1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦAG CÔNG TY CPXD VÀ THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP THỦ ĐÔ

20 231 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Kế Toán Của Công Ty CPXD Và Thương Mại Tổng Hợp Thủ Đô
Trường học Trường Đại Học Thủ Đô
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 59,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực trạng công tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CPXD và thương mại tổng hợp Thủ Đô Sau một thời gian thực tập, tìm hiểu công tác quả lý, công tác h

Trang 1

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦAG CÔNG TY CPXD VÀ THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP THỦ ĐÔ

1.1 Đánh giá thực trạng công tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CPXD và thương mại tổng hợp Thủ Đô

Sau một thời gian thực tập, tìm hiểu công tác quả lý, công tác hạch toán của công ty nói chung và công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp của xí nghiệp nói riêng Em xin đưa ra một số nhận xét về thực trạng công tác kế toán chi phí và tính giá thành

sản phẩm xây lắp như sau:

a Những ưu điểm:

Quá trình tìm hiểu thực tế về công tác quản lý, công tác kế toán nói chung và công tác quản lý, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành xây lắp nói riêng ở công ty CPXD và TM tổng hợp Thủ Đô, em nhận thấy công ty là một đơn vị hạch toán kinh tế phụ thuộc Tuy nhiều mặt còn hạn chế nhưng công ty đã xây dựng được một mô hình quản lý và hạch toán khoa học hợp lý, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, chủ động được trong sản xuất kinh doanh, có uy tín trên thị trường trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh và phát triển trong điều kiện hiện nay

* Về công tác tập hợp chi phí:

Nhìn chung công ty tập hợp chi phí đầy đủ các khoản mục chi phí liên quan đến từng công trình, hạng mục công trình như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung Việc tập hợp như thế này làm cho công tác tính giá thành cũng được chính xác hơn và cũng giúp cho kế toán thuận tiện trong việc tập hợp chi phí

Tất cả các chi phí phát sinh cho công trình nào thì được tập hợp cho công trình đó Do

đó cuối kỳ không phải thực hiện phân bổ nhiều nên đã giảm nhẹ được công việc kế toán

* Về tổ chức bộ máy kế toán của xí nghiệp:

Công ty tổ chức bộ máy kế toán tập trung Theo hình thức này công ty dễ dàng quản lý

vì phòng kế toán là ở công ty, còn kế toán công trường chỉ có nhiệm vụ thu thập chứng từ, kiểm tra để định kỳ gửi lên phòng kế toán trung tâm Trong điều kiện có thể thì phòng kế toán trung tâm còn giao cho nhân viên hạch toán thực hiện một số phần công việc hạch toán khác như: Ghi chép các chỉ tiêu cần thống kê, hạch toán một số nghiệp vụ đơn giản, định kỳ lập báo cáo đơn giản gửi về phòng kế toán tập trung Như vậy mô hình tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ và hiệu quả Quy trình làm việc khoa học với nhân viên kế toán có trình độ, có trách nhiệm

* Về áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật:

Trang 2

Với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày càng cao Công ty đã áp dụng kịp thời công nghệ phần mềm máy tính trong công tác hạch toán kế toán Do đó công việc của nhân viên kế toán được giảm nhẹ, dễ theo dõi và tránh được những sai sót

b.Nhược điểm:

Bên cạnh những yêu điểm xí nghiệp không tránh khỏi những tồn tại khó khăn cần khắc phục, nhất là trong việc hạch toán chi phí và giá thành sản phẩm xây lắp Cụ thể:

*Về công tác luân chuyển chứng từ

Theo quy định của bộ tài chính, các nhân viên kế toán công trường phải thu thập và gửi các chứng từ gốc phát sinh ở từng công trình, hạng mục công trình lên phòng kế toán của công ty vào hàng tuần, hoặc hàng tháng, hàng quý Nhưng trên thực tế, việc giao nộp các chứng từ này thường chậm có thể là do nhiều nguyên nhân như: địa điểm công trình ở xa, do thời tiết… nên đã làm ảnh hưởng đến công tác hạch toán Đồng thời ảnh hưởng đến việc kê khai và quyết toán thuế giá trị gia tăng và làm cho việc tập hợp chi phí vất vả không đúng thời điểm phát sinh

