrat, khi chúng được hấp thu vào máu, nitrat sẽ chuyển hemoglobin thành methemoglobin, hợp chất này mất khả năng vận chuyển oxy đến mô bào Nếu hemoglobin chuyển thành methemoglobin đủ lớn, động vật sẽ không đủ oxy, gây nên triệu chứng khó thở, thở gấp, mệt nhọc, đi đứng loạng choạng, nếu độc tố cao, bò sẽ chết trong vòng 1-4 giờ sau khi triệu chứng xuất hiện Xúc động, vận động nhiều, các điều kiện stress mạnh sẽ làm tăng thêm tình trạng nguy kịch của bệnh

Sự ngộ độc nitrate đã được nhiều tác giả thông báo ở USA như Newson, Stout, Thorp, and Groth (1937), kế đến Bradley, Eppson và Beath (1939) và họ cho rằng có thể tạo nên sự ngộ độc nitrate bằng cách cho ăn rơm có nhiễm nitrate Phân tích những mẫu nhiễm độc cho thấy hàm lượng nitrate chiếm khoảng 3,2 – 7,2% (vật chất khô) Tuy nhiên theo Leng (2007), tác dụng độc của nitrate chỉ xảy ra đối với gia súc nhai lại chưa thích nghi và khi chúng được làm quen với nitrate ở nồng độ cao

* Các triệu chứng ngộ độc nitrate trên bò

Ngộ độc cấp tính: Sau khi ăn thức ăn nhiễm nitrate cao từ 30 phút đến 8 giờ thì xuất hiện các triệu chứng ngộ độc tùy theo lượng nitrate nhiễm Những triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài như sau:

 Các niêm mạc màng nhầy tím tái

 Hô hấp rất khó khăn, thở gấp, tiếng thở ồ ồ

 Chảy nước bọt, xùi bọt mép

 Cơ thể run bần bật, choáng váng, sợ hãi, hoảng hốt

 Đi đứng loạng choạng, thường xuyên đi tiểu

 Nhiệt độ cơ thể giảm, mất cảm giác phương hướng

 Sau cùng suy nhược, hôn mê, liệt hô hấp, liệt tim và chết Khi chết máu có màu

đỏ đen

Trang 17

Ngộ độc cấp tính xảy ra rất nhanh, đôi khi thú chết trước khi quan sát triệu chứng ngộ độc

Ngộ độc mạn tính: Triệu chứng lâm sàng của loại ngộ độc mạn tính rất khó quan sát Tình trạng chung là suy giảm tăng trọng, sức sản xuất sữa thấp, giảm tính ngon miệng với thức ăn, rất nhạy cảm với bệnh truyền nhiễm Ngộ độc mạn tính còn có thể gây ra trở ngại trên bò có chửa 100 ngày đầu, trứng không bám chặt được trong tử cung, gây chết phôi Bò cái có chửa 3 tháng cuối nhiễm độc nitrate sẽ đẻ non, phổ biến nhất là bê con sinh ra 18 -24 giờ thì chết

Có rất nhiều tác giả đề cập đến liều lượng nitrate an toàn với thú nhai lại Như theo Dan Undersander, Dave Combs (2001): Lượng ni- trate ăn vào hàng ngày (g/Kg thể

trọng) được khuyến cáo như bảng sau đây (tin đăng trên Báo nông nghiệp số 59 ra ngày 23/3/2004)

Bảng 2.5 Khuyến cáo lượng nitrate sử dụng cho gia súc

2.6 QUÁ TRÌNH TRAO ĐỔI NITRATE Ở DẠ CỎ

Hàm lượng ammonia tăng lên sau khi cho ăn (McDonald, 1948), có sự ảnh hưởng tăng giá trị ammonia khi cho cừu uống nitrate ngay khi ăn, cũng cùng tác giả năm

