Chính lẽ đó, mà hiện nay trong các trường học thanh nhạc việc học nhạc lý trong âm nhạc Công giáo vẫn còn là một vấn đề cần nghiên cứu rất bài bản vì; ví như để nắm được cách hát một b[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Trịnh Ngọc Anh
THÁNH CA CÔNG GIÁO VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2015-X
Hà Nội - 2019
Trang 2Lời cảm ơn
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS Trần Thị Kim Oanh, người
đã hướng dẫn tận tình em hoàn thành nghiên cứu này Em xin tri ân các thầy cô khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đồng hành cùng em trong suốt 4 năm Đại Học
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô, cùng toàn thể các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Hà nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Trịnh Ngọc Anh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu: 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Khóa luận 4
3.1 Mục đích: 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 4
4 Đối tương và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Cơ sở lý luận: 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu: 6
6 Đóng góp của khóa luận: 6
7 Ý nghĩa của khóa luận 6
8 Kết cấu của Khóa luận: 6
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: THÁNH CA CÔNG GIÁO 7
1.1 Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu Thánh Ca Công giáo 7
1.1.1 Khái niệm Thánh Ca 7
1.1.2 Khái niệm Thánh Vịnh 9
1.1.3 Khái niệm Âm nhạc Công giáo 10
1.2 Một số nội dung cơ bản của Thánh Ca Công giáo 11
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thánh Ca Công giáo 11
1.2.1.1 Sự ra đời Công giáo 11
1.2.1.2 Thánh Ca Công giáo truyền thống 14
Trang 41.2.1.3 Thánh Ca Công giáo sau Cải cách Kháng nghị 16
1.2.1.4 Thời kì phát triển của Thánh Ca 17
1.2.2 Các hình thức thể hiện nội dung Thánh Ca Công giáo 18
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA THÁNH CA CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY 28
2.1 Thánh Ca Công giáo Việt Nam 28
2.1.1 Thánh Ca Công giáo Việt Nam trước thời kỳ Thư Chung 1980 28
2.1.2 Thánh Ca Công giáo Việt Nam sau thời kỳ Thư Chung 1980 đến nay 35
2.2 Một số nội dung cơ bản của vai trò Thánh Ca Công giáo đối với người Công giáo Việt Nam hiện nay 38
2.2.1 Vai trò của Thánh Ca Công giáo trong Thánh lễ 38
2.2.2 Vai trò của Thánh Ca Công giáo đối với đời sống đạo 43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 50
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ CỦA THÁNH CA CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VIỆT NAM HIỆN NAY 51
3.1 Giá trị của Thánh Ca Công giáo đối với âm nhạc Việt nam hiện nay 51
3.1.1 Giá trị của Thánh Ca Công giáo và sự Hội nhập âm nhạc phương Tây đối với âm nhạc Việt Nam 51
3.1.2 Giá trị của Thánh Ca Công giáo đối với sự bảo tồn, phát huy âm nhạc Việt Nam 55
3.2 Giá trị của Thánh Ca Công giáo đối với giáo dục đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay 57
3.2.1 Thực trạng đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay 57
3.2.2 Giá trị nhân văn của Thánh Ca Công giáo đối với việc giáo dục đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 64
Trang 5KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khi nghiên cứu về một chỉnh thể tôn giáo thì khía cạnh không thể bỏ qua và luôn được chú ý đó là yếu tố nghệ thuật Nghệ thuật tôn giáo không chỉ dừng ở kiến trúc, điêu khắc, hay các bức hội họa miêu tả tín ngưỡng tôn giáo mà nó còn bao gồm
cả âm nhạc Âm nhạc xuất hiện từ rất lâu, có trước tôn giáo, do vậy khi tôn giáo được hình thành, thì âm nhạc đã trở thành công cụ không thể thiếu trong nghi lễ và nó luôn song hành hỗ trợ sự tồn tại và phát triển của tôn giáo Một trong những nền âm nhạc tôn giáo vĩ đại nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến xã hội, mà không thể không nhắc đến đó là âm nhạc Công giáo Âm nhạc Công giáo không chỉ đại diện cho một tôn giáo mà còn đóng vai trò cho sự phát triển nền văn hóa phương Tây trước kia và hiện nay
Nếu đem so âm nhạc Công giáo với âm nhạc khác thì âm nhạc Công giáo có những nét khác biệt nhất định Nó khác biệt không chỉ về hình thức âm nhạc mà còn
về số lượng, nhạc lý, cách thức trình bày và về cả ý nghĩa Chính lẽ đó, mà hiện nay trong các trường học thanh nhạc việc học nhạc lý trong âm nhạc Công giáo vẫn còn là một vấn đề cần nghiên cứu rất bài bản vì; ví như để nắm được cách hát một bài Thánh
Ca thì không chỉ dừng lại ở việc thuộc bài Thánh Ca, hát Thánh Ca với chất giọng thanh, trầm đúng với thanh nhạc mà nó còn cần phải có cảm xúc trong niềm tin tôn giáo; mà muốn có cảm xúc trong niềm tin tôn giáo thì còn phải dựa vào một nền tảng
“kiến thức” về Công giáo (Thiên Chúa), có như vậy việc học bản nhạc Thánh Ca mới được gọi là hoàn thiện
Theo Kinh Thánh Đấng Cứu Thế đã sáng lập ra Hội thánh sơ khai và Thánh Ca cũng
đã được sử dụng trong Hội thánh ngay từ buổi sơ khai này Điều này được thể hiện rõ
Trang 7qua lời nói của Thánh Phaolô khi viết cho Giáo đoàn Ephêsô: “Anh em hãy cùng nhau xướng đáp những bài Thánh Vịnh, Thánh Thi và những bài ca do Thần Khí linh hứng” [Ep 5,19]1 Với truyền thống này, cùng với sự phát triển của Công giáo Thánh
Ca đã được soạn ra với nhiều thể loại rất phong phú dùng để hát trong Giáo đường và được gọi là Gregorio
Ở Việt Nam khi các Giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo, họ đã dạy cho những người tin theo Chúa ca hát Phụng vụ những bài Thánh Ca Gregorio (nhạc Bình ca) mà các Ban Hát Nhà Thờ thời đó thường gọi chung là Kinh Hát Latinh, trải dài hơn 400 năm, mãi đến năm l960 khi Hội Thánh, với Công Đồng Vatican II, đã cho phép các Giáo Hội địa phương được dùng tiếng bản địa trong Phụng vụ Thánh Lễ và các nghi thức khác thì từ đó đến nay các Ca Đoàn Nhà Thờ không còn hát Thánh Ca Latinh nữa mà thay vào đó là các bài Thánh Ca bằng tiếng địa phương (tiếng Việt)
Tuy nhiên Bình ca Latinh vẫn là thể loại được hát riêng trong Phụng vụ Roma
Trải qua các giai đoạn lịch sử phát triển, Thánh Ca Công giáo nói chung, Thánh
Ca Công giáo Việt Nam nói riêng đã có một chỗ đứng không nhỏ trong Phụng vụ Thánh lễ và trong tâm thức của mỗi người tin theo Thiên Chúa, đặc biệt là với nền văn hóa Việt Nam Để có cái nhìn tổng thể về những đóng góp của Thánh Ca Công giáo
đối với người Công giáo Việt Nam, tôi đã chọn đề tài “ Thánh ca Công giáo và vai trò của nó đối với người Công giáo Việt Nam hiện nay” làm đề tài Khóa luận
Trang 8Có thể kể đến một số tác giả nước ngoài tiêu biểu như: Joseph M Champlin
(2009), Quan điểm Công giáo sống theo đúng mục đích, NXB Phương Đồng; X.A.Tokarev (1994), Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng, NXB Chính trị Quốc gia; Hans Kung (2010), Các nhà tư tưởng lớn của Kito Giáo, NXB Tri thức; Jean Baptiste-Duroselle- Jean- Marie Mayeur (2004), Lịch sử đạo Thiên Chúa, NXB Thế giới; John Bowker (2011), Từ điển Tôn giáo thế giới giản yếu, NXB Từ điến
Bách Khoa
Ở Việt Nam đã có không ít những công trình nghiên cứu về Công Giáo và lịch sử Công giáo, chúng ta có thể kể đến các nhà nghiên cứu tiêu biểu và các công trình nổi bật như:
- Linh mục Nguyễn Thái Hợp với cuốn sách Một cái nhìn về Giáo huấn xã
hội Công giáo, NXB Phương Đông, 2010
- Phạm Thế Hưng với Hiểu biết về Công giáo ở Việt Nam, NXB Tôn giáo,
- Nguyễn Hồng Dương với các công trình: Công giáo Việt Nam –Một số vấn
đề nghiên cứu, NXB Tôn giáo, 2008; Công giáo Thế giới: Tri thức cơ bản,
NXB Từ điển Bách Khoa , 2012
Bên cạnh đó có thể kể đến: Đỗ Quang Chính (2008), Tản mạn lịch sử Giáo hội
Công giáo Việt Nam, NXB Tôn giáo, 2008 Mai Thanh Hải, Các Tôn giáo lớn trên thế giới và Việt Nam (2 tập), tập II, NXB Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 2006
Trang 9Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hưng cũng là một người có khá nhiều công trình
nghiên cứu về lịch sử đạo Công giáo, đặc biệt với cuốn sách Công giáo Việt Nam thời
kì Triều Nguyễn (1802-1883), NXB Tôn giáo, 2007; bài viết “Các nhân tố ảnh hưởng
đến Chính sách của nhà nước Việt Nam đối với Công giáo nhìn từ góc độ Văn hóa Tôn giáo”, đăng trên tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 1//2008, cùng với nhiều bài viết
và chuyên đề trong các hội thảo, sách chuyên khảo khác
Nhìn chung các công trình trên chủ yếu khai thác khía cạnh lịch sử hay nghiên cứu sâu về giáo lý, giáo luật của Công giáo và đề cập ít nhiều đến nghệ thuật trong Công giáo Ngoài ra còn một số bài báo, tạp chí cũng nghiên cứu về vấn đề này Trong đó tiêu biểu là bài báo “Âm nhạc Công giáo ở Việt Nam trước và sau Công đồng Vatican II” của Nguyễn Đình Lâm Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu vào “Thánh ca Công giáo Việt Nam” , đây là lần đầu tiên vấn đề này được đặt ra xem xét
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Khóa luận
3.1 Mục đích:
Tìm hiểu sự ra đời và phát triển của Thánh ca trên thế giới và tại Việt Nam Trên cơ sở đó, tìm ra vai trò và ý nghĩa của Thanh ca đối với đời sống Văn hóa tinh thần Việt Nam hiện nay, đặc biệt là ảnh hưởng đối với âm nhạc và giáo dục đạo đức xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ
Trang 10Thứ nhất: Trình bày khái lược chung về Thánh ca Công giáo và lịch sử phát triển của Thánh ca tại Việt Nam và trên thế giới
Thứ hai: Phân tích vai trò của Thánh ca đối với nền âm nhạc Việt Nam Khảo sát những vai trò của Thánh ca với người Công giáo để làm rõ những đóng góp của Thánh
ca với công cuộc giáo dục đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay Từ đó rút ra những giá trị Thánh ca Công giáo đem lại cho đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam hiện nay
4 Đối tương và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thánh ca Công giáo và người Công giáo Việt Nam hiện nay
Trang 115.2 Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng phương pháp Tôn giáo học và Triết học, phương pháp logic lịch
sử, phân tích, tổng hợp và phương pháp bản thân Tôn giáo học
6 Đóng góp của khóa luận:
Khóa luận nghiên cứu lịch sử phát triển của Thánh ca Công giáo xuyên suốt từ những thời kì đầu tiên cho đến hiện tại và chỉ ra những vai trò của Thánh ca đối với người Công giáo Việt Nam hiện nay Khóa luận khảo sát những ý nghĩa cụ thể Thánh
ca Công giáo đem lại cho nền âm nhạc nước nhà và những đóng góp, giá trị cụ thể của Thánh ca đối với đời sống đạo và quá trình giáo dục đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay Từ đó, khóa luận đem lại một cái nhìn cụ thể về những ảnh hưởng của Thánh ca lên đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
7 Ý nghĩa của khóa luận
Ý nghĩa lí luận: Khóa luận góp phần vào việc tìm hiểu, phân tích và làm sáng tỏ
quan niệm về Thánh ca Công giáo Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Khóa luận góp phần vào nhận thức và
ứng xử phù hợp hơn với cộng đồng người Công giáo và thừa nhận những đóng góp mà Công giáo đem lại Kết quả nghiên cứu của Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo nói chung và cho việc hoạch định chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước
8 Kết cấu của Khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và mục lục, nội dung chính của khóa luận bao gồm: 3 chương và 6 tiết
Trang 12PHẦN NỘI DUNG THÁNH CA CÔNG GIÁO 1.1 Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu Thánh Ca Công giáo
1.1.1 Khái niệm Thánh Ca
Thánh Ca là một thể loại ca khúc tôn giáo được sáng tác nhằm mục đích tôn vinh, chúc tụng (do đó còn gọi là Tán Ca hay Tụng Ca) hay nguyện cầu hướng về một thần
linh Thánh Ca Công giáo (Hình 1)được mô phỏng ban đầu trên Sách Thi thiên và các
đoạn thơ (Thánh Vịnh) trong Kinh Thánh Các bài Thánh Ca Công giáo thường được dùng như lời ca ngợi Thiên Chúa trong niềm tin Công giáo, do vậy các bài hát này thường trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến Chúa Kitô
Một cách hiểu khác về Thánh Ca đó là " một bài thơ có giai điệu trữ tình, có tính chất cung kính và tôn sùng, được thiết kế để hát và biểu đạt thái độ của người thờ Phụng đối với Thiên Chúa hoặc thể hiện những mục đích của Thiên Chúa trong cuộc sống của con người Bài thơ nên đơn giản và đẹp mắt về mặt hình thức; về mặt phong cách phải mang cảm xúc thi ca, văn học chân thật; về chất lượng, phải đáp ứng tinh thần và các lời lẽ, ý tưởng của nó phải trực tiếp và rõ ràng để một hội chúng thể hiện
được sự hợp nhất khi hát nó” [23;52]
Theo thánh Thomas Aquinas, trong phần giới thiệu bài bình luận của mình về
“Thánh Vịnh”, đã hiểu về Thánh Ca Công giáo như sau: “Một bài Thánh Ca chính là lời ca ngợi Đức Chúa Trời thông qua bài hát; một bài hát chính là sự phấn khích của tâm trí khi nhìn vào nơi vĩnh cửu và từ đó cất lên những tiếng ca” [27;38]
Từ cách hiểu Thánh Ca như trên, nên có thể xác nhận rằng ngay từ những ngày đầu Chúa Giêsu Kitô chiêu nạp môn đồ thì họ đã hát những bài "Thánh Vịnh, Thánh Ca và
Trang 13các bài hát tâm linh" xem đó là sự tự cầu nguyện một mình cũng như sự cầu nguyên mang tính tập thể về Thiên Chúa Hơn nữa, các bài Thánh Ca Công giáo thường mang nhiều chủ đề khác nhau, có thể là chủ đề theo mùa lễ ( được sử dụng vào các ngày lễ Thánh như Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh và Lễ các Thánh, hoặc trong các mùa đặc biệt như Mùa Vọng và Mùa Chay ) Và cũng có thể là chủ đề theo sự tôn kính đối với Kinh Thánh hoặc để tôn vinh các Thánh lễ trong Công giáo như bí tích Thánh Thể hoặc bí tích Rửa tội Hoặc một số chủ đề thì lại ca ngợi đề cập đến một vị Thánh cụ thể, đặc biệt là Đức Mẹ Maria
Như vậy Thánh Ca là những bài hát không chỉ ca ngợi Thiên Chúa mà còn được sáng tác để thờ phụng Chúa, nên những bài hát Thánh Ca phải được tác giả là người Công giáo sáng tác Việc thực hành hát các bài Thánh Ca được gọi là Tán ca hoặc Tụng ca (hymnody) Từ hymnody còn được sử dụng để chỉ những bài Thánh Ca thuộc một giáo phái hoặc một thời kỳ cụ thể, ví dụ: "Thánh Ca phong trào Giám lý thế kỉ XIX" có nghĩa là một tổ hợp những bản nhạc được viết và / hoặc được sử dụng bởi những người tín hữu Giám lý thế kỷ XIX) Một bộ sưu tập các bài Thánh Ca được gọi
là Ca tập Những bài Ca này có thể không được viết dưới hình thức bản nhạc mà có thể
là bài thơ hoặc bài vè Còn người chuyên nghiên cứu về Thánh Ca được gọi là nhà Thánh Ca học, và ngành nghiên cứu học thuật về Thánh Ca được gọi là ngành Thánh
Ca học
Trang 141.1.2 Khái niệm Thánh Vịnh
Thánh Vịnh hay còn được gọi là Ca Vịnh (Thi Thiên), tiếng Anh là Psalm, là một cuốn sách dài nằm trong phần Thi Ca (hay các sách về Sự Khôn Ngoan) của 46 sách Cựu Ước Công giáo Từ “Vịnh” trong Thánh Vịnh mang nghĩa là thơ, tả cảnh, tả người theo cảm xúc của tâm hồn Ngoài ra, nó còn mang nghĩa là ngâm lên, đọc lên theo ý thơ, có vần điệu ê a lên xuống ngắn dài Thánh Vịnh chính là lời Thiên Chúa dạy loài người thưa lên cùng Chúa để ngợi khen, cảm tạ, xin lỗi, xin ơn Người Trong Phụng vụ Công giáo, Thánh Vịnh được sử dụng rất nhiều trong Thánh lễ: Ca nhập lễ, Đáp ca, Ca Hiệp lễ và trong Phụng vụ Giờ kinh
Người Do Thái và các môn đồ của Chúa Giêsu trước kia có lẽ họ đã thuộc lòng các cuốn Thánh Vịnh Do vậy mà, những tín hữu Kitô tiên khởi đã ngâm Thánh Vịnh theo phong cách của người Do Thái tại các Hội đường trong thế kỷ thứ nhất Điểm khởi đầu của Thánh Vịnh có từ rất lâu nhưng lại không có tính chất dễ hiểu, dễ đọc vì nó mô tả những phong tục, tập quán của người dân du mục chăn nuôi súc vật, hay những cảnh chiến tranh, giết chóc, trả thù, tiêu diệt,… Nhưng Thánh Vịnh lại là lời cầu nguyện ca tụng Thiên Chúa, noi gương Chúa Kitô, xin Chúa Thánh Thần thánh hóa cho con người Do đó, nó đóng vai trò rất quan trọng trong Phụng vụ Thiên Chúa trong quá khứ cũng như hiện tại và Thánh Vịnh cũng là thành tố không thể thiếu trong việc ra đời của Thánh Ca