* Về sổ sách kế toán

Mặc dù công ty đã thực hiện việc tập hợp chi phí và tính giá thành trên máy vi tính nhưng sổ sách trên máy vẫn chưa đúng với chế độ kế toán do Bộ tài chính ban hành:

VD: Trong sổ nhật ký chung chưa có cột “ Đã ghi sổ cái” và ở sổ cái chưa có cột “ Trang sổ nhật ký chung” Như vậy không theo dõi được kế toán có nhập vào sổ nhật ký chung một cách thường xuyên hay không và hạn chế trong đối chiếu số liệu giữa sổ cái và sổ nhật ký chung

Công ty chưa sử dụng hết các sổ có trong hình thức nhật ký chung như nhật ký thu tiềnC, nhật ký chi tiền

Do đo làm cho công việc nhập số liệu vào sổ cái lớn hơn và phức tạp hơn rất nhiều

* Về công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm:

Mặc dù công ty đã tiến hành hạch toán chi phí sản xuất theo từng khoản mục tuy nhiên việc hạch toán các khoản mục chi phí này chưa hợp lý và còn nhiều thiếu sót gây khó khăn cho công tác tính giá thành sản phẩm Cụ thể:

- Đối với việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: do đặc điểm của ngành xây dựng, của sản phẩm xây dựng việc sử dụng nguyên vật liệu là thường xuyên, khối lượng nguyên vật liệu sử dụng lại rất nhiều, giá cả nguyên vật liệu không đồng bộ và luôn biến động vật liệu cung cấp cho sản xuất thi công theo phương thức dựa trên tiến độ thi công công trình, trên kế hoạch cung ứng vật tư cụ thể cho từng công trình, vật liệu mua về được xuất dùng ngay Nhưng mặt khác mỗi khối lượng thi công xây lắp đều được định mức vật tư cụ thể, định mức này do phòng kế hoạch kỹ thuật lập trên cơ sở các định mức thiết kế công trình và điều kiện thi công từng công trình cụ thể Các công trường lại ở các địa điểm khác nhau, do đó

Trang 3

việc theo dõi vật tư xuất dùng hàng ngày theo từng phiếu xuất vật tư ỏ từng kho công trình gửi lên phòng kế toán là rất khó khăn và phức tạp Do đó vật tư ở các công trường dễ bị mất mát

- Đối với việc hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:

Tại xí nghiệp sử dụng hai tài khoản là 334 “ Phải trả công nhân viên” và TK 338 (8) “ Phải trả, phải nộp khác” để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

TK 334 được áp dụng đối với công nhân trong danh sách, còn TK 338 (8) được áp dụng với những công nhân thuê ngoài có hợp đồng ngắn hạn Việc hạch toán chi phí nhân công như vậy sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì cùng một lúc kế toán phải theo dõi những khoản thanh toán, tạm ứng, những khoản chưa thanh toán của công nhân trên cả hai tài khoản, gây phiền hà cho việc ghi sổ

Hiện tại, ở công ty có sử dụng bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm Tuy nhiên mẫu này là không đúng với quy định của bộ tài chính

Việc trích các khoản bảo hiểm của công ty hiện nay cũng không đúng với quy định của ngành Theo ngành xây dựng, các khoản BHXH,BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, của công nhân sử dụng máy thi công và công nhân sản xuất chung được hạch toán vào TK 627 “ Chi phí sản xuất chung” Tuy nhiên ở xí nghiệp khoản này vẫn được trích vào

TK 622 “ Chi phí nhân công trực tiếp” đối với những công nhân trực tiếp sản xuất và trích vào TK 623 “ Chi phí sử dụng máy thi công” đối với công nhân đội máy, hạch toán vào TK

627 “ Chi phí sản xuất chung” đối với công nhân quản lý đội Như vậy, việc hạch toán này là không đáp ứng được yêu cầu tính đúng, tính đủ chi phí vào giá thành

Tại công ty khi hạch toán chi phí nhân công trực tiếp có tiến hành lập bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm Tuy nhiên bảng này không đúng với quy định của bộ tài chính

- Đối với việc hạch toán chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung: Tại công ty chỉ tiến hành trích khấu hao chi phí tài sản cố định sử dụng cho bộ phận văn phòng công ty mà không tiến hành trích khấu hao tài sản cố định sử dụng ở bộ phận các đội sản xuất

và đội máy Các khoản này được xí nghiệp hạch toán vào TK 623 (4) “ Chi phí sử dụng máy thi công” và TK 627 (7) chi phí dịch vụ mua ngoài Việc hạch toán như vậy sẽ làm cho công tác phân tích chi phí và giá thành sản phẩm gặp rất nhiều khó khăn

1.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp

Với sự phát triển kinh tế không ngừng của đất nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải quan tâm nhiều hơn đến sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh Như vậy vai trò của công tác hạch toán kế toán là rất quan trọng và cần thiết Vì thế, cần phải hoàn thiện công tác kế toán ở mỗi doanh nghiệp nhằm tạo sự thống nhất trong toàn nền kinh tế theo một

hệ kế toán chung Từ năm 2001 các hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam đã lần lượt ban hành và áp dụng vào thực tiễn Điều đó cũng chứng tỏ vai trò to lớn của kế toán trong hoạt

Trang 4

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bộ tài chính luôn luôn phải nghiên cứu đổi mới các chuẩn mực kế toán sao cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế

Kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình tài chính và sự vận động của tài sản nhằm kiểm tra, giám sát, toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp luôn muốn đạt được mức lợi nhuận cao nhất với chi phí thấp nhất, do đó việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là rất quan trọngkhông những đối với những doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng Việc hoàn thiện công tác chi phí xây lắp và tính giá thành sản phẩm xây lắp xuất phát từ những lý do sau:

Ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc thù riêng, sản phẩm mang tính đơn chiếc, thời giant hi công dài…Vì vậy việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm càng hoàn thiện bao nhiêu thì việc quả lý và đầu tư cho ngành càng dễ dàng

và thuận lợi bấy nhiêu Đảm bảo cho việc hạch toán đúng, đủ chính xác các khoản chi phí

Các chuẩn mực kế toán thường xuyên thay đổi và bổ sung, do đó kế toán luôn phải hoàn thiện để phù hợp với chuẩn mực kế toán mới do bộ tài chính ban hành đồng thời cũng phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty

Đối với nền kinh tế thị trường hiện nay, bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào không chỉ riêng mình doanh nghiệp xây lắp hoàn thiện kế toán chi phí và giá thành sản phẩm là tất yếu

1.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty CPXD và thương mại tổng hợp Thủ Đô

Để quản lý công tác hạch toán kế toán nói chung và công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp nói riêng, Công ty phải phát huy điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu Là sinh viên thực tập với kiến thức còn hạn chế và kinh nghiệm thực tế còn chưa nhiều em xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty

* Giải pháp 1: Về hạch toán ban đầu và luân chuyển chứng từ:

Để tập hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh một cách chính xác đầy đủ, kịp thời, công

ty phải yêu cầu các kế toán công trường tập hợp chứng từ đầy đủ và theo định kỳ vào ngày

10, 20, 30 hàng tháng phải gửi về phòng kế toán tập trung Nhưng do số lượng chứng từ phát sinh lớn, công trình lại ở xa nên việc nộp các chứng từ về phòng kế toán thường chậm trễ làm cho công tác hạch toán chi phí và tính giá thành không kịp thời, và công việc phòng kế toán gặp nhiều khó khăn

Do đó công ty nên giao cho nhân viên kế toán công trường làm thêm việc hạch toán đơn giản và định kỳ gửi báo cáo về phòng kế toán công ty

* Giải pháp 2: Về sổ sách kế toán

Trang 5

Để thuận tiện cho việc theo dõi, kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa các sổ một cách khoa học và logic theo em Công ty nên sử dụng mẫu sổ có đầy đủ các cột như sau:

SỔ NHẬT KÝ CHUNG Công ty CPXD và thương mại tổng hợp Thủ Đô

Ngày

ghi sổ

Chứng từ

Diễn giải

Đã ghi sổ cái

SH

TK

Số phát sinh

31/12 KC/CG 31/12

Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu CT Như Quỳnh - HY

x 154

621

2.303.433.740

2.303.433.740

Người lập biểu

(ký, ghi rõ họ tên)

