1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

Tiến bộ khoa học và nhân quyền: Quan điểm và những nỗ lực của liên hợp quốc

14 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 435,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền này có thể bị ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực bởi tiến bộ khoa học về sinh học, y học….và công nghệ (công nghệ gen, công nghệ hạt nhân, vv) mà có thể xác định hoặc ảnh hưở[r]

Trang 1

TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ NHÂN QUYỀN:

PGS.TS Vũ Công Giao * – Đoàn Văn Nhật *

1 Khái quát cách tiếp cận và lịch sử phát triển của pháp luật quốc tế về mối quan hệ giữa tiến bộ khoa học và nhân quyền

Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập, các chuẩn mực nhân quyền bắt đầu được ghi nhận và áp dụng rộng rãi trên thế giới Những văn kiện quốc tế chứa đựng những chuẩn mực này lần lượt được Liên hợp quốc thông qua, bao gồm Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (UDHR) năm 1948, tiếp theo là Công ước về quyền Dân sự, Chính trị (ICCPR) và Công ước về quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hóa (ICESCR), rồi sau đó là những công ước khác như Công ước về phòng ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc; Công ước chống tra tấn hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục…

Năm 1968 được Liên hợp quốc lấy là Năm Quốc tế về Nhân quyền và cũng

là năm diễn ra Hội nghị Thế giới về Nhân quyền lần thứ nhất tại Tehran (I-ran) Hội

nghị đã chỉ ra rằng: “Kể từ khi Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn Quốc tế về

Nhân quyền, đã có những tiến bộ đáng kể trong việc xác định các chuẩn mực để hưởng thụ và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người Trong giai đoạn này, đã có những biện pháp bảo đảm được áp dụng, nhưng vẫn còn những vấn đề

Tại Hội nghị Tehran, Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) đã đề xuất với Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc221 về việc xây dựng một cơ chế quốc tế để xử lý các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng Đáp ứng đề xuất đó, vào năm 1966, Uỷ ban đã thành lập một Tiểu ban Ngăn ngừa và Bảo vệ người thiểu số, còn ECOSOC đã thông qua các Nghị quyết 1235 (XLII), Nghị quyết

728 F (XXVIII) và Nghị quyết 1503 (XLVIII) nhằm tạo cơ chế để Ủy ban nhân quyền và Tiểu ban thực hiện các biện pháp điều tra các vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng trên thế giới Hội nghị Tehran cũng nhấn mạnh vấn đề bảo vệ nhân quyền trong bối cảnh quan hệ giữa các quốc gia Bắc – Nam (cách chia thành nhóm nước phát triển và nhóm nước đang phát triển) nhằm thực hiện một nghị quyết được

thông qua tại Hội nghị trong đó kêu gọi các nước phát triển “tạo điều kiện chuyển

https://www.aaas.org/sites/default/files/SRHRL/PDF/IHRDArticle15/Proclamation_of_Teheran_Eng.pdf

Human Rights Council)

Trang 2

giao đầy đủ các nguồn lực và công nghệ phát triển cho các nước đang phát triển”

và “dành ra ít nhất một phần trăm tổng sản phẩm quốc gia của họ để viện trợ cho

các nước đang phát triển với các điều khoản công bằng”

Tuy nhiên, quan trọng hơn, ngay từ Hội nghị Tehran đã đặt ra câu hỏi về sự tác động của những phát triển khoa học và công nghệ đối với nhân quyền Tuyên bố

của Hội nghị này đã nêu rằng: “Những khám phá khoa học và công nghệ gần đây

đã mở ra triển vọng lớn cho tiến bộ kinh tế, xã hội và văn hóa Song bên cạnh đó,

nó có thể gây nguy hại cho các quyền tự do cá nhân, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu liên ngành, toàn diện ở cả cấp quốc gia và quốc tế” 222 Hội nghị nêu ra 4 vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong lĩnh vực này, đó là223:

1 Tôn trọng sự riêng tư trong việc xem xét cho phép các kỹ thuật ghi âm;

2 Bảo vệ phẩm giá và tính toàn vẹn về thể chất và trí tuệ con người trong việc xem xét cho phép áp dụng những tiến bộ của sinh học, y học, và hóa sinh

