Mặc dù trong báo cáo tóm tắt công tác nhiệm kỳ 2011 – 2016 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có tự đánh giá công tác về lĩnh vực hành pháp như sau: “ Chủ tịch nước luô[r]
Trang 1THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỦ TỊCH NƯỚC
VỚI CHÍNH PHỦ, QUỐC HỘI TRONG HIẾN PHÁP 2013
TS Nguyễn Thị Minh Hà Khoa Luật, Đại học QG Hà Nội
1 Vị trí, vai trò của Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là một chế định đặc biệt trong tổ chức bộ máy nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam Nhiều quốc gia trên thế giới giành một vị trí trang trọng là cá nhân (hoặc
tập thể) làm biểu tượng đại diện nhà nước trong cơ cấu bộ máy nhà nước Thông thường các
quốc gia trên thế giới lựa chọn mô hình cá nhân là người đại diện Tùy thuộc vào hoàn cảnh
lịch sử, các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội mà mỗi một quốc gia lựa chọn biểu tượng
hoặc vị trí đại diện cho mình (chẳng hạn như Nhật tôn vinh Hoàng Đế là biểu tượng quốc gia
và sự thống nhất dân tộc, đối với Liên bang Nga Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, đối với
Cộng hòa Ý Tổng thống là người đứng đầu nhà nước và đại diện cho sự thống nhất của quốc
gia, đối với Cộng hòa nhân dân Trung hoa Chủ tịch nước đại diện cho nhà nước …) Lịch sử
lập hiến của Việt Nam, từ khi ban hành hiến pháp cho đến nay luôn trang trọng công bố
người thay mặt nhà nước Việt Nam Cụ thể:
- Hiến pháp năm 1946: Mặc dù cơ cấu Chủ tịch nước nằm trong hệ thống cơ quan hành
chính của nhà nước, nhưng quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
là “thay mặt cho nước” (Điều 48)
- Hiến pháp năm 1959: Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là người thay mặt
cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về mặt đối nội và đối ngoại (Điều 61)
- Hiến pháp năm 1980: Cơ chế Chủ tịch nước tập trung vào Hội đồng Nhà nước (là cơ
quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội), được xác định là Chủ tịch tập
thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hội đồng Nhà nước, thông qua
Chủ tịch Hội đồng, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và
đối ngoại (điều 98)
- Hiến pháp năm 1992: Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại (điều 101)
Hiến pháp năm 2013 xác định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp Trong cơ cấu thực hiện quyền lực đó, Chủ tịch nước thực hiện
nhánh quyền lực nào? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự xác định vị trí của Chủ tịch nước
trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chủ tịch nước mặc dù là cá
nhân (một người), nhưng xét từ tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước, đặc biệt
từ vị trí của Chủ tịch nước được xác định như là một cơ chế nhà nước độc lập với các hệ
thống cơ quan nhà nước khác Điều 86 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chủ tịch nước là
người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và
đối ngoại” Như vậy, vị trí của Chủ tịch nước Việt Nam mang tính biểu tượng của quốc gia
và là người đại diện chính thức của nhà nước Việt Nam Vị trí của Chủ tịch nước trong lịch
sử lập Hiến của nước ta thường là cá nhân - đại diện cho nhà nước, mặc dù có giai đoạn Chủ
tịch là tập thể (theo Hiến pháp năm 1980) Từ tính đại diện, từ nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ
tịch nước nên mặc dù là một cá nhân nhưng khoa học về tổ chức công nhận Chủ tịch nước
như là một thiết chế độc lập, không thuộc hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp
Như vậy, vị trí của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 là người đứng đầu Nhà
nước Từ vị trí này, Chủ tịch nước tham gia vào các hoạt động của cơ quan lập pháp, hành
Trang 2pháp, tư pháp theo quy định của Hiến pháp để thực hiện chức năng thay mặt cho nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại Trong khuôn khổ bài viết chỉ đề cập đến mối quan hệ của Chủ tịch nước (qua hai nhiệm kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
và Chủ tịch nước Trần Đại Quang) với Chính phủ (thực hiện quyền hành pháp) và Quốc hội (thực hiện quyền lập pháp)
2 Thi hành các quy định về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ
2.1 Thực tế việc thi hành các quy định về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ
Theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của một số các quốc gia trên thế giới thì người đại diện cho nhà nước cũng chính là người đứng đầu cơ quan hành pháp (chẳng hạn như Mỹ, Hàn Quốc, Việt Nam theo Hiến pháp 1946) hoặc tham gia vào hoạt động hành pháp trong một
số lĩnh vực quan trọng như quốc phòng, đối ngoại, vinh danh, khen thưởng Ở Việt Nam, theo Hiến pháp 2013, Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các Đại biểu Quốc hội – là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nhà nước Việt Nam về đối nội và đối ngoại174, còn Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp175 Từ vị trí này, Chủ tịch nước có quyền tham gia vào một số công việc của Chính phủ và kiểm soát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ
là mối quan hệ giữa người đại diện nhà nước với cơ quan thực thi quyền hành pháp Nội dung
cụ thể của mối quan hệ này chủ yếu được xác định trên các lĩnh vực sau:
Thứ nhất, trong lĩnh vực nhân sự cấp cao của Chính phủ
Về nguyên tắc, nhân sự cấp cao của Chính phủ xuất phát từ sự chủ động của Chủ tịch nước qua cách thức đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chủ tịch nước ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các nhân sự cấp cao trong Chính phủ Sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực, việc thi hành các quy định này được thực hiện đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội XIV Cụ thể:
- Ngày 6/4/2016, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã trình Quốc hội miễn nhiệm Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng căn cứ vào Điều 88 Hiến pháp và Điều 11 Luật Tổ chức Quốc hội Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét chấp thuận miễn nhiệm chức vụ Thủ
tướng đối với ông Nguyễn Tấn Dũng
- Cùng ngày 6/4/2016, Chủ tịch nước Trần Đại Quang có tờ trình Quốc hội đề nghị Quốc hội bầu ông Nguyễn Xuân Phúc làm Thủ tướng Chính phủ căn cứ vào Điều 88
Hiến pháp, Điều 8 Luật Tổ chức Quốc hội
- Chủ tịch nước Trần Đại Quang bổ nhiệm 5 Phó Thủ tướng và 21 bộ trưởng, thành
viên của Chính phủ nhiệm kỳ mới
Trong nhiệm kỳ công tác, chủ tịch nước đã có các quyết định liên quan đến nhân sự cấp cao của Chính phủ như việc ra các quyết định:
- Quyết định số 2182/QĐ-CTN miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải đối với ông Trương Quang Nghĩa
- Quyết định số 2183/QĐ-CTN miễn nhiệm chức vụ Tổng Thanh tra Chính phủ đối với ông Phan Văn Sáu
- Quyết định số 2185/QĐ-CTN bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Thể giữ chức vụ Bộ trưởng
174 Theo Điều 86, 87 Hiến pháp 2013
175 Theo Điều 94 Hiến pháp 2013
Trang 3Bộ Giao thông Vận tải
- Quyết định số 2186/QĐ-CTN bổ nhiệm ông Lê Minh Khái giữ chức vụ Tổng Thanh tra Chính phủ
Mới đây, để thi hành chức năng nhiệm vụ của mình trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã ra Quyết định 1261/QĐ-CTN ngày 23/7/2018
về việc tạm đình chỉ công tác Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông đỗi với ông Trương Minh Tuấn dựa trên các hình thức kỷ luật Đảng và kỷ luật hanhf chính của Thủ tướng Chính phủ Quyết định này được ban hành căn cứ vào khoản 3, Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Thủ tướng trình Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉ công tác của Phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ trong thời gian Quốc hội không họp
Nhận xét: Như vậy, với các quy định về quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vực nhân
sự cấp cao của Chính phủ đã được thi hành đúng theo Hiến pháp 2013 và các luật về tổ chức
có liên quan
Thứ hai, quyền tham gia vào hoạt động hành pháp
Với vị trí là người đại diện nhà nước Việt Nam, Chủ tịch nước có quyền tham gia vào hoạt động theo nhiệm vụ của mình được quy định trong Hiến pháp, thể hiện ở hai cấp độ như sau (theo điều 90 Hiến pháp 2013):
- Quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ
Quy này thể hiện việc quan tâm, theo dõi đến hoạt động hành pháp, đồng thời cũng thể hiện
