1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu cách thức sản xuất rau sạch tại làng kawakami, tỉnh nagano, nhật bản​

78 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhắc đến Nhật bản chúng ta sẽ nghĩ đến một đất nước phát triển về kinh tế khoa học và kỹ thuật rất phát triển mà ít nghĩ đến nghành nông nghiệp Nhật Bản, nông nghiệp của Nhật Bản phát tr

Trang 1

ĐAO VĂN GIANG

Tên đề tài:

TÌM HIỂU CÁCH THỨC SẢN XUẤT RAU SẠCH TẠI LÀNG KAWAKAMI, TỈNH NAGANO, NHẬT BẢN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo Chính quy :

Chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn :

Khóa học 2014 – 2018 :

Thái Nguyên – 2019

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo Chính quy :

Chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn :

Trang 3

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã thực tập theo chương trình thực tập sinh của Trung tâm đào tạo và phát triển quốc tế ITC tại trang trại:

ENDO TOROHIRO Nhật Bản từ ngày 07/05/2018 đến ngày 08/11/2018 với

tên đề tài : “Tìm hiểu cách thức sản xuất rau sạch tại làng Kawakami tỉnh Nagano Nhật Bản”

Để có được kết quả này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa, và đặc biệt là sự tận tình giúp đỡ

của cô giáo PGS.TS Đinh Ngọc Lan đã trực tiếp hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bác đang công tác tại hiệp hội giao lưu nông nghiệp quốc tế làng Kawakami, HTX Kawakami, hiệp hội hỗ trợ du học sinh, thực tập sinh Chikyujin, cán bộ khuyến nông làng Kawakami đặc biệt là gia đình bác chủ đã luôn quan tâm, tạo điều kiện và cung cấp số liệu giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp tại địa bàn

Trong suốt thời gian thực tập và làm khóa luận em đã cố gắng hết mình nhưng do kinh nghiệm thực tế chưa có nhiều, kiến thức và thời gian thực tập

có hạn, bước đầu tiếp cận làm quen công việc thực tế và phương pháp nghiên cứu nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và bạn bè để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 03 năm 2019

Sinh viên

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Định mức cho phép hoạt chất Deltamethrin có trên một số loại rau,

theo quy định của Bộ NN & PTNT 8

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của làng Kawakami năm 2015 37

Bảng 4.2 Thu nhập của người dân làng Kawakami 40

Bảng 4.3 Cơ cấu diện tích đất canh tác của làng Kawakami năm 2016 40

Bảng 4.4 Số lượng xuất khẩu rau của làng Kawakami năm 2016 41

Bảng 4.5 Giá trị kinh tế thu được sản lượng rau bán ra năm 2016 42

Bảng 4.6 Tổng thu và tiêu thụ sản lượng sản xuất rau làng Kawakami qua các năm 42

Bảng 4.7 Tỷ lệ (%)sản lượng sản xuất rau của làng Kawakami 43

Bảng 4.8: Lượng xuất khẩu rau của trang trại ENDO TOROHIRO 44

Bảng 4.10 : Tổng thu từ sản xuất rau xà lách tại trang ENDO OROHIRO 53

Bảng 5.1: Chi phí dự kiến đầu tư xây lắp cơ bản của dự án 60

Bảng 5.2: Chi phí dự kiến đầu tư trang thiết bị của dự án 61

Bảng 5.3: Chi phí sản xuất thường xuyên của dự án 61

Bảng 5.4: Doanh thu dự kiến hàng năm của dự án 62

Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế của dự án 63

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy hoạt động nông lâm thủy sản Nhật Bản 17

Hình 4.1 Hai loại rau xà lách xanh và xà lách tía được trồng xen kẽ nhau trên một quy mô diện tích 45

Hình 4.2 Hạt giống được chăm sóc trong tủ nhiệt độ khoảng 1-2 ngày 46

Hình 4.3: Lựa chọn hạt giống 47

Hình 4.4 Phun thuốc trừ sâu phòng trừ sâu bệnh 48

Hình 4.5 Sinh viên thực tập thu hoạch rau lúc 3h sáng 49

Hình 4.6 Sơ đồ tổ chức mạng lưới cơ quan phụ trách nông nghiệp làng Kawakami 50

Hình 4.7: Lợi nhuận thu được chi/lãi 54

Trang 6

13 NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

14 NNCNC Nông nghiệp công nghệ cao

15 QĐ-BNN Quyết định - Bộ nông nghiệp

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa nghiên cứu 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.2 Khái niệm về rau sạch 6

2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây rau 11

2.1.4 Khái niệm về sản xuất 11

2.1.5 Các văn bản pháp lý lien quan đến nội dung thực tập 13

2.1.6 Lịch sử phát triển hệ thống khuyến nông ở Nhật Bản 14

2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất nông nghiệp cao trên Thế giới và Việt Nam 17

2.2.1 Tình hình sản xuất rau của một số nước trên thế giới 17

2.2.2 Mô hình trồng rau sạch ở làng Kawakami 24

2.2.3 Tình hình sản xuất rau sạch tại Việt Nam 25

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 3.1 Đối tượng nghiên cứu 34

Trang 8

3.2 Thời gian nghiên cứu 34

3.3 Nội dung nghiên cứu 34

3.4 Phương pháp nghiên cứu 34

3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 34

3.4.2 Thu thập số liệu thứ cấp 35

3.4.3 Thu thập số liệu sơ cấp 35

3.4.4 Các phương pháp xử lý số liệu 35

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Khái quát về Làng Kawakami 36

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 36

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38

4.1.3 Tình hình sản xuất Nông nghiệp làng Kawakami 40

4.2 Cách thức sản xuất rau của trang trại ENDO TOROHIRO 45

4.2.1 Quy mô, diện tích 45

4.2.2 Loại cây trồng trong trang trại 45

4.2.3 Quy trình sản xuất rau tại trang trại ENDO TOROHIRO 46

4.3 Mạng lưới các cơ quan địa phương và nhiệm vụ của các bên liên quan 50 4.3.1 Mạng lưới cơ quan tổ chức 50

4.3.2 Cách thức tổ chức sản xuất 51

4.4 Những thuận lợi và khó khăn về giải pháp khi áp dụng mô hình sản xuất rau ở Nhật Bản vào Việt Nam 54

4.5.Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế 55

PHẦN 5 Ý TƯỞNG KHỞI NGHIỆP 58

5.1 Chi phí 60

5.2 Doanh thu của dự án 62

5.2.1 Hiệu quả kinh tế của dự án 63

5.2.2 Điểm hòa vốn của dự án 63

5.3 Phân tích thế mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ (SWOT analysis): 64

Trang 9

5.4 Những rủi ro có thể gặp khi thực hiện ý tưởng/dự án và biện pháp giảm

thiểu rủi ro 64

5.5 Những kiến nghị nhằm hỗ trợ cho ý tưởng được thực hiện 65

5.6 Kế hoạch triển khai ý tưởng khởi nghiệp 65

KẾT LUẬN 67

1 Kết luận 67

2 Kiến nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chương trình thực tập nghề tại Nhật Bản là một chương trình có sự hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên với Trung tâm Đào Tạo và Phát Triển Quốc Tế về nhiều lĩnh vực giáo dục đào tạo, chuyển giao khoa học công nghệ Trong đó lĩnh vực về hợp tác phát triển nông nghiệp đang được chú trọng quan tâm vì đặc thù của Việt Nam vẫn đang

là một nước nông nghiệp dựa vào nông nghiệp là chính Nhật Bản là một nước dù chịu nhiều thiên tai điều kiệm thời tiết khắc nghiệt nhưng nền nông nghiệp phát triển một cách thần kỳ và là một trong những nước có nền nông nghiệp công nghệp cao tiên tiến, hiện đại hàng đầu thế giới

Đối với chương trình thực tập lần này không chỉ học về kiến thức nông nghiệp mà còn được trải nghiệm văn hóa, cuộc sống thường nhật của người bản địa Thông qua những trải nghiệm thực tế để khám phá thêm những kiến thức mới biến nó thành kinh nghiệm cho bản thân

Nhắc đến Nhật bản chúng ta sẽ nghĩ đến một đất nước phát triển về kinh tế khoa học và kỹ thuật rất phát triển mà ít nghĩ đến nghành nông nghiệp Nhật Bản, nông nghiệp của Nhật Bản phát triển theo hướng khoa học bền vững ứng dụng nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vì vậy có sản lượng rất cao, chất lượng rất tốt và đứng hàng đầu thế giới Những người làm nông nghiệp của Nhật rất giàu có và sung túc

Nông nghiệp của Nhật Bản chỉ có vai trò thứ yếu trong nền kinh tế Nhật Bản, tỉ trọng của nông nghiệp trong GDP chỉ chiếm khoảng 1% Diện tích đất nông nghiệp ít, chỉ chiếm chưa đầy 14% lãnh thổ Chỉ có khoảng 3% dân số của Nhật Bản làm nông nghiệp nhưng cung cấp đầy đủ thực phẩm chất lượng cao cho hơn 127 triệu dân của quốc gia này, ngoài ra còn dư thừa để xuất khẩu sang các nước như là Hồng Kông, Đài Loan, Singapore

Trang 11

Sự thành công của nền nông nghiệp Nhật Bản là do sự quan tâm đầu tư của chính phủ vào nông nghiệp nhưng cũng phải nói đến vai trò tích cực của các hoạt động khuyến nông trong việc phát triển nông nghiệp tại Nhật Bản

Trên cơ sở nhằm để học hỏi những kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp sạch em đã được nhà trường cử đi thực tập tại làng kawakami, làng chủ yếu sản xuất các loại rau sạch như xà lách, bắp cải, cải thảo, xúc lơ… Các loại rau do làng sản xuất rất được ưa chuộng vì vậy việc trồng rau đã làm cho các hộ dân giàu lên nhanh chóng Em đã tiến hành nghiên cứu đề tài

“Tìm hiểu cách thức sản xuất rau sạch tại làng Kawakami tỉnh Nagano Nhật Bản”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Thực trạng sản xuất rau sạch tại làng Kawakami

- Tìm hiểu cách thức sản xuất rau sạch

- Bài học kinh nghiệm và các giải pháp sản xuất rau sạch ứng dụng được ở Việt Nam

1.3 Ý nghĩa nghiên cứu

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường làm quen với thực tế

- Nâng cao kiến thức thực tế

- Tích luỹ được kinh nghiệm phục vụ cho công việc sau này

- Bổ sung tư liệu cho học tập

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Để góp phần phát triển bền vững và hiệu quả sản xuất rau sạch thì công tác xây dựng báo cáo hiện trạng đất sản xuất là rất cần thiết, nhằm giúp cho chủ trang trại, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách về kinh tế,

về đất đai chủ động nắm vững diễn biến đất nông nghiệp tại từng nơi, từng khu vực

Trang 12

- Biết được mặt mạnh, mặt yếu kém, những khó khăn và tồn tại trong công tác quản lý, sử dụng tài đất nông nghiệp ở trang trại

- Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hợp lí, hiệu quả sao cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của trang trại trên cơ sở phát triển bền vững

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Rau là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể con người

Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250-300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm Rau cung cấp cho cơ thể con người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ, vv Trong rau xanh hàm lượng nước chiếm 85-95%, chỉ có 5-15% là chất khô Trong chất khô lượng cacbon rất cao (cải bắp 60%, dưa chuột 74-75%, cà chua 75-78%, dưa hấu 92%) Giá trị dinh dưỡng cao nhất ở rau là hàm lượng đường (chủ yếu đường đơn) chiếm

tỷ lệ lớn trong thành phần cacbon Nhờ khả năng hoà tan cao, chúng làm tăng

sự hấp thu và lưu thông của máu, tăng tính hoạt hoá trong quá trình ôxy hoá năng lượng của các mô tế bào Một số loại rau như khoai tây, đậu (nhất là đậu

ăn hạt như đậu Hà Lan, đậu Tây), nấm, tỏi cung cấp 70 - 312 calo/100g nhờ các chất chứa năng lượng như protit, gluxit

- Rau là nguồn cung cấp vitamin phong phú và rẻ tiền:

Rau có chứa các loại vitamin A (tiền vitamin A), B1, B2, C, E và PP vv Trong khẩu phần ăn của nhân dân ta, rau cung cấp khoảng 95 - 99% nguồn vitamin A, 60-70% nguồn vita min B (B1, B2, B6, B12) và gần 100% nguồn vitamin C

Vitamin có tác dụng làm cho cơ thể phát triển cân đối, điều hòa, các hoạt động sinh lý của cơ thể tiến hành bình thường Thiếu một loại vitamin nào đó sẽ làm cho cơ thể phát triển không bình thường và phát sinh ra bệnh tật Nếu ăn uống lâu ngày thiếu rau xanh ta thường thấy xuất hiện các triệu

Trang 14

chứng như da khô, mắt mờ, quáng gà do thiếu vitamin A; bệnh chảy máu chân răng, tay chân mỏi mệt, suy nhược do thiếu vita min C; miệng lưỡi lở loét, viêm ngứa chủ yếu do thiếu vitamin PP; tê phù do thiếu vitamin B (chủ yếu là B1) Ngoài ra thiếu vitamin làm giảm sức dẻo dai, hiệu suất làm việc kém, dễ phát sinh nhiều bệnh tật, khi mắc bệnh chữa cũng lâu lành Trong lao động, công tác, học tập sinh hoạt hàng ngày mỗi người đều cần một lượng vita min nhất định, nhu cầu vitamin hàng ngày mỗi người cần 100mg C trong

đó 90% lấy từ rau quả

- Rau là nguồn cung cấp chất khoáng cho cơ thể

Rau chứa các chất khoáng chủ yếu như Ca, P, Fe, là thành phần cấu tạo của xương và máu Những chất khoáng có tác dụng trung hòa độ chua do dạ dày tiết ra khi tiêu hóa các loại thức ăn như thịt, các loại ngũ cốc Hàm lượng

Ca rất cao trong các loại rau cần, rau dền, rau muống, nấm hương, mộc nhĩ (100- 357 mg%)

- Rau là nguồn cung cấp các dinh dưỡng khác

Rau cung cấp cho cơ thể các axit hữu cơ, các hợp chất thơm, các vi lượng, các xellulo (chất xơ) giúp cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ dàng, phòng ngừa các bệnh về tim mạch áp huyết cao Ngoài ra nhiều loại rau còn chứa các kháng sinh thực vật như Linunen, Carvon, Pinen ở cần tây, allixin ở tỏi, hành

có tác dụng như một dược liệu đối với cơ thể Bởi vậy nhu cầu ăn rau ngày càng cao ở tất cả mọi người Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì mức tiêu dùng rau tối thiểu cho mỗi người cần 90-110 kg/năm tức 250-300g/người/ngày Liên hệ với các nước phát triển có đời sống cao đã vượt quá

xa mức quy định này: Han quốc: 141,1 kg; New Zealand: 136,7 kg Hà Lan lên tới 202 kg/người/năm Ở Canada mức tiêu thụ rau bình quân hiện nay là

227 kg/người/năm Xu hướng các nước phát triển là để cải thiện đời sống nhân dân cần tăng tỷ lệ thịt, trứng, sữa, rau, quả Ở nước ta, do đời sống chưa cao, nhu cầu về rau ngày càng tăng nhưng so với các nước thì sản lượng bình

Trang 15

quân trên đầu người vẫn còn thấp Tiêu thụ rau nhiều chủ yếu ở các thành phố lớn nhưng năm 2000 trở lại đây mức tiêu thụ tăng lên xấp xỉ nhu cầu bình quân của thế giới: Năm 2005 cả nước có dân số 88 triệu người, phấn đấu bình quân nhu cầu tiêu thụ 96,3 kg/người/năm, tức khoảng 263,8 g/người/ngày Phấn đấu đến năm 2010 mức tiêu thụ 105,9 kg/người/năm tức 290,1 g/người/ngày với dân số chừng 95,8 triệu người

2.1.2 Khái niệm về rau sạch

Rau sạch hay còn gọi là rau an toàn là loại rau được sản xuất theo quy trình kỹ thuật bảo đảm được tiêu chuẩn sau: Hạn chế đến mức thấp nhất việc

sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích nhằm giảm tối đa lượng độc tố tồn đọng trong rau như nitrat, thuốc trừ sâu, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh

Rau chỉ được coi là sạch nếu người sản xuất tuân thủ các biện pháp kỹ thuật sau:

Chọn đất: Vùng đất trồng rau sạch, chưa bị ô nhiễm bởi các kim loại nặng (thủy ngân, asen ), chưa bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp (do ở gần các xí nghiệp, nhà máy nước thải chưa được xử lý)

Giảm lượng phân đạm bón cho các loại rau xanh vì phân đạm chứa nitrat Khi ăn vào, nitrat sẽ chuyển thành nitrit, chúng kết hợp với các amin tạo nên các nitro amin gây bệnh, làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng đến các hoạt động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển các khối u, nhất là các em gái rất dễ bị ngộ độc với nitrat Lượng nitrat trong rau phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật canh tác Bón càng nhiều phân hóa học thì lượng nitrat càng lớn Bón các loại phân đạm có chứa nitrat thì lượng nitrat cao hơn bón các loại phân urê, sulfat đạm Bón lót sớm, đúng lúc thì lượng nitrat thấp, bón muộn quá trước khi thu hoạch thì lượng nitrat trong rau cao Bón phân hóa học đúng quy định, kết hợp với phân chuồng, phân xanh và phân vi lượng là biện pháp

Trang 16

làm giảm nitrat trong rau Nên sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng hoai, mục

để giảm các mầm bệnh, đặc biệt là các vi sinh vật có hại

Không tưới rau bằng phân bắc, phân chuồng tươi, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, các loại nước đã bị nhiễm bẩn

Không phun thuốc trừ sâu, vì thuốc trừ sâu có chứa nhiều gốc hóa học như DDT, 666, thủy ngân gây độc hại cho cơ thể Phun thuốc trừ sâu bừa bãi làm độc tố tồn dư trong đất cao và nguy hại hơn nữa là chúng hòa tan vào các nguồn nước sinh hoạt cho người sử dụng Hiện nay, việc sử dụng phân hữu cơ hoai, mục, phân vi sinh tổng hợp, ứng dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (IPM) đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và với rau nói riêng đang được khuyến khích Với thuốc trừ sâu, không nên mua các loại thuốc không rõ nguồn gốc

Không nên thu hoạch ngay sau khi bón phân, hoặc nhất là khi mới phun thuốc trừ sâu Mỗi loại thuốc đều có thời gian phân giải, phân hủy an toàn khác nhau, cho nên thời gian thu hoạch cũng khác nhau Tuyệt đối không được thu hoạch rau ngay sau khi phun thuốc trừ sâu Phải bảo đảm đủ thời gian phân hủy sau khi phun, tưới mới được thu hoạch và mang bán

Lâu nay, người tiêu dùng đã quen với cụm từ “Rau sạch” “Rau an toàn”, “Rau hữu cơ” Nhưng, thế nào là rau sạch, rau hữu cơ, chắc hẳn không nhiều người tường tận? Rau an toàn (rau sạch) là gì ?Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn".Khái niệm rau "an toàn" được quy định là các chất sau đây chứa trong rau không được vượt quá tiêu chuẩn cho phép:

Dư lượng thuốc hoá học (thuốc sâu, thuốc cỏ) ->Dẫn đến ngộ độc đồng loạt

Trang 17

- Số lượng vi sinh vật và ký sinh trùng -> Gây tiêu chảy và tiêu chảy cấp

- Dư lượng đạm nitrat (NO3) -> Gây ung thư và một số bệnh khó

chữa trị khác

- Dư lượng các kim loại nặng (chì, thủy ngân, asêníc, kẽm, đồng ) -> Gây ung thư và một số bệnh khó chữa trị khác.Hai tiêu chuẩn thứ 3 và thứ 4 là tác nhân chính dẫn đến bệnh ung thư, nó không gây tác hại tức thời mà tích luỹ nhiễm độc theo thời gian Nhưng khi đã phát hiện được thì khó chữa trị

Bảng 2.1 Định mức cho phép hoạt chất Deltamethrin có trên một số loại

rau, theo quy định của Bộ NN & PTNT

(Nguồn: Thông tư số 03/2016/TT-BNNPTNT của Bộ NN& PTNT)

Chung quy lại theo quan điểm của các nhà khoa học thì: Rau sạch an toàn là rau được sản xuất theo quy trình kỹ thuật nghiêm ngạc đáp ứng các nhu cầu sau:

Trang 18

- Rau sạch là rau đảm bảo chất lượng độ tươi ngon không bị nhiễm các độc tố kim loại nặng như: Pb, As, Hg…

- Hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn tại trong rau không được quá mức cho phép

- Rau không được nhiễm các loại sâu bệnh và các vi sinh vật gay hại cho người và các loại vật nuôi…

Cách nhận biết rau hữu cơ, rau an toàn với các loại rau thường khác: Dấu hiệu 1: Màu xanh trung thực

Đa phần các loại rau hữu cơ đều có màu xanh hơi vàng (xanh hữu cơ, xanh trung thực với bảng màu chuẩn đối với màu lá từng loại rau), nó không xanh đậm như các loại rau trồng bằng phân bón hóa học (đặc biệt là sử dụng phân bón lá hóa học, lá có màu xanh đậm), màu xanh đậm như là màu xanh

dư đạm, mày xanh đậm chỉ thu hút sâu bệnh gây hại cho cây và gây hại sức khỏe người sử dụng (dư lượng nitrat)

Dấu hiệu 2: Lá dày, ngắn, cân đối giữa các bộ phận

Lá rau hữu cơ luôn luôn dày, phiến lá ngắn và cân đối, dùng tay sờ vào

có thể cảm nhận được độ cứng của lá, nhìn kỹ một chút sẽ thấy giữa các bộ phận phát triển rất cân đối, không có dấu hiệu thân cây mập

Dấu hiệu 3: Thân giòn, trọng lượng nặng, rắn chắc

Rau hữu cơ thường rất giòn (nhưng không có hoặc rất ít xơ), nó không yểu xìu giống như loại rau trồng bằng phân bón hóa học hoặc thuốc kích thích tăng trưởng, thân nó rắn chắc nhưng không bóng mượt (vì bóng mượt là dấu hiệu tích trữ quá nhiều nước trong cây)

Dấu hiệu 4: Lâu héo, rất dễ bảo quản

Cây rau hữu cơ có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng trong vòng vài ngày

mà không sợ hư (hỏng), không nhất thiết phải bỏ tủ lạnh Khi cây bị héo thì phun nước sơ sơ là có cây có thể hồi phục về trạng thái ban đầu Không giống như “rau hóa học” phun nước vào là cây sẽ hỏng

Trang 19

Dấu hiệu 5: Ăn rất giòn và ngon (giữ được hương vị tự nhiên)

Đẳng cấp rau hữu cơ được thể hiện ở chỗ ngon, giòn và thơm một cách

tự nhiên mà không cần đến gia vị, ăn sống hoặc xào sơ với dầu ăn cũng rất ngon, càng ít sử dụng gia vị khi xào nấu thì ăn càng ngon.Bên cạnh các dấu hiệu trên, một dấu hiệu trực quan nữa là rau hữu cơ thường xấu mã hơn rau thường vì phân cũng dùng phân ủ Về hương vị thì khi các bạn ăn sẽ thấy sự khác biệt rất rõ ràng

Theo như các nhà nghiên cứu, thì hàm lượng các yếu tố gây ô nhiễm trên các sản phẩm rau như hàm lượng Nitrat, kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật và các vi sinh vật… có thể gay hại đến sức khỏe đối với người tiêu dung sản phẩm tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm Do vậy sản phẩm rau được coi

là sạch và an toàn khi đáp ứng được các thông số kỹ thuật cho phép của cơ quan giám định chất lượng sản phẩm và ở mỗi quốc gia đều xây dựng các chỉ tiêu phù hợp nhất để đo lường

Tiêu chuẩn rau sạch

Như theo quy định Tiêu chuẩn của Nhật Bản “Japanese Agricultural Standards”, viết tắt (JAS) là tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp Nhật Bản về các loại rau quả hoa màu sạch là phải đảm bảo tuyệt đối với người tiêu dùng và môi trường xung quanh và cần đạt những yêu cầu cơ bản sau:

- Đất trồng rau phải sạch không được phép nhiễm các kim loại nặng: nghiêm cấm sử dụng hóa chất nông nghiệp, phân bón hóa học trong vòng ít nhất 2 năm (ít nhất 3 năm đối với cây lâu năm) trước khi gieo trồng Không

sử dụng hóa chất nông nghiệp, phân bón hữu cơ trong quá trình sản xuất Bạn chỉ được phép sử dụng phân bón hữu cơ cho cây trồng Để biết thêm chi tiết bạn có thể xem tại đây

- Phân bón: Năng suất hiệu quả của đất nên được duy trì và gia tăng bằng cách sử dụng phân bón hữu cơ từ dư lượng các sản phẩm thừa trong khu vực; và sử dụng chức năng của các vi sinh vật trong khu vực hoặc các khu

Trang 20

vực xung quanh Việc sử dụng phân bón hóa học có thể được cho phép chỉ trong trường hợp các phương thức trên không làm duy trì và gia tăng năng suất hiệu quả của đất trồng

- Hạt giống và cây trồng: Sử dụng hạt giống và cây trồng hữu cơ; nghiêm cấm sử dụng hạt giống và cây trồng biến đổi gen trong sản xuất - Kiểm soát động vật và thực vật gây hại: Sử dụng các biện pháp cơ học, vật lý, sinh học hoặc có thể kết hợp để phòng trừ mối nguy hại

2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây rau

Rau là cây hoa màu đem lại thu nhập nhanh cho người sản xuất và cũng

là một mặt hàng xuất khẩu giá trị và có ý nghĩa chiến lược

Rau là cây trồng đem lại nhiều lợi nhuận góp phần phát triển kinh tế quốc dân đáng kể, ngoài ra rau còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao Trong những năm gần đây thị trường xuất khẩu rau được mở rộng, năm 2015kim ngạch xuất khẩu của ngành rau quả Việt Nam năm đạt 2,2 tỷ USD, tăng tới 47% so với năm 2014

Các loại rau chính xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là dưa chuột, cà chua, cà rốt, hành, ngô rau, đậu rau, ớt cay, nấm trong đó dưa chuột và cà chua có nhiều triển vọng và chúng có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định Thị trường xuất khẩu rau chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Australia, Singapore, Hàn Quốc, Mỹ và các nước châu Âu Hàng năm lượng rau được xuất khẩu rất nhiều cả dạng rau tươi và qua chế biến như rau đóng hộp, rau gia vị, rau muối trong đó rau tươi là hơn trên 200.000 tấn/năm

2.1.4 Khái niệm về sản xuất

Trang 21

hay tài nguyên thành đầu ra là hàng hóa và dịch vụ Sản phẩm có thể là hàng hóa cuối cùng hoặc sản phẩm trung gian” [1]

“Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người bao gồm: Sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau tác động qua lại với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội”[2]

Theo tổ chức thế giới Liên Hiêp ̣ Quốc khi xây dưng ̣ phương pháp thống

kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (môṭ chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tài sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác ) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ ̣thành sản phẩm là vâṭ chất dịch vụ ̣khác Tất cả nhưng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoăc ̣ không thu tiền

Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt đông ̣ kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa viêc ̣ sử dung ̣ và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?

2.1.4.2 Các loại hình sản xuất chính

- Sản xuất hộ gia đình (chủ yếu tự cung tự cấp): Là loại hình mà các hộ nông dân tự làm ra sản phẩm để phục vụ cho chính nhu cầu của chính bản thân người sản xuất Loại hình sản xuất này gắn liền với nền sản xuất nhỏ lẻ

và cũng chính bởi tính nhỏ lẻ nên lực lượng lao động và phân công lao động kém phát triển

Trang 22

- Sản xuất thị trường: Là quá trình sản xuất ra sản phẩm không chỉ nhằm phục vụ cho bản thân người sản xuất mà sản phẩm được đem ra buôn bán trên thị trường Đây là loại hình sản xuất với quy mô lớn bởi sản phẩm làm ra nhằm phục vụ cho nhu cầu của thị trường, năng suất lao động tăng, đặt hiệu quả kinh tế cao

- Sản xuất theo hướng chuyên môn hóa tập trung: Là loại hình sản xuất tập trung các yếu tố nguồn lực (tài nguyên, con người, máy móc…) của một đơn vị sản xuất nào đó, để sản xuất một sản phẩm hay một số đơn vị sản phẩm phù hợp từng điều kiện cụ thể của đơn vị đó cũng như là sự đáp ứng được với nhu cầu của thị trường

2.1.5 Các văn bản pháp lý lien quan đến nội dung thực tập

- Ngày 8/1/2010 Chính phủ ra Nghị định 02/NĐ - CP về công tác Khuyến nông thay thế cho Nghị Định 56/NĐ - CP nhằm đổi mới công tác Khuyến nông phù hợp với thực tiễn sản xuất

- Thông tư số 04/2009/TT - BNN ngày 21/01/2009 Hướng dẫn nhiệm

vụ của Cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn công tác trên địa bàn cấp xã

- Công văn số 299/PKT - NN & PTNTngày 15/12/2016 về việc Hướng dẫn cơ cấu giống, thời vụ gieo trồng một số cây trồng chính năm 2017

- Công văn số 93/KT - CT - NN ngày 10/4/2017 về việc Thống kê các

cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương, ngành Nông Nghiệp trên địa bàn thành phố

- Thông báo số 04/ TB - TT & BVTV ngày 15/4/2017 về tình hình sinh vật gây hại 1 tháng từ 15/3/2017 đến 15/4/2017

- Công văn số 161/CV - CTKTTL ngày 26/4/2017 về việc vận hành, điều tiết hồ Núi Cốc đảm bảo an toàn trong mùa mưa lũ năm 2017 Tích nước đảm bảo sản xuất Nông nghiệp và các nhu cầu dùng nước khác

Trang 23

- Công văn số 02/ TB - TT & BVTV về việc phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng gây hại lúa xuân năm 2017

2.1.6 Lịch sử phát triển hệ thống khuyến nông ở Nhật Bản

Công tác Khuyến nông được hình thành và đi vào hoạt động từ những năm 1900 tại Nhật Bản và được xem là sớm nhất trên thế giới Cơ cấu hành chính và các chính sách về khuyến nông đã được nước này điều chỉnh, hoàn thiện qua các thời kỳ khác nhau Cơ cấu hành chính và các chính sách về khuyến nông đã được nước này điều chỉnh, hoàn thiện qua các thời kỳ khác nhau

Lúc đầu khuyến nông được thực hiện bởi các trường học và các trang trại của chính phủ thông qua việc tiến hành thử nghiệm và đưa các công nghệ mới vào sản xuất Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, hoạt động khuyến nông ở Nhật Bản đã được chính thức hóa bằng pháp luật và đội ngũ cán bộ khuyến nông được xây dựng và củng cố Các giai đoạn tiếp theo, do sự cải cách hệ thống xã hội, nông dân đã buộc phải áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật

và kiến nghị của cán bộ khuyến nông - được gọi là "Mở rộng bắt buộc" Đến năm 1948, dịch vụ khuyến nông chính thức được khôi phục tại Nhật Bản với tên gọi là “Dịch vụ Khuyến nông Hợp tác xã” và phát triển đến nay Vai trò,

hệ thống tổ chức và chính sách khuyến nông tại Nhật Bản:

Vai trò: Dịch vụ khuyến nông tại Nhật Bản có ba vai trò chính :

1, Để cải thiện kỹ thuật sản xuất nông nghiệp

2, Cải thiện các tiêu chuẩn sống của cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn

3, Giáo dục thế hệ trẻ ở nông thôn

Hệ thống tổ chức: Bộ Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Thủy sản (MAFF)

là cơ quan giúp Chính phủ Nhật bản thực hiện dịch vụ khuyến nông trên phạm vi toàn quốc Đội ngũ cán bộ khuyến nông của Nhật Bản hiện nay có khoảng 10.000 người, Đội ngũ cán bộ này làm việc như các chuyến gia cố vấn và được phân bổ chủ yếu ở 47 cơ quan khuyến nông cấp tỉnh và 630 cơ quan khuyến nông cấp huyện Mỗi tỉnh có một trung tâm đào tạo nông dân

Trang 24

- Về chính sách hỗ trợ hoạt động khuyến nông, Chính phủ Nhật bản đã tập trung vào các nội dung:

+ Tạo hành lang pháp lý về khuyến nông, phát triển nông thôn, với phương châm “thể chế mạnh và minh bạch”

+ Hàng năm, Chính phủ hỗ trợ 40% kinh phí cho các hoạt động dịch

vụ khuyến nông của các tổ chức khuyến nông địa phương Phần còn lại là sự đóng góp của người dân hoặc doanh nghiệp và thậm chí là sự huy động của tổ chức khuyến nông

Một trong những hình thức khuyến nông được áp dụng phổ biến ở Nhật bản hiện nay là hệ thống khuyến nông điện tử, với hệ thống thông tin điện tử này đã giúp cho tất cả các nông dân có điều kiện tiếp cận các chính sách và kỹ thuật mới

Hệ thống thông tin điện tử trong hoạt động khuyến nông của Nhật Bản: Khoảng 20 năm trước đây, hệ thống thông tin điện tử trong khuyến nông được hình thành xuất phát từ nhu cầu cung cấp thông tin trong các dịch vụ khuyến nông và sự bùng nổ của xã hội internet Cơ quan thực hiện và triển khai hệ thống thông tin điện tử trong dịch vụ khuyến nông ở trung ương là Trung tâm Thông tin khuyến nông Trung ương, hoạt động của Trung tâm thông tin khuyến nông nhận được sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ quốc gia và sự phối hợp cung cấp thông tin từ các cơ quan nghiên cứu và cơ quan khuyến nông địa phương Hiện nay, vai trò chính của Trung tâm Thông tin là để quản lý hệ thống mạng máy tính, và hệ thống đó được gọi là “Mạng thông tin mở rộng, EI-net” Các EI-net bao gồm nhiều cơ sở dữ liệu về kỹ thuật, chính sách, bản tin, hệ thống e-mail để tư vấn kỹ thuật…

Nguồn số liệu được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau:

- Các cơ quan quản lý nhà nước của Chính phủ, cấp quốc gia cung cấp các thông tin về thống kê, kết quả nghiên cứu, chính sách mới…

Trang 25

- Các công ty cung cấp về tin tức, thị trường và thời tiết…, thông tin về nguyên liệu nông nghiệp như phân bón, hóa chất, máy móc, vv

- Các thông tin mở rộng, được cung cấp bởi các các cố vấn hoặc cán bộ khuyến nông, tình nguyên viên

- Các thông tin sử dụng cho hệ thống còn được cung cấp bởi những người nông dân, hoặc các diễn đàn, hệ thống e-mail Đối tượng sử dụng hệ thống thông tin điện tử EI-net không chỉ là nông dân, chủ trang trại, cán bộ khuyến nông, các nhà cố vấn chuyên môn, mà còn có các nhà hoạch định chính sách, người làm công tác nghiên cứu, các nhà kinh doanh và hệ thống thông tin điện tử khuyến nông được xem là một mạng lưới giúp cho việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan khuyến nông, cán bộ nông nghiệp và nông dân một cách nhanh nhất

Pháp luật quy định về cán bộ NN đã được hơn 70 năm Quy định các hoạt động của cán bộ KN mới đc sửa đổi năm 2003

- Tất cả những hoạt động của hiệp hội KN được trung ương, chính phủ kết hợp với bộ Nông lâm – Thủy sản

- Mỗi năm chính phủ Nhật chi ra 21 tỷ yên ( 42 tỷ ) riêng tỉnh Nagano nhận được 1,4 tỷ hỗ trợ các trung tâm KN

- Hệ thống KN Nhật Bản có sự liên kết chặt chẽ từ trung ương đến địa phương

- Chính phủ có các chính sách từ trên xuống định hướng chiến lược phát triển rồi địa phương căn cứ vào các chiến lược đó tìm ra các giải pháp để phát triển nông nghiệp phù hợp nhất Ở Nhật Bản có 4 vấn đề lớn đang được chú trọng và quan tâm:

1, Đảm bảo tính duy trì và phát triển của nông nghiệp cố gắng khai thác tối đa và hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai

2, Đảm bảo sản lượng cung cấp và chất lượng an toàn đến người tiêu dùng

Trang 26

3, Đảm bảo sự phát triển của hệ thống nông nghiệp nông thôn

4, Phục hồi lại những thiệt hại do trận động đất 2011 đã gai ra tại Nhật Bản

Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy hoạt động nông lâm thủy sản Nhật Bản

2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất nông nghiệp cao trên Thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản xuất rau của một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình sản xuất rau sạch tại Thái Lan

Trong những năm gần đây nền kinh tế Thái Lan phát triển khá là vượt bậc trong đó nông nghiệp cũng được chính phủ Thái Lan quan tâm và đầu tư phát triển

Lĩnh vực nông nghiệp đóng góp khoảng 13% vào tổng GDP của Thái Lan, trong đó các trồng trọt đóng góp khoảng 68% vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Với tổng diện tích đất là 51,3 triệu ha, diện tích đất trang trại chiếm khoảng 21 triệu ha, với khoảng 5,7 triệu trang trại, trung bình mỗi trang tại rộng khoảng 3,7ha

Năm 2009, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Thái Lan đạt khoảng 1.128.060,6 triệu baht, đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu nông sản; trong khi nhập khẩu nông sản chỉ ở mức khiêm tốn là 456.708,4 triệu baht Sản xuất rau giữ một vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp Thái Lan,

Chính phủ

Cấp tỉnh

Địa phương

Trang 27

đồng thời có đóng góp lớn vào giá trị xuất khẩu và thu nhập của người nông dân nước này

Trong giai đoạn 2007-2008, xuất khẩu rau đậu các loại của Thái Lan đạt khoảng 101.422-113.584 baht/năm Kim ngạch và lượng xuất khẩu tăng trung bình 14%/năm Tuy nhiên, theo thống kế thì chỉ khoảng 10,29-15,41% lượng rau đậu của nước này

Rau là loại nông sản có giá trị cao và đóng góp quan trọng cho việc cải thiện thu nhập của người nông dân Thái Lan Xuất khẩu rau của Thái Lan trong năm 2009 đạt 300.914,1 tấn, tương đương với 9.874,45 triệu baht, tăng 4,36% so với năm 2008

Xét về tiêu dùng nội địa, rau đậu ngày càng giữ vai trò quan trọng trong bữa ăn của người Thái do nhận thức của người tiêu dùng về công dụng của rau đậu sạch đối với sức khỏe và tuổi thọ

Tình hình sản xuất rau cũng khác nhau đối với từng loại rau đậu Các loại ớt chiếm ưu thế tại nhiều vùng trang trại nhưng ngô bao tử và các loại rau xanh khác cũng ngày càng tăng tỷ trọng Xu hướng trong các thập kỷ tới sẽ hướng đến các loại rau có hàm lượng dinh dưỡng cao, tốt cho sức khỏe thay

vì các loại rau chỉ có giá trị làm hấp dẫn thức ăn Một xu hướng khác là rau hữu cơ sẽ được sản xuất nhiều hơn tại Thái Lan

Trong những năm gần đây, Chính phủ Thái Lan cũng phát động phương pháp canh tác “trong một môi trường thân thiện”, cung cấp tiền và trợ giúp kỹ thuật cho các khu vực trọng điểm Biện pháp này nhằm tăng xuất khẩu rau quả và giảm thiểu dùng thuốc trừ sâu Chính phủ đề ra tiêu chuẩn quốc gia về trồng rau sạch và thực phẩm an toàn, cấp giấy chứng nhận và logo cho sản phẩm Theo Ban Cấp phép rau sạch Thái Lan, kể từ năm 2002, số nông trại trồng rau sạch tăng lên gấp đôi, hiện có hơn 700 nông trại Ngoài ra

có hàng ngàn nông trại khác trồng cả hai loại

Trang 28

Trong thập kỷ mới (2011-2020), sản xuất rau của Thái Lan sẽ tập trung vào các loại rau có chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa; lượng rau tươi, đông lạnh, chế biến và rau sẵn sang cho tiêu thụ trực tiếp sẽ gia tăng Các loại rau sạch tiềm năng của Thái Lan gồm có ngô bao tử, ngô non, ngô ngọt, tỏi, cà chua, gừng, hành tăm, mướp tây, rau lá, quả cà… Các loại rau này sẽ được giám sát và chứng nhận về thực trạng dùng thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật; trong những trường hợp được qui định, việc cấp chứng nhận sẽ được miễn phí để khuyến khích sản xuất rau an toàn trên diện rộng

Bên cạnh các giống rau mới (có được nhờ các công nghệ lai giống cao cấp), nhiều loại rau truyền thống của Thái Lan vẫn đang được sản xuất với tỷ trọng khoảng 70% Nông dân Thái Lan đã trồng rau từ qui mô vườn nhà từ nhiều thập kỷ trước đến qui mô trang trại và trong những thập kỷ gần đây học

đã lựa chọn và tập hợp được những giống rau truyền thống tốt nhất Nhiều giống rau có giá trị được xử lí bằng công nghệ lai giống đã được triển khai ở các vùng nông thôn, nhiều trong số đó được gieo bằng hạt Những giống rau mới đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cho các sản phẩm rau hàng hóa của Thái Lan

2.2.1.2 Tình hình sản xuất rau sạch tại Israel:

Israel là một quốc gia chỉ có diện tích vào khoảng 22.072km2 với hơn 50% là sa mạc, dân ân số Theo xác định của Cục Thống kê Trung ương Israel, dân số Israel vào năm 2017 ước đạt 8.7 triệu người và mỗi năm đất nước trung đông này đã xuất khẩu hơn 20 tỷ USD rau quả sang các nước liên minh Châu Âu…

Ngành nông nghiệp Israel phát triển ở trình độ cao Bất chấp điều kiện địa lý không thích hợp cho nông nghiệp, Israel là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp Hơn một nửa diện tích đất là sa mạc, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiếu nước

Trang 29

hoàn toàn không thích hợp cho nông nghiệp Tính đến năm 2014, 24,2% diện tích Israel là đất nông nghiệp [1] Hiện nay, nông nghiệp chiếm 2,5% tổng GDP và 3,6% giá trị xuất khẩu [2] Mặc dù lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng lực lượng lao động trong nước, Israel tự sản xuất được 95% nhu cầu thực phẩm, phần còn lại được bổ sung từ việc nhập khẩu ngũ cốc, các loại hạt lấy dầu, thịt, cà phê, ca cao, đường [2]

Là một trong những nước xuất khẩu thực phẩm tươi sống lớn trên thị trường thế giới và là quốc gia đứng đầu về kỹ thuật nông nghiệp dù hơn 50% diện tích đất là sa mạc và khí hậu nơi đây khá khô cằn, thiếu nước

Tại quốc gia Trung Đông này, chỉ có khoảng 20% diện tích đất là đủ điều kiện thích hợp làm nông nghiệp Bất chấp điều đó, ngành nông nghiệp vẫn chiếm 2,5% GDP và 3,6% kim ngạch xuất khẩu

Dù chỉ có 3,7% tổng lực lượng lao động làm trong ngành nông nghiệp nhưng Israel vẫn có thể cung cấp 95% nhu cầu lương thực trong nước Hơn nữa, phần lớn những loại thực phẩm phải nhập khẩu là những loại sản phẩm phụ như đường, ca cao, cà phê

Những người Israel đã sớm hiểu được tầm quan trọng của nông nghiệp

và từ khi thành lập đất nước vào năm 1948, chính phủ và người dân quốc gia này đã tăng cường khai hoang, xây dựng ruộng bậc thang, tháo nước vùng đầm lầy, tái trồng rừng và chống sự xói mòn cũng như xâm nhập mặn

Kể từ khi Israel được thành lập, sản lượng nông nghiệp của nước này

đã tăng trưởng gấp 15 lần, cao gấp 3 lần so với tốc độ tăng trưởng dân số Đây là một con số đáng ngạc nhiên khi quốc gia này có lượng mưa khá thấp

Số đất làm nông nghiệp của Israel cũng tăng trưởng mạnh từ 30.000 ha năm 1948 lên 190.000 ha hiện tại Với công nghệ nông nghiệp hiện đại, số lao động trong ngành này và số nước cần dùng cho tưới tiêu ngày một giảm Một

số báo cáo cho thấy nông nghiệp Israel trong khoảng 1999-2009 sử dụng ít hơn 12% lượng nước tưới tiêu nhưng sản lượng lại tăng 26%

Trang 30

Hầu hết ngành nông nghiệp của Israel được xây dựng theo 2 mô hình là hợp tác xã và làng nông nghiệp

Theo đó, mô hình kinh doanh hợp tác xã có sở hữu chung về phương tiện sản xuất cũng như sản phẩm Trong khi đó, mô hình làng nông nghiệp có hoạt động sản xuất riêng từng hộ nhưng lại hợp tác chung về thương hiệu và các hoạt động thu mua nguyên liệu

Với phần lớn diện tích đất là sa mạc hay khô cằn, chênh lệch nhiệt độ ngày-đêm lại khá cao (từ 10-20 độ) nên việc sản xuất nông nghiệp tại Israel là

vô cùng khó khăn Nhưng với những kỹ thuật tiên tiến và chính sách khai hoang, tháo nước đầm lầy khôn ngoan, người dân quốc gia này đã tạo nên điều thần kỳ ở Trung Đông

Dưới đây là 8 kỹ thuật tiêu biểu mà nông dân Israel đã áp dụng thành công và được giới thiệu ở nhiều quốc gia trên thế giới:

Công nghệ tưới nhỏ giọt

Không giống các công nghệ khác bắt nguồn từ phòng nghiên cứu và cần những phân tích, thử nghiệm cầu kỳ Công nghệ tưới nhỏ giọt vô cùng đơn giản và được người nông dân Israel sử dụng rộng rãi, qua đó làm nên điều thần kỳ tại Trung Đông

Theo đó, một hệ thống đường ống nước sẽ được kiểm soát để tưới nhỏ giọt cho từng gốc cây trồng với liều lượng nhất định Hệ thống này chắc chắn

sẽ tiết kiệm nước hơn so với việc phun nước tưới thông thường nhưng vẫn đảm bảo lượng nước cần thiết cung cấp cho cây trồng

Israel cũng sử dụng một kỹ thuật có chi phí khá thấp là xây các hộp nhựa được thiết kế bao quanh gốc cây, qua đó hấp thụ những giọt sương ban đêm và làm giảm 50% nhu cầu nước của cây trồng

Vào những ngày mưa, các hộp nhựa này nâng cao 27 lần tác dụng tưới nước trên mỗi milimet nước mưa

Trang 31

Hơn nữa, những hộp nhựa này có thể bảo vệ cây trồng khỏi sự thay đổi nhiệt độ đêm ngày đột ngột tại Israel

Hệ thống trồng cây:

Theo đó, người nông dân sẽ trồng cây lâu năm xen kẽ với cây lương thực Như vậy, các rễ cây sẽ giữ được nước cho các hạt giống và lá cây sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng cho hạt giống cây lương thực

Phát triển giống cây trồng mới:

Rất nhiều giống cây trồng chỉ cần ít nước và có thể trồng tại những vùng đất khắc nghiệt dưới ánh mặt trời nóng bỏng Nhiều tổ chức và công ty công nghệ tại Israel đã liên tục nghiên cứu và cho ra đời những giống cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng cũng như khí hậu ở đây

Năm 1973, hai nhà khoa học Haim Rabinowitch và Nachum Kedar đã phát triển thành công một giống cây cà chua mới có thể chịu được thời tiết nóng và khô hạn, qua đó tạo nên một cuộc cách mạng trong ngành xuất khẩu rau xanh của Israel

Tiêu chuẩn công nghệ cao

Bên cạnh việc phát triển những giống cây trồng mới, Israel cũng nghiên cứu các công nghệ thích hợp để tăng năng suất cho cây trồng, như đảm bảo điều kiện ánh sáng, thời điểm thụ phấn

Tích cực trồng cây: Việc trồng cây sẽ ngăn chặn được đà sa mạc hóa

và cung cấp chất dinh dưỡng cho đất theo một chu kỳ tuần hoàn Trong 100 năm qua, Israel là quốc gia duy nhất trên thế giới có tốc độ tăng trưởng ròng

về diện tích cây trồng

Tái sử dụng nguồn nước

Hệ thống tái sử dụng nguồn nước của Israel có chất lượng hàng đầu thế giới và không một quốc gia nào có thể so sánh

Trang 32

Khoảng 50% nguồn nước sử dụng của quốc gia này là được tài chế, cao hơn rất nhiều so với mức 20% của nước đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng là Tây Ban Nha

Bảo vệ giống cây trồng:

Việc để các giống cây trồng bị thất thoát, hư hỏng là điều vô cùng lãng phí với người dân Israel và họ luôn bảo quản các giống cây của mình ở điều kiện tốt nhất, tránh xa không khí bẩn và ẩm mốc

Nhiều loại vật liệu và công nghệ đã được phát triển nhằm đảm bảo rằng mỗi hạt giống sẽ được bảo quản tốt nhất và cho ra năng suất cao nhất

2.2.1.3 Tình hình sản xuất rau sạch an toàn tại Nhật Bản

Nhật Bản với diện tích đất liền là 377.829 km2, dân số trên 120 triệu người, khoảng hơn 70% diện tích là núi khá là nghèo tài nguyên nhưng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật Nhật Bản là một trong những quốc gia đi đầu trong việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp hiện chỉ còn 3,9% số lao động làm nông nghiệp

Hiêṇ nay, Nhật Bản sản xuất rau quả trong nước mới đáp ứng khoảng

70 - 80% nhu cầu tiêu thụ ̣nội địa, số còn lại phải nhập khẩu, tuy nhiên tiêu chuẩn kỹ thuật khá cao, đặc biệt việc kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm, các chỉ tiêu phân tích, đánh giá lên tới hàng trăm chỉ tiêu Nước này cũng xuất khẩu những mặt hàng rau quả cao cấp của ho ̣tới các thị trươ ̣̣̀ng khác trên thế giới và được đánh giá cao về chất lượng, độ ̣đồng đều, an toàn thực phẩm Ở Nhật, các tổ hợp tác hoặc HTX , doanh nghiêp ̣ rất chú trọng ̣ tới việc tổ chức trải nghiệm cho người tiêu dùng ở thành phố với các vùng , điểm sản xuất, đó cũng chính là hình thức du lịch trải nghiệm đồng quê để chia sẻ với nhau về nỗi cực nhọc của nông dân và ho ̣làm thế nào để sản phẩm rau, thịt, sữa… đảm bảo an toàn thực phẩm Chính vậy người tiêu dùng rất tin tưởng vào các sản phẩm nông sản của nước ho ̣sản xuất

Trang 33

“Nông dân Nhật Bản sản xuất rau an toàn bằng cả trái tim” Và khắp nơi trên đất nước này, ý thức và nguyên tắc, tính kỷ luật của người dân là như vậy Đúng là chất lương ̣, mức đô ̣an toàn phải từ cái tâm của người sản xuất

2.2.2 Mô hình trồng rau sạch ở làng Kawakami

Từng là ngôi làng nghèo nhất Nhật Bản thập niên 60, 70 của thế kỷ 20, hiện tại nhờ trồng xà lách, Kawakami được gọi là "làng thần kỳ" bởi những đổi thay mà loại rau này mang lại cho người dân nơi đây

Có một ngôi làng nhỏ bé nằm ở tỉnh Nagano của Nhật Bản mang tên Kawakami - đất đai cằn cỗi, nằm sâu trong vách núi, xa đường lớn và là làng nghèo nhất nước Nhật vào thập niên 60 – 70 của thế kỷ 20

Bước ngoặt đổi đời của nông dân Kawakimi tới vào trước thời điểm chiến tranh với Mỹ nổ ra Người Mỹ muốn ăn xà lách và họ nhận ra khí hậu khô, lạnh của Kawakami là môi trường hoàn hảo để trồng loại rau này Sau khi người Mỹ rời đi, khẩu vị người Nhật cũng dần bị “tây hóa” và họ trở nên

ưa thích loại rau này bởi nó có lợi cho sức khỏe và rất ngon

Nhận thấy nhu cầu cao, năm 1980, một vị trưởng làng đã đứng lên kêu gọi người dân canh tác rau theo tiêu chuẩn chung của làng, những người vi phạm sẽ bị cấm sản xuất Làng có hẳn một kênh truyền hình để thông tin về thị trường hàng ngày và thông qua hướng dẫn của kênh truyền hình này, kỹ thuật canh tác đảm bảo 100 hộ như một Rau của làng Kawakami sản xuất ra

có thể ăn tươi ngay tại vườn

Ngoài việc áp dụng nghiêm ngặt những kỹ thuật cao vào canh tác, nếu

có dịp tới thăm Kawakami chứng kiến những người cao tuổi trong làng vẫn hăng hái làm việc trên các cánh đồng rau

Theo thống kê, nông dân tại Kawakami có khoảng 10% trong độ tuổi

30 còn 20% khoảng 40 tuổi so với mức trung bình của cả nước lần lượt là 3,2% và 5%

Trang 34

Tuy nhiên điều đáng nói là 63% người dân địa phương trên 65 tuổi vẫn làm việc và không hề bất ngờ khi chứng kiến những người đã 70 – 80 tuổi vẫn làm việc chăm chỉ, đặc biệt là vