Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người một cách toàn diện, công bằng, Hiến pháp năm 2013 ngoài việc quy định quyền bào chữa của bị can, bị cáo, đã bổ sung việc bảo đảm quyền bảo [r]
Trang 1THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRONG HIẾN PHÁP 2013
PGS TS Nguyễn Ngọc Chí Khoa Luật ĐHQGHN
1 Đặt vấn đề
Tòa án nhân dân (TAND) là một thiết chế hiến định ở Việt Nam kể từ thời lập quốc (1945)233 Điều đó cho thấy tầm quan trọng của tòa án trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước và đời sống xã hội của quốc gia Việc đánh giá hiệu quả hoạt động (hay thi hành các quy định) về tòa án là một yêu cầu thường xuyên tại nhiều quốc gia cũng như các thiết chế tố tụng quốc tế Ở Việt Nam, bên cạnh các cơ chế đánh giá nội bộ và chuyên ngành, một cách đánh giá vĩ mô hơn dựa trên đánh giá thi hành các quy định của hiến pháp và pháp luật cũng thường nhận được sự quan tâm Hiến pháp 2013 đã trải qua 05 năm thi hành trên thực tế Theo thông lệ của Việt Nam, khoảng thời gian này tương đương với một nhiệm kỳ hoạt động của một thiết chế công quyền Như vậy, việc đánh giá thi hành các quy định trong hiến pháp
tại thời điểm này là cần thiết, đáp ứng được hai mục đích sau: một là, xem xét tác động của hiến pháp lên đời sống xã hội nói chung; hai là, tác động của các thiết chế hiến định trong
một nhiệm kỳ nói riêng Bài viết này tập trung vào đánh giá thi hành các quy định về tòa án nhân dân trong Hiến pháp 2013, bao gồm một số nội dung như: (i) Xác định các tiêu chí đánh giá thi hành quy định về tòa án trong hiến pháp; (ii) Đánh giá thi hành các quy định căn
cứ trên các tiêu chí trên, bao gồm: vị trí, chức năng của tòa án; tổ chức tòa án và các nguyên tắc hoạt động của tòa án Giới hạn của bài viết là đánh giá chủ yếu thông qua hoạt động luật hóa các quy định của hiến pháp mà chưa có các đánh giá tác động trên thực tế dựa trên các
đo lường khảo sát, do nguồn lực không cho phép và trong khuôn khổ một bài viết
2 Tiêu chí đánh giá thi hành quy định về tòa án trong hiến pháp năm 2013
2.1 Về vị trí, chức năng của tòa án
Trong hệ thống tư pháp, tòa án giữ vị trí trung tâm.234 Vị trí trung tâm của tòa án có được là do chức năng xét xử là chức năng duy nhất thuộc về tòa án (Điều 102 Hiến pháp 2013)235 Để đảm bảo thực hiện chức năng đó, tòa án phải được thoát khỏi vai trò là một phía buộc tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Một chủ thể tố tụng chỉ được thực hiện một chức năng tố tụng và việc phân định chức năng của các chủ thể tố tụng, đặc biệt là giữa các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải rành mạch, rõ ràng Tòa án trong tố tụng (tranh tụng) chỉ thực hiện chức năng xét xử trong phạm vi và mức độ buộc tội theo nguyên lý
“nemo judex sine actore” (không có xét xử nếu không bên nguyên).236 Để trở thành trung tâm trong hoạt động tố tụng, việc xét xử của tòa án cần thực sự tạo ra tự do tranh luận, tự do trình bày quan điểm, chứng cứ của các bên: bên buộc tội và bên gỡ tội Tòa án là chủ thể trung tâm của hoạt động xét xử theo nghĩa tạo mọi điều kiện cho những hoạt động tố tụng nói trên Yếu tố vô tư, khách quan không chỉ dừng lại từ cá nhân của mỗi thẩm phán, mà cần được nhìn nhận như một thuộc tính vốn có của tòa án Tòa án cần xác lập vai trò điều hành, kiểm soát quá trình tranh luận nhằm tạo điều kiện để các bên thực hiện được chức năng tố tụng,
233 Được quy định tại các Chương 6 Hiến pháp 1946, Chương 8 Hiến pháp 1959, Chương 10 Hiến pháp 1980, Chương 10 Hiến pháp 1992, Chương 8 Hiến pháp 2013
234 Ở Việt Nam, cách hiểu phổ biến cho rằng hệ thống tư pháp bao gồm Cơ quan xét xử, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án
235 Tất cả các hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) đều qui định chức năng xét xử là chức năng duy nhất thuộc về tòa án
236 Tham khảo: Đào Trí Úc, “Quyền tư pháp trong cơ chế quyền lực nhà nước theo Hiến pháp 2013”, Bình luận khoa
học Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb Lao động – Xã hội, 2014, tr 481.