3 Ảnh hưởng của việc sử dụng các thiết bị điện tử đến quyền con người và

sự cần thiết phải giới hạn việc sử dụng các thiết bị điện tử trong xã hội dân chủ

4 Sự cần thiết của việc thiết lập sự cân bằng giữa tiến bộ khoa học và công nghệ với sự tiến bộ về trí tuệ, tinh thần, văn hóa và đạo đức của nhân loại

Sau đó, cũng trong năm 1968, Đại hội đồng Liên hợp quốc, dựa trên sáng kiến của Hội nghị Tehran, đã thông qua một nghị quyết yêu cầu Tổng Thư ký Liên hợp quốc tổ chức nghiên cứu những ảnh hưởng đến nhân quyền phát sinh từ sự phát triển khoa học và công nghệ, trong đó đặc biệt là tham chiếu đến các lĩnh vực đã được quan tâm ở Hội nghị

Kể từ đầu thế kỷ 20, nhân loại đã chứng kiến những thay đổi lớn về khoa học

và công nghệ và tác động rất mạnh mẽ của chúng đến đời sống con người và tiến bộ

xã hội Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của khoa học và công nghệ đối với nhân quyền chưa thực sự được quan tâm ở Liên Hợp Quốc cho đến năm 1968 Điều này chủ yếu

là bởi những lý do chính trị liên quan đến cuộc đối đầu giữa các khối nước Bắc – Nam và Đông – Tây trong diễn đàn Liên hợp quốc, mà có xu hướng loại trừ vấn đề nhân quyền ra khỏi các chương trình nghị sự Đa số các nước đang phát triển ở Liên hợp quốc đánh giá rằng sự phát triển của khoa học và công nghệ không phải là vấn

đề cần quan tâm ngay lập tức Trong bối cảnh các chính sách của Liên hợp quốc, những quốc gia này có xu hướng không ủng hộ một chương trình nghị sự mà không liên quan trực tiếp đến lợi ích ưu tiên của họ Trong khi đó, cuộc đối đầu Đông – Tây diễn ra chủ yếu giữa các nước công nghiệp phát triển Các nước phương Tây lo lắng rằng nếu không thúc đẩy các biện pháp để đảm bảo sự tôn trọng quyền riêng tư

Trang 3

và bảo vệ nhân phẩm của con người thì các quyền này sẽ bị vi phạm do việc áp dụng những tiến bộ trong sinh học, y học và hóa sinh Chính vì vậy, tại Liên hợp quốc, các nước phương Tây chỉ trích các nước XHCN (phương Đông) đã sử dụng

sự phát triển của khoa học và công nghệ để kiểm soát người dân Tác phẩm “Big Brother” của George Orwell được các nước phương Tây xem như là lời nhắc nhở về những hậu quả của việc sử dụng sự phát triển khoa học và công nghệ bởi các chính phủ độc tài224

Mặc dù vậy, trong giai đoạn 1971-1976, một số báo cáo nghiên cứu có nội dung liên quan đến sự phát triển khoa học và công nghệ và nhân quyền đã được Tổng thư ký và các cơ quan chuyên môn chuẩn bị đệ trình Đại hội đồng và Ủy ban Nhân quyền xem xét Các báo cáo này nghiên cứu những nội dung như: tôn trọng quyền riêng tư của cá nhân và sự toàn vẹn về chủ quyền của các quốc gia dưới sự phát triển tiến bộ trong việc ghi âm và các kỹ thuật khác; ảnh hưởng của việc sử dụng thiết bị điện tử đến hệ thống dữ liệu trên máy tính và khả năng giao tiếp điện tử; tiến bộ trong sinh học, y học, và hóa sinh, như thụ tinh nhân tạo, thuốc hướng thần và hóa chất được đưa vào sản xuất, đóng gói, bảo quản thực phẩm; sử dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để cải thiện chất lượng thực phẩm, nhà ở và công việc; các tác động có hại của tự động hóa và cơ giới hóa sản xuất, sự suy giảm môi trường sống của con người và sức mạnh hủy diệt của vũ khí hiện đại Năm 1975, Liên Hợp Quốc triệu tập một cuộc họp gồm một nhóm các nhà khoa học để thảo luận về sự cần thiết thiết lập sự cân bằng giữa phát triển khoa học và công nghệ với