Trang 15
1.1.3 Khái niệm Âm nhạc Công giáo
Âm nhạc Công giáo là các thể loại nhạc diễn tả niềm tin cá nhân hoặc Cộng đoàn
trong cuộc sống và đức tin Kitô , được hình thành để phục vụ trong nghi lễ thờ
Phượng, trong đó có nền Âm nhạc Công giáo đương đại, được xây dựng xoay quanh
các chủ đề Công giáo, nhưng với mục tiêu sử dụng rộng rãi trong các môi trường khác
nhau (không bị giới hạn trong khuôn viên nhà thờ) Âm nhạc sử dụng trong Thánh Ca
là giai điệu Thánh Ca Do vậy, Âm nhạc luôn thủ giữ vai trò quan trọng trong nghi lễ
thờ Phượng Kitô, trong đó người dự lễ hát Thánh Ca, ngân nga Thi Thiên (Thánh
Vịnh) và trình bày những ca khúc tâm linh, tất cả nhằm tôn vinh Thiên Chúa Thường
khi, các loại nhạc cụ được dùng để hỗ trợ, nhưng cũng có nhiều trường hợp Giáo Đoàn
chỉ hát Thánh Ca theo cách acappella Cũng có lúc chỉ có phần trình tấu với các loại
nhạc cụ, phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi Giáo Đoàn, nhưng chỉ với mục tiêu
duy nhất là tôn vinh Thiên Chúa
Như đã đề cập, Công giáo là một tôn giáo ngoại nhập Để phụng vụ Đức tin phù
hợp với tâm thức, văn hóa bản địa và âm nhạc Công giáo dân tộc thì ngay sau Công
đồng Vatican II và Thư Chung năm 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thánh
Ca đã thực hiện những bước cải cách nhất định để hòa nhập vào nền văn hóa âm nhạc
truyền thống Việt Nam, theo hướng phát triển Hội nhập nên Thánh Ca đã được lấy một
số giai điệu dân ca truyền thống đặc trưng vùng miền làm lời Thánh Ca
Trang 161.2 Một số nội dung cơ bản của Thánh Ca Công giáo
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thánh Ca Công giáo
Sự hình thành Thánh Ca Công giáo luôn gắn chặt với sự ra đời của Công giáo
và Thánh Kinh Công giáo mà cụ thể là sách Thánh Vịnh trong Cựu Ước
1.2.1.1 Sự ra đời Công giáo
Vào thế kỷ thứ I , Kito giáo xuất hiện ở các tỉnh phía đông của đế quốc La Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ Đế chế La Mã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, tạo ra nhiều mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong đời sống xã hội Trong bối cảnh ấy đã làm nảy sinh những tư tưởng được giải phóng và tự do Bên cạnh đó, vùng Trung Cận đông là nơi tiếp giáp 3 châu lục, dân cư ở đây vốn theo đa thần giáo, trong quá trình thống nhất của đế chế đã xuất hiện yêu cầu thống nhất về tư tưởng, trong đó
có nhu cầu về tôn giáo độc thần, vì vậy Kitô giáo đã ra đời trên cơ sở của Do Thái giáo vốn đang tồn tại ở vùng này
Sự ra đời của Kitô giáo gắn với tên tuổi của Chúa Giêsu Chúa Giesu sinh ra vào
đầu Công nguyên, theo truyền thuyết, bà Maria đã mang thai một cách màu nhiệm và sinh ra Ngài Chúa Giêsu là người thông minh Trên cở sở kinh thánh và những nghiên cứu hiện có, Chúa Giêsu được mô tả là người Do Thái , sống ở đầu thế kỷ I sau Công nguyên Khoảng 30 tuổi thì bắt đầu truyền, giảng đạo khoảng 3 năm Ngài đã thu nhận
và đào tạo 12 người thành Thánh tông đồ Phêrô là Thánh tông đồ cả Về sau, Giêsu bị
sự ghen ghét của các phần tử Do Thái giáo, nhiều lần bị hãm hại, cuối cùng Ngài bị kết tội “mưu phản La Mã” Sau khi bị kết tội “mưu phản La Mã”, bị đóng đinh chết trên thập tự giá – Ngài đã trở thành biểu tượng của nền Công giáo Sau khi Chúa Giêsu qua đời, Kitô giáo được hình thành
Sau khi hình thành và phát triển trong thời gian khá dài các cuộc ly giáo dần dần phá hủy khối hiệp nhất của Kitô giáo, dẫn đến sự xuất hiện của những giáo phái mới (ví dụ: Giáo phái Arianism ra đời năm 318), đặc biệt, hai sự kiện ly giáo lớn nhất đó là
Ly giáo Đông - Tây (1054) cho ra đời 2 phái: Công Giáo – thế lực lớn nhất ở phía Tây
La Mã và Chính Thống giáo ở phía Đông La Mã
Trang 17Khi bàn luận về Kito giáo hay Công giáo thì không thể không nhắc tới Kinh Thánh Xét dưới góc độ Văn hóa, Kinh Thánh là di sản văn hóa của loài người Kinh sách được coi là bộ phận quan trọng nhất để thể hiện nhân sinh quan và thế giới quan của con người C.Mác cũng cho rằng: “sự sản xuất ra những ý niệm, những quan niệm
và ý thức thì lúc đầu trực tiếp gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và với sự giao tiếp vật chất của con người – ngôn ngữ của đời sống hiện thực Ở đây, những quan niệm, tư duy, sự giao tiếp tinh thần của con người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực tiếp của những quan hệ vật chất của họ Đối với sự sản xuất tinh thần, đúng như nó biểu hiện trong ngôn ngữ của chính trị, của pháp luật, của đạo đức, của tôn giáo, của siêu hình học v.v trong một dân tộc cũng thế Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thưc của con người” [2; 37]
Kinh thánh Kito giáo theo quan niệm của giáo hội là “lời Chúa truyền dạy đời đời”
là một bộ sách gồm 73 quyển được chia làm 2 bộ Tân ước và Cựu ước Ban đầu Kinh thánh được truyền khẩu trong dân gian Đến thế kỷ II thì bắt đầu được viết trên da dê,
từ thế kỷ IV – VI được viết trên giấy Papêrút và đến thế kỷ VII mới viết thành sách Kinh thánh là một kho tàng lịch sử và điển tích văn học Trong Kinh thánh bao gồm toàn bộ toàn bộ quan điểm, tư tưởng của giáo lý và tín điều của các đạo Kitô Tùy theo đạo mà số kinh này được chấp nhận theo yêu cầu của giáo lý các đạo Ví dụ Đạo Chính thống chú trọng 5 cuốn đầu tiên của Kinh Cựu ước Đạo Tin Lành lại lấy 4 cuốn Kinh Phúc âm làm giáo nghĩa cơ bản…
Kinh thánh chia làm 2 bộ Bộ Cựu ước: có 46 cuốn Kể về những chuyện trước khi Chúa Giê su ra đời Bộ này chia làm 4 tập.Tập 1: Bao gồm 5 cuốn đầu tiên (Ngũ kinh) gồm Sáng thế ký, Xuất hành ký, Lê vi ký, Dân số ký, và Thân mệnh ký Tập 2:
là bộ sử thư gồm 16 cuốn Tập 3: gồm 7 cuốn là những thi ca Triết học (thuộc thể loại giáo huấn).Tập 4: gồm 14 cuốn sách Tiên tri
Sách Thánh vịnh chính là một trong 7 cuốn sách ra đời trong tập 3 Thánh vịnh là
bộ sưu tập thánh ca gồm những bài ca vịnh được sáng tác ở nhiều thời đại khác nhau,
từ thời vua Ða-vít đến thế kỷ III trước CN Trước thời lưu đày đã có những bộ sưu tập các thánh vịnh để dùng trong phụng vụ ở đền thờ Sau lưu đày, các bộ sưu tập này lại
Trang 18có thêm những tác phẩm mới để dùng trong đền thờ mới Ðây là kho tàng kinh nguyện của dân Chúa trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước Mọi tình huống, mọi tâm tình của con người được diễn tả, bộc bạch trước mặt Thiên Chúa với lòng đơn sơ, dạn dĩ, tin tưởng: cảm tạ, ngợi khen, thống hối, ai oán, than van, vui, buồn, chất vấn Thiên Chúa và để cho Thiên Chúa chất vấn, khẩn cầu Hội Thánh Công Giáo sử dụng các Thánh vịng trong các giờ kinh phụng vụ và phụng vụ Lời Chúa Có thể xếp theo thể loại: tụng ca, vương triều, khẩn cầu, tạ ơn, hành hương, giáo huấn
Ngoài ra, Bộ kinh thứ hai sau Cựu Ước là Bộ Tân ước, bộ này chứa 27 cuốn chia làm 4 tập, gồm sách Phúc âm, Công vụ Tông đồ, Hoạt động của 3 tông đồ giỏi nhất và Khải Huyền Thư
*Sự du nhập của Công giáo vào Việt Nam
Vào thế kỷ XVI, Công giáo (Thiên chúa giáo) truyền vào Việt Nam do các giáo sĩ
Bồ đào nha, Tây ban nha và sau là Pháp Sự truyền đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối dầu của tôn giáo bản địa nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không cao Sau đó Pháp vận động Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại Việt Nam Hội truyền giáo Pa-ri được thành lập năm
1660 cùng nhà nước Pháp tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ, cử sang hoạt động ở Việt Nam
và một số nước khác Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có ba địa phận (Đàng trong, Đàng ngoài và Tây đàng ngoài) với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh mục Việt Nam Dưới triều Nguyễn, lúc đầu sự truyền giáo được nhà Nguyễn tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng sau đó thấy những hoạt động của giáo sĩ vừa truyền đạo vừa phục vụ cho âm mưu xâm lược của thực dân Pháp nên nhà Nguyễn đã cấm đạo nhất là từ khi thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính Việt Nam Việc cấm đạo gay gắt tạo sự chia rẽ nhất định trong nhân dân Trong hơn 100 năm dưới chế độ thực dân, Giáo Hội Công giáo gặp không ít khó khăn và thử thách trong việc truyền đạo Mặc dù vậy, một bộ phận chức sắc đã dung hoà được quyền lợi của dân tộc với tôn giáo và đông đảo tín đồ với ý thức dân tộc và lòng yêu nước đã đứng về phía kháng chiến và
đã đóng góp không chỉ vật chất, tinh thần mà còn cả xương máu cho cách mạng Đầu thế kỷ XX, Công giáo đã có một diện mạo tương đối mạnh, đầy đủ cả về hệ thống cơ
sở thờ tự, chức sắc tôn giáo và tín đồ Trên tinh thần của Công đồng Vatican II, Giáo
Trang 19hội Công giáo Việt Nam cụ thể hóa đường hướng đó một cách sâu sắc trong Thư chung năm 1980 Có thể nói, người Công giáo Việt Nam có quyền tự hào rằng:
“Chúng ta có giáo lý của Công đồng Vatican II như luồng gió mát của Chúa Thánh Thần thổi trong Hội Thánh; chúng ta tự hào là công dân nước Việt Nam anh hùng độc lập thống nhất; và trong đà phát triển chung của cả nước, chúng ta được tình đồng bào thông cảm và giúp đỡ trong khối đại kết dân tộc, nên chúng ta hãy hân hoan chu toàn
sứ mạng vinh quang của mình”[8] Sau Công đồng Vatican II và Thư chung năm 1980, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đã gắn với các hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật nói riêng, trong đó có các loại hình như kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc (thánh nhạc) Riêng trong lĩnh vực âm nhạc, hai dòng chảy văn hóa âm nhạc Công giáo phương Tây và âm nhạc truyền thống bản địa được hòa vào nhau
1.2.1.2 Thánh Ca Công giáo truyền thống
Như trên đã nói, Thánh Ca truyền thống (chant) chịu ảnh hưởng rất lớn từ các giai điệu Thánh Vịnh của Người Do Thái hay những giai điệu hát ca ngợi thần linh của người Hy Lạp cổ và được phát triển riêng rẽ ở châu Âu Đặc biệt ở những vùng quan trọng như: Roma, Hispania, Gaul, Milano, và Ireland và một số khu vực khác Thánh
Ca truyền thống trong giai đoạn này chủ yếu nhằm mục đích hỗ trợ cho các nghi lễ tôn giáo địa phương vào các dịp Thánh lễ nên các giai điệu của Thánh Ca rất đơn sơ Vào khoảng năm 1011 khi Roma là trung tâm tôn giáo của Tây Âu và Paris là trung tâm của chính trị thì nhà thờ Công giáo Roma có chủ trương tiêu chuẩn hoá Thánh Ca truyền thống và các Thánh lễ Nên việc nỗ lực tiêu chuẩn hoá Thánh Ca lúc này là rất cần thiết Tuy nhiên, những nỗ lực cho việc tiêu chuẩn hoá Thánh Ca lúc này chủ yếu chỉ bao gồm việc kết hợp Thánh Ca truyền thống của hai vùng Roma và Gallic và hình thức Thánh Ca được biết đến với tên gọi Gregorio Đây là một phương thức hát lễ đơn giản, chỉ sử dụng một giọng (không có nhiều bè hòa âm) do Giáo hoàng Gregory I sáng lập Ông là tổng Giám mục địa phận Roma từ năm 590 đến năm 604 và là người
Trang 20đã ra lệnh sắp xếp và giản dị hóa nhạc lễ bằng một hệ thống ký âm, từ đó biến hóa thành hệ thống ký âm trong âm nhạc ngày nay Nhạc lễ hay bình ca Gregoriô được dạy
và học qua “giọng sống” (viva voce), tức là không có nhạc đệm hay bản nhạc, nên người học phải tốn rất nhiều năm trong các nhạc viện mới có thể sử dụng thành thục
Nhạc lễ Gregoriô được bắt đầu dạy từ các tu viện Benedictine (Biển Đức), hát ca ngợi khen Chúa 8 lần một ngày vào những thời điểm nhất định, theo luật thánh Benedict (người sáng lập Dòng Biển Đức) đây là loại nhạc lễ nhắm vào sự tĩnh lặng của tâm hồn, hơn là những cảm xúc mãnh liệt từ trái tim như những dòng nhạc khác Thánh Benedict đã tìm hiểu về những bài Thánh Ca ca tụng thần linh của người Hi Lạp cổ để phát triển nên nhạc lễ Gregorio và những bài Thánh Ca này được viết bằng tiếng Latinh Từ đó cho ra đời những bản Thánh Ca Kitô đầu tiên, đóng vai trò rất quan trọng trong Phụng vụ Thiên Chúa Những bài Thánh Ca Công giáo đầu tiên chỉ được sáng tác để các tu sĩ biểu diễn mà không dành cho giáo dân Ave Maris Stella, Pange Lingua và Veni Sancte Spiritus chính là những Thánh Ca bằng tiếng Latinh nổi tiếng thời kì này [32]
Nhìn chung có thể nói Thánh Ca thời kì này chưa có sự phân biệt rạch ròi với Thánh Vịnh và các giai điệu vẫn còn rất đơn sơ Mỗi thời đại lại hình thành nên một bài Thánh Ca mới xuất phát từ các bài hát dân ca với những nghi thức riêng và không tuân theo một quy chuẩn chung nào Sau khi Thánh Ca Gregorio ra đời thì Thánh nhạc chính thức được biết đến rộng rãi và phổ biến hơn vào thế kỷ 12 và 13
Trang 211.2.1.3 Thánh Ca Công giáo sau Cải cách Kháng nghị
Cải cách Kháng Nghị (Protestant Reformation) hay Cải cách Tin Lành là cuộc cải
cách tôn giáo khởi xướng bởi Martin Luther và được tiếp nối bởi Jean Calvin, Huldrych Zwingli, Jacobus Arminius và những người khác tại châu Âu thế kỷ
16 Trong thời kì Cải cách, các nhà Cải cách muốn quá trình Phụng vụ phải được thực hiện bằng tiếng bản ngữ để người dân hiểu và hát theo Đồng thời, họ cũng muốn xóa
bỏ những bài Thánh Ca hát chay không có nhạc đệm, được sáng tác dành riêng cho các
tu sĩ
Hơn nữa, các nhà cải cách đòi hỏi, nếu đã là Thánh Ca thì các bài hát phải có một nền tảng kinh điển nghiêm ngặt và do đó họ bắt đầu giới thiệu các Thánh Vịnh có giai điệu và vần luật - các Thánh Vịnh được đặt trong cấu trúc có vần điệu và nhịp điệu - khiến chúng dễ hát và dễ hiểu Ví dụ như bài “Chúa là Mục tử của tôi” Như vậy, họ
đã phân chia rạch ròi giữa Thánh Vịnh và Thánh Ca Điều này gây ra rất nhiều tranh cãi trong nhà thờ Anh giáo vào thế kỷ 18 và 19
Thời kì Cải cách cũng là lúc mà trên thế giới đang chấn động với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự ra đời của máy in, nó đã làm cho các tín đồ dễ tiếp cận với những bài Thánh Ca viết bằng tiếng mẹ đẻ và Martin Luther (1483 - 1546) đã đóng vai trò không nhỏ trong sự phát triển các bài Thánh Ca mới - ông không chỉ là một nhà thần học cấp tiến, ông còn là một nhạc sĩ xuất chúng với vốn kiến thức sâu sắc về các bài hát dân ca Đức Do vậy, những bản Thánh Ca của ông đều thể hiện phong cách này, ví như bài Thánh Ca nổi tiếng “Ein 'feste Burg”
Trang 22Ở nước Anh, các bài Thánh Ca có vần điệu được mô phỏng trực tiếp từ Kinh Thánh
là một trong những thành phần chính của một Thánh lễ Tuy nhiên, với những tài liệu tham khảo kinh điển khá mơ hồ, các bài Thánh Ca này không được công chúng đón nhận Những người thờ Phụng cảm thấy không hài lòng vì họ cho rằng những lời lẽ của Thánh Ca không có văn phong như của Kinh Cầu Nguyện và rất nhiều trong số đó chỉ là những biến thể sơ sài của Thánh Kinh
Chỉ đến khi Isaac Watts (1674-1748) mở cuộc cải cách với phong trào hát hợp xướng ở Anh thì Thánh Ca mới được đón nhận Isaac đã viết nhiều bản Thánh Ca vĩ đại với nguyên tắc lời bài hát phải được viết từ cảm xúc tôn giáo chân thực của tín đồ chứ không phải dựa hoàn toàn Kinh Khánh Đây là một nguyên tắc trái ngược với các quan điểm trước đây và nó như thổi một làn gió mới vào sự ra đời Thánh Ca và nguyên tắc này vẫn còn tồn tại đến ngày nay
1.2.1.4 Thời kì phát triển của Thánh Ca
Nói đến sự phát triển của Thánh Ca (Thánh nhạc) thì không thể không nhắc đến hai anh em giáo sĩ: John và Charles Wesley, họ là những người sống cùng thời với Watts