Trang 2bảo vệ được quan điểm và thực hiện quyền tự định đoạt việc sử dụng các khả năng tố tụng và
tự do trong chứng minh
2.2 Về tổ chức tòa án
Là bộ phận cấu thành bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nên TAND cũng được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung của việc tổ chức, hoạt động bộ máy nhà nước như: Đảng lãnh đạo, tập trung dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, toà án là cơ quan tài phán, có vị trí đặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước Hoạt động của TAND có những nét đặc thù so với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, nên các TAND được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc riêng dựa trên nền tảng các nguyên tắc chung có giá trị cho tất cả các cơ quan nhà nước như đã nói ở trên, chẳng hạn nguyên tắc độc lập xét xử hoặc nguyên tắc giám đốc xét xử của tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của tòa án cấp dưới Đây là những nguyên tắc tổ chức phổ biến tại các nền tư pháp xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam
2.3 Về nguyên tắc hoạt động của tòa án
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là quan điểm chính của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp chế là yêu cầu khách quan trong việc tổ chức, hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) và trong quá trình vận động, nhà nước luôn luôn đòi hỏi phải tăng cường pháp chế, do đó, pháp chế là nguyên tắc hiến định ở Việt Nam Điều 8 Hiến
pháp năm 2013 qui định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp
luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật” Nguyên tắc này xuất từ yêu cầu của thể
chế tập quyền XHCN đòi hỏi phải có sự điều chỉnh pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời là điều kiện căn bản, hàng đầu đối với việc bảo đảm tính tổ chức, kỷ luật, ổn định, thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước Chỉ trong điều kiện
đó, bộ máy nhà nước mới có khả năng thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình Mặt khác, sự tuân thủ tự giác, triệt để pháp luật của các cơ quan trong bộ máy nhà nước sẽ góp phần làm cho pháp luật đi vào cuộc sống, bảo đảm cho xã hội phát triển Dưới khía cạnh này
thì “Pháp chế là sự tự giác, triệt để tuân thủ pháp luật trong hoạt động của cơ quan nhà
nước, nhân viên nhà nước, tổ chức và mọi công dân trong xã hội”237
Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Quyền con người là giá trị cao quý, là thành quả đấu tranh chung, là kết tinh của nền văn minh nhân loại song cũng là một vấn đề phức tạp trong khoa học và trong thực tiễn bảo đảm quyền con người Ở bình diện khái quát nhất, quyền con người trong tố tụng
được thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thông qua việc xử lý người xâm hại, gây ra những
thiệt hại cho các quyền con người của các cơ quan tiến hành tố tụng góp phần bảo vệ quyền con người Đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con người, lợi ích hợp pháp của công dân khỏi sự xâm hại của hành vi phạm pháp là một trong những chức năng của nhà nước và trách nhiệm quan trọng của các cơ quan tiến hành tố tụng (trọng tâm là tòa
án) Thứ hai, khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người của người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo Các cơ quan tiến hành tố tụng không được lợi dụng quyền tiến hành tố tụng giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền của những người nêu trên238 Đồng thời, pháp luật
tố tụng còn quy định chặt chẽ các trình tự, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án của tòa án
237 Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình lý luận chung về nhà nước pháp luật, Nhà xuất bản Đại học tổng hợp, Hà Nội,
1993, tr 354
238 Xem: Lê Văn Cảm - Nguyễn Ngọc Chí, Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong
giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đề tài cấp Đại học Quốc gia, mã số QL 04.03, năm 2006
Trang 3các cấp nhằm bảo đảm quyền con người, ngăn ngừa tránh sự lợi dụng của người và cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
“Bình đẳng trước pháp luật” là tư tưởng nền tảng về quyền con người và được coi như một trong nguyên tắc cơ bản của luật nhân quyền quốc tế, do đó, nó được qui định trong các các văn kiện quốc tế về quyền con người Quyền bình đẳng trước pháp luật, bao gồm ba khía cạnh liên kết với nhau mà đôi khi được đề cập đến như các quyền hàm chứa
(Unenumerated rights), đó là: (i) quyền không bị phân biệt đối xử, (ii) quyền được thừa nhận
tư cách con người trước pháp luật , và (iii) có vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng 239 Những khía cạnh này của quyền bình đẳng trước pháp luật được trực tiếp ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế như: Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc (Điều 7) và sau này được qui định tương ứng tại Điều 26 Công ước về các quyền chính trị, dân sự của Liên hợp quốc năm 1966 Hiến pháp
2013 đã nội luật hóa tinh thần của các văn kiện quốc tế, bằng qui định “Mọi người đều bình
đẳng trước pháp luật” và “không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16) làm cơ sở cho cho việc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp
luật ở các lĩnh vực của đời sống xã hội
Nguyên tắc suy đoán vô tội
Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc được qui định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế như: Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, Qui chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế và trong luật tố tụng hình sự phần lớn các quốc gia Nguyên tắc này ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước tư sản nhằm đề cao quyền con người cũng như bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự Triết lý hình thành nguyên tắc này trong hệ thống