Kế toán trưởng ( Ký, ghi rõ họ tên)

Thủ trưởng đơn vị ( Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)

SỔ CÁI TK621 Công ty CPXD và thương mại tổng hợp Thủ Đô

Ngày

ghi sổ

Chứng từ

Diễn giải

Đã ghi sổ NKC

T K Đ Ư

Số phát sinh

31/12 KC/CG 31/12

Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu CT Như Quỳnh - HY

x

1 5

Trang 6

Người lập biểu

(ký, ghi rõ họ tên)

Kế toán trưởng ( Ký, ghi rõ họ tên)

Thủ trưởng đơn vị ( Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)

* Giải pháp 3: Công tác hạch toán chi phí nguyên vât liệu trực tiếp

- Do đặc điểm của ngành xây dựng, của sản phẩm xây dựng cơ bản nên công ty không

tổ chức kho nguyên vật liệu chung tại công ty mà các kho vật liệu được công ty bố trí tại các công trường, mỗi công trình, hạng mục công trình đều có một kho tương ứng Trong khi đó, công ty lại tổ chức thi công nhiều công trình, hạng mục công trình lớn nhỏ khác nhau, tại các địa điểm khác nhau và nhu cầu sử dụng vật tư tại các công trường đó là thường xuyên Do đó việc theo dõi vật tư, xuất dùng hàng ngày theo từng phiếu xuất vật tư ở từng kho công trình gửi lên phòng kế toán là rất khó khăn và phức tạp Trong điều kiện thực tế hiện nay, nhu cầu

về xây dựng, kiến thiết lại đất nước được tăng lên không ngừng, do đó nhu cầu về vật tư xây dựng cũng vì thế mà tăng lên, giá cả vật tư không đồng bộ, luôn biến động, vật liệu cung cấp cho sản xuất thi công theo phương thức dựa trên tiến độ thi công công trình, trên kế hoạch cung ứng vật tư cụ thể cho từng công trình, vật liệu mua về được xuất dùng ngay Nhưng mặt khác mỗi khối lượng thi công xây lắp đều được định mức vật tư cụ thể, định mức này do phòng kế hoạch kỹ thuật lập trên cơ sở các định mức thiết kế công trình và điều kiện thi công từng công trình cụ thể

Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp phát vật tư cho sản xuất, kiểm tra được

số vật liệu tiêu hao theo định mức, vượt định mức, góp phần kiểm tra được tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất thì công ty nên sử dụng “ Phiếu xuất vật tư theo hạn mức”

Sử dụng “ phiếu xuất vật tư theo hạn mức” sẽ tạo điều kiện theo dõi quản lý chặt chẽ hơn việc xuất vật tư ở từng kho công trình và của kế toán viên phòng kế toán của công ty Mặt khác, nó còn hạn chế được những hao hụt, mất mát vật liệu, nếu có hao hụt, mất mát, thì việc kiểm tra, phát hiện cũng dễ dàng hơn, việc quy trách nhiệm vật chất cho đối tượng liên quan

có cơ sở sát đáng hơn

Ví dụ: Đối với công trình Như Quỳnh – HY có thể sử dụng mẫu phiếu xuất vật tư theo hạn mức như sau:

PHIẾU XUẤT VẬT TƯ THEO HẠN MỨC

Trang 7

T

Tên,

nhãn hiệu

vật t ư

Hạn mức được duyệt

giá Thành tiền

Ngày 8/12

Ngày Cộng

0

Cộng

Người nhận

(ký, ghi họtên)

Phụ trách bộ phận sử

dụng ( ký, ghi rõ họ tên)

Phụ trách cung tiêu ( Ký, ghi rõ họ tên)

Thủ kho (ký, ghi họ tên)

Với giải pháp thứ tư: Nếu được áp dụng em hi vọng rằng sẽ giúp công ty tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp phát vật tư cho sản xuất, kiểm tra được số vật liệu tiêu hao theo định mức, vượt định mức, góp phần kiểm tra được tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất Sử dụng