sự kiểm soát quyền lực của Chủ tịch nước với vai trò là người đứng đầu nhà nước Việt Nam Cổng thông tin điện tử của Chính phủ sáng ngày 28/12/2017 đưa tin với nội dung Chính phủ khai mạc khai mạc hội nghị trực tuyến với địa phương và họp Chính phủ tập trung thảo luận những giải pháp triển khai nhiệm vụ kinh tế - xã hội và đự toán ngân sách nhà nước năm
2018 Lần đầu tiên Chủ tịch nước cùng với Tổng Bí thư và Chủ tịch Quốc hội tham dự phiên họp của Chính phủ Việc tham dự đó được đánh giá là sự kiện đặc biệt cho thấy sự nhất quán
về quan điểm của Đảng, Nhà nước và trực tiếp là Chính phủ về cách thức tổ chức và điều hành, phát triển nền kinh tế, tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nhưng đồng thời cũng cho thấy rằng việc thực hiện quy định trong Hiến pháp 2013 về quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ của Chủ tịch nước là rất ít Nếu Chủ tịch nước thực hiện quyền này thường xuyên thì việc quan tâm, theo dõi hoạt động của Chính phủ sẽ sát sao hơn, kịp thời đưa ra các chính kiến về các vấn đề, lĩnh vực ngay tại phiên họp của Chính phủ
- Quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước
Đây là quy định thể hiện quyền năng rất lớn của Chủ tịch nước đối với Chính phủ Có thể hiểu đây là quyền triệu tập Chính phủ để yêu cầu Chính phủ xem xét, báo cáo về một vấn
đề nào đó trong quản lý hành chính nhà nước của Chính phủ đang được Chủ tịch nước hoặc
dư luận xã hội quan tâm Với quyền năng như vậy nhưng cho đến nay, sau 5 năm Hiến pháp
2013 được ban hành, Chủ tịch nước chưa lần nào triệu tập Chính phủ Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong báo cáo hết nhiệm kỳ năm 2011 – 2016 đã khẳng định “chưa thực hiện quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về những vấn đề mà Chủ tịch nước và nhân dân thấy cần thiết” Đến nhiệm kỳ sau của Chủ tịch nước Trần Đại Quang cũng chưa thực hiện quy định này Nhận xét: Về quyền can dự trực tiếp vào hoạt động của Chính phủ thông qua Điều 90 của Hiến pháp 2013, Chủ tịch nước ở cả hai nhiệm kỳ đã gần như bỏ ngỏ việc thi hành quy định trên thực tế Qua đó cho thấy rằng từ vị trí là người đại diện cho Nhà nước Việt nam đặt
Trang 4trong mối quan hệ mang tính kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ thì Chủ tịch nước chưa tận dụng thi hành hết các quy định của Hiến pháp
2.2 Kiến nghị
Từ các quy định của Hiến pháp, từ thực tế thi hành cho thấy rằng việc thực hiện các quy định của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với Chính phủ hiện nay thì những quy định về
tổ chức trong việc hình thành nên nhân sự cấp cao của Chính phủ Chủ tịch nước đã thi hành rất tốt Mặc dù trong báo cáo tóm tắt công tác nhiệm kỳ 2011 – 2016 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có tự đánh giá công tác về lĩnh vực hành pháp như sau: “ Chủ tịch nước luôn quan tâm, theo dõi, nắm bắt tình hình mọi mặt của đất nước, thường xuyên đi công tác địa phương, cơ sở để tìm hiểu tình hình thực tiễn, làm việc, trao đổi với các ban, bộ, ngành, địa phương, chuyên gia, cộng tác viên về những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước, những vấn đề quốc kế dân sinh, những vấn đề bức xúc được dư luận xã hội quan tâm …, từ đó có nhiều ý kiến đóng góp cụ thể, kịp thời với Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong việc
tổ chức triển khai các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Quốc hội, góp phần tích tịch vào kết quả hoạt động của bộ máy hành pháp, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước”, nhưng dường như việc can dự vào hoạt động điều hành của Chính phủ theo Hiến pháp thì gần như bỏ trống Điều đó sẽ dẫn đến việc can thiệp vào quyền hành pháp ở tầm vĩ mô và việc kiểm soát quyền lực nhà nước không được sát sao, kịp thời, liên tục Hoạt động quản lý hành chính nhà nước của Chính phủ là rất quan trọng, quyết định trực tiếp nhất đến sự phát triển của kinh tế - xã hội; liên quan và ảnh hưởng nhất tới mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, tổ chức của công dân Chủ tịch nước là người đại diện cho Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm về sự phát triển của đất nước và mối quan hệ cơ bản nhất này Vì vậy, việc thực hiện các quy định thể hiện mối quan hệ của Chủ tịch nước với công tác điều hành của Chính phủ cần phải được thực hiện thường xuyên và theo những cách thức phù hợp Từ đó, kiến nghị cần phải luật hóa để có cơ sở thi hành Hiến pháp Các hệ thống cơ quan nhà nước khác đều có “Luật tổ chức…” (Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân) Chủ tịch nước với vai trò quan trọng bậc nhất - đại diện Nhà nước Việt Nam và hoạt động như một thiết chế độc lập, thì cần phải ban hành Luật để cụ thể hóa rõ các quy trình thi hành các quy định của Hiến pháp, trong
đó có các quy trình thể hiện mối quan hệ của Chủ tịch nước với Chính phủ, như đại biểu Quốc hội Ksor Phước đã khẳng định khi nhận xét về báo cáo công tác của Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2011 – 2016: “Có rất nhiều việc Chủ tịch nước thấy cần phải làm việc với Chính phủ nhưng ta chưa có cơ sở pháp lý cụ thể Cần đưa nội dung này vào dự án xây dựng luật hay pháp lệnh tại Quốc hội khóa XIV”
3 Thi hành các quy định về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội
3.1 Thi hành các quy định về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước và Quốc hội
Cương vị Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước trong lĩnh vực đối nội, lẽ tất nhiên chịu trách nhiệm trước sự phát triển và tình trạng của đất nước Vì vậy, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được phân bổ trên cả ba nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) với mục đích tạo ra sự phân công và phối hợp để thực hiện và kiểm soát quyền lực nhà nước tốt nhất Sự tham gia của Chủ tịch nước đối với quyền lập pháp của Quốc hội được thể hiện như một khâu trong quá trình ban hành luật, pháp lệnh Ngay tại nội dung đầu tiên về nhiệm
vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được quy định tại Điều 88 Hiến pháp 2013 là thể hiện mối quan hệ với Quốc hội về chức năng lập pháp: Chủ tịch nước “công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh” Đây có thể được xem là giai đoạn cuối cùng trong chu trình lập pháp, công nhận quá trình lập pháp của Quốc hội, đồng thời thể hiện vị trí, vai trò đại diện cho Nhà nước của Chủ tịch nước khi công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh Từ khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực cho
Trang 5đến nay, Quốc hội đã thông qua nhiều luật và theo đó, Chủ tịch nước cũng công bố từng đó luật Theo thống kê176:
- Năm 2014 Quốc hội thông qua 29 luật và 02 Pháp lệnh (Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án và Pháp lệnh cảnh sát môi trường)
- Năm 2015 Quốc hội thông qua 27 luật
- Năm 2016 Quốc hội thông qua 10 luật và 01 Pháp lệnh (Pháp lệnh Quản lý thị trường)
- Năm 2017 Quốc hội thông qua 18 luật
- Năm 2018, kỳ họp lần 1 thông qua 7 luật
Báo cáo công tác của Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2011 – 2016 đánh giá: “Chủ tịch nước đã
ký lệnh công bố Hiến pháp và Nghị quyết của Quốc hội quy định một số điểm thi hành Hiến pháp”, “chỉ đạo Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước kịp thời, đúng quy định, góp phần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến đông đảo mọi tầng lớp nhân dân.” Ngoài ra, Chủ tịch nước đã “chỉ đạo rà soát, xây dựng mới một số quy chế phối hợp giữa Văn phòng Chủ tịch nước với các cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng, Quốc hội để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nghiên cứu, tham mưu, phục vụ Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp
Hiến pháp 2013 tại khoản 1 Điều 88 quy định: Chủ tịch nước có quyền “đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất” Như vậy, quyền được đưa ra chính kiến và dừng công bố pháp lệnh của Chủ tịch nước được xem là một quá trình trong hoạt động kiểm soát quyền lập pháp, đặc biệt đối với hình thức ban hành pháp lệnh để điều chỉnh những quan hệ xã hội chưa thực sự ổn định Duy nhất, trong báo cáo công tác nhiệm kỳ của Chủ tịch nước 2011 – 2016, Chủ tịch nước trong năm
2014 đã “kịp thời có ý kiến với UBTVQH ban hành Nghị quyết 719/2014/UBTVQH13 ngày 06/01/2014 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Hiến pháp liên quan đến nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước, qua đó góp phần quan trọng đưa Hiến pháp vào cuộc sống, bảo đảm tính liên tục, thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật” Cũng theo Báo cáo,
“Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch nước đã phối hợp chặt chẽ, đóng góp những
ý kiến xác đáng với Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ trong việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là các luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quốc phòng - an ninh, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”
Để thể hiện sự chủ động của Chủ tịch nước đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc Hội, Điều 90 Hiến pháp 2013 còn quy định Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội Nhưng cũng giống như việc thi hành quy định quyền được tham dự phiên họp của Chính phủ, Chủ tịch nước chưa thực sự sử dụng quyền tham dự phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Nhận xét: Mặc dù Chủ tịch nước đã có rất nhiều hoạt động vào quá trình lập pháp, nhưng như đánh giá của một đại biểu Quốc hội cho rằng Chủ tịch nước chưa thể hiện rõ quyền lực của mình trong đối nội Chủ tịch nước mới chỉ làm tốt và dừng lại trong chức năng công bố
176 Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội ngày 22/3/2016; Báo cáo kết quả các kỳ họp từ kỳ 1 đến kỳ 5 của Quốc hội khóa XIV
Trang 6luật và pháp lệnh như là khâu cuối của quá trình lập pháp “Chủ tịch nước chưa thực hiện quyền xem xét lại luật, pháp lệnh nếu có điểm chưa đúng”177 Cho đến nhiệm kỳ sau của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, việc thi hành khoản 1, Điều 88 Hiến pháp vẫn bỏ ngỏ Tương tự như vậy, việc thi hành quy định tại Điều 90 Hiến pháp về việc tham dự phiên họp của Chủ tịch nước cũng chưa được thực hiện trong thực tế
3.2 Kiến nghị
Hoạt động của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với Quốc hội cần phải được tách bạch giữa hai vị trí: Chủ tịch nước với vị trí là một Đại biểu Quốc hội và Chủ tịch nước với vị trí
là người đại diện cho Nhà nước Việt Nam Trong báo cáo công tác của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho thấy các hoạt động của Chủ tịch trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp chủ yếu là các hoạt động của Đại biểu Quốc hội Cả hai nhiệm kỳ của hai Chủ tịch nước từ khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực đến nay chưa thể hiện nổi bật vai trò của Chủ tịch nước đối với hoạt động lập pháp thông qua mối quan hệ với cơ quan Quốc hội Từ thực tiễn thi hành các quy định về Chủ tịch nước trong mối quan hệ với Quốc hội, kiến nghị như sau:
Thứ nhất: Rất cần thiết bổ sung thêm quyền hạn cho Chủ tịch nước trong việc xem xét trách
nhiệm của những nhân sự cấp cao trong bộ máy nhà nước Chủ tịch nước là người đứng đầu
nhà nước, đã tham gia vào quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, xem xét trách nhiệm đối với
nhân sự cao cấp của Nhà nước, Chủ tịch nước nên được trao thêm quyền đề nghị Quốc hội
bỏ phiếu tín nhiệm đối với Phó Chủ tịch nước, thành viên UBTVQH, thành viên Chính phủ, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước mà Chủ tịch nước thấy những người đó có hành vi vi phạm hiến pháp, luật hoặc không phù hợp với cương vị công tác của mình178
Thứ hai: Cần thiết ban hành một đạo luật riêng cụ thể hóa về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ
tịch nước Tiếp nối phần 2.2 của bài viết, kiến nghị cần có luật về hoạt động của Chủ tịch nước để thi hành nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước, đặc biệt cần làm rõ và kết nối với các đạo luật về tổ chức khác, qua đó Chủ tịch nước thể hiện vị thế đại diện cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đặc biệt trên hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Tuy nhiên, việc cụ thể hóa chỉ trên cơ sở các điều khoản của Hiến pháp để Chủ tịch nước dễ dàng thi hành hiệu quả, khắc phục tình trạng sau 5 năm ban hành Hiến pháp mà nhiều nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước không được sử dụng như đã phân tích ở trên
177 “Trân trọng kết quả công tác của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ”, Bài đăng trên website của Tạp chí Cộng
sản trích dẫn nguồn từ TTXVN, ngày 29/3/2016
178 Tham khảo bài viết: Vị trí, vai trò và nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 của TS Đặng Xuân Phương, ngày 7/12/2016 trên Bản tin Thông tin khoa học lập pháp số 2 năm 2016