sự tiến bộ về trí tuệ, tinh thần, văn hóa và đạo đức của nhân loại Kết quả của hội nghị được tổng hợp trong một báo cáo của Tổng thư ký Báo cáo này đã đặt câu hỏi

về tầm quan trọng của một loạt vấn đề nhân quyền trong thế giới đương đại Báo cáo nhận định rằng, bất kỳ nỗ lực nào nhằm thiết lập tiêu chuẩn về nhân quyền trong phát triển khoa học và công nghệ sẽ đòi hỏi cả sự cam kết cũng như khả năng của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc

Năm 1974, Liên Xô cũ, cùng với Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungary, Ba Lan (các nước XHCN trước đây) và một số quốc gia khác, đã trình bày một bản dự thảo

về việc sử dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vì hòa bình và lợi ích của nhân loại

5 năm sau, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua “Tuyên bố về việc sử dụng

Tuyên bố này không theo cách tiếp cận đã đề cập trong Tuyên bố Tehran năm 1968

về vấn đề nhân quyền và phát triển khoa học, công nghệ Cụ thể, nội dung chính của Tuyên bố liệt kê các nghĩa vụ với các quốc gia chứ không nhằm vào sự bảo vệ với

Benefit of Mankind, tại

https://www.ohchr.org/EN/ProfessionalInterest/Pages/ScientificAndTechnologicalProgress.aspx

Trang 4

các cá nhân Tuyên bố cho rằng tất cả các quốc gia phải bảo đảm kết quả của phát

triển khoa học và công nghệ được sử dụng “vì lợi ích của việc tăng cường hòa bình

và an ninh quốc tế, tự do và độc lập, cũng như cho mục đích phát triển kinh tế và xã hội của người dân”, đồng thời đều phải “cấm mọi hành vi liên quan đến việc sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào mục đích vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác, can thiệp vào công việc nội bộ của họ, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc hay theo đuổi một chính sách phân biệt chủng tộc”

Trong hơn một thập kỷ tiếp theo, cuộc tranh luận ở diễn đàn Liên Hợp Quốc

về mối quan hệ giữa nhân quyền và sự phát triển khoa học và công nghệ tiếp tục bị

chi phối bởi cuộc đối đầu Đông – Tây Tập trung vào “quyền sống”, các nước

XHCN nhấn mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ cần phải nhằm mục đích

bảo vệ hòa bình và loại trừ vũ khí giết người hàng loạt, và xem đó là “nhu cầu cấp

thiết cho mọi nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm tăng cường hòa bình, loại bỏ các mối đe dọa chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hạt nhân, ngăn chặn và loại trừ hoàn toàn cuộc chạy đua vũ trang, đặt dưới sự kiểm soát quốc tế hiệu quả, và ngăn chặn vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia và quyền dân tộc tự quyết” Chỉ thông qua những nỗ

lực nêu trên thì “quyền được sống” mới được bảo đảm Tuy nhiên, các nước phương

Tây thì tiếp cận vấn đề nhân quyền và phát triển khoa học và công nghệ theo phương pháp chính trị Vì vậy, tại phiên họp thứ 33 năm 1977, Ủy ban Nhân quyền

đã thông qua nghị quyết do Vương quốc Anh đề xuất trong đó yêu cầu Tiểu ban

nghiên cứu “xây dựng các hướng dẫn, câu hỏi về việc bảo vệ những người bị giam

giữ trên cơ sở sức khỏe tâm thần để chống lại việc điều trị có thể ảnh hưởng xấu đến nhân cách con người và tính toàn vẹn về thể chất và trí tuệ con người” Lý do

là các nước phương Tây đã tập trung nghiên cứu về quyền con người của những người bất đồng quan điểm chính trị tại Liên Xô, những người được cho là bị quản lí trong các cơ sở tâm thần Năm 1980, Bà Erica - Daes được bổ nhiệm làm báo cáo viên đặc biệt về vấn đề này

Mặc dù các cuộc tranh luận tại Liên Hợp Quốc về vấn đề bảo vệ người mắc bệnh tâm thần hoặc những người bị rối loạn tâm thần bị chi phối mạnh mẽ bởi các quan điểm chính trị giữa hai khối nước Đông – Tây, nhưng tính chất của nghiên cứu được thực hiện bởi báo cáo viên đặc biệt Erica - Daes là nhằm giải quyết các vấn đề

trên cơ sở nguyên tắc về sự liên quan phổ quát Nghiên cứu chỉ ra rằng “sự tiến bộ

về công nghệ y tế và tâm lý trị liệu trong một số trường hợp có thể là mối đe dọa đối với tính toàn vẹn về thể chất và trí tuệ của cá nhân” cộng với đó “sản phẩm, phương pháp khoa học và công nghệ đã bị lạm dụng ở một số quốc gia đặc biệt

Trang 5

trong việc điều trị những người bị giam giữ trên cơ sở rối loạn tâm thần”.226 Báo cáo đề xuất những nguyên tắc, hướng dẫn và bảo đảm theo các khía cạnh pháp lý, y

tế, kinh tế và xã hội liên quan đến việc nhập viện, quản lí, điều trị, xuất viện và phục hồi chức năng của bệnh nhân Các chính phủ được mong đợi bảo đảm sự phù hợp giữa luật pháp quốc gia đối với các nguyên tắc, hướng dẫn và bảo đảm được đề xuất trong báo cáo, mà được coi là tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về bảo vệ bệnh nhân tâm thần227 Báo cáo này đã gây ra sự quan tâm trên toàn thế giới về việc bảo vệ các quyền của bệnh nhân tâm thần Ở một số quốc gia như Nhật Bản, các điều khoản liên quan đến việc nhập viện của bệnh nhân tâm thần đã được sửa đổi để phù hợp hơn với các tiêu chuẩn do Liên hợp quốc quy định

Năm 1977, Ủy ban Nhân quyền đã yêu cầu Tiểu ban thực hiện một nghiên cứu thứ hai về các hướng dẫn có liên quan trong lĩnh vực hồ sơ cá nhân hóa máy vi tính – là chủ đề bắt nguồn từ Hội nghị Tehran năm 1968 Một báo cáo đã được

Tổng thư ký chuẩn bị và công bố vào năm 1973 liên quan đến “tôn trọng quyền

riêng tư của cá nhân và sự toàn vẹn chủ quyền của các quốc gia trong sự tiến bộ về ghi âm và các kỹ thuật khác”228 Báo cáo nhận định rằng “trong khi việc sử dụng thủ

công các tệp dữ liệu cá nhân (hoặc bằng một máy vi tính đã được vi tính hóa) dẫn đến một nguy cơ rõ ràng về sự vi phạm quyền riêng tư của cá nhân, có những trường hợp ngược lại, việc sử dụng các tệp đó sẽ giúp để thúc đẩy việc hưởng thụ hiệu quả các quyền con người nhất định” 229 và đề xuất thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu về vấn đề này trong luật pháp quốc gia và quốc tế230

Hai nghiên cứu nêu trên cho thấy rõ ràng là việc bảo đảm quyền con người ít nhiều bị ảnh hưởng bởi sự phát triển khoa học và công nghệ Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn khá hạn chế xét cả về phạm vi và cách thức khảo sát Vì vậy, năm

1983, Ủy ban Nhân quyền đã đề nghị các quốc gia thành viên và tổ chức quốc tế

tiếp tục nghiên cứu “về những cách thức và phương tiện phù hợp nhất để sử dụng

kết quả của những tiến bộ khoa học và công nghệ cho việc thúc đẩy và thực hiện quyền con người và quyền tự do cơ bản” Đề xuất của đại diện Nhật Bản về:

“Những tác động tích cực và tiêu cực của khoa học và công nghệ về nhân quyền là

hai mặt của cùng một đồng tiền phải được nắm trong bối cảnh tổng thể của chúng”

đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi, vì quan điểm chứa đựng trong đề xuất này đã thoát khỏi xu hướng trước đó mà hầu như chỉ tập trung vào những tác động tiêu cực

