Tuy nhiên, các cơ chế mới bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân như cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan bảo hiến vẫn chưa được ghi nhận trong pháp luật (mặc dù việc thành [r]
Trang 1THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ, CHÍNH TRỊ
TRONG HIẾN PHÁP NĂM 2013
PGS.TS Đặng Minh Tuấn Khoa Luật ĐHQGHN
Hiến pháp hiện hành của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 Việc thông qua bản Hiến pháp này đánh dấu bước tiến quan trọng của Việt Nam trong nhận thức
về quyền con người cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền người, quyền công dân trên tất cả lĩnh vực Hiến pháp năm
2013 có quy định một chương riêng về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, trong đó ghi nhận cụ thể, đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị Điểm mới so với các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 không cho phép văn bản dưới luật được đưa ra quy định hạn chế quyền con người và ngay cả luật của Quốc hội cũng không được hạn chế quyền con người vi bất kỳ lý do nào khác, ngoài các lý do được Điều 14 Hiến pháp quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe của cộng đồng”441 Bài viết này đánh giá thực tiễn công tác lập pháp cụ thể hóa các quy định về các quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013
I Một số thuận lợi, khó khăn, thách thức trong công tác lập pháp cụ thể hóa các quy định về các quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013
Một số thuận lợi
Những thành tựu to lớn về lập pháp và tổ chức thi hành pháp luật mà Việt Nam đã đạt được trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới là yếu tố bảo đảm quan trọng để Việt Nam tiếp tục ghi nhận, thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân442
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội đang ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và năng lực của mình, đặc biệt trong công tác lập pháp, chuyển từ cơ quan thảo luận thụ động sang cơ quan tranh luận và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Việc Hiến pháp phân định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Chính phủ trong hoạt động lập pháp, trong đó ghi nhận quyền đề xuất, xây dựng chính sách của Chính phủ đã thúc đẩy việc thực thi hiệu quả công tác lập pháp
Việc ghi nhận nguyên tắc hạn chế quyền con người bằng luật đặt ra yêu cầu phải có luật để ghi nhận, điều chỉnh các vấn đề quyền con người, quyền công dân Điều này cũng thúc đẩy hoạt động lập pháp trong lĩnh vực quyền con người, quyền công dân
Khó khăn, thách thức
Việt Nam mới thoát khỏi nhóm quốc gia nghèo và lạc hậu, trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, do vậy vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nguồn lực của đất nước còn hạn chế trong khi đó lại phải phân bổ, chú trọng sử dụng các nguồn lực để phát triển kinh tế -
xã hội, do vậy đã ảnh hưởng đến việc bảo đảm thực thi các quyền dân sự và chính trị443 Việc thiếu các nguồn lực chuyên môn, tài chính cũng dẫn đến những khó khăn, thách thức trong công tác lập pháp
Việt Nam đang trong thời kỳ Đổi mới - thời kỳ của của những cải cách, nhưng cũng
441 Xem Báo cáo quốc gia thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, tại
http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/chi-dao-dieu-hanh.aspx?ItemID=2361, trang 4
442 Tài liệu như trên, trang 4
443 Tài liệu như trên, trang 6
Trang 2đặt ra nhiều khó khăn, thách thức trong việc đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội Nhu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân đặt trong bối cảnh của an ninh- chính trị, trật tự, an toàn- xã hội, chủ quyền quốc gia Đồng thời, việc ghi nhận và bảo đảm các quyền dân sự và chính trị gắn liền với những đổi mới có tính chất lâu dài, bền vững về dân chủ, pháp quyền
Khuôn khổ pháp luật về quyền con người ở Viêt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, có rất nhiều vấn đề, nội dung, yêu cầu đặt ra trong việc sửa đổi, bổ sung, nhưng năng lực tổ chức ban hành, thực hiện pháp luật còn hạn chế do đây là vấn đề cần có sự đầu tư lớn
và nhiều thời gian
Nhận thức về các quyền con người của một số cơ quan công quyền, tổ chức, cá nhân
và thành phần trong xã hội còn hạn chế trở thành rào cản trong việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về quyền con người, quyền công dân Trong khi đó, nhà nước thiếu các kênh đối thoại để nhận biết các nhu cầu xã hội để có thể tiến hành hiệu quá công tác lập pháp
Một số phong tục, tập quán vẫn tiếp tục trở thành rào cản cho việc ban hành và thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến các quyền như: quyền bình đẳng với phụ nữ và các nhóm người dễ bị tổn thương (trẻ em, người dân tộc thiểu số, nhóm người LGBT, người khuyết tật )
Một số vấn đề mới đặt ra nhiều khó khăn, thách thức trong việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền dân sự chính trị (như việc bảo đảm các quyền trên không gian mạng, chủ nghĩa khủng bố, cực đoan )
II Đánh giá về số lượng các luật, pháp lệnh cụ thể hóa các quy định về các quyền dân sự và chính trị trong Hiến pháp năm 2013
Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Việt Nam đã rà soát hơn 100.000 văn bản quy phạm pháp luật để đưa ra kiến nghị sử đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản liên quan
Từ tháng 01 năm 2014 đến nay, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua trên 90 luật, pháp lệnh trong đó, khoảng trên 30 luật, pháp lệnh (chiếm khoảng 30%) quy định về các quyền dân sự, chính trị, nhiều luật quan trọng về quyền con người đã được ban hành mới như
Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Luật tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Luật Báo chí năm 2016, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Tố cáo năm 2018 Các luật, pháp lệnh sửa đổi, bổ sung phủ khắp các quyền dân sự, chính trị Việc ban hành, sửa đổi số luật đang trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó một số luật sẽ sớm được thông qua trong năm tới như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Phòng, chống tham nhũng, Bộ luật Lao động, một số luật vẫn đang trong quá trình xây dựng như Luật về Hội, Luật Biểu tình.444Một điều đáng lưu ý là trong số các luật, pháp lệnh được thông qua, phần lớn tuyệt đối là luật, chỉ có 3 pháp lệnh, trong đó cũng chỉ có 1 pháp lệnh quy định về các quyền quyền con người, quyền công dân (Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014) Xu hướng luật hóa thay
vì quy định bằng pháp lệnh là phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, thể hiện một bước tiến về nhận thức trong công tác làm luật ở nước ta
Số lượng rất lớn các luật, pháp lệnh được ban hành trong thời gian 3 năm rưỡi qua để
cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền dân sự và chính trị cho thấy những cam kết, nỗ lực vô cùng lớn của Quốc hội, các cơ quan Đảng, Nhà nước trong việc thực thi Hiến pháp, thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia liên quan đến các
444 Xem Phụ lục 1 và 2
Trang 3quyền con người nói chung và các quyền dân sự, chính trị nói riêng Việc ban hành kịp thời các luật, pháp lệnh cụ thể hóa Hiến pháp đóng vai trò quan trọng xây dựng hành lang pháp lý
để người dân thực hiện các quyền con người, quyền công dân, đồng thời để các cơ quan nhà nước bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, xử lý các vi phạm về quyền con người
Tuy vậy, một sốluật quan trọng được mong đợi, mặc dù đã được bàn thảo, đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh từ lâu, nhưng nhiều lần bị lùi tiến độ và cho đến bây giờ vẫn chưa được ban hành, đó là các luật về biểu tình, luật về hội họp Sự thiếu vắng các luật này ảnh hướng rất lớn đến việc bảo đảm, thực thi các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận445
III Chất lượng các luật, pháp lệnh cụ thể hóa các quy định về các quyền dân sự
và chính trị trong Hiến pháp năm 2013
- Về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của các luật, pháp lệnh
Trong quá trình làm luật, pháp lệnh, các cơ quan soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh đều tiến hành rà soát tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của các luật, pháp lệnh446.Hoạt động kiểm tra trước tính hợp hiến, hợp pháp hoạt động thường xuyên được thực hiện theo các quy định của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Hiện nay chưa có đánh giá đầy đủ về chất lượng công tác này trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh
cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, đặc biệt từ khi thông qua Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Thực tế thì vấn đề trái Hiến pháp, trái luật của các luật, pháp lệnh thường thì chỉ nảy sinh trong quá trình thực thi, trong khi đó các luật, pháp lệnh cũng mới được ban hành, nên chưa thể đánh giá được đầy đủ vấn đề này
- Về nguyên tắc giới hạn quyền con người, quyền công dân
Việc ghi nhận nguyên tắc giới hạn quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp (Khoản 2 Điều 14) đặt ra yêu cầu, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiến hành
rà soát đảm bảo sự phù hợp của các quy định pháp luật với nguyên tắc này
Việc rà soát trước hết bảo đảm phải thay thế các quy định dưới luật có các quy định hạn chế quyền con người, quyền công dân bằng các quy định luật (Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn thế theo quy định của luật) Trên thực tế, một số luật, pháp lệnh được ban hành đã thay thế các quy định dưới luật hạn chế quyền con người, quyền công dân Tuy vậy, việc rà soát, bãi bỏ các quy định dưới luật hạn chế các quyền con người, quyền công dân vẫn chưa được thực hiện một cách hệ thống và đẩy đủ Trên thực tế, vẫn còn khá nhiều các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hạn chế các quyền con người, quyền công dân vẫn không bị đình chỉ, bãi bỏ, như các quy định về biểu tình, lập hội, hội họp447 Theo pháp luật hiện hành, Tòa án Nhân dân có quyền rất hạn chế trong việc kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật Trong khi đó, công việc rà soát tính thống nhất của hệ thống pháp luật hiện nay chủ yếu được thực hiện qua công tác xây dựng, hoạch định chính sách của Chính phủ
Việc ban hành các luật cũng phải phù hợp với nguyên tắc giới hạn quyền con người (Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế trong những trường hợp cần thiết vì
lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng
445 Ở Việt Nam, Hiến pháp hầu như không có giá trị áp dụng trực tiếp, bởi vì Tòa án không có quyền giải thích Hiến pháp và cũng không có quyền phán quyết về tính hợp hiến đối với các hành vi trái Hiến pháp, trong khi chưa có
cơ quan bảo hiến độc lập
446 Xem các Hồ sơ Dự án của các luật, pháp lệnh, Dựthaoonline.quochoi.vn
447 Như Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (Nghị định 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP); Nghị định số 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng
Trang 4động) Các luật như Luật bảo vệ bí mật Nhà nước, Luật An ninh mạng, Luật An ninh quốc gia
là những luật liên quan trực tiếp với việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, tự do ngôn luận trong mối quan hệ với các vấn đề quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Tuy vậy, các báo cáo xây dựng luật, pháp lệnh trong thời gian qua hầu như chưa đề cập một cách trực tiếp vấn đề bảo đảm nguyên tắc giới hạn quyền con người Thực tế này có thể ảnh hưởng đến việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân trong nội dung các quy định của luật, pháp lệnh được ban hành Một số luật có xu hướng chú trọng các vấn đề quốc phòng, an ninh - trật tự trong tương quan với việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân
- Về các quyền con người, quyền công dân cụ thể
Nhìn chung, các luật, pháp lệnh mới được ban hành, sửa đổi đã quy định khá đầy đủ, củng cố và thúc đẩy các các quyền con người nói chung và các quyền dân sự, chính trị nói riêng448 Trong quá trình làm luật, vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong luật, pháp lệnh luôn được đảo đảm Tuy vậy, pháp luật chưa có sự thay đổi đáng kể để củng cố, thúc đẩy thích đảng hơn một số quyền quyền chính trị- dân sự như quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền lập hội, hội họp, quyền ứng cử, quyền của một số nhóm yếu thế Một số quyền chưa có luật, pháp lệnh điều chỉnh (quyền lập hội, hội họp, quyền biểu tình)
- Về cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền
Các luật mới ban hành đã cụ thể hóa thúc đẩy vị trí, vai trò của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan Nhà nước trong việc thực thi, bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, các cơ chế mới bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân như cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan bảo hiến vẫn chưa được ghi nhận trong pháp luật (mặc dù việc thành lập một cơ quan chuyên trách về nhân quyền đã
và đang được nghiên cứu phù hợp với sự phát triển của xã hội và điều kiện thực tế tại Việt Nam) Trong khi đó, các cơ chế truyền thống không có những cải cách lớn để được kỳ vọng
sẽ đóng góp vai trò lớn hơn trong việc thực thi, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân Cụ thể, việc bảo đảm tính độc lập của tòa án (đặc biệt là tòa hành chính), nâng cao vị trí, vai trò của các cơ quan thuộc Chính phủ (như Ban chỉ đạo về Nhân quyền thuộc Chính phủ) và các cơ quan nhà nước khác vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế
- Về quyền tham gia của người dân trong việc xây dựng các luật, pháp lệnh
Việc bảo đảm bảo quyền tham gia của người dân trong việc xây dựng luật, pháp lệnh được thực hiện một cách đầy đủ, hệ thống và thực chất hơn từ khi có Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Tuy nhiên, quyền tham gia của người dân trong quá trình xây dựng luật cần được chú trọng đi vào thực chất hơn
IV Một số đề xuất
- Xây dựng cơ quan bảo hiến chuyên trách để bảo đảm tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật;
- Rà soát đình chỉ, bãi bỏ tất cả các văn bản dưới luật hạn chế các quyền con người, quyền công dân, thay thế chúng bằng các quy định luật
- Nghiên cứu thúc đẩy hơn nữa việc bảo đảm một số quyền dân sự, chính trị quan trọng (quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền lập hội, hội họp, quyền ứng cử );
- Cần sớm có luật luật về hội họp, luật biểu tình
- Tăng cường công tác thông tin nghiên caứu chuẩn mực, kinh nghiệm quốc tế, mở
448 Xem Báo cáo quốc gia thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, tại:
http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/chi-dao-dieu-hanh.aspx?ItemID=2361
Trang 5rộng hợp tác quốc tế trong công tác lập pháp, đặc biệt trong vấn đề quyền con người, quyền công dân;
- Xây dựng cơ quan chuyên môn chuyên trách về quyền con người (Ủy ban nhân quyền thuộc Quốc hội);
- Thúc đẩy các hình thức đối thoại, điều trần, vận động chính sách giữa Quốc hội, Chính phủ với người dân, các tổ chức xã hội, giới học thuật
PHỤ LỤC
1 Danh mục các luật, pháp lệnh được ban hành trước và sau Hiến pháp năm
2013 điều chỉnh các quyền dân sự, chính trị
được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung sau khi
có Hiến pháp năm 2013
Các luật, pháp lệnh chưa được ban hành, sửa đổi, bổ sung trước khi có Hiến pháp năm 2013
1
Các nguyên tắc về quyền con
người, quyền công dân (Điều 14,
Điều 15)
Các luật, pháp lệnh Không có
2
Quyền không phân biệt đối xử
và bình đẳng trước pháp luật
(Điều 16)
Luật bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015, Luật tố tụng hành chính năm 2015, Luật hộ tịch năm 2014
3
Quyền có quốc tịch (Điều 17) Luật Quốc tịch năm 2014
4
Quyền của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài (Điều 18)
Luật Quốc tịch năm 2014
và các luật, pháp lệnh có liên quan
5
Quyền sống (Điều 19) Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015
6
Quyền bất khả xâm phạm về
thân thể, danh dự và nhân phẩm,
không bị tra tấn, bạo lực, truy
bức, nhục hình (Điều 20)
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015, Bộ luật Dân sự năm
2015
Luật Phòng, chống mua bán người năm
2011, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012
7
Quyền được bảo vệ đời sống
riêng tư (Điều 21) Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015
Trang 6(sửa đổi năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015, Luật tiếp cận thông tin năm 2016
8
Quyền có nơi ở hợp pháp (Điều
22)
Luật Căn cước công dân năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014
Luật Đất đai năm
2013 (dự kiến được sửa đổi năm 2019)
9
Quyền tự do đi lại và cư trú
(Điều 23)
Luật Căn cước công dân năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh,
cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm
2014
Luật Cư trú sửa đổi năm 2013
Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam (dự kiến được ban hành năm 2019)
10
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo (Điều 24)
Luật tự do tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
11
Quyền tự do ngôn luận (Điều 25) Luật Báo chí (sửa đổi
2016), Luật tiếp cận thông tin năm 2016, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017), Luật An ninh mạng năm 2018
Luật Xuất bản năm
2004, Luật Công nghệ thông tin năm
2006
12
Quyền tự do báo chí (Điều 25) Luật Báo chí (sửa đổi
2016), Luật tiếp cận thông tin năm 2016, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)
Luật Xuất bản năm
2004
13
Quyền tiếp cận thông tin (Điều
25)
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm
2018
Luật An ninh quốc gia năm 2004
14
Quyền hội họp, lập hội (Điều 25) Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015
Luật Công đoàn 2012 Luật về Hội (trong quá trình xây dựng)
15
Quyền biểu tình (Điều 25) Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi năm 2017) Luật Biểu tình (trong quá trình xây dựng)
16
Quyền bình đẳng giới (Điều 26) Luật bầu cử ĐBQH &
ĐBHĐND năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)
Luật Phòng, chống bao lực gia đình năm
2007 Luật Bình đẳng giới năm 2006
17
Quyền bầu cử, ứng cử (Điều 27) Luật bầu cử ĐBQH &
ĐBHĐND năm 2015
Trang 718
Quyền tham gia quản lý nhà
nước và xã hội (Điều 28) Luật tiếp cận thông tin năm 2016, Luật bầu cử
ĐBQH & ĐBHĐND năm
2015, Luật trưng cầu ý dân năm 2015, Luật ban hành VBQPPL năm 2015
19
Quyền tham gia trưng cầu ý dân
(Điều 29)
Luật trưng cầu ý dân năm
2015
20
Quyền khiếu nại, tố cáo (Điều
30)
Luật Tố cáo năm 2018 Các luật, pháp lệnh có liên quan
Luật Khiếu nại năm
2011, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (dự kiến được sửa đổi năm 2019)
21
Các quyền của người bị tạm
giam, tạm giữ, bị can, bị cáo:
- Quyền suy đoán vô tội
- Quyền được xét xử công bằng
- Quyền không bị kết án 2 lần vì
một tội phạm
- Quyền tự bào chữa, nhờ luật sư
hoặc người khác bào chữa
- Quyền được bồi thường thiệt
hại về vất chất, tinh thần và phục
hồi danh dự (Điều 31)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm
2015 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi 2017), Luật tổ chức Tòa
án nhân dân năm 2014, Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước (sửa đổi năm 2017), Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014
Luật Hiến, lấy, ghép
mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007
22
Quyền làm việc, lựa chọn nghề
nghiệp, việc làm và nơi làm việc,
chống phân biệt đối xử, cưỡng
bức lao động, sử dụng nhân công
dưới tuổi lao động tối thiểu
(Điều 32)
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) Bộ luật lao động năm 2012 (dự kiến được
sửa đổi năm 2019)
23
Quyền kết hôn, ly hôn, quyền
bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo
hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ
em (Điều 36)
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
24
Quyền trẻ em (Điều 37) Bộ luật Dân sự năm 2015,
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017), Luật Trẻ em năm 2016
25
Quyền của người nước ngoài cư
trú ở Việt Nam (Điều 48, 49)
Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt
Trang 8Nam năm 2014
26
Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng
phát triển; nghiêm cấm mọi hành
vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; Quyền
của người dân tộc thiểu số (Điều
5)
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) và các văn bản khác có liên quan
2 Các luật, pháp lệnh được ban hành sau Hiến pháp năm 2013 điều chỉnh về các quyền dân sự và chính trị
1 Luật hộ tịch năm 2014
2 Luật Quốc tịch năm 2014
3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam
4 Căn cước công dân năm 2014
5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
6 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014
7 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014
8 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
9 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
10 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
11 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015
12 Luật bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND năm 2015
13 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
14 Bộ luật Dân sự năm 2015
15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
16 Luật tố tụng hành chính năm 2015
17 Bộ luật Dân sự năm 2015
18 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015
19 Luật ban hành VBQPPL năm 2015
20 Luật trưng cầu ý dân năm 2015
21 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015
22 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
23 Luật Trẻ em năm 2016
24 Luật tiếp cận thông tin năm 2016
25 Luật tự do tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
Trang 926 Luật Báo chí (sửa đổi 2016)
27 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)
28 Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước (sửa đổi năm 2017)
29 Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi 2017)
30 Luật Tố cáo (Sửa đổi năm 2018)
31 Luật An ninh mạng năm 2018)