và cũng là người đặt nền móng cho bước biến chuyển trong nhận thức của các tín hữu đối với Thánh Ca Đồng thời, họ cũng là người sáng lập ra Phong trào Giám lý Phong trào Giám Lý là một nhóm các giáo hội có mối quan hệ lịch sử với nhau thuộc Cộng đồng Kháng Cách Bắt nguồn từ cuộc phục hưng tôn giáo khởi phát bởi John Wesley tại Anh Quốc vào thế kỷ 18 và John là người tiếp tục phong trào chấn hưng tâm linh này nhằm phát triển Giáo hội Anh Quốc theo hướng mới Do vậy, phong trào này có khá đông chức sắc Anh giáo tham gia Với những ảnh hưởng của mình như vậy, anh em Wesley đã chứng minh rằng các bài Thánh Ca, cả lời lẽ lẫn âm nhạc của
Trang 23nó, nên được viết trên tinh thần khuấy động hội chúng, phải tái hiện được cảm xúc tôn giáo và hơn hết là khiến người hát có được tinh thần phấn chấn, hứng khởi
Anh em nhà Wesley đã biến những bản Thánh Ca thành tâm điểm trong phương thức thờ cúng của những tín đồ phong trào Giám lý, và không lâu sau đó, rất nhiều người bắt đầu ngưỡng mộ những tín đồ Giám lý với những bài hát và cách hát nồng nhiệt, thiết tha của họ
Một số giáo sĩ cấp tiến của Giáo hội Anh bắt đầu nhận thấy nhu cầu cần thiết phải tạo nên một sự hồi sinh trong âm nhạc Công giáo Nhưng nhiều giáo sĩ Anh giáo khác
đã chống lại việc học hỏi theo những bài Thánh Ca của cộng đồng Kháng cách bởi họ vẫn rất tin tưởng vào các bài Thánh Vịnh có nhịp điệu, vì theo họ chúng mới chính là hiện thân của âm nhạc Kinh Thánh
Vấn đề lên đến đỉnh điểm khi Giáo chức Thomas Cotterill bắt hội chúng của mình hát theo những bài Thánh Ca của cộng đồng Kháng Cách, khiến cho dân chúng nổi loạn và buộc phải đưa ngài ra Tòa án Giáo phận Chuyện đến tai Ngài Đại Chưởng Ấn của Giáo phận York, là một người luôn thỏa hiệp với Anh giáo, ông đã ra kết luận rằng, mặc dù về lý, cả Thánh Ca và Thánh Vịnh có vần điệu đều bất hợp pháp trong Phụng vụ Anh giáo, nhưng độ lan tỏa của chúng quá rộng lớn khiến ông không thể thi hành quyết định của mình Điều này dẫn đến sự ra đời một loạt các bài Thánh Ca – bao gồm cả các bài Thánh Ca Tin Mừng, và cùng với quá trình cải cách của Watts và anh em Wesleys, đã đặt ra nền tảng cho Thánh Ca Công giáo hiện nay
1.2.2 Các hình thức thể hiện nội dung Thánh Ca Công giáo
Trang 24Xuyên suốt thời kì Cổ đại và Trung cổ, Thánh Ca đã đóng vai trò quan trọng trong các nhà thờ bởi, Thánh ca không chỉ được ca bằng những giọng hát đơn thuần song hành với nó luôn là các bản nhạc cụ, các cách hát thể hiện trong từng nghi thức hành lễ, nó tạo nên sự đa dạng trong Thánh Ca nói riêng, trong âm nhạc Công giáo nói chung Ví như:
*.Hình thức hát nhạc lễ Gregorio
Vì thiếu ký tự âm nhạc trong các tác phẩm ban đầu nên thực tế các hình thức âm nhạc trong nhà thờ thời kỳ đầu chỉ có thể được phỏng đoán hoặc tự mày mò Đến thời Trung cổ, hình thức hát bình ca Gregorio là hình thức phổ biến nhất Thể loại này được hát đồng thanh, và chúng nằm trong một trong tám thang âm nhà thờ thời Trung
cổ sử dụng Chúng thường được biểu diễn bởi các ca đoàn tu sĩ Mặc dù ban đầu chúng được viết bằng tiếng Latinh nhưng sau đó nhiều bài thuộc thể loại này đã được dịch sang nhiều thứ tiếng khác
* Hình thức trong Nhà thờ Đức Bà và Ars Antiqua
Ít nhất cũng phải đến thế kỷ thứ IX, các nhạc sĩ/tu sĩ trong nhà thờ mới cảm thấy sự cần thiết phải có một thứ âm nhạc phức tạp hơn kiểu giai điệu không nhạc đệm Họ bắt đầu thử nghiệm kiểu hát hai dòng giai điệu song song đồng thời cách nhau một quãng
tư, quãng năm hoặc quãng tám Kết quả là sự ra đời của phong cách âm nhạc gọi là organium Phong cách này phát triển một cách chậm chạp trong khoảng một trăm năm tiếp theo Đến thế kỷ thứ XI, 01 hoặc 02 (thậm chí 03) giai điệu được thêm vào bè hát chính không còn chạy song song với bè hát chính mà trở thành những giai điệu tương phản, đôi khi còn giao cắt với nhau Giai điệu chính khi ấy được hát rất chậm rãi theo
Trang 25các nốt cầm giữ dài hơi được gọi là tenor (xuất phát từ tenere tiếng Latinh có nghĩa là cầm giữ)
Phong cách âm nhạc này rất thịnh hành ở Nhà thờ Đức Bà Paris trong thế kỉ XII, XIII và rất lâu sau được biết đến như là Ars Antiqua (Nghệ thuật cũ) Hai nhà soạn nhạc tại Nhà thờ Đức Bà đặc biệt nổi tiếng với các sáng tác theo phong cách này là Léonin với các tác phẩm viết cho 02 giọng và người kế tục ông là Pérotin với các tác phẩm viết cho 03 đến 04 giọng Âm nhạc của Pérotin là mẫu hình xuất sắc cho phong cách âm nhạc phức điệu thuở ban sơ
* Hình thức Guido d’Arezzo và hệ thống ký âm
Để các nhạc sĩ có thể đọc và biểu diễn một số bè giọng hát khác nhau một cách đồng thời, một hệ thống ký hiệu âm nhạc tỷ mỷ đã được phát triển Ký hiệu cao độ được giải quyết bằng việc sử dụng một khuông nhạc gồm 4, 5 dòng kẻ hoặc hơn thế, với mỗi dòng hay khoảng trống giữa chúng đại diện cho một cao độ cụ thể, như là ký hiệu âm nhạc ngày nay Có được sự hoàn hảo của hệ thống này là nhờ tu sĩ Ý dòng Biển Đức Guido d’Arezzo thế kỉ XI Ký hiệu về nhịp thời gian tỏ ra khó hơn Giải pháp được rút ra trong thế kỉ XI và XII là dựa vào một nhóm những mẫu hình nhịp điệu ngắn gọi là những kiểu nhịp Mẫu hình hay kiểu nhịp tương tự được lặp đi lặp lại cho đến khi nhà soạn nhạc chỉ ra bằng một kí hiệu theo đó một kiểu nhịp khác thế chỗ
nó Việc sử dụng “ký hiệu cách thức” này trong âm nhạc đem lại sự đa dạng của các chương nhịp theo những kiểu khác nhau một cách đồng thời trong các bè giọng khác nhau và bằng cách thay đổi các kiểu trong tiến trình một tác phẩm Đến cuối thế kỷ XIII, người ta đã bỏ kiểu ký hiệu cách thức và những ký hiệu đầu tiên của hệ thống những giá trị nốt dài và ngắn hiện đại đã được đưa vào sử dụng
Trang 26Guido d’Arezzo cũng là người phát triển hệ thống khóa nhạc, đặt nền tảng cho những khóa nhạc hiện đại như khóa Fa, khóa Sol… Luận án về nhạc phức điệu của ông là công trình đầu tiên mở đường cho các nhà soạn nhạc phức điệu về sau
* Hinh thức người hát rong và nhạc thế tục
Âm nhạc phổ thông, thường ở hình thức những khúc ca thế tục, đã tồn tại trong suốt thời Trung cổ Thứ âm nhạc này không được Truyền thống Giáo hội thừa nhận, nó cũng không được ký âm cho đến khoảng thế kỷ thứ X Hàng trăm bài ca đã được sáng tác và biểu diễn (và mãi sau này mới được ký âm) bởi các ban nhóm nhạc sĩ hưng thịnh thế kỷ XII và XIII Những người hát rong ở miền Nam Pháp gọi là troubadour, ở miền Bắc Pháp gọi là trouvère, ở Đức gọi là Minnesänger, ở Ý gọi là trovatori Những giai điệu đơn âm và có thể được đệm đàn ngẫu hứng của những nhạc sĩ lưu động thường nhịp nhàng sống động Đề tài nổi trội nhất của những bài ca này là tình yêu ở mọi cung bậc Các giai điệu thường là khuyết danh nhưng cũng có các tác giả nổi tiếng Một trong số những người hát rong nổi tiếng nhất mà chúng ta biết là Adam de
la Halle, nhà soạn nhạc của một trong những tác phẩm ca kịch thế tục lâu đời nhất được biết đến ở phương Tây – Le Jeu de Robin et Marion (Trò chơi của Robin và Marion)
Những người hát rong thời Trung cổ sử dụng nhiều loại nhạc cụ Nhạc cụ dây gồm các đàn harp, lute, psaltery, vielle… Nhạc cụ hơi gồm trumpet, recorder (ống tiêu), shawn (một loại oboe cổ), bagpipes (kèn túi)… Nhạc cụ phím gồm các loại đàn organ
có thể mang theo Nhạc cụ gõ gồm trống nhỏ và chuông nhỏ Mặc dù chắc chắn là âm nhạc thế tục được chơi bằng nhạc cụ trong suốt thời Trung cổ nhưng vũ khúc khí nhạc vẫn chưa xuất hiện cho đến tận thời Phục Hưng
Trang 27*Hình thức của phong cách Ars Nova
Vào đầu thế kỷ XIV, âm nhạc có một sự thay đổi lớn về phong cách Giám mục người Pháp Philippe de Vitry, một trong những nhà soạn nhạc hàng đầu của thời kỳ này, gọi phong cách này là Ars Nova (Nghệ thuật mới) Âm nhạc thời kỳ này phức tạp hơn mọi tác phẩm được viết trước đó, phản ánh một tinh thần mới ở châu Âu làm nổi bật sự tài tình và khéo léo của con người De Vitry cũng phát minh ra một hệ thống những ký hiệu về thời gian Điều này cho phép các nhạc sĩ thế kỷ XIV đạt được một
sự tự do về nhịp điệu mới trong sáng tác của họ