pháp luật xuất phát từ nhận thức “Nhà nước không khi nào được coi con người là phương
tiện để đạt mục đích, mà ngược lại phải coi con người là mục đích cần đạt tới”240 và do vậy nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng của con người bằng cách xây dựng một “hành lang pháp lý” ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực nhà nước của các nhân viên công quyền xâm hại tới lợi ích công dân Theo triết lý này, một người khi chưa bị kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án thì họ không bị đối xử như người phạm tội, các quyền con người của họ vẫn phải được tôn trọng và các cơ quan tiến hành tố tụng không
được định kiến đối với họ trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Sự thật vụ án là đích mà bất kỳ mô hình tố tụng nào cũng cần hướng tới, cho dù là mô hình tố tụng tranh tụng hay mô hình tố tụng thẩm vấn Tuy nhiên, cách thức đi đến sự thật vụ
án cũng như trách nhiệm chứng minh sự thật lại khác nhau ở mỗi mô hình tố tụng và trong luật tố tụng mỗi quốc gia Nếu như mô hình tố tụng tranh tụng cho rằng sự thật sẽ được làm
rõ qua tranh tụng tự do, cởi mở giữa các bên buộc tội và bên gỡ tội trên cơ sở các nguyên tắc chủ đạo là tự định đoạt của các bên, nguyên tắc hợp lí, suy đoán vô tội, xác định sự thật hình thức (sự thật của tòa án) thì mô hình tố tụng thẩm vấn lại cho rằng thẩm phán giữ vai trò trung tâm trong quá trình xem xét, đánh giá các dữ kiện làm căn cứ để xác định sự thật vụ án
Do đó, sự thật vụ án có thể và phải được tìm ra trong quá trình thẩm vấn, điều tra nên cần sự hiện diện các nguyên tắc công tố (nguyên tắc về trách nhiệm khởi tố), nguyên tắc pháp chế (hợp pháp), nguyên tắc suy đoán có tội và nguyên tắc về xác định sự thật khách quan (xác định chân lí vật chất)
239 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb ĐHQG Hà Nội,
2011, tr 154
240 Dẫn lại: Nguyễn Ngọc Chí, Giáo trình các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, Hà Nội, 2018.
Trang 4Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Bào chữa là một trong các quyền con người có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền được xét xử công bằng, là công cụ pháp lý của người bị cáo buộc phạm tội để có thể đối trọng với bên buộc tội khi tranh tụng trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự Quyền bào chữa với nội dung bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị buộc tội trước các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, thông qua đó làm cho vụ án được giải quyết khách quan, công bằng
Theo Từ điển luật học thì: “Bào chữa là việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo”241 Tuy nhiên, nội hàm này còn hẹp so với qui định của pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam, chưa phản ánh hết các lĩnh vực thể hiện của
quyền bào chữa trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự Theo đó, “Quyền bào chữa là tổng
hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ
sở phù hợp với qui định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của
cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hính sự của mình trong
vụ án hình sự”242 Khái niệm này đã chỉ ra chủ thể của quyền bào chữa là người bị cáo buộc phạm tội, bao gồm: Người bị giữ khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự Họ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, có quyền thu thập, đưa ra chứng cứ và quyền đưa các lý lẽ, yêu cầu chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện
và bảo đảm để người bị buộc tội thực hiện các quyền này theo qui định của pháp luật trong
quá trình tiến hành tố tụng Do vậy, quyền bào chữa được coi là một chuẩn mực bắt buộc (jus
cogens) của quyền được xét xử công bằng243
3 Đánh giá thi hành các quy định về tòa án nhân dân trong Hiến pháp 2013
3.1 Thi hành các quy định về vị trí, chức năng của tòa án nhân dân trong Hiến pháp 2013
3.1.1 Vị trí của tòa án nhân dân theo quy định của Hiến pháp 2013
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ nhiệm vụ của cải cách tư pháp là bảo đảm để toà án là trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm Trong số các quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp thì quan điểm và chủ trương đề cao vai trò của toà
án trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là quan điểm mang tính đột phá Theo đó, về mặt nhận thức cũng như quá trình tổ chức thực tiễn và xây dựng, hoàn thiện pháp luật, phải bảo đảm để toà án thực sự đóng vai trò là trung tâm của hệ thống
tư pháp và hoạt động xét xử của toà án là hoạt động trọng tâm của hoạt động tố tụng Như vậy, khâu đầu tiên trong các nỗ lực này là vấn đề nhận thức, trên cơ sở đó mà triển khai các giải pháp tổ chức, hoạt động thực tiễn và hoàn thiện pháp luật Thực tiễn triển khai cải cách
tư pháp những năm qua, kể từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW cho thấy rằng, mặc dù đã đạt được nhận thức chung về vị trí, vai trò của toà án trong hệ thống tư pháp vẫn chưa có những chuyển biến đáng kể trong thực tiễn Tình hình này có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết
là nhận thức lý luận về “khâu trung tâm” của hệ thống tư pháp Từ đó cho thấy đang thiếu những cơ sở pháp lý nhằm chuyển hoá ý chí và nhận thức, thành những cơ chế pháp lý,
241 Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lí (2006), Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, tr 33
242 Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội, Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự; Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội, tr 115
243 Chương trình phát triển Liên hợp quốc (2010), Báo cáo quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại
Việt Nam, Hà Nội, tr 8.