Detained on Grounds of Mental Ill-Health or Suffering from Mental Disorder, U.N.Doc E.85.XIV.9 (1986) Tại http://hrlibrary.umn.edu/demo/subcom.html

http://archive.unu.edu/unupress/unupbooks/uu06he/uu06he03.htm#introduction:%20united%20nations% 20approaches%20to%20human%20rights%20and%20scientific%20and%20techn

Trang 6

của phát triển khoa học và công nghệ với nhân quyền Kể từ đó vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu và học thuật Dự

án về Nhân quyền và Phát triển Khoa học Công nghệ được thiết lập bởi Đại học Liên Hợp Quốc là một minh chứng cho việc này

Thực tế cho thấy tuy các quyền kinh tế và xã hội bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi

sự phát triển của khoa học và công nghệ nhưng không dễ dàng thiết lập các tiêu chí chung để kiểm tra, đánh giá Trong các quyền của nhóm này, các quyền giáo dục, y

tế và quyền môi trường có thể xem là chịu tác động nổi bật Những tiến bộ trong khoa học và công nghệ có ảnh hưởng tích cực của khoa học công nghệ đến giáo dục thông qua việc phổ biến thông tin; đến quyền về y tế thông qua thúc đẩy chăm sóc sức khỏe toàn cầu, đến quyền môi trường thông qua việc bảo đảm nước sạch Tuy nhiên, khoa học và công nghệ cũng gây ra những tác động có hại đến các quyền này khi y học cải biến hay tạo ra con người thông qua kỹ thuật di truyền, chất thải công nghiệp phá hủy môi trường sống

Cho đến nay, nhiều tác động tiêu cực của khoa học và công nghệ với nhân quyền đã được phát hiện và nhiều biện pháp bảo vệ đã được một số quốc gia áp dụng, song việc thiết lập một tiêu chuẩn chung về nhân quyền trong bối cảnh phát triển khoa học và công nghệ vẫn đang trong quá trình thảo luận Kể từ thập kỷ

1990, các cuộc đối đầu chính trị tại Liên hợp quốc phần nào giảm bớt, tạo điều kiện cho tổ chức này đi đầu trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về vấn đề thiết lập các tiêu chuẩn về nhân quyền thực sự mang ý nghĩa toàn cầu, trong đó bao gồm các tiêu chuẩn liên quan đến sự phát triển của khoa học, công nghệ mà đang diễn ra ngày càng nhanh trên thế giới

2 Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và nhân quyền

Theo một chuyên gia, việc xác định những rủi ro có thể xảy ra và các cơ hội với nhân quyền nảy sinh từ sự phát triển của khoa học công nghệ mới cần xuất phát từ hai quan điểm cơ bản: (i) tác động của làn sóng mới về phát triển xã hội chỉ có thể được đánh giá đúng trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng của thế giới hiện tại; (ii) đặc tính của tác động xã hội không chỉ được xác định bởi bản chất của khoa học công nghệ mà còn chủ yếu là bởi chiến lược kinh tế xã hội được áp dụng để kết hợp chúng.231

Liên quan đến cuộc khủng hoảng của thế giới hiện tại, lý thuyết của Kondratiev232 và Schumpeter233 đề cập đến chu kỳ kinh tế như là một hiện tượng tái

http://archive.unu.edu/unupress/unupbooks/uu06he/uu06he05.htm

Dmitriyevich Kondratiev (1892 - 1938) - một nhà kinh tế học người Nga Lý thuyết này còn được gọi dưới những cái tên như Kondratiev Waves, hay Grand Supercycles

Trang 7

diễn theo thời gian để dự đoán sự thay đổi của cuộc khủng hoảng hiện tại trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lên đến đỉnh điểm vào những năm 1930234

Theo quan điểm của Amilcar O Herrera, các yếu tố chính tác động đến thế giới kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay đó là235:

Sự xuất hiện của thế giới thứ ba

Vào những năm 1930, thế giới về cơ bản bao gồm các quốc gia châu Âu,

Mỹ, Canada và Nhật Bản và một nhóm lớn các quốc gia nghèo (thế giới thứ ba) – nhóm nước ít có cơ hội tham gia vào cấu trúc quyền lực của thế giới, mà vai trò kinh tế về cơ bản là xuất khẩu nguyên liệu thô và nhập khẩu các sản phẩm của các cường quốc công nghiệp

Nhưng kể từ sau thế chiến thứ Hai, thế giới thứ ba dần trở thành nhóm các nước ngày càng có ảnh hưởng lớn trong đời sống chính trị quốc tế Một số sự kiện chính trị quan trọng nhất của thế kỷ này như cuộc cách mạng Trung Quốc và Cuba,

và chiến tranh Việt Nam Bên cạnh đó, khu vực Trung Mỹ và Trung Đông cũng là hai ví dụ về việc thế giới thứ ba có thể trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến cơ cấu quyền lực thế giới Từ quan điểm về mặt kinh tế, thế giới thứ ba cũng là một sự hiện diện không thể bỏ qua, trong đó bao gồm cả những vấn đề tích cực và tiêu cực, chẳng hạn như các món nợ nước ngoài khổng lồ của các nước đang phát triển là một trong những yếu tố quyết định tương lai của hệ thống tài chính quốc tế

Sự xuất hiện của hệ thống các nước XHCN

Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô là quốc gia duy nhất đi theo con đường XHCN tương đối biệt lập và có ít ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh thế giới và cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, sau khi kết thúc thế chiến thứ hai, khối XHCN ở châu Âu, Trung Quốc và một số quốc gia nhỏ hơn như Cuba, Ethiopia, Việt Nam… đã hình thành và trở thành một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của hệ thống quốc tế Ảnh hưởng của hệ thống XHCN đã từng rất lớn mạnh, kể cả trong các lĩnh vực chính trị, quân sự và kinh tế, cho đến khi bị sụp đổ vào cuối thập kỷ 1990

Sự khủng hoảng của thế giới phương Tây

Khoảng hai đến ba thập kỷ sau sự sụp đổ của hệ thống XHCN, đã có quan điểm cho rằng quá trình thống nhất thế giới đang được các cường quốc phương Tây

tăng tốc nhanh chóng, có nghĩa là “Tây phương hóa thế giới” Sự ảnh hưởng đến

hầu hết thế giới, và đi liền với đó là sự chuyển giao thành tựu khoa học công nghệ

nổi bật vai trò của nhà doanh nghiệp, người cũng tin rằng chủ nghĩa tư bản sẽ bị tiêu vong

Trang 8

về cơ bản là một chiều, và sự khuếch tán của các giá trị dân chủ phương Tây dường như sắp xóa bỏ hoàn toàn thành tựu của các nền văn hóa khác

Tuy nhiên, quá trình trên dường như đang bắt đầu thay đổi, trước hết là vì bản thân thế giới phương Tây bắt đầu có những nghi ngờ, bối rối ngày càng tăng về tính hợp lý của quan niệm về sự phát triển của riêng mình và trong việc tìm kiếm các giải pháp thay thế Cộng với đó là việc các quốc gia phương Tây ngày càng nhận ra rằng các nền văn hóa khác cũng có thể đóng góp vào một tầm nhìn tích cực hơn, ít ảnh hưởng tiêu cực hơn đối với thế giới Trong thực tế, các nền văn hóa khác

đã bắt đầu khẳng định bản sắc riêng của họ và từ chối một khái niệm phát triển được cho là độc nhất mà không tính đến những giá trị văn hóa của riêng họ

Làn sóng sáng tạo mới

Kể từ cuối thế kỷ 20, những cải tiến mới trong một số lĩnh vực như công nghệ điện tử, công nghệ sinh học, vật liệu, năng lượng… ngày càng nhanh và mạnh,

mang tính chất của một “làn sóng” và tạo thành một khuynh hướng được ghép nối thành một “cụm mô hình công nghệ” mà trong đó yếu tố trung tâm là các thiết bị

điện tử vi mô

Đặc điểm nổi trội của làn sóng mới là chú trọng hơn vào việc tổ chức sản xuất, quá trình lao động và phân công lao động xã hội, so với đặc điểm trước đây là

hệ thống sản xuất Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, với làn sóng hiện đại về đổi mới công nghệ và sự xuất hiện của giai cấp vô sản, đã củng cố nền kinh tế tư bản và thay đổi xã hội phương Tây Các cuộc cách mạng công nghệ tiếp theo đã thay đổi toàn bộ cấu trúc của hệ thống sản xuất, nhưng không thay đổi một cách đáng kể cấu trúc của xã hội tư bản Dù vậy, làn sóng mới này sẽ ảnh hưởng đến cơ

sở của xã hội công nghiệp, như có thể thấy được bằng cách xem xét một thời gian ngắn quá trình tự động hoá và robot hóa