Những phức tạp mới của Ars Nova thể hiện dưới một số hình thức Nới rộng nguyên tắc của những thể thức nhịp ngắn, các nhà soạn nhạc Ars Nova đã sử dụng những mẫu hình nhịp gồm 12 nốt hoặc nhiều hơn, lặp đi lặp lại ở một hoặc nhiều bè giọng của tác phẩm Nguyên tắc mới được gọi là nhịp tương tự (isorhythm, trong tiếng
Hy Lạp “iso” nghĩa là “tương tự”) Các nhà soạn nhạc đã sử dụng một bè giọng được sắp xếp tương tự về nhịp làm cơ sở cho các tác phẩm lớn và đan kết các giai điệu khác lên đó để tạo ra các hình mẫu đa âm phức tạp Giọng nền thường được tiếp quản từ một phần của Thánh Ca Gregorio Giai điệu vay mượn này được gọi là cantus firmus (tiếng Latinh nghĩa là “giai điệu cố định”) Motet là thể loại mà các nhà soạn nhạc sử dụng nguyên tắc nhịp tương tự tới mức độ lớn nhất Một số motet, thêm vào sự phức tạp về cấu trúc còn có một số lời ca được hát một cách đồng thời
Điều phức tạp thứ hai của Ars Nova liên quan đến cấu trúc tổng thể của âm nhạc ở thể loại mass Trước năm 1300, những tác phẩm phức điệu đôi khi đã được viết thành những phần riêng rẽ của mass Vào thế kỷ XIV, lần đầu tiên, cả 05 phần cấu tạo nên một mass như thông lệ được xem như một tổng thể hòa nhập Người đầu tiên làm điều
Trang 28này là giáo sĩ, thi sĩ và nhà soạn nhạc Pháp Guillaume de Machaut Tuy nhiên hình mẫu của ông không được phát triển tiếp, kể cả bước sang các thế kỷ tiếp theo
*Hình thức hát nhạc lễ Byzantine
Giáo hội miền Tây khi xưa nổi tiếng với hình thức hát nhạc lễ Gregorian còn Giáo hội miền Đông chủ yếu hát theo nhạc lễ Byzantine Sở dĩ có điều này vì khi Đại Đế Constantine (272 – 337) thống nhất đế quốc La Mã và đưa Ki tô giáo từ Đạo cấm đang
bị bách hại lên hàng quốc giáo của đế quốc La Mã, ông đã thành lập thêm một thủ đô cho miền Đông của đế quốc tại thành phố cổ có tên là Byzantine Nhưng sau đó, đổi tên lại thành Constantinople theo tên của đại đế Constantine, mà ngày nay là Istanbul, thành phố lớn nhất của Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ)
Thủ đô của đế quốc La Mã ở Miền Tây là Rome và thủ đô ở miền Đông là Constantinolpe Khi đế quốc La Mã sụp đổ, hai miền của giáo hội trở thành hai giáo hội khác nhau Miền Tây có thủ đô là Rome, gọi là giáo hội Công giáo, và miền Đông
có thủ đô ở Constantinople gọi là giáo hội Chính thống giáo
Giáo hội Chính thống giáo, vì nằm trong khối Ả rập, nên âm nhạc cũng có nhiều khuynh hướng Ả rập Chính vì vậy mà nhạc lễ Byzantine, lễ ca của Chính thống giáo (miền Đông), nghe rất giống lễ ca của Islam, và rất khác nhạc lễ Gregorian của giáo hội Công giáo (miền Tây)
* Hình thức Thánh Ca của Nhà thờ phương tây
Thánh Ca trong các nhà thờ phương Tây sau này đã lấy phương thức 4 đoạn hòa âm làm chuẩn mực, sử dụng âm trưởng và âm thứ, và dần dần được chơi cùng đàn Organ
Trang 29và có sự góp mặt của dàn hợp xướng Nó có nhiều nét tương đồng với âm nhạc cổ điển
Ngày nay, ngoại trừ các Ca đoàn, các Hội thánh thiên về âm nhạc và các Hội thánh Acappella, các bài Thánh Ca thường được hát đồng thanh Vì bản Thánh Ca thường được chơi bằng nhạc Organ nên nếu muốn chơi trên các nhạc cụ khác, các nhạc sĩ phải
tự phiên âm theo phương thức 4 đoạn hòa âm để có được một bản nhạc hoàn chỉnh
Theo tập tục và Phụng vụ truyền thống của các Giáo hội Giám lý Tin Lành thì Thánh Ca thường được dựa trên các nghi thức của Anh giáo, các bài Thánh Ca hát
được đệm đàn Organ (Hình 3) trong quá trình hành lễ, rước lễ, và tại các thời điểm
khác nhau của quá trình Phụng vụ Những bài Thánh Ca hát theo thể loại này được ghi rất cụ thể trong cuốn “Những thánh ca thống nhất của Hội Giám Lý” Hơn nữa, ngay
cả những bài tụng ca ngắn cũng được hát theo thể loại này ngay sau khi tiền thập phân
và các của lễ được dâng lên bàn thờ Hiện nay, những bản Thánh Ca của Tin Lành và Phong trào Ngũ Tuần, việc sử dụng đàn Guitar điện và bộ trống đang ngày một phổ biến và nó có rất nhiều điểm tương đồng với nhạc Rock
Như vậy, việc hát Thánh Ca ngày nay đã có rất nhiều thay đổi, vì như trên đã nói, các nhóm Kitô trong lịch sử ví như: “Anh em Đồng Đạo”, “Anh em Cởi Mở” và “Anh
em tín hữu Riêng Biệt”, Giáo hội của Chúa Giê su Kitô, Hội Phái Tin lành Mennonite, Hội Thánh Báp-tít Nguyên thủy, và một số Hội thánh Cải chính mới đây như Giáo hội
Tự Do Scotland…, tất cả họ đã bỏ đi cách thức hát chay (không nhạc cụ) và đưa vào
đó là những bản Thánh Ca có nhạc đệm để tạo sự sinh động khi ngân bài Thánh Ca
Trang 30Ngoài sự phát triển chung về nhạc cụ trong Thánh Ca thì nhịp điệu trong mỗi bài Thánh Ca cũng là tâm điểm mà các Hội thánh đang chú ý Bởi nhịp điệu trong Thánh
Ca chỉ ra số lượng âm tiết cho các dòng trong mỗi khổ của một bài Thánh Ca, nhịp điệu này giống như một phương tiện để khớp một văn bản Thánh Ca với một giai điệu
âm phù hợp Vì trên thực tế, nhiều bài Thánh Ca là chưa có sự phù hợp giữa lời với nhịp điệu (đặc biệt là số lượng âm tiết và trọng âm của mỗi từ trong mỗi câu cũng cần phù hợp vì không chỉ nhịp điệu của từ mà giai điệu cũng cần khớp với nhau) Nhịp điệu thường được biểu thị bằng một dãy các con số bên cạnh tên gọi của giai điệu Chẳng hạn như dãy số “87.87.87” , sẽ báo cho người đọc biết rằng mỗi khổ có 6 dòng,
và dòng đầu tiên có 8 âm tiết, dòng thứ hai có bảy âm tiết, dòng ba lại có tám âm tiết
và cứ thế lặp lại Nhịp điệu còn có thể được minh họa qua chữ cái viết tắt Chẳng hạn như L.M là biểu thị của “nhịp điệu dài” , tức là nhịp 88.88 (4 dòng, mỗi dòng có 8 âm tiết); S.M là nhịp điệu ngắn (66.86); C.M là nhịp điệu vừa (86.86) Bên cạnh đó, còn
có các nhịp D.L.M, D.S.M, D.C.M là ( chữ “D” là viết từ của “double” nghĩa là gấp đôi); do vậy các nhịp này giống y hệt các nhịp đơn như ở trên chỉ khác ở việc mỗi khổ
ở nhịp này sẽ có 8 dòng chứ không phải là 4 Ngoài ra, nếu số lượng âm tiết trong một câu khác với các câu còn lại trong cùng một bài Thánh Ca (ví dụ: bài Thánh Ca "Tôi hát một bài hát của các vị Thánh”), thì nhịp này được gọi là nhịp bất quy tắc Một bản Thánh Ca mang âm hưởng và lời toàn diện như vậy thì nó mới lột tả được tâm trạng của tín hữu đối với “Đấng tối cao” và đó mới được gọi là bản Thánh Ca hay [24 ; 167]
Trang 31TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày những khái niệm và nội dung cơ bản của Thánh ca Công giáo, đồng thời đưa ra quá trình hình thành và phát triển của Thánh ca Công giáo từ xa xưa đến nay Xuyên suốt lịch sử, Thánh ca đã có những dấu ấn nhất định trong Công giáo, tuy nhiên phải trải qua những cuộc cải cách, vượt qua những định kiến của các quan niệm cũ, Thánh ca mới có chỗ đứng vững chắc trong âm nhạc Công giáo nói riêng và nghệ thuật tôn giáo nói chung Khởi đầu từ những bản Thánh vịnh, Thánh ca thường không được chú trọng và chưa được phân biệt rạch ròi so với Thánh vịnh Nhờ đóng góp của anh em giáo sĩ Wesley, Thánh ca được biết đến ngày một rỗng rãi với dân chúng, biến hình thức này từ một nghi thức chỉ dành riêng cho tu sĩ thành một nghi thức phụng vụ đặc trưng trong Công giáo hiện nay Ngoài ra, Thánh ca được trích dẫn từ chính Kinh Thánh giúp cho lời ca trở nên trau chuốt, chuẩn mực và được chấp nhận rộng rãi ở khắp các giáo hội trên thế giới Trước đó, khi Thánh ca chỉ được hát chay tại các tu viện, người dân không thể tiếp cận được với hình thức này vì chúng chỉ dành riêng cho tu sĩ và cách hát tương đối phức tạp Khi Thánh ca được phát triển rộng rãi, những nhạc cụ như đàn organ được đem vào sử dụng trong các ban Thánh nhạc tại Nhà thờ để quá trình phụng vụ thêm thu hút và tôn nghiêm Các hình thức thể hiện nội dung Thánh ca ngày một đa dạng hơn, bắt đầu từ hình thức bình ca Gregorio cho tới hình thức hát hợp xướng ở Anh do Isaac Watts sáng lập và cuối cùng là hình thức hát acapella như hiện nay đều mang lại những ảnh hưởng và ấn tượng sâu đậm vào nền âm nhạc Công giáo