Trang 5những bảo đảm về chức năng, thẩm quyền, về tổ chức cán bộ nhằm làm cho toà án thực sự đóng vai trò là trung tâm và hoạt động xét xử thực sự là hoạt động trọng tâm.244
Vị trí đặc biệt của toà án cũng xuất phát từ việc bảo đảm một quyền quan trọng của
bị can, bị cáo với tính cách là quyền con người về dân sự Nhìn rộng ra, Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị 1966 xác định, trong quá trình tiến hành tố tụng,
bị cáo cần “phải được xét xử nếu không có lý do chính đáng để tri hoãn”, được sớm đưa ra
toà án hoặc cơ quan pháp luật có thẩm quyền tiến hành tố tụng và phải được xét xử trong
thời hạn hợp lý hoặc trả tự do “Bất cứ người nào do bị bắt hoặc bị giam giữ mà bị tước tự
do đều có quyền yêu cầu xét xử trước toà án nhằm mục đích để Toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và trả lại tự do nếu việc giam giữ là trái pháp luật” “Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự hoặc xác định quyền và nghĩa vụ của người
đó trong tố tụng dân sự”.245
Vị trí đặc biệt của toà án cũng thể hiện ở chỗ toà án đưa ra phán quyết nhân danh Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền sửa bản án, hủy bản án chỉ thuộc về tòa
án thuộc cấp xét xử cao hơn (phúc thẩm, giám đốc thẩm) và phải dựa trên những căn cứ, theo những trình tự do pháp luật quy định Thẩm quyền đó không thể thuộc về một cơ quan nào khác ngoài các tòa án cấp cao hơn Bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án của tòa án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó (Điều 106 Hiến pháp năm 2013)
Như vậy, địa vị pháp lý hiến định của tòa án là điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện trên thực tế vai trò và vị trí hiến định của tòa án bởi một lẽ đơn giản là tòa án chỉ có thể hoàn thành được sứ mệnh là cán cân công lý, là chỗ dựa đáng tin cậy của người dân khi vị trí hiến định đó được bảo đảm bởi những quy định chặt chẽ và đầy đủ
3.1.2 Chức năng của tòa án nhân dân theo quy định của Hiến pháp 2013
Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Như vậy, cơ sở pháp lý cao nhất đã có sự
ghi nhận chính thức về chức năng thực hiện quyền tư pháp của tòa án Theo GS.TSKH Đào Trí Úc, quyền tư pháp chính là quyền xét xử và chủ thể của quyền tư pháp chính là các tòa
án.246 Tuy nhiên, cần phân biệt giữa quyền tư pháp với phạm vi của quyền tư pháp và những chủ thể hoạt động trong phạm vi đó Ở Việt Nam, các chủ thể này là Viện kiểm sát nhân dân,
Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án Tuy rằng có sự khác nhau về vị trí, chức năng và tổ chức, phương thức hoạt động của tòa án, viện kiểm sát đều có những nhiệm vụ chung như: bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tổ chức và nhà nước (các Điều 102 và Điều 107 Hiến pháp 2013) Do vậy, cùng với TAND (chủ thể chính của quyền tư pháp), Viện kiểm sát nhân dân cũng có thể được xác định là chủ thể tham gia thực hiện quyền tư pháp
Quyền tư pháp là quyền xét xử, nhưng phạm vi triển khai quyền xét xử bao gồm từ khởi đầu vụ án cho đến khi thi hành xong bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án Điều này có ý nghĩa định hướng quan trọng không chỉ đối với việc nhận thức chung
về quyền tư pháp, mà còn có ý nghĩa đối với những vấn đề như: phạm vi và mức độ của
244 Tham khảo: Đào Trí Úc, Xác định tòa án có vị trí trung tâm, xét xử là hoạt động trọng tâm, nguồn:
http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/276 (truy cập lần cuối: 20/9/2018)
245 Các Điều 9.1; 92; 9.3; 14.1
246 Đào Trí Úc, “Quyền tư pháp trong cơ chế quyền lực nhà nước theo Hiến pháp 2013”, Bình luận khoa học Hiến
pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb Lao động – Xã hội, 2014, tr 476.
