quy định cụ thể 6 nhiệm vụ của Mặt trận: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nh[r]
Trang 1THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP NĂM 2013 VỀ MẶT TRẬN
TỔ QUỐC VIỆT NAM, CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI VÀ CÁC
TỔ CHỨC XÃ HỘI
PGS.TS Bùi Xuân Đức
Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyên Viện trưởng Viện NCKH Mặt trận
1 Quy định của Hiến pháp năm 2013 về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội
Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam - hình thức hiện tại của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam ra đời từ năm 1930 – có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống chính trị đất nước Trước đây, trong thời kỳ đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc và giải phóng đất nước, Mặt trận đã là nơi tập hợp các lực lượng yêu nước, cùng với Đảng đấu tranh giành độc lập, giành chính quyền về tay nhân dân Trong thời kỳ xây dựng đất nước hiện nay, Mặt trận
tiếp tục đóng vai trò là là « nơi tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân”, « nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động » của các thành viên
để cùng với Đảng và Nhà nước phấn đấu vì mục tiêu chung là giữ gìn độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Tổ chức chính trị - xã hội (hay còn gọi là đoàn thể nhân dân, đoàn thể chính trị-xã hội)
là những tổ chức quần chúng rộng rãi của các tầng lớp nhân dân (chủ yếu là lao động như công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ) được Đảng tập hợp và lãnh đạo, cùng với Đảng tiến hành đấu tranh giành và và sau đó là giữ, xây dựng chính quyền cách mạng Đây là những tổ chức quần chúng nòng cốt, gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng, không phải
là một tổ chức xã hội đơn thuần (tuy chúng cũng có tính xã hội) mà là một tổ chức gắn liền với hoạt động quyền lực (hoạt động chính trị - tham chính) Hiện tại đó là các tổ chức: Tổng liên đoàn lao động, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp
phụ nữ, Hội Cựu chiến binh Các tổ chức này là thành tố của hệ thống chính trị nước ta, cùng
với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chúng được coi là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân
Tổ chức xã hội (hay Hội) hiện nay ở nước ta được hiểu là “tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” (theo Nghị định 45/NĐ-CP ngày
21/4/2010) Dự thảo Luật về Hội (đang soạn thảo) lúc đầu (năm 2015) nêu định nghĩa gần
như trong Nghị định hiện hành: “Hội là tổ chức tự nguyện, bao gồm những người có cùng nhu cầu, mục đích, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của hội, hội viên và cộng đồng; góp phần phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Nhưng gần đây sau khi tiếp thu nhiều ý kiến đã nhấn mạnh tính pháp nhân của hội: «Hội là tổ chức có tư cách pháp nhân được hình thành
do sự tự nguyện của công dân, pháp nhân Việt Nam cùng chung mục đích, nhằm phục vụ lợi ích chung của hội, hội viên; góp phần thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực hội hoạt động”
Hội có các tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc
bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật Hội đại diện cho
hội viên trong mối quan hệ đối nội, đối ngoại có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của hội; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên phù hợp với tôn chỉ, mục đích của hội; tổ
Trang 2chức, phối hợp hoạt động giữa các hội viên vì lợi ích chung của hội; hòa giải tranh chấp trong nội bộ hội; phổ biến, huấn luyện kiến thức cho hội viên; cung cấp thông tin cần thiết
cho hội viên theo quy định của pháp luật
Việc quy định trong Hiến pháp và pháp luật là để chính thức hóa và từ đó tạo cơ sở pháp lý cho Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội hoạt động và phát huy vai trò của mình Điều này có ý nghĩa lớn vì rằng ai cũng biết vị trí, vai trò Mặt trận, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội là như vậy nhưng nếu không quy định thành pháp luật chính thức hóa thì Mặt trận và các tổ chức đó cũng không thể thực hiện được Trên thực tế điều này không phải tất cả đều chung nhận thức như vậy Có ý kiến cho rằng Mặt trận cứ hoạt động vậy thôi, cần gì phải thể chế hóa, quy định hóa Khi xây dựng Luật Mặt trận Tổ quốc năm
1999 và những lần đề nghị sửa đổi, bổ sung sau đó đã có không ít ý kiến như vậy Nói thế để thấy ý nghĩa lớn của việc quy định mà Hiến pháp đã làm và cũng để thấy công việc này còn cần phải tiếp tục hơn nữa trong các luật sau này
Các Hiến pháp Việt Nam năm 1946, năm 1959 trước đây chưa có quy định Bắt đầu từ Hiến pháp năm 1980 mới có quy định và ngày càng hoàn thiện dần qua các Hiến pháp sau này:
- Hiến pháp năm 1980 có một điều (Điều 9) quy định về Mặt trận Tổ quốc: « Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam - bao gồm các chính đảng, Tổng công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp nông dân tập thể Việt nam, Đoàn thanh niên công sản HCM, Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam
và các thành viên khác của Mặt trận - là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí vê chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” (ngoài ra còn có Đ 10 về Tổng công đoàn Việt Nam và điểu 11 về tập thể nhân dân
lao đông ở cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, khu dân cư và các đơn vị cơ sở khác tham gia
công việc của Nhà nước và xã hội)
- Hiến pháp năm 1992 (cũng tại Điều 9) quy định: «Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước » (bỏ điều 11 quy định về tập thể lao động nhưng vẫn giữ Điều
10 quy định về Công đoàn Việt Nam)
- Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) lần đầu tiên đưa ra
quy định định nghĩa về Mặt trận: «Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các
cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài » Và quy định tiếp: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán
bộ, viên chức nhà nước
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả."
- Tiếp sau Hiến pháp, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (ban hành năm 1999) tại Điều 2
Trang 3quy định cụ thể 6 nhiệm vụ của Mặt trận: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới”
Hiến pháp năm 2013 đã sửa đổi, hoàn thiện nhiều quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội còn chưa được thể hiện rõ và đầy đủ trong các Hiến pháp trước như: chưa quy định tách riêng MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị
- xã hội, các tổ chức xã hội gây hiểu lẫn lộn vị trí, chức năng của các tổ chức này nhất là hiểu MTTQ giống như một tổ chức chính trị - xã hội; quy định gộp « MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân » là không chuẩn xác vì chỉ có MTTQ Việt Nam (với tính cách là một tổ chức liên minh chính trị) mới là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, còn các tổ chức thành viên khác thì không phải tất cả đều là cơ sở chính trị của chính quyền; chưa quy định vai trò tham gia xây dựng Đảng của Mặt trận mà chỉ quy định vai trò xây dựng chính quyền nhân dân…) Chưa thể hiện một số chức năng,
nhiệm vụ vốn đã được Mặt trận thực hiện như vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Hiến
pháp cũng đã dành một khoản quy định về vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội (5
tổ chức) và một khoản quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước tạo điều kiện cho Mặt trận và
các tổ chức thành viên hoạt động và lần đầu tiên nêu tạo điều kiện cho cả « các tổ chức xã hội khác » Ngoài ra Hiến pháp tiếp tục dành một điều riêng (Đ.10) để quy định về Công
đoàn Việt Nam do tính chất dặc biệt của tổ chức này
Điều 9 Hiến pháp quy định:
“1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của
tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện
xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị -
xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
3 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt
động” (Điều 9)
Có thể thấy, các quy định trên của Hiến pháp sửa đổi là phù hợp và hoàn chỉnh hơn Đây chính là thành công lớn của Hiến pháp sửa đổi lần này
Trang 4Đi vào phân tích cụ thể cho thấy:
- Đối với MTTQ Việt Nam, Hiến pháp lần này đã hoàn chỉnh quy định về MTTQ Việt Nam, đã kế thừa và phát triển các quy định trước phù hợp và đày đủ và nâng cao hơn về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Hiến pháp được sửa đổi đã:
+ Xác định rõ và đầy đủ và chuẩn xác hơn so với các Hiến pháp trước về vị trí, tính
chất của MTTQ Nếu như ở Hiến pháp năm 1980 mới xác định Mặt trận là “chỗ dựa của Nhà nước”, Hiến pháp năm 1992 thời kỳ đầu coi “MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên là
cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) xác định thêm “MTTQ Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị” nhưng
vẫn giữ “các tổ chức thành viên” trong mệnh đề “MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân” Nay Hiến pháp sửa đổi chuẩn hóa: “Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam – tổ chức liên minh chính trị của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp, tầng lớp - là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”, tức chỉ có MTTQ Việt Nam (với các thành viên của mình) mới
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, còn các tổ chức thành viên không phải tất cả đều
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân
+ Ghi nhận các nhiệm vụ cơ bản của Mặt trận như về « tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, đặc biệt là vai trò mới
« đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân” và “giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước” là thể hiện vị trí, vai trò mới của MTTQ
Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay
Như vây, lần đầu tiên trong lịch sử, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đại diện cho lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân đã được hiến định Cũng lần đầu tiên Hiến pháp hiến định vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đây là một bước tiến mới của tiến trình thực hiện dân chủ là cơ hội để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy vai trò của mình và đóng góp nhiều hơn nữa vào tiến trình phát triển của đất nước Nhưng cũng từ đây, đòi hỏi Mặt trận phải đổi mới hơn nữa phương thức hoạt động Có như vậy Mặt trận mới có thể hoàn thành được trọng trách mà nhân giao phó thông qua Hiến pháp sửa đổi
- Đối với các tổ chức chính trị - xã hội đồng thời là các tổ chức thành viên của Mặt trận việc quy định cũng có những tiến bộ MTTQ Việt Nam hiện tại tập hợp 46 tổ chức
thành viên (xin mở ngoặc: Bên cạnh đó còn có các thành viên khác là các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài) Các tổ chức thành viên của Mặt trận gồm có: tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội Trước đây, Hiến pháp quy định chung vị trí vai trò của các tổ chức
thành viên lẫn chung với MTTQ; Trong 5 tổ chức chính trị xã hội nòng cốt là công, nông, thanh, phụ, cựu mới chỉ qui định vai trò của Công đoàn Nay Hiến pháp, như đã nói trên, đã quy định tách biệt vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội Đã dành một khoản riêng (Khoản 2) để quy định về 5 tổ chức chính trị - xã hội: Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam (và còn có thể thêm nữa) chứ không chỉ quy định về mỗi một mình Công đoàn Việt Nam như cũ (Riêng Công đoàn Việt Nam, ngoài quy định chung tại Điều này Hiến pháp vẫn giữ một điều (Điều 10) quy định thêm do tính chất đặc biệt của tổ chức
này) Hiến pháp xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội về” đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên tổ chức mình” và “cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”
- Đối với các tổ chức thành viên khác và chưa phải thành viên – tổ chức xã hội bên
Trang 5cạnh yêu cầu phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, Hiến pháp quy định
“Nhà nước tạo điều kiện để MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên và các tổ chức xã hội khác hoạt động” chứ không chỉ tạo điều kiện cho “Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành
viên hoạt động” như trước
Cũng còn một vài điểm thuộc nội dung quan trọng của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội khác đáng lẽ cần được đưa vào nhưng chưa được Hiến pháp
thể hiện như về vai trò hiệp thương của Mặt trận; vai trò tập hợp ý kiến, kiến nghị, tâm tư nguyện vọng của nhân dân, trong đó có cả các hiến kế, để phản ánh với Đảng và Nhà nước;
về vị trí, vai trò của các tổ chức xã hội khác (được gọi là xã hội dân sự) vì chúng cũng có vai
trò quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước Hy vọng những vấn đề này sẽ được quy định đày đủ và cụ thể trong các Luật về Mặt trận và Luật về Hội sẽ được ban hành sau này
Hiến pháp sửa đổi với những nội dung mới về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như của các tổ chức chính trị-xã hội các tổ chức xã hội, tổ chức thành viên của Mặt trận có hiệu lực thi hành từ 1.4.2014 Có thể xem đây là một cơ hội để MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của mình phát huy tốt hơn vai trò của mình trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới
Trước đây có nhiều điều Mặt trận chưa được làm một cách chính thức như quyền “đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân” vì cho rằng chỉ có Quốc
hội và Hội đồng nhân dân mới là cơ quan đại diện của nhân dân, Mặt trận không phải là cơ
quan đại diện; hay “chức năng phản biện xã hội” được văn kiện Đảng nêu từ Đại hội X năm
2006 nhưng chưa được thể chế hóa, chưa được pháp luật quy định nên cũng không thực hiện Hiện tại, trừ Mặt trận TP Hà Nội đã có những hoạt động phản biện đối với các quyết sách của chính quyền thành phố theo Quy chế phản biện xã hội do HĐND, UBND và Ủy ban MTTQ TP ban hành, còn Mặt trận nói chung chưa có phản biện xã hội đúng nghĩa mà mới
chỉ là những góp ý kiến, kiến nghị thông thường Hay “quyền giám sát” tuy đã có quy định
rồi nhưng nhiều chỗ chưa cụ thể và đày đủ nên chưa thống nhất Nhiều nội dung giám sát chưa rõ như Mặt trận có giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng không, có giám sát Quốc hội không, có được thành lập đoàn giám sát riêng để giám sát hay chỉ đi theo các đoàn giám sát của cơ quan nhà nước v.v… Nay Hiến pháp sửa đổi, cơ bản đã hiến định hóa tất cả các điều này tạo cơ sở pháp lý cần thiết và đày đủ cho Mặt trận thực hiện các chức năng đó Bên
cạnh đó, Hiến pháp còn xác định rõ: Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động” Những quy định
mới, phù hợp hơn trên đây cùng với các quy định tại hai văn bản mới được Bộ Chính trị ban
hành ngày 12-12-2013 là Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (Quyết định số 217/QĐ/TW ngày 12/12/2013) và Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền (Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/1013) sẽ tạo
cơ sở pháp lý – chính trị - xung lực mạnh mẽ để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy tốt vai trò của mình trong đời sống chính trị của đất nước, góp phần đắc lực vào việc xây dựng đất nước Vấn đề đặt ra phải làm gì để tổ chức thi hành tốt các quy định đó
2 Tình hình thực hiện quy định của Hiến pháp về MTTQ Việt Nam, các tổ chức thời gian qua
2.1 Ban hành văn bản cụ thể hóa chi tiết hóa Hiến pháp hoặc hài hòa hóa Hiến pháp làm cơ sở cho hoạt động của MTTQ và các tổ chức:
+ Quyết định 217-QĐTW ngày 12/12/2013 về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể CTXH
Trang 6+ Thông tri số 28/TTr-MTTW – BTT ngày 17/4/2014 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể CTXH; Quy định về MTTQ VN, các đoàn thể CTXH và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
+ Luật MTTQ VN năm 2015 ban hành ngày 9/6/2015 gồm có 7 chương 41 điều quy
định (tại Đ.3) 7 quyền và trách nhiệm của MT: 1 Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; 2 Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3 Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.; 4 Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; 5 Thực hiện giám sát và phản biện xã hội.; 6 Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; 7 Thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân
+ Nghị quyết liên tịch số: 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15 tháng 6 năm 2017 giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội - Chính phủ - Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (cụ thể hóa Điều 27 và 34 của Luật Mặt trận)
2.2 Tình hình thực hiện quy định của Hiến pháp trong các năm 2014-2016
Xin tập trung vào một số hoạt động chính sau:
- Về hoạt động tập hợp, phản ánh ý kiến nhân dân đến với Đảng và Nhà nước
Hoạt động tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân của các thiết chế chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…) xuất phát từ quan điểm: bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Nhân dân vừa trực tiếp thực hiện vừa ủy quyền cho các thiết chế đại diện thay mình thực hiện dưới sự “chỉ huy, sai khiến” và giám sát của mình Còn các thiết chế đại diện phải thể hiện và thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phải lắng nghe tâm
tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị của nhân dân, quan tâm giải quyết những yêu cầu, kể các tiếp thu các hiến kế của của nhân dân Văn kiện của Đảng xác định: các cấp ủy đảng và cấp
chính quyền phải ”…thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể phản ánh với Đảng, Nhà nước những vấn đề mà nhân dân quan tâm… », Đảng“chân thành lắng nghe
ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể” Điều 8 Hiến pháp quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân” Trong
hoạt động này có sự tham gia của nhiều chủ thể: tổ chức đảng, cơ quan nhà nước (nhất là các
cơ quan đại diện quyền lực nhà nước), các đoàn thể nhân dân (hay còn gọi là các tổ chức chính trị - xã hội) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân - đương nhiên cũng đóng một vai trò quan trọng Ngay từ Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) chỉ rõ: «Các đoàn thể có nhiệm vụ… thu thập, phản ánh ý kiến của nhân dân, đề xuất với cấp ủy đảng và cơ quan nhà nước những chủ trương, biện pháp giải quyết các vấn đề có quan hệ đến lợi ích của nhân dân và góp sức xây dựng bộ máy chính quyền các cấp »; Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 quy định “Tập hợp tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước” là một
trong 7 quyền và là trách nhiệm lớn của Mặt trận (Đ.3)
Thực hiện trách nhiệm của mình, trong những năm qua MTTQ Việt Nam các cấp đã đẩy mạnh hoạt động này Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao do nhận thức, cơ chế, phương pháp, năng lực đội ngũ cán bộ và nhiều nguyên nhân khác Điển hình là việc tổ chức thu thập, lấy ý kiến còn tự phát chưa có hình thức thích hợp
đề Mặt trận và nhân dân nêu ý kiến (trừ ở Mặt trận Trung ương gần đây có tổ chức Hội nghị bàn tròn để lấy ý kiến); việc tổng hợp chưa phân định rõ giữa ý kiến cử tri qua tiếp
Trang 7xúc cử tri của đại biểu dân cử với ý kiến nhân dân; hình thức phản ánh ý kiến mới chủ yếu đến các cơ quan nhà nước qua Báo cáo ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân trước kỳ họp Quốc hội và Báo cáo về Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền trước kỳ họp Hội đồng nhân dân mà chưa có phản ánh chuyên đề hoặc bất thường, đặc biệt việc phản ánh trực tiếp đến các cơ quan Đảng hầu như còn chưa thực hiện; Việc phản ánh đến Mặt trận qua các hội nghị, hội thảo còn nhiều hạn chế Hiện tại, theo quy định tại Điều lệ Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Hội nghị Ủy ban Trung ương mỗi năm họp chỉ có 1 kỳ (riêng địa phương 6 tháng một kỳ), Đoàn Chủ tịch 6 tháng 1 kỳ (có thể có kỳ họp bất thường) Chưa lôi cuốn mạnh mẽ sự tham gia của các tổ chức thành viên và thành viên cá nhân tiêu biểu Tại các Hội nghị ý kiến của Ủy viên chủ yếu theo các nội dung, yêu cầu đã chuẩn bị sẵn Việc đăng ký phát biểu là tự nguyện chưa thành một yêu cầu, trách nhiệm nên sự đầu tư chuẩn bị còn hạn chế, chủ đề đôi lúc chưa tập trung, còn thiếu không khí thảo luận, tranh luận Nhiều hội nghị không dành đủ thời gian để các Ủy viên phát biểu, hoặc chỉ chú trọng sắp xếp phát biểu của lãnh đạo ban, ngành và các tổ chức thành viên còn các ủy viên cá nhân thì không đến lượt Việc theo dõi, đôn đốc thúc đấy xem xét, giải quyết hầu như chưa được thực hiện Việc kết hợp thông tin, tuyên truyền, giải thích, vận động, kêu gọi nhân dân tích cực hưởng ứng và hăng hái thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có lúc, có nơi còn chưa được coi trọng
- Thực hiện giám sát và phản biện xã hội
Sau khi có Quyết định số 217-QĐ/TƯ ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”, công tác giám sát và PBXH được Ủy ban MTTQ các cấp triển khai, đi vào nền nếp:
- MTTQ các cấp đã tập trung giám sát, PBXH vào các dự thảo kế hoạch Nghị quyết của Quốc hội, HĐND về phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, giám sát việc ban hành pháp luật;
- Giám sát việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, các chính sách an sinh
xã hội, cải cách thủ tục hành chính, việc thực hiện chính sách đối với người có công, xây dựng nông thôn mới;
- Giám sát các cơ quan chức năng giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, khiếu nại, tố cáo của công dân…
- Thời gian qua từ năm 2014 đến 2016 MTTW đã chủ trì thực hiện 9 chương trình phối hợp giám sát gồm:
+ Tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; + Giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp; + Giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp; + Giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ sở y tế tư nhân;
+ Giám sát và nâng cao hiệu quả việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cơ sở;
+ Giám sát thực hiện Luật Khoa học, công nghệ và Nghị quyết TW 6 Khóa XI về phát triển khoa học, công nghệ;
+ Giám sát việc thực hiện những nhiệm vụ, gia rpháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thuế và hải quan;
+ Triển khai xác định chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của
cơ quan hành chính nhà nước;
+ Vận động và giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm;
Trang 8Và 03 cuộc giám sát về:
+ Việc thực hiện chính sách về ứng phó với thiên tai và biến đổi klhí hậu;
+ Giám sát việc thực hiện hỗ trợ của Nhà nước đối với nhân dân bốn tỉnh miền Trung khắc phục thiệt hại do thủy sản chết hàng loạt;
+ Giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp
Ở địa phương MT các cấp cũng có những chương trình, cuộc giám sát tương tự Có thể thấy phần lớn các chương trình cuộc giám sát là về thực hiện chính sách kinh tế - xã hội; trong khi cái cần giám sát là giám sát về hoạch định chính sách, pháp luật, thực thi chức
trách công vụ, tư cách, đạo đức của cán bộ đảng viên thì chưa được nhiều (Xem: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định 217-QĐ/TW và Quyết định 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (Khóa XI) của MTTQ Việt Nam)
Hình thức giám sát và phản biện xã hội sau khi có Quyết định 217 và Luật Mặt trận mới đã trở nên phong phú (Hình thức giám sát: xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát và
tổ chức đoàn đi giám sát; tiếp thu ý kiến phản ảnh của các thành viên, đoàn viên, hội viên, ý kiến của nhân dân, ý kiến của các chuyên gia và tổ chức khảo sát thực tế; nghiên cứu văn bản, tài liệu, báo cáo của các cơ quan, tổ chức; tiếp dân, nhận và nghiên cứu đơn, thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân gửi Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và qua phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng; tham gia các hoạt động giám sát do các cơ quan dân cử đề nghị) Ngoài phối hợp cùng các cơ quan chức năng, MTTQ VN ở cơ sở còn giám sát độc lập thông qua hệ thống “chân rết” là các Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Phản biện xã hội dưới các hình thức:
Tổ chức hội nghị các cơ quan lãnh đạo trực thuộc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ban Chấp hành các đoàn thể chính trị - xã hội từng cấp; Tổ chức lấy ý kiến phản biện (thông qua
tổ chức, cá nhân, đoàn viên, hội viên) trong hệ thống của tổ chức, đoàn thể mình hoặc gửi văn bản dự thảo đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến phản biện; Khi cần thiết, tổ chức đối thoại trực tiếp giữa chủ thể phản biện với cơ quan, tổ chức có văn bản
dự thảo được phản biện
Để công tác giám sát và PBXH được tổ chức hiệu quả, MTTQ thường xuyên lắng nghe, tập hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân, đặc biệt các vấn đề dân sinh, bức xúc Qua đó, thực hiện PBXH các chương trình, đề án có liên quan trực tiếp đến nhân dân ở địa phương Công tác PBXH không chỉ góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng các quyết sách trước khi ban hành mà còn tăng cường sự đối thoại, đồng thuận xã hội Tuy nhiên, công tác này hiện còn một số “rào cản” về cơ chế nên nhiều việc MTTQ chưa được tham gia giám sát hoặc ý kiến sau giám sát, PBXH chuyển đến cơ quan chức năng có thẩm quyền nhưng chậm, thậm chí không có hồi âm, không được giải quyết
3 Những vấn đề đang đặt ra trong việc thi hành Hiến pháp
* Về tập hợp, phản ánh ý kiến nhân dân
1 Chưa nhận thức đúng ý nghĩa vai trò của việc tập hợp, tổng hợp phản ánh ý kiến của nhân dân (tức ý kiến của Mặt trận) đến Đảng và Nhà nước Đang có sự lẫn lộn giữa tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân qua lăng kinh Mặt trận với việc báo cáo ý kiến kiến nghị của cử tri qua việc tiếp xúc cử tri của đại biếu dân cử
Hiện pháp luật đang quy định hai hình thức thu thập ý kiến: các đại biểu và cơ quan dân cử thu thập ý kiến cử tri, còn Mặt trận Tổ quốc các cấp thì thu thập ý kiến nhân dân song lại giao cho Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam xây dựng và trình bày Báo cáo tổng hợp ý kiến cử tri và Nhân dân ra trước mỗi kỳ họp Quốc hội và Ủy ban MTTQ các
Trang 9cấp xây dựng và trình bày Thông báo về việc MT tham gia xây dựng chính quyền ra trước HĐND các cấp Việc này dẫn đến MT chú trọng vào chuyện tập hợp phản ánh ý kiến cử tri
mà lẽ ra phải là tập hợp, phản ánh những vấn đề đang nổi lên trong các giai cấp, tầng lớp nhân dân Và không chỉ phản ánh đến các cơ quan đại biểu mà phải và chủ yếu đến các cấp
có thẩm quyền, có trách nhiệm cao Cần phải nhận thức và quy định lại: Trách nhiệm thu thập, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri cần quy về đúng đầu mối là các cơ quan thường trực QH, HĐND tổng hợp và báo ra trước kỳ họp MTTQ cần tập trung vào nhiệm vụ tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân (các giai cấp, tầng lớp, không phải cử tri) để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước Và việc này phải làm thường xuyên chứ không chỉ trước mỗi kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân Ở một số địa phương như Hà Nội đã tách riêng hai việc này: Thường trực Ủy ban MTTQ xây dựng Thông báo về việc MTTQ tham
gia xây dựng chính quyền còn Tổng hợp ý kiến của cử tri Thủ đô với kỳ họp HĐND thành phố do Thường trực HĐND đảm nhiệm107
2 Chưa tổ chức tốt việc thu thập, lấy ý kiến, kiến nghị thường xuyên (Hội nghị Ủy ban MTTQ, tập hợp ý kiến của thành viên Mặt trận, ý kiến của các tầng lớp nhân dân, báo chí v.v…) Các thành viên MTTQ nhất là thành viên cá nhân chưa được mời và tích cực tham
gia các cuộc hội nghị, các kỳ họp, phiên họp, cuộc tiếp xúc cử tri, để thu thập và phản ánh các ý kiến, kiến nghị, tâm tư nguyện vọng của cử tri và nhân dân đến Ủy ban MTTQ các cấp
và tổng hợp chung để phản ánh đến Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp Còn thiếu việc lấy ý kiến và trao đổi thảo luận của các vị Ủy viên Ủy ban Chưa đẩy mạnh hoạt động của các Hội đồng tư vấn của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Chưa có các cơ cấu thích hợp trong Ủy ban MTTQ như các Ban, Ủy ban chuyên đề bao gồm thành viên cá nhân tiêu biểu theo lĩnh vực để nghiên cứu đề xuất ý kiến, kiến nghị của MTTQ với Đảng và Nhà nước Các kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp chưa bố trí đủ thời gian và phù hợp để MTTQ phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân và phải có sự tiếp thu, giải trình
3 Chưa có nhiều các hình thức hội nghị lấy ý kiến, kiến nghị của nhân dân do Mặt trận Tổ quốc chủ trì (hội nghị chuyên đề, diễn đàn, bàn tròn v.v…)
Chưa triển khai rộng rãi các hình thức lấy ý kiến nhân dân, hội nghị chuyên đề đã được khẳng định và nêu tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ
VIII (9.2014) “… phối hợp tổ chức các diễn đàn nhân dân, hội nghị tiếp xúc cử tri, của đại biểu dân cử, đa dạng hóa các kênh tiếp nhận, tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;…”, “Tổ chức các diễn đàn và các phương thức phù hợp để phát huy sáng kiến của nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức ở trong nước và ngoài nước hiến kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Chưa xây dựng và ban hành được
các quy chế cụ thể về hoạt động tổ chức lấy ý kiến, kiến nghị của nhân dân Hoạt động tổ chức lấy ý kiến, kiến nghị của nhân dân chưa được qui định thành văn bản và thống nhất trong hệ thống MTTQ Việt Nam và không trái với chỉ thị, nghị quyết của Đảng, luật pháp của Nhà nước và Điều lệ của MTTQ Việt Nam
4 Chưa tổng hợp và phản ánh thường xuyên và kịp thời các ý kiến, kiến nghị của nhân dân đến các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước
Chưa có các hình thức đa dạng để tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của hội viên, thành viên, đoàn viên, của các tổ chức thành viên của Mặt trận Chưa tăng cường hoạt động
107 Việc này ở địa phương đã làm tách riêng: Thường trực HĐND xây dựng Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân với kỳ
họp HĐND sắp diễn ra (xem: ví dụ: Tổng hợp ý kiến của cử tri Thủ đô với kỳ họp thứ 19 HĐND thành phố Hà
Nội Báo Nhân dân, 4/12/2009, trang Hà Nội), còn ban Thường trực Ủy ban MTTQ xây dựng Thông báo về việc
Trang 10phản ánh trực tiếp đến các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước được phân công trực tiếp theo dõi và chỉ đạo công tác Mặt trận, các hội nghị, phiên họp của các cơ quan tổ chức mà Mặt trận được mời tham dự, mà chủ yếu vẫn chỉ phản ánh đến các cơ quan quyền lực nhà nước (kỳ họp) và các bộ ngành Ý kiến thường không xuyên mà chỉ tập trung đưa ra trước mỗi kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân (6 tháng 1 lần)
5 Việc theo dõi, thúc đẩy việc tiếp thu, giám sát, thúc đẩy việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của nhân dân còn hạn chế
Chưa đẩy mạnh hoạt động theo dõi, thúc đẩy việc tiếp thu, giám sát, thúc đẩy việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của nhân dân Chưa có cơ chế đầy đủ về giám sát của MTTQ, các tổ chức thành viên đối với việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; chưa thực hiện nghiêm túc việc thông báo định kỳ về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện cho Mặt trận biết
* Về giám sát và phản biện xã hội:
1 Hiện Luật về Hội còn đang gặp khó khăn chưa ban hành được Các văn bản quy
định về hoạt động xây dựng chính quyền, giám sát, phản biện mới chỉ quy định cho các tổ chức chính trị - xã hội mà chưa có quy định cho tổ chức xã hội Do đó, hiện tại, hoạt động của các tổ chức xã hội về các vấn đề đó còn chưa có quy chế pháp lý để thực hiện nên nếu có làm thì phần nhiều là “mượn” các quy định về MT và các tổ chức chính trị- xã hội đó
2 Nhận thức về ý nghĩa của giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam (theo quy định của Luật Mặt trận năm 2015) chưa tương xứng, chưa phù hợp với vai trò vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nhận thức “giám sát và phản biện xã hội của MTTQ là mang tính xã hội” là theo quy
định tại điều 25 và Điều 32 Luật MTTQ Việt Nam mới, ban hành ngày 9/6/2015, có vẻ như không thể hiện đúng bản chất của việc giám sát này, không thấy hết và phát huy đầy đủ ý nghĩa của giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam cũng như vai trò, vị trí của MTTQ trong
hệ thống chính trị MTTQ Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị với sứ mệnh lịch sử là hình thức Đảng cộng sản đoàn kết với các lực lương dân chủ tiến bộ khác tạo thành một mặt trận
để đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì những công việc của nó là mang tình chính trị-quyền lực (mà lâu nay tạm gọi là “tính nhân dân”) chứ không thể mang tính
xã hội thông thường Mặt khác về mặt pháp quyền, quy định này là khác với quy quy định tại Quy chế 217 là “giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam mang tính nhân dân” Do
đó nhận thức hiện tại và quy định tại Luật Mặt trận còn là không phù hợp với văn bản của Đảng
và xét về bản chất là hạ thấp vị trí, vai trò của MT và các tổ chức CTXH trong giám sát và phản biện xã hội (phía bị giám sát không còn coi trọng ý kiến giám sát của Mặt trận; còn Mặt trận cũng vì thế mà cũng làm cho qua, không còn nghiêm túc và thiết tha nữa)
Ở một khía cạnh khác, đối tượng giám sát không phải chủ yếu các các hoạt động kinh tế - xã hội mang tính chuyên môn, nghiệp vụ như xây dựng đấu thầu, ô nhiễm môi trường, vệ sinh thực phẩm hiện đang được các cuộc giám sát, phản biện hướng vào mà phải là việc thực thi quyền lực nhà nước, thi hành dân chủ tức phải tập trung giám sát hoạt động của chính quyền, giám sát cán bộ, đảng viên, phòng chống lạm quyền, tham nhũng, lãng phí (hoạt động chính trị) Luật Mặt trận mới 2015 cũng đã theo tinh thần đó khi không còn quy định ”Hoạt động giám sát của Mặt trận hỗ trợ cho công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra của Nhà nước…” được quy định tại Luật Mặt trận năm 1999 (Đ.12) nhưng thực tế vẫn theo nếp cũ thậm chí còn nặng hơn Nên nhớ ở Chính hiệp Trung Quốc người ta chỉ nói tới ”giám sát dân chủ” tức giám sát về bầu cử, xây dựng đường lối, chính