Âm nhạc Công giáo khi hòa trộn với âm nhạc từ các nền văn hóa khác sẽ tạo ra những sự đa dạng rất phong phú Thánh ca Công giáo không chỉ phát triển và biến chuyển vô cùng đa dạng trên thế giới mà khi về đến Việt Nam, Thánh ca cũng đem lại
Trang 32những nét văn hóa nghệ thuật mới lạ và tạo nên những đặc trưng riêng cho Thánh ca Công Giáo Việt Nam
Trang 33VAI TRÒ CỦA THÁNH CA CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thánh Ca Công giáo Việt Nam
Như đã đề cập (Chương 1), Công giáo là tôn giáo Thế giới, Giáo hội Công giáo
là một Giáo hội hoàn vũ Do vậy, Thánh Ca Công giáo Việt Nam không nằm ngoài Thánh Ca Công Giáo nói chung, hơn nữa đây lại là một tôn giáo ngoại nhập Để Phụng
vụ đức tin phù hợp với tâm thức và văn hóa của giáo dân bản địa, Thánh Ca Công giáo nói chung, Thánh Ca Công giáo Việt Nam nói riêng đã thực hiện từng bước tiến nhất định theo tinh thần VaticanII để Hội nhập vào nền văn hóa bản địa truyền thống Tuy nhiên ở Việt nam lúc đó do chiến tranh nên việc thực hiện tinh thần Vatican II còn nhiều hạn chế Nên ở Việt nam khi nói đến tinh thần Hội nhập Công giáo đặt kết quả theo hướng phát triển của Công đồng Vatican II thì phải kể đến từ Thư Chung năm
1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam Và nếu nói đến Hội nhập Thánh Ca thì cũng
từ giai đoạn này Thánh Ca mới chính thức mang nhiều dấu ấn cách thức đặt lời Thánh
Ca không chỉ hòa vào giai điệu Dân ca truyền thống đặc trưng trong mỗi vùng miền
mà còn lấy những giai điệu Dân ca truyền thống từ lời Thánh Ca
2.1.1 Thánh Ca Công giáo Việt Nam trước thời kỳ Thư Chung 1980
Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã đạt được những thành quả nhất định trong công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, phong trào giải phóng dân tộc vẫn diễn ra nhiều nơi trên thế giới nhằm chống lại ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân và hai cuộc chiến tranh thế giới (lần thứ nhất, thứ hai) nổ ra đã khiến vị trí và vai trò của Pháp bị ảnh hưởng không nhỏ Thêm vào đó, ở Việt Nam, mặc dù đến năm 1919, khoa thi chữ Hán - Nôm cuối cùng đánh dấu sự chấm dứt cho loại hình chữ viết này, song thay vào đây là quá trình thực hiện chữ quốc ngữ theo hệ
Trang 34La tinh bắt đầu phổ biến và nền văn hóa Pháp ít nhiều cũng ảnh hưởng đến Việt nam Chính điều này đã dẫn đến sự nhận thức trong người dân (trong đó có người Công giáo Việt Nam) đó là phải nâng cao tinh thần dân tộc, giải phóng Tổ quốc Đây là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn tới nhiều sự biến đổi trong Công giáo (trong đó có Thánh Ca)
Cuộc cải cách, thay đổi văn hóa âm nhạc được bắt đầu nhen nhóm ngay từ thập kỷ đầu thế kỷ XX với thủ pháp Dịch - đặt lời Thánh Ca Ban đầu, các nhạc sỹ, ca trưởng
và những người trong ban Thánh nhạc của nhà thờ ở các địa phương là người Việt đã nhận thấy những vấn đề đang được thực hiện (hát Thánh Ca bằng tiếng Latinh, tiếng Pháp) không còn phù hợp với tình hình thực tế của xã hội Họ cho rằng, việc bày tỏ đức tin, tình yêu và vinh danh Thiên Chúa phải cần được thực hiện thông qua ngôn ngữ dân tộc để họ có thể hiểu được, nhất là trong Phụng vụ, họ cho rằng đã là người Việt Nam thì cần sử dụng ngôn ngữ riêng của người Việt Nam để bày tỏ tinh thần đó
Và trong sách Lịch sử âm nhạc Việt Nam đã viết: “khoảng từ năm 1910 trở đi, các nhà
thờ ở các tỉnh đã có những Linh mục, thầy Dòng và giáo dân người Việt Nam trở thành những Ca trưởng điều khiển những ban hát có hàng chục người có một vài tu
sĩ Việt Nam tự hỏi sao ta lại không soạn lấy lời Việt, mà cứ hát tiếng La-tinh, tiếng Pháp là những tiếng đa số giáo dân và ngay những người trong Ban hát cũng chẳng hiểu gì, thì có ích lợi gì? Lễ Ta thì phải hát bài Ta” [10;7]
Chính từ quan điểm này, nhiều nhạc sỹ, trí thức Công giáo trong Ban hát ở nhiều nhà thờ tại các địa phương, các tỉnh đã dịch từ bản tiếng Latinh, tiếng Pháp sang tiếng Việt theo giai điệu bình ca Gregorio, những giai điệu đã được Giáo triều Roma thống nhất Do vậy, theo nghiên cứu thì vào lúc này chỉ có hai bài Thánh Ca đầu tiên được
Trang 35sáng tác là: Thánh Thể và Dâng Mẹ hoa của tu sĩ An Phong Châu (1907), và được in tại Tân định Ấn quán vào năm 1910 Trong Cung thánh Tổng hợp 1 và 2 của Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh cũng đã nói rõ và đến nay cả hai bài này vẫn được hát thông dụng ở
Nam Định nhưng những tài liệu ghi chép lại thì nay đã thất lạc Hiện trong cuốn Âm
nhạc Công Giáo trước và sau Công đồng Vatican II của Nguyễn Đình Lâm có viết
“những bài thánh ca đầu tiên của Việt Nam là do linh mục có tên là Vượng, dệt lời Việt vào các Thánh Ca La-tinh và Pháp, rồi đóng thành tập 20 bài và phổ biến rộng rãi
ở Nam Định, Hà Nội và lan rộng khắp những nơi nào có giáo hữu, ở cả Bắc, Trung và Nam, trở thành một quyển sách hát Thánh Ca đầu tiên” [11] Như vậy, lúc này ngoài
sự đóng góp của tu sĩ An Phong Châu, nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh còn phải kể đến sự đóng góp của linh mục Vượng
Những bài Thánh Ca trong giai đoạn này ở Việt Nam khi hát đã có nhạc kèm theo nên khi nói đến Thánh Ca Việt Nam thì không thể bỏ qua những nốt nhạc, những nốt nhạc này đã được thể hiện trong nhiều bài Thánh Ca mà cụ thể là Bộ lễ: Kinh Thương xót, Thánh Thánh Thánh, Tuyên xưng đức tin…và một số bài khác như Thánh Thể, Dâng Mẹ hoa phần lớn những bài này có 4 hoặt 5 nốt, âm hạn phổ biến trong phạm vi một quãng 6 Tiết tấu xuất hiện trong bài chủ yếu gồm có ba loại: nốt vuông (âm hình chủ yếu trong nhạc nhà thờ thời kỳ Trung cổ), nốt tròn (đen, trắng như hiện nay) và nốt nhạc có âm hình tiết tấu Những nốt vuông và chưa có âm hình tiết tấu thì đọc theo nguyên tắc riêng, song nhìn chung, thường mang tính ngâm ngợi, quy định nhịp độ chậm Cao độ không có những bước nhảy quãng rộng Mặc dù giai điệu cũng có những bước nhảy quãng hẹp nhưng cơ bản được tiến hành liền bậc Cụ thể trong Kinh thương xót, Tuyên xưng đức tin Về cấu trúc đoạn nhạc, những bài Thánh nhạc được tiếp cận có cấu trúc giai điệu dưới dạng khúc nhạc ngắn, một số bài dài nhưng chưa
Trang 36hình thành câu đoạn nhạc rõ ràng Âm mở đầu và kết thúc chưa thấy rõ quy luật nên khó có thể phân tích về chủ âm, thang âm cùng quy tắc tiến hành giai điệu của nó
Do đó, những đóng góp cho phong trào dịch và đặt lời Thánh Ca giai đoạn này (giai đoạn An Phong Châu, linh mục Vượng và Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh) chủ yếu bằng thủ pháp dịch và đặt lời cho giai điệu Thánh Ca của âm nhạc phương Tây, chưa có những sáng tạo mới về về giai điệu và những thay đổi về nhạc đàn Tuy nhiên, nếu nhìn sang phong trào Tân nhạc Việt Nam, chúng ta thấy có sự tương đồng đó là phong trào “ lời
ta theo điệu Tây” và hát cũng theo phong cách “lời ta theo điệu Tây” được các nhạc sỹ Việt Nam khởi xướng và đã mở đầu cho trang sử Tân nhạc nước Nhà: “Từ chỗ hát nguyên theo tiếng Pháp người ta phỏng dịch lời Pháp ra lời Việt cho “phổ thông hơn”
Và tiếp tục tiến xa hơn nữa là họ đặt lời Việt cho những “bài xi-nê” Người ta in những bài tương tự vào những trang cuối của những tiểu thuyết 5 xu như Đoan Hùng,
Lệ Hằng phục thù… [ 15; 70] Điều này cho thấy quá trình cải cách âm nhạc Công giáo và nền âm nhạc mới Việt Nam diễn ra song trùng và có sự tương hỗ với nhau (Xem phần 2.1.2 của Khóa luận)
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước rơi vào hoàn cảnh khó khăn Tháng
12 năm 1946, Hồ Chủ Tịch ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, nhiều nhạc sỹ tên tuổi của thời kỳ Tân nhạc ở Hà Nội, trong đó có cả nhạc sỹ Công giáo cũng đã hăng hái hưởng ứng lời kêu gọi này Do vậy, Tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước là bước khởi đầu cho sự xuất hiện những bài Thánh Ca “lời Ta điệu Ta”, những giai điệu Thánh nhạc mang ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam có tính độc lập xuất hiện ngày một nhiều Điều này cho thấy nếu như ở giai đoạn trước, “từ hàng Giám mục đến các cha
xứ ở nhà thờ trong các tỉnh thành đều là người Pháp, dẫu cho những bài hát đó không
Trang 37bị gạt bỏ, vùi dập nhưng vẫn dậm chân tại chỗ sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945 thành công…thì giáo dân Việt Nam mới thấy hết được ý nghĩa của Thánh ca bản xứ” [15, 75] Chính lẽ đó mà giai đoạn này là giai đoạn đánh dấu bước ngoặt trong quá phát triển và sáng tác Thánh nhạc Việt với vai trò tiên khởi “lời Ta điệu Ta”, của Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh ra đời vào tháng 7 năm 1945 tại Giáo xứ Sở Kiện, tỉnh Hà Nam, ngay từ ngày đầu hoạt động, Nhạc đoàn đã lấy tôn chỉ: “Phụng sự Thiên Chúa và
Tổ quốc” và với đường lối sáng tác là “Cải lương hình thức, duy trì quốc tính” Và ngay sau đó là sụ hưởng ứng mang tính sáng tác có tổ chức lần lượt được ra đời; đó là những bài Thánh Ca bằng tiếng Việt của Nhạc sĩ Hùng Lân (Phêrô Hoàng Văn Hường), Thiên Phụng (Anrê Trần Quang Phụng), Tâm Bảo, (Giuse Nguyễn Văn Để) Trong những năm 1945 - 1946 có sự tham gia lần lượt của Hoài Đức (linh mục Lê Đức Triệu), Nguyễn Khắc Xuyên, Duy Tân (Trần Duy Tân), Hoài Chiên (Nguyễn Văn Chiên), Hùng Thái Hoan, Vĩnh Phước (Bùi Vĩnh Phước) Ngoài ra, “Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh đã sáng tác tập Cung Thánh gồm hàng trăm bài Thánh Ca Công giáo (1944-1945)
Với nền tảng đó mà vào những năm sau này nền Thánh nhạc Việt Nam đã có bước phát triển đa dạng, phong phú cả về thủ pháp sáng tác đến ngôn ngữ âm nhạc Trước hết, nhìn vào gần 50 Bộ lễ khác nhau do các nhạc sỹ người Công giáo Việt Nam sáng tác, chúng ta thấy ở đó là những bản nhạc tuy phần lớn chưa có cấu trúc và khúc thức của một ca khúc hoàn chỉnh nhưng từ âm hình tiết tấu, âm hạn cho tới cách tiến hành giai điệu đã mang đậm ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam biểu hiện trên mối quan hệ giữa cao độ âm nhạc và thanh dấu trong tiếng Việt Cụ thể trong Bộ lễ Misedicodia (Trần Thiện Thu), Bộ lễ Hồng Ân (2002-2005) (Ngọc Ấn), Bộ lễ Hoa hồng (2 bè, 4 bè của Phanxicô), Bộ lễ Nguyện cầu (Đinh Công Huy), Bộ lễ Ca lê đi (Kim Long), Bộ lễ
Trang 38Vào đời (Nguyễn Văn Tuyên), v.v Từ đặc điểm ngữ âm tiếng Việt là đơn âm đa thanh và sáu dấu, cao độ âm nhạc đã được phát huy và sáng tạo trên điểm tựa đó Thời gian này trong bước tiến hành giai điệu đã xuất hiện nhiều bước nhảy quãng rộng và phong phú Tiết tấu cũng không còn bó hẹp trong phạm vi âm hình nốt trắng (bằng hai nhịp, phân theo 2/4) và nốt đen (một nhịp), mà đã mở rộng nhiều âm hình “chùm”: chùm ba (một nhịp bằng 3 nốt móc đơn), chùm 4 (bằng 4 nốt móc kép); các tiết tấu mang móc kép trước và sau cũng xuất hiện nhiều như Tình yêu nào (Ca Nguyện- Hiệp lễ) của Hùng Lân, Dâng Mẹ (Hôn phối) của Nguyễn Quang Huy, Ai tin ta của Hoàng Phú, v.v…Thủ pháp sáng tác này còn thấy ngay trong nhiều Bộ lễ, như Tuyên xưng đức tin, Lạy Chiên Thiên Chúa, Thánh Thánh Thánh của nhạc sỹ Hồng Lân; và trong
cả sáng tác của các nhạc sỹ Ngọc Ấn, Đinh Công Huy, Kim Long, v.v… Về cấu trúc khúc thức cũng đã được viết theo câu đoạn rõ ràng Có nhiều bài được viết ở thể hai đoạn đơn dạng phát triển như một số bài của nhạc sỹ Trần Duy Tân: Anh em hãy đi, Chúa đã yêu con, Chúa tốt lành (Ca Hiệp lễ Chúa nhật mùa Vọng), Hoàng Phúc với Cho đến muôn đời, Ca ngợi Chúa, v.v Tuy nhiên cũng có rất nhiều bài được viết ở dạng một đoạn từ hai đến ba câu, như Xin Mẹ đoái thương (Cầu cho Giáo hội) hay dạng một đoạn hai câu nhắc lại Đặc biệt, một số Bộ lễ đã được viết cho hợp xướng 4
bè, thể hiện được dấu ấn ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam, tiêu biểu là Bộ lễ Hoa hồng của nhạc sỹ Phanxicô Ở đây, tác giả đã sử dụng kỹ thuật phối bè có tính chuyên nghiệp cao qua thủ pháp nhắc lại giữa các bè (Kinh Thương xót, Lạy chiên Thiên Chúa, Vinh danh, Thánh Thánh Thánh) Tác giả đã làm nổi bật những đặc trưng ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam trên cơ sở phát huy các điểm ngắt, nhấn và ngân dài vào những thanh dấu trong phát âm tiếng Việt Dù rằng, phần lớn những sáng tác Thánh nhạc giai đoạn này
Trang 39chủ yếu được viết trên thang âm của âm nhạc thang bình quân luật của âm nhạc phương Tây
Cùng với những sáng tác dựa trên ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam với thang âm bình quân, các nhạc sỹ Công giáo cũng đã viết nhiều bài mang chất liệu âm nhạc truyền thống, đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt mà theo linh mục nhạc sỹ An tôn Tiến Dũng đã nhận xét : “các cung đọc luôn có ba dấu nhạc gọi là ba dấu trụ Ba dấu trụ thay đổi theo từng miền; dựa trên ba dấu trụ này, nhiều ông "quý chức" (thành viên của Ban Hành giáo hay Hội đồng Mục vụ hôm nay) khi xướng kinh, còn thêm thắt vào đó những dấu nhạc phụ, khiến lối đọc kinh, đọc sách, dâng lời nguyện và xướng đáp trở nên gần với hát dần, ở miền Bắc Việt Nam được hệ thống rất công phu thành ngắm ngồi, ngắm đứng, vãn dâng hoa; ở miền Trung và miền Nam Việt Nam còn hình thành nên những bài hát như Kinh cầu Đức Bà, Kinh cầu Trái tim, Kinh Hồng ân nghe rất hay, hoặc kinh Mừng tuổi Chúa dịp Tết Nguyên đán, vãn Nhơn sao (biến thể của khúc vịnh ca Dân ta ơi) trong ngày Thứ Sáu Tuần thánh”[11; 89] Điều này càng cho thấy trên phương diện âm nhạc và ngôn ngữ, nhiều sáng tác Thánh nhạc Công giáo Việt Nam đã giải quyết được mối quan hệ giữa cao độ âm nhạc với tiếng Việt Ở giai đoạn này, âm nhạc Công giáo đã phát triển tương đối đầy đủ cả về cấu trúc bài bản, giai điệu và thủ pháp sáng tác Các nhạc sỹ không chỉ dựa trên thang âm bình quân luật của phương Tây mà đã phối với đặc điểm ngôn ngữ và chất liệu âm nhạc Việt Nam để xây dựng những âm điệu phù hợp, tạo tiền đề đưa thang 5 âm vào sáng tác ở những giai đoạn sau
Trang 402.1.2 Thánh Ca Công giáo Việt Nam sau thời kỳ Thư Chung 1980 đến nay
Công cuộc cải cách văn hóa âm nhạc Công giáo ở Việt nam diễn ra khá sớm, đặc biệt là sau Công đồng Vatincan II, song qua nghiên cứu cho thấy cuộc chuyển biến này mới thực sự mạnh mẽ sau Thư Chung năm 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam Với phương châm: về nội dung, phụng vụ thiên Chúa và Tổ quốc Về nghệ thuật, lấy dân ca cổ truyền làm cấu trúc âm thanh, âm nhạc Công giáo Việt Nam đã Hội nhập một cách toàn diện với nền cổ nhạc nước nhà và đạt được những thành quả nhất định
Nhìn lại lịch sử, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước tạm thời chia làm hai miền với hai chế độ khác nhau Mặc dù ở miền Nam, dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, Công giáo được coi là tôn giáo chủ lưu song do chiến tranh và bất ổn định chính trị xã hội, vấn đề phát triển âm nhạc Công giáo gặp không ít những khó khăn, thậm chí còn dậm chân tại chỗ Ở miền Bắc, những năm 1960, với nhiều nguyên nhân khác nhau, văn hóa truyền thống, trong đó có những yếu tố văn hóa nghệ thuật tôn giáo bị “lãng quên” Đến những năm 1970, giáo dân trên khắp cả nước, từ tư tưởng nghi ngại đã chuyển sang tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước gắn với các hoạt động ủng hộ Cách mạng Nhiều trí thức và giáo dân Công giáo đã tình nguyện vào chiến trường tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; nhiều làng mạc Công giáo đã là nơi căn
cứ Cách mạng cho quân đội Việt Nam Một bộ phận người Công giáo đã tập trung mọi nguồn lực; sức người, sức của cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, bắt đầu đi vào ổn định, phát triển, nhiều mặt của đời sống xã hội, đời sống tinh thần nói chung dần được chú trọng Đặc biệt đến giai đoạn những năm 1990, văn hóa cổ truyền, trong đó có những yếu tố văn hóa tôn