Trang 6nguyên tắc tranh tụng (chỉ tồn tại ở phiên tòa, khi xét xử trước tòa án hay liên quan đến cả hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố); tính chất và hoạt động thi hành án và quản lý thi hành
án Đây là những vấn đề chưa được hiểu thống nhất trong quá trình thi hành các quy định của hiến pháp và luật liên quan đến tòa án Hiệu lực và hiệu quả của hoạt động thi hành án cũng phụ thuộc vào sự liên hệ tất yếu của hoạt động đó với tòa án và vai trò kiểm tra, theo dõi của tòa án đối với bản án đã được tuyên bởi tòa án
3.2 Thi hành các quy định về tổ chức của tòa án nhân dân trong Hiến pháp 2013
3.2.1 Về tổ chức bộ máy của các Tòa án nhân dân
Ngày 28/7/2010, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 79-KL/TW về “Đề án đổi mới tổ
chức và hoạt động của Tòa án, Viện Kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Trong đó, xác định
phương hướng tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm bốn (04) cấp là Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao Tòa án sơ thẩm khu vực không phụ thuộc vào địa giới hành chính, xét xử hầu hết các loại vụ án theo pháp luật về tố tụng; Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm các bản án đối với các bản án
sơ thẩm của Tòa án sơ thẩm khu vực mà chưa có hiệu lực pháp luật, bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án nhân dân cấp cao xét xử các vụ án phúc thẩm các bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm đối với các Tòa án cấp dưới (Tòa án khu vực và Tòa án nhân dân cấp tỉnh); còn Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ kiểm tra, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, phát triển án lệ, hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử.247
Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao
và các Tòa án khác do luật định” Trên cơ sở đó, Luật tổ chức TAND năm 2014 đã tiến
hành luật hóa hiến pháp và thể chế hóa nội dung các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp Theo đó, tổ chức TAND 04 cấp bao gồm: TAND tối cao; các TAND cấp cao; các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
và tương đương; các Toà án quân sự (quy định tại Điều 3 Luật tổ chức TAND năm 2014) Tổ chức bộ máy của các Toà án được quy định theo hướng chuyên môn hoá nhưng linh hoạt, tránh cồng kềnh, gây tốn kém, lãng phí
Về Tòa án nhân dân tối cao
Theo Luật tổ chức TAND năm 2014, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tối cao theo hướng tinh gọn với Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có từ 13 đến 17 thẩm phán TAND tối cao TAND tối cao không thực hiện nhiệm vụ xét xử phúc thẩm mà chỉ thực hiện nhiệm vụ giám đốc việc xét xử của các tòa án khác; xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng hội đồng xét xử gồm năm (05) thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Thẩm phán TAND tối cao; tổng kết thực tiễn xét xử; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; quản
lý các toà án về tổ chức; xây dựng pháp luật theo sự phân công của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; bổ sung nhiệm vụ đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ thẩm phán, hội thẩm và các chức danh khác của tòa án Đồng thời, để cụ
thể hóa quy định tại khoản 1 Điều 104 của Hiến pháp về việc: “TAND tối cao là cơ quan xét
xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, tại khoản 4 Điều 22 của Luật tổ
chức TAND năm 2014 quy định: “Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm
phán TAND tối cao là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị”
247 Thái Minh Sơn, Những điểm mới trong chế định tòa án nhân dân trong Hiến pháp 2013, Thái Minh Sơn, Tạp chí
SV & Khoa Học Pháp Lý: http://web.hcmulaw.edu.vn/doantruong/index.php/ho-tro-sinh-vien/khac/70-sv-khpl-nh-ng-di-m-m-i-trong-ch-d-nh-toa-an-nhan-dan-trong-hi-n-phap-2013 (Ngày đăng: 21/12/2015; Truy cập lần cuối: 17/9/2018)
Trang 7Bên cạnh đó, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có nhiệm vụ lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ
để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử Việc bổ sung nhiệm vụ lựa chọn, phát triển
và ban hành án lệ của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao sẽ đáp ứng yêu cầu phải kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác xét xử, khắc phục tình trạng quá tải và chậm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật Hơn nữa, việc công bố án lệ sẽ giúp người dân nắm rõ đường lối xét xử, dự báo được kết quả những vụ việc có liên quan đến quyền và lợi ích của họ Về phía tòa án, tham khảo án lệ, phân tích thiếu sót trong những vụ
án xét xử trước đó cũng sẽ giúp thẩm phán rút kinh nghiệm, hạn chế việc kết án oan, sai Với việc lựa chọn, ban hành án lệ, xác định trách nhiệm của thẩm phán và hội đồng xét xử phải nghiên cứu, làm theo, chắc chắn sẽ có hiệu quả rất lớn trong việc hạn chế đến mức thấp nhất các vụ việc xét xử oan, sai, hạn chế việc “lách luật” do tiêu cực của những người tiến hành tố tụng, luật sư và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và do đó về mặt xã hội, việc xây dựng và phát triển án lệ là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo đảm công lý, góp phần duy trì, ổn định trật tự pháp luật trong đời sống xã hội
Về Tòa án nhân dân cấp cao
TAND cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của toà án thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị bằng hội đồng ba (03) thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp cao
Về cơ cấu tổ chức, TAND cấp cao gồm: Uỷ ban Thẩm phán (gồm chánh án, các phó chánh án là thẩm phán cao cấp và một số thẩm phán cao cấp do Chánh án TAND tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án TAND cấp cao), các tòa chuyên trách và bộ máy giúp việc Trong đó, Uỷ ban Thẩm phán giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị bằng hội đồng ba (03) thẩm phán hoặc hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp cao theo quy định của pháp luật tố tụng Các toà chuyên trách xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật có kháng cáo, kháng nghị Bên cạnh các loại tòa chuyên trách hiện có trong cơ cấu tổ chức của TAND như tòa hình sự, tòa dân sự, tòa hành chính, tòa kinh tế, tòa lao động, Luật
tổ chức TAND năm 2014 bổ sung tòa gia đình và người chưa thành niên để giải quyết các vụ việc có liên quan đến người chưa thành niên Trường hợp do nhu cầu công tác, cần thành lập thêm tòa án chuyên trách khác trong TAND cấp cao thì Chánh án TAND tối cao đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định
Về Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của TAND sơ thẩm thuộc địa hạt của tỉnh; không thực hiện nhiệm
vụ giám đốc thẩm, tái thẩm Về cơ cấu tổ chức, tại mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh có một TAND cấp tỉnh như hiện nay Bên cạnh đó, tương tự như đối với tổ chức bộ máy của TAND cấp cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các tòa chuyên trách bao gồm: tòa hình sự, tòa dân sự, tòa hành chính, tòa kinh tế, tòa lao động, tòa gia đình và người chưa thành niên Việc thành lập các tòa chuyên trách ở từng TAND cấp tỉnh do Chánh án TAND tối cao quyết định Trường hợp do nhu cầu công tác, cần thành lập thêm tòa chuyên trách
Trang 8khác trong TAND cấp tỉnh thì Chánh án TAND tối cao đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định
Về Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương
TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có nhiệm vụ, quyền hạn xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền của toà án (như hiện nay)
và giải quyết các loại việc khác theo quy định của pháp luật (như xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND)
Về cơ cấu tổ chức, tương tự như cơ cấu tổ chức của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có thể có các tòa chuyên trách bao gồm: tòa hình sự, tòa dân sự, tòa gia đình và người chưa thành niên, toà
xử lý hành chính Việc thành lập các tòa chuyên trách ở TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương phải tùy thuộc vào quy mô về công việc và đội ngũ thẩm phán, công chức của từng đơn vị tòa án Ở những đơn vị có số lượng công việc lớn, biên chế nhiều thì có thể thành lập tòa chuyên trách Việc thành lập tòa chuyên trách cụ thể nào trong
số các toà chuyên trách nêu trên ở mỗi TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương do Chánh án TAND tối cao quyết định
Về Tòa án quân sự
Theo quy định tại Điều 49 của Luật tổ chức TAND năm 2014 thì các toà án quân sự được tổ chức trong Quân đội Nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật Về cơ bản, nội dung các quy định
về tổ chức của tòa án quân sự được kế thừa từ các quy định hiện hành, nhưng được chỉnh lý
và cơ cấu lại để bảo đảm tính hợp lý và khoa học
3.2.2 Về tổ chức xét xử
Thẩm phán
Khoản 3 Điều 105 Hiến pháp 2013 quy định: “Việc bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn nhiệm,
cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán và việc bầu, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định” Quy
định này của Hiến pháp 2013 bao hàm những nội dung mới so với Hiến pháp năm 1992 như sau:
(i) Về thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm phán, Hiến pháp 2013 quy định việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức Thẩm phán TAND tối cao, thẩm phán khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước; đối với việc bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc cách chức Thẩm phán TAND tối cao có sự phê chuẩn của Quốc hội Ý nghĩa lý luận của quy định này nhằm đề cao địa vị pháp lý của thẩm phán, đặc biệt là địa vị pháp lý của Thẩm phán TAND tối cao Bởi vì, chính đội ngũ thẩm phán là những người trực tiếp giải quyết, xét xử các loại vụ án và thực hiện quyền tư pháp Chất lượng giải quyết, xét xử và thực hiện quyền tư pháp của các thẩm phán là biểu hiện của nền công lý của quốc gia Do đó, họ được xã hội thừa nhận có địa vị pháp lý cao và được tôn trọng là phù hợp với tiến bộ xã hội và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế Ý nghĩa thực tiễn của quy định này là nhằm xác định vị trí của thẩm phán không phụ thuộc vào địa phương nào, đảm bảo hoạt động của thẩm phán nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đối với Thẩm phán TAND tối cao thì với quy định của hiến pháp nêu trên bao hàm ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi vì, Thẩm phán TAND tối cao sẽ có số lượng hạn chế so với số lượng Thẩm phán TAND tối cao hiện nay.248 Thẩm phán TAND tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm và được Quốc hội phê chuẩn Thủ tục này tương tự như thủ tục bổ
248 Có thể khoảng không được 17 người, thay vì số lượng 120 người như hiện nay
Trang 9nhiệm, phê chuẩn các thành viên Chính phủ Do vậy, Thẩm phán TAND tối cao phải là những người ưu tú nhất trong hệ thống tòa án và cơ quan tư pháp, có nhiều kinh nghiệm trong công tác giải quyết xét xử các loại vụ án, có uy tín cao trong các cơ quan tư pháp và trong xã hội, họ thực sự là biểu tượng của công lý của Nhà nước
(ii) Đối với các quy định về ngạch thẩm phán, tiêu chuẩn thẩm phán, quy trình tuyển chọn, nhiệm kỳ thẩm phán, mặc dù Hiến pháp 2013 không nêu nhưng với ý nghĩa thẩm phán
do Chủ tịch nước bổ nhiệm, vì vậy những nội dung nêu trên cũng đòi hỏi phải có những đổi mới theo hướng:
Về ngạch thẩm phán, theo quy định cũ thì có ba (03) ngạch thẩm phán là Thẩm phán
TAND tối cao, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp Thực tiễn hoạt động của tòa án cho thấy, quy định này có nhiều bất cập trong tổ chức thực hiện việc bổ nhiệm, điều động thẩm phán cũng như trong hoạt động xét xử khi phân công Thẩm phán sơ cấp ở các tòa án trong hệ thống tòa án Vì vậy, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán và phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức TAND năm 2014 đã bổ sung những quy định tiêu chuẩn, điều kiện và trình tự, thủ tục bổ nhiệm Thẩm phán với nhiều nội dung mới Trong đó, thẩm phán được phân định theo 04 ngạch gồm: (1) Thẩm phán TAND tối cao, (2) Thẩm phán cao cấp, (3) Thẩm phán trung cấp, (4) Thẩm phán sơ cấp.Cùng với việc nâng cao các tiêu chuẩn, điều kiện để bổ nhiệm thẩm phán, Luật tổ chức TAND năm 2014 cũng quy định
về việc nhà nước có chính sách ưu tiên đối với thẩm phán nhằm góp phần bảo đảm cho thẩm phán yên tâm công tác, xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Về tiêu chuẩn thẩm phán, cũng phải sửa đổi theo hướng nâng cao tiêu chuẩn và phải
qua kỳ thi tuyển chọn thẩm phán quốc gia Tiêu chuẩn thẩm phán gồm các tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức, nghiệp vụ, thời gian làm việc Với quy định về tiêu chuẩn như vậy và qua kỳ thi tuyển chọn quốc gia, có lẽ nguồn tuyển chọn thẩm phán nên được mở rộng hơn so với hiện nay
Về quy trình tuyển chọn thẩm phán, xuất phát từ mục đích thẩm phán là của không
phụ thuộc vào địa phương, do đó việc thi tuyển, tuyển chọn phải do Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán quốc gia, thay thế cac Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như hiện nay Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán quốc gia có trách nhiệm tuyển chọn thẩm phán để trình Chủ tịch nước bổ nhiệm, đối với Thẩm phán TAND tối cao, Hội đồng này có trách nhiệm giới thiệu và tư vấn với Chủ tịch nước để Chủ tịch nước giới thiệu trước Quốc hội và căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán TAND tối cao
Về nhiệm kỳ thẩm phán, thẩm phán là chức danh nghiệp vụ, không phải là chức vụ
lãnh đạo quản lý, nên việc gắn nhiệm kỳ cho chức danh thẩm phán phát sinh rất nhiều bất cập trong thực tiễn hoạt động của thẩm phán Chính vì vậy, nhiệm kỳ của thẩm phán nên chỉ
có trong thời kỳ đầu khi mới được bổ nhiệm thẩm phán, cụ thể là nhiệm kỳ đầu tiên của thẩm phán là 5 năm tính từ ngày được Chủ tịch mới bổ nhiệm Trong trường hợp được bổ nhiệm lại làm thẩm phán thì không nên có nhiệm kỳ mà làm thẩm phán cho đến khi nghỉ hưu, trừ trường hợp bị cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm thẩm phán Đối với Thẩm phán TAND tối cao không có nhiệm kỳ, nghĩa là khi được Chủ tịch nước bổ nhiệm, Quốc hội phê chuẩn thì Thẩm phán TAND tối cao làm việc cho đến khi nghỉ hưu
Về độ tuổi làm việc của thẩm phán, Luật Tổ chức TAND 2014 nên có quy định về độ
tuổi làm việc của thẩm phán theo hướng kéo dài độ tuổi làm việc so với quy định của Bộ luật lao động và tuổi làm việc của nam nữ như nhau phù hợp với xu hướng bình đẳng giới Theo
đó, tuổi làm việc của thẩm phán có thể đến 65 tuổi, tuổi làm việc của Thẩm phán TAND tối cao có thể lên đến 70 tuổi Còn quyền nghỉ hưu của thẩm phán nếu họ có yêu cầu thì không phụ thuộc vào độ tuổi làm việc nêu trên, theo quy định về chế độ nghỉ hưu của công chức
Trang 10Hội thẩm
Luật tổ chức TAND năm 2014 cũng bổ sung các quy định về hội thẩm nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập trong tổ chức và hoạt động của hội thẩm TAND, bảo đảm việc tham gia của hội thẩm vào công tác xét xử là phương thức để nhân dân thực hiện quyền tư pháp Đồng thời, thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử Theo đó, Luật tổ chức TAND 2014 không quy định việc tòa án quản lý hội thẩm mà hội thẩm được
tổ chức thành Đoàn Hội thẩm Đoàn Hội thẩm hoạt động theo quy chế do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành (khoản 1 Điều 91)
3.3 Thi hành các quy định về nguyên tắc hoạt động của tòa án nhân dân trong Hiến pháp 2013
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định các nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động
của TAND Đó là: “1 Việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; 2 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm; 3 Toà án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín; 4 Toà
án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; 5 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; 6 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm; 7 Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.” Theo quy định này thì Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa và có
bổ sung cho chính xác, phù hợp với thực tiễn và tinh thần cải cách tư pháp một số nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của TAND Đó là:
Nguyên tắc xét xử có hội thẩm tham gia
Hiến pháp năm 2013 quy định Hội thẩm tham gia trong xét xử ở cấp sơ thẩm; còn việc xét xử ở cấp phúc thẩm là không bắt buộc Theo đó, Luật tổ chức TAND 2014249 và các đạo luật tố tụng khác tiếp tục triển khai thi hành trong từng lĩnh vực cụ thể như sau:
Điều 11 Bộ luật tố tụng dân sự250 ghi nhận nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia xuất phát từ thực tiễn để là đảm bảo hoạt động xét xử diễn ra thuận lợi, khách quan trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật Cũng theo BLTTDS , Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia xét xử các vụ án dân sự còn đối với việc dân sự thì Hội thẩm nhân dân không tham gia Điều đó là hoàn toàn phù hợp bởi tính chất của vụ án dân sự là các tranh chấp, mâu thuẫn mang tính phức tạp hơn, quyền và lợi ích của các đương sự ảnh hướng lớn hơn, nên sự tham gia của Hội thẩm nhân dân là đảm bảo sự tham gia của người dân vào việc xét xử của Tòa án, tăng cường tính công khai, minh bạch
Điều 22 BLTTHS 2015251 sự sửa đổi, bổ sung nhất định theo hướng bảo đảm sự đầy
đủ và chính xác đối với chế định về Hội thẩm nhân dân Theo đó, BLTTHS hiện hành dùng
cụm từ “Hội thẩm” với nghĩa bao hàm Hội thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân thay cho
cụm từ Hội thẩm nhân dân; cụ thể hoá khái niệm Toà án thành Toà án nhân dân và Toà án quân sự; thay từ ở thành từ của cho chính xác hơn Việc xét xử của Toà án có Hội thẩm tham gia Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân là người được bầu hoặc cử tham gia vào hoạt
249 Điều 8 Luật tổ chức TAND 2014 quy định: “Việc xét xử sơ thẩm của tòa án có hội thẩm tham gia theo quy định
của luật tố tụng, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”
250 Khoản 1 Điều 11 BLTTDS 2015 quy định: “Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia
theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.”
251 Điều 22 BLTTHS 2015 quy định: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử
theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định.”