1949 cho rằng hàm lượng ammonia tương đối không đổi như một hằng số trước khi cho ăn Điều này cho thấy, cho phép chúng ta có thể đánh giá được sự thành lập ammonia từ nitrate Theo Lewis (1950) khi bổ sung nitrate cho gia súc có sự giảm nitrate rất nhanh trong dạ cỏ, trùng khớp với sự sản sinh nitrite Trong môt thí nghiệm khác cho thấy hàm lượng ammonia tăng sau 5 -7 giờ sau khi cho gia súc sử dụng nitrate, điều này có lẽ do bổ sung nitrate kích thích sản sinh ammonia hoặc là sự biến đổi nitrate thành ammonia

Theo Jones (1972); Takahashi và Young (1991) nitrate khử methan nhờ hệ vi sinh vật

dạ cỏ Điều này là do giảm 1mol điện tử ở nitrate cho ammonia được 8 mol điện tử, chẳng hạn như hydrogen (Richardson và Watmough, 1999) Được mô tả ở hai phương trình sau:

4H2 + HCO3- + H+→ CH4 + 3 H2O; ∆G0’ = -175 kJ/ phản ứng

(Conrad và Wetter, 1990)

<0,214 Mức ăn vào hàng ngày an toàn

0,214 - 0,429 An toàn cho đa số động vật Có thể gây nguy hiểm cho thú mang thai và thú rất nhỏ0,429 - 0,643 Nguy hiểm tiềm tàng với thú mang thai và thú non Có thể làm sinh trưởng chậm, sảy thai và giảm sức sản xuất sữa0,643 - 1,48 Mức nguy hiểm cho tất cả động vật Giảm tính ngon miệng, gây thiếu vitamin A, sảy thai và giảm sức sản xuất sữa

>1,248 Gây ngộ độ tích luỹ cho nhiều loại động vật

Trang 18

NO3- + 2H+ + 4H2→ NH4+ + 3H2O; ∆G0’ = -598 kJ/ phản ứng

(Allison và Reddy, 1984)

2.7 SỬ DỤNG ĐẠM PHI PROTEIN Ở GIA SÚC NHAI LẠI

Ammonia trong dạ cỏ chủ yếu được cung cấp qua việc giảm protein trong khẩu phần,

có khoảng 30% nitrogen trong thức ăn ở dạng hợp chất hữu cơ đơn giản như amino acid, amides và amines hoặc hợp chất vô cơ như nitrates Trong thực tế nó có thể lợi dụng khả năng của hệ vi sinh vật dạ cỏ để biến đạm phi protein thành protein Chất nền chủ yếu là Urê, các dẫn xuất khác của Urê và muối amonium cũng được sử dụng.Urê đi vào dạ cỏ được thủy giải nhanh chóng thành ammonia bởi enzym Urêase của vi khuẩn và ammonia dạ cỏ vì vậy có thể được tăng lên Để ammonia này kết hợp thành protein vi khuẩn có hiệu quả thì phải có hai điều kiện, một là ammonia ban đầu phải ở điều kiện tốt nhất, tức là nồng độ ammonia ban đầu phải thấp hơn so với nhu cầu Hai

là hệ vi sinh vật phải luôn có nguồn năng lượng sẵn sàng cho sự tổng hợp protein.Việc bổ sung Urê làm tăng hiệu quả tiêu hóa lên men và kích thích khả năng tiêu hóa thức ăn Nếu cho bò ăn rơm đơn điệu thì khả năng tiêu hóa chất khô là 39%, lượng rơm ăn được cũng chỉ 5,6 Kg/ngày (Leng, 1984) Nếu cho ăn rơm có bổ sung Urê100g/ngày thì hai chỉ tiêu trên tương ứng là 47% và 7,9 Kg (Cương, 1994)

Tác dụng của việc bổ sung Urê vào khẩu phần chỉ có rơm, cỏ đã góp phần điều chỉnh

sự thiếu hụt nitơ trong dạ cỏ, do đó làm tăng tỉ lệ tiêu hóa, tăng lượng rơm tiêu thụ và tăng lượng protein vi sinh vật

2.8 CÁC SẢN PHẨM TIÊU HÓA

Sản phẩm chánh của lên men carbohydrate là các axid béo bay hơi (ABBH), năng lượng ATP, nước và khí thải CO2, metan (Preston và Leng, 1991) được tóm tắt như sau:

2Pyruvate + 2H2 2 Acetate + 2CO2 +2H2 + 2ATP

2Pyruvate + 8[H] 2 Propionate + 2H2O + 2ATP

2Pyruvate + 4[H] Butyrate + 2H2 + 2CO2 + 2ATP

4H2 + CO2 CH4 + 2H2O + ATP

Ngoài các sản phẩm ấy còn có sản phẩm gián tiếp là sinh khối vi sinh dạ cỏ

Hexose 1.24Acetate + 0.24Propionate + 0.12Butyrate + 0.38CH4 + 52g tế bào vi sinh khô

Trang 19

Có đến 60% năng lượng tiêu hóa đến từ ABBH và khoảng 30% từ tế bào vi sinh vật còn lại là từ thành phần khác.

ABBH được hấp thu bằng khuếch tán vào vách dạ cỏ và tổ ong và được tế bào biểu

mô hai túi này biến dưỡng (Võ Ái Quốc, 2006)

Trang 20

H 2

CO 2

Methane

Malonyl CoA

Hình 2.2 Sự chuyển hóa của Pyruvate thành các axid béo bay hơi trong dạ cỏ

Trang 21

2.9 THỨC ĂN THÍ NGHIỆM VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC

2.9.1 Rơm lúa (rice straw)

Rơm lúa là loại phụ phẩm nông nghiệp có ở khắp các vùng trồng lúa, giá trị dinh dưỡng thấp chủ yếu là chất xơ Hàm lượng protein trong rơm lúa từ 25-40 g/1Kg chất khô

Rơm lúa có hàm lượng lignin tương đối cao, chiếm 60-70g/Kg chất khô, hàm lượng khoáng rất cao 170g/Kg chất khô, trong đó chủ yếu là silic, vì vậy hệ số tiêu hóa của rơm lúa rất thấp Tỷ lệ tiêu hóa của rơm sẽ được tăng lên nếu thông qua xử lý rơm rạ bằng phương pháp kiềm hóa, axit hóa hay amoniac hóa

Thành phần hóa học cơ bản của rơm rạ phụ thuộc nhiều đến đặc tính sinh lý, thời điểm thu hoạch, độ thành thục của cây trồng và chế độ dinh dưỡng của đất Nhưng nhìn chung các thành phần chính bao gồm:

Tỷ lệ cao của cacbonhydrat thành vách tế bào như cellulose, hemicellulose và lignin chiếm 60-80% tổng vật chất hữu cơ của cây trồng

Từ molass khi không kèm theo sự phân loại thì có nghĩa mật cuối

Mật cuối được pha loãng tới tiêu chuẩn 79,5 britx khi sử dụng trong thức ăn Lúc này trọng lượng 1 lít mật = 1,39Kg (nếu sử dụng đậm đặc hơn có thể ngộ độc cho gia súc).Thức ăn khô: mật làm gia tăng tính ngon miệng, làm giảm độ bụi kết dính cho thức ăn viên, mật được thay thế cho các loại thức ăn carbohydrate mắc tiền mật có tính nhuận trường (gây xổ) Trên thị trường các loại thức ăn hổn hợp thường dùng ở tỷ lệ như sau:Thức ăn trâu bò sử dụng 15% mật, bê 8%, heo thịt 15%, gà 5%

Đối với thức ăn khô chất lượng quá kém như rơm, cỏ già Khi bổ sung mật cũng không thể tăng trọng

- Dùng tỉ lệ cao thay thế loại thức ăn năng lượng khác sẽ gây ngộ độc

Trang 22

2.9.3 Bánh dầu bông vải

Sau khi bóc vỏ hột bông vải và ép dầu, phần còn lại là bánh dầu bông vải Nhiều quốc gia

sử dụng bánh dầu bông vải trong chăn nuôi, nhưng thực liệu này ít phổ biến ở nước ta Bánh dầu bông vải chứa 30 - 50% protein, thiếu nhiều lixzin và tryptophan Cần lưu ý chất gossipon (gossipol) gây ngộ độc và tanin trong bông vải Gossipon có thể bị phá hủy bởi nhiệt độ cao nhưng độ tiêu hóa của protein lại bị giảm Tanin làm giảm độ ngon miệng và kết tủa chất sắt do đó sắt không hấp thu được Nên bổ sung chất sắt nếu dùng bánh dầu bông vải vì sắt liên kết với gossipon để tạo thành hợp chất không hấp thu được (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2007)

2.9.4 Cỏ lông tây (Brachiaria mutica)

Là loại cỏ sống lâu năm, rễ nhiều, thân dài 0,6 – 2 m, phân nhánh mềm bò trên mặt đất, mọc rễ và đâm chồi ở các đốt, sau đó vươn thẳng lên cao khoảng 2 m Cỏ lông tây ưa thích khí hậu nóng ẩm, cỏ sinh trưởng tốt ở các vùng thấp, nhiệt độ tối thiểu có thể sống được là 8oC nếu lạnh hơn thì có thể chết lụi dần Cỏ phát triển nhanh ở những nơi ẩm ướt, tạo thành những thảm cỏ dày, cao và không chịu được khô hạn Cỏ long tây có thể chịu đượ ngập nước ngắn ngày, chịu mặn chịu phèn Có thể sử dụng cỏ lông tây dưới dạng tươi, ủ xanh, hoặc phơi khô (Dương Hữu Thời, 1981)

nitơ và đạt thế cân bằng nitơ (Nguyễn Xuân Trạch et al, 1998).

Urê vào dạ cỏ được phân hủy thành ammonia (NH3) và khí CO2 dưới tác dụng của enzyme của vi sinh vật trong dạ cỏ Ammonia sau khi tạo thành được vi sinh vật trong dạ

cỏ sử dụng để tổng hợp nên protein của bản thân chúng Khi vi sinh vật bị tiêu hóa thì nguồn protein này cung cấp cho con vật, phần còn lại được hấp thu vào máu đến gan, tại gan ammonia chuyển hóa thành urê, urê được thải theo nước tiểu và một phần theo nước bọt trở lại dạ cỏ, ở đây vi sinh vật tiếp tục trở lại quá trình trên

Người ta nhận thấy rằng khi thay thế 30% protein trong khẩu phần bằng urê thì trong máu động mạch cửa và tĩnh mạch cửa chiếm lần lượt là 14,74 và 15,31mg% Sự tăng urê trong

Trang 23

máu ngoại vi không chỉ liên quan đến sự hấp thu urê trực tiếp từ ống tiêu hóa mà còn liên quan đến cả sự tạo thành urê ở gan từ NH3 được hấp thu Khi cho ăn urê từ 20 – 45 phút đầu trong dạ cỏ có nhiều urê chưa phân giải Sau đó urê giảm dần và từ 75-100 phút sau chỉ thấy dấu vết không vượt quá vài mg/100ml (Nolan và Stachiw, 1979).

Việc sử dụng urê cho trâu, bò là biện pháp hữu hiệu để tăng năng suất thịt, sữa Tuy nhiên việc sử dụng cho gia súc ăn phải làm từ từ để hệ vi sinh vật có đủ năng lượng hoạt động nhằm sử dụng hết lượng urê đưa vào và tránh ngộ độc

2.9.6 Sodium nitrate

Sodium Nitrate có công thức hóa học là NaNO3, là chất màu trắng, rắn, dễ tan trong nước Sodium nitrate được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp, chủ yếu dưới dạng phân bón Ngoài ra nó còn được sử dụng để tổng hợp acid nitric bằng cách kết hợp với acid sulfuric Và có thể thay thế Kali nitrate

2.9.7 Ammonium nitrate

Ammonium nitrate có công thức hóa học là NH4NO3, là chất rắn, màu trắng ở nhiệt độ phòng Thường được sử dụng trong nông nghiệp như là cao – nitơ phân bón, và cũng được sử dụng như tác nhân gây nổ Trong công nghiệp thường được bỏ vào trong các gói lạnh Phản ứng tạo ammonium nitrate:

HNO3 + NH3 NH4NO3

2.10 VAI TRÒ CỦA VIỆC KIỀM HÓA RƠM

Các chất kiềm (vôi, xút, urê,…) có khả năng thủy phân các mối liên kết hóa học giữa lignin và các polusacarit của vách tế bào thực vật

Trong tất cả các phương pháp hóa học thì xử lý kiềm được nghiên cứu sâu nhất và có nhiều triển vọng trong thực tiễn Các mối liên kết hóa học giữa lignin và carbohydrate bền trong môi trường của dạ cỏ nhưng lại kém bền trong môi trường kiềm (pH>8) Lợi dụng đặc tính này các nhà khoa học đã sử dụng các chất kiềm như NaOH, NH3, urê, Ca(OH)2 để xử lý các phế phụ phẩm nông nghiệp nhiều xơ với mục đích phá vỡ mối liên kết giữa lignin với hemicelluloza/celluloza trước hi chúng được sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lên men của vi sinh vật dạ cỏ Kiềm hóa có thể phá vỡ liên kết este giữa lignin và hemicelluloza/celluloza đồng thời làm cho

Trang 24

cấu trúc xơ phồng lên về mặt vật lý Những ảnh hưởng đó tạo điều kiện cho vi sinh vật dạ

cỏ tấn công vào cấu trúc hydratcacbon được dễ dàng, làm tăng tỷ lệ tiêu hóa, tăng tính ngon miệng của rơm đã xử lý (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) Theo Saadullah (1981) khi ngâm rơm với nước vôi ở tỉ lệ 40g vôi/Kg rơm trong 48h, sau đó để khô ráo nuôi cừu đã làm tăng tỉ lệ tiêu hóa từ 38% lên đến 49% Khi bổ sung them 10% mất đường và 2% urê

tỉ lệ tiêu hóa tăng lên 54%, lượng ăn vào đạt 3,8% vật chất khô/Kg thể trọng

Trang 25

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM

3.1.1 Địa điểm

Thí nghiệm 1: thực hiện tại phòng thí nghiệm Bộ môn Chăn nuôi, Đại Học Cần Thơ.Thí nghiệm 2: thực hiện tại trại bò Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Cái Răng, TP.Cần Thơ

3.1.2 Động vật thí nghiệm

Động vật thí nghiệm gồm 3 bò đực lai sind, trọng lượng 150 – 170 Kg Mỗi con được nuôi trong mỗi ô riêng lẻ Tất cả đều được tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, lỡ mồm long móng và mỗ lỗ dò trước khi tiến hành thí nghiệm

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.2.1 Bố trí thí nghiệm

3.2.1.1 Thí nghiệm 1: Tiến hành dựa trên phương pháp in vitro

Mục tiêu là theo dõi và so sánh lượng khí sinh ra với các khẩu phần bổ sung nguồn đạm

vô cơ bằng phương pháp in vitro.

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẩu nhiên gồm 3 nghiệm thức x 4 lần lặp lại

 Nghiệm thức 1: Bổ sung Sodium nitrate = SD

 Nghiệm thức 2: Bổ sung Ammonium nitrate = AM

 Nghiệm thức 3: Bổ sung Urê = U

Ngày đăng: 06/02/2021, 11:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w