Trong tất cả các xã hội hiện đại, việc tiếp cận với hàng hóa và dịch vụ được điều chỉnh bởi tiền lương theo nghĩa rộng nhất - tiền công lao động dưới bất kỳ hình thức nào của nó Nhưng trong tương lai, vai trò trung tâm của tiền lương sẽ ngày càng giảm, trước hết là do một trong những hậu quả của tự động hóa - loại bỏ hầu hết các công việc không yêu cầu kỹ năng hoặc sáng tạo; thứ hai là bởi việc tham gia trực tiếp vào hệ thống sản xuất sẽ trở thành một phần nhỏ trong tổng số hoạt động của con người, và do đó tầm quan trọng của tiền lương là yếu tố quyết định trong phân phối

hàng hóa và dịch vụ sẽ giảm đi đáng kể Việc chuyển đổi sang “chế độ sản xuất mới”

chắc chắn sẽ mất một thời gian để hoàn thành - theo thứ tự của một hoặc hai thế hệ - nhưng những hiệu ứng đầu tiên của nó đã có xảy ra ở hầu như mọi quốc gia

Cùng với việc làm cho vấn đề thất nghiệp gia tăng, tiến bộ của khoa học

công nghệ sẽ giúp các quốc gia “trả lương” cho người thất nghiệp thông qua các

Trang 9

dịch vụ an sinh xã hội Đáp ứng phi thể chế là sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành dịch vụ, và cái gọi là khu vực phi chính thức của nền kinh tế Hầu hết các

công nhân “chuyển giao” từ ngành công nghiệp sang lĩnh vực dịch vụ Ví dụ, ở Hoa

Kỳ, các công việc trong các nhà hàng, quán cà phê, và các loại việc làm tương tự,

đã tăng lên rất nhanh so với trước đây Khu vực phi chính thức của nền kinh tế bao gồm một tỷ lệ cao các công nhân độc lập tham gia một cách mềm dẻo vào hệ thống sản xuất có nguy cơ bị tước đoạt bất kỳ loại bảo trợ xã hội nào, cho dù từ chính phủ hay công đoàn Ở Tây Âu, có nghiên cứu ước tính ít nhất 25% người lao động hoạt động kinh tế bị thất nghiệp hoặc hầu như không còn việc làm trong khu vực phi chính thức dẫn đến bị thiệt thòi về mặt xã hội Vì vậy, hậu quả của tình trạng thất nghiệp mà xét về cấu trúc - là một đặc điểm của các nước kém phát triển - hiện đang xuất hiện ở các nước phát triển Sự khác biệt chính là các nước tiên tiến có thể

đủ khả năng bảo vệ kinh tế cao hơn nhiều cho người thất nghiệp, nhưng hiện tượng

xã hội hóa về cơ bản là như nhau

Có những lĩnh vực khác chịu sự tác động của tiến bộ khoa học công nghệ mới Tuy nhiên, điểm nổi bật tập trung vào quá trình tự động hóa và robot hóa Đây

là lĩnh vực tạo ra sự tác động xã hội quan trọng nhất và tiêu biểu nhất khi xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển công nghệ mới và quyền con người

Giới hạn môi trường

Quan điểm cho rằng tài nguyên thiên nhiên và môi trường tạo thành giới hạn tuyệt đối cho tăng trưởng kinh tế được hình thành trong những năm 1960 Hiện tại cộng đồng quốc tế đã nhận thức rõ ràng rằng việc tiêu thụ nguyên liệu không thể là

vô thời hạn do phải tính đến các hiệu ứng tiêu cực của nó mà cụ thể là tạo nên trạng thái mất cân bằng của sinh quyển

Tuy nhiên, các biện pháp giải quyết vấn đề còn chưa đạt đến mức quyết liệt, các chính sách liên quan đến môi trường vẫn còn thiếu triệt để Đã có một lượng thông tin khổng lồ được tích lũy bởi các tổ chức trong nước và quốc tế về tác hại và

về các phương tiện hiện đại để xử lý vấn đề tài nguyên môi trường, tuy nhiên, có lẽ chưa bao giờ có sự mâu thuẫn lớn như hiện nay giữa tương lai được tiên đoán và các biện pháp được thực hiện để đối phó hợp lý với nguồn tài nguyên có giới hạn Nhân loại đã nhận thức được rằng các nguồn tài nguyên của trái đất là hữu hạn nhưng vẫn đang sử dụng chúng một cách vô độ cho mục đích tăng trưởng kinh tế, coi nó là thuốc chữa cho tất cả các bệnh xã hội và kinh tế của các quốc gia

Hệ thống hạt nhân hủy diệt

Tất cả các yếu tố của cuộc khủng hoảng được đề cập ở trên hàm ý khả năng xung đột Hình thức và phạm vi của những xung đột đó được điều chỉnh bởi thực tế rằng hiện tại ngày càng nhiều quốc gia, thậm chí sẽ có các chủ thể không phải là

Trang 10

quốc gia, có khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân để huỷ diệt một phần hoặc toàn bộ nhân loại

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong những năm 1930 kết thúc thực chất không phải do việc áp dụng các biện pháp kinh tế kiểu Keynes; mà là do hệ quả của Chiến tranh thế giới thứ hai Một cuộc chiến tranh thế giới tiếp theo cũng có thể giúp chấm dứt cuộc khủng hoảng kinh tế mới của thế giới, nhưng đồng thời cũng sẽ dẫn đến sự hủy diệt của toàn nhân loại và phần lớn sinh quyển

mà chúng ta đang sống

Các yếu tố nêu trên đều có tác động tạo ra cuộc khủng hoảng của thế giới hiện đại Hai yếu tố cuối cùng là sự giới hạn môi trường và hệ thống hạt nhân hủy diệt cho thấy cuộc khủng hoảng này không có tiền lệ Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân loại có thể bị phá hủy bởi những hành động của chính mình Có thể nói rằng nền văn minh của nhân loại đã trở nên rối loạn chức năng theo nghĩa là nó không còn có thể phản ứng một cách hợp lý với các vấn đề được tạo ra bởi sự tiến hóa của chính nó Nhân loại đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng toàn cầu – mà tính phức tạp rất lớn và chưa từng có tiền lệ, chủ yếu là do sự phát triển nhanh chóng nhưng rất khó kiểm soát của khoa học công nghệ Nhân loại đang ở trong một tình huống vô cùng rủi ro, đang đối mặt với một tương lai bấp bênh, rất khó dự đoán Giải pháp duy nhất cho tình trạng khó khăn hiện nay đó là xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển toàn cầu và ở mỗi quốc gia mà trong đó các tiến bộ của khoa học công nghệ cần phải được kiểm soát để bảo đảm sự hài hoà với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế

3 Các quyền con người chịu ảnh hưởng nhiều nhất của tiến bộ khoa học, công nghệ

Trong số các quyền con người được liệt kê trong UDHR, các quyền sau đây chịu ảnh hưởng đặc biệt bởi tiến bộ khoa học và công nghệ:

- Quyền sống (Điều 3 UDHR) Quyền này có thể bị ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực bởi tiến bộ khoa học về sinh học, y học….và công nghệ (công nghệ gen, công nghệ hạt nhân, vv) mà có thể xác định hoặc ảnh hưởng đến sự sinh và tử Các vấn đề đang đặt ra trên thế giới liên quan đến phá thai, thụ tinh trong ống nghiệm, ghép phôi, kỹ thuật gây mê, thuốc chưa được kiểm chứng, là những ví dụ tiêu biểu

về việc này

- Quyền toàn vẹn về thể chất và tinh thần (Điều 5 UDHR quy định rằng không ai phải chịu sự tra tấn hoặc đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, hoặc hạ nhục) Quyền này có thể chịu ảnh hưởng tiêu cực từ việc sử dụng thuốc và các biện pháp kiểm tra hóa học về trí óc, thể chất và tâm lý, và liệu pháp hành vi được sử dụng trong thẩm vấn

Ngày đăng: 05/02/2021, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w