“ phiếu xuất vật tư theo hạn mức” sẽ tạo điều kiện theo dõi quản lý chặt chẽ hơn việc xuất vật

tư ở từng kho công trình và của kế toán viên phòng kế toán của công ty Mặt khác, nó còn hạn chế được những hao hụt, mất mát vật liệu, nếu có hao hụt, mất mát, thì việc kiểm tra, phát hiện cũng dễ dàng hơn, việc quy trách nhiệm vật chất cho đối tượng liên quan có cơ sở sát đáng hơn

* Giải pháp 4: Về hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

- Hiện nay, ở công ty CPXD và thương mại tổng hợp Thủ Đô sử dụng hai tài khoản

để hạch toán các khoản tiền công, tiền lương của công nhân viên Đó là TK 334 “ Phải trả công nhân viên” và TK 338 (8) “Phải trả phải nộp khác”

TK334 “Phải trả công nhân viên” được áp dụng đối với số công nhân trực tiếp trong danh sách, công nhân gián tiếp đội và bộ máy quản lý công ty

TK338(8) được áp dụng đối với công nhân thuê ngoài Khi nhận được bảng thanh toán khối lượng thuê ngoài của từng công trình kế toán tiến hành vào sổ kế toán theo định khoản:

Nợ TK622 (Chi tiết cho từng công trìnhC)

Có TK 338 (8) chi tiết cho từng công trình)

Trang 8

Việc thanh toán tiền lương cho nhân công thuê ngoài được tiến hành cùng với việc thanh toán tiền lương của nhân công toàn công ty Khi thanh toán kế toán ghi sổ theo định khoản:

Nợ TK111

Có TK338 (8) (chi tiết) Với việc hạch toán như vậy vẫn đảm bảo tính đủ cho chi phí nhân công trực tiếp Nhưng việc hạch toán chi phí nhân công sẽ gặp khó khăn, vì cùng một lúc kế toán phải theo dõi những khoản thanh toán, tạm ứng, những khoản chưa thanh toán cuả công nhân trên cả hai tài khoản, gây phiền hà cho việc ghi sổ Hơn nữa, TK338(8) “Phải trả, phải nộp khác” không chỉ bao gồm khoản phải trả tiền công cho nhân viên mà còn nhiều khoản khác nữa (như phụ phí công trình…)

Do đó để thuận tiện cho việc thanh toán với nhân viên, theo em kế toán nên sử dụng:

TK334(1): đối với nhân công trong danh sách

TK 334(2): đối với công nhân thuê ngoài

Ví dụ đối với công trình Như Quỳnh - HY theo chứng từ tháng 12/2006 nếu áp dụng giải pháp trên thì chi phí nhân công trực tiếp sẽ được hạch toán như sau:

Tiền lương phải trả công nhân viên trong danh sách là: 6.365.000 đồng

Tiền lương thuê ngoài là: 7.500.000 đồng

Như vậy, kế toán sẽ tiến hành vào sổ sách kế toán theo định khoản:

Nợ TK 62201 :13.865.000

Có TK 334 (1) : 6.365.000

Có TK 334 (2) : 7.500.000

(trích) SỔ NHẬT KÝ CHUNG

Ngày 31 tháng 12 năm 2006 Chứng từ

tài khoản

Số phát sinh

116/CG 31/12 Trả lương cho công nhân thi

công công trình Như Quỳnh

- HY

622 334

13.865.00 13.865.000

PC312 31/12 Chi phí tiếp khách 642

111

712.000

712.000

Ngày 31 tháng 12 năm 2006

Trang 9

(Nguồn số liệu: Phòng kế toán tài chính)

(trích) SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN 622

Công trình Như Quỳnh - HY.

Quý IV/2006

Ngày

ghi sổ

Chứng từ

ứng

Số phát sinh

31/12 116/CG 31/12 Trả lương nhân công thi công

CT Như Quỳnh - HY

3341 3342

6.365.000 7.500.000

31/12 KC/CG 31/12 Kết chuyển chi phí nhân công

trực tiếp Quý IV /2006

Tổng phát sinh: 734.663.724

- Theo chế độ quy định của ngành thì chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ trích trên tiền lương của nhân công trực tiếp, của nhân công điều khiển máy thi công được hạch toán vào chi phí sản xuất chung (TK627) Nhưng thực tế ở công ty, khoản mục chi phí này không được hạch toán vào chi phí sản xuất chung mà lại được hạch toán vào chi phí nhân công trực tiếp (đối với khoản BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất) và chi phí sử dụng máy thi công (đối với khoản BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân điều kiển máy thi công) theo định khoản

Nợ TK 622, 623

Có TK338 (3381, 3382, 3383) Cũng giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công là những khoản mục chi phí trực tiếp cùng với chi phí sản xuất chung cấu thành nên giá thành sản xuất của sản phẩm Cho nên khi chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công tăng lên thì chi phí sản xuất chung lại giảm đi tương ứng, nó không làm ảnh hưởng gì đến giá trị giá thành sản xuất xây lắp, nhưng nó làm ảnh hưởng đến kết cấu giá thành công tác xây lắp, tỷ trọng của những khoản mục này sẽ thay đổi Như vậy, xí nghiệp đã không thực hiện được yêu cầu tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm xây lắp theo từng khoản mục, hạn chế và gây nhiều khó khăn cho việc phân tích giá thành và các khoản mục chi phí

Cụ thể dựa vào bảng trích nộp bảo hiểm quý IV /2006 của Công trình Cầu Giấy kế toán tổng hợp được số BH tính vào giá thành là 4.004.801 đồng Trong đó BHXH, BHYT KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất là 1.211.772 đồng, của công nhân điều kiển máy là 1.390.732 đồng, của công nhân quản lý công trình là 1.402.297 đồng Như vậy theo cách hạch toán của xí nghiệp đã làm cho chi phí sản xuất chung giảm đi và làm cho chi phí nhân công trực tiếp tăng lên là 1.211.772 đồng và chi phí sử dụng máy thi công tăng lên là 1.390.732 đồng

Trang 10

Nếu công ty sử dụng giải pháp này điều chỉnh việc hạch toán sao cho các khoản mục chi phí được tính đúng, tính đủ vào giá thành công tác xây lắp, thì các khoản mục chi phí sẽ được điều chỉnh lại như sau:

STT Chi phí Theo cách hạch toáncũ Theo cách áp dụnggiải pháp

- Các khoản trích theo lương 1.402.297 4.004.801

Cụ thể các khoản mục chi phí của công trình Như Quỳnh – HY trong quý IV /2006 sẽ được điều chỉnh lại như sau:

- Chi phí nhân công trực tiếp theo hạch toán công trình Như Quỳnh – HY quý IV /2006 của công ty là: 734.633.724đồng và được điều chỉnh lại là 733.421.952 đồng

- Chi phí sử dụng máy thi công công trình Như Quỳnh – HY quý IV /2006 của công ty là: 84.991.772 đồng được điều chỉnh lại là 83.601.040 đồng

- Chi phí sản xuất chung theo hạch toán công trình Như Quỳnh – HY quý IV /2006 của công ty là: 30.273.986 đồng Được điều chỉnh lại là 32.876.490 đồng

- Các khoản trích BSHYT, BHXH, KPCĐ vào giá thành công trình Như Quỳnh – HY quý IV /2006 phải được ghi sổ theo định khoản:

Nợ TK 627 : 4.004.801

Có TK 338 : 4.004.801

Và sổ chi tiết của công trình Như Quỳnh – HY trước khi điều chỉnh là

SỔ CHI TIẾT TK 154

Công trình Như Quỳnh – HY

Quý IV/2006

Chứng từ

Diễn giải

Tài khoản đối ứng

Số tiền

31/12 K/C chi phí NVL trực tiếp 621 2303.403.740

31/12 K/C CP nhân công 622 734.663.724

Ngày đăng: 31/10/2013, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦAG CÔNG TY CPXD VÀ THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP THỦ ĐÔ
BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM (Trang 12)
BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦAG CÔNG TY CPXD VÀ THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP THỦ ĐÔ
BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM (Trang 13)
BẢNG KÊ CHI PHÍ SẢN XUẤT THÁNG 10/2006 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦAG CÔNG TY CPXD VÀ THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP THỦ ĐÔ
10 2006 (Trang 16)
BẢNG KÊ CHI PHÍ SẢN XUÂT THÁNG 11/2006 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦAG CÔNG TY CPXD VÀ THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP THỦ ĐÔ
11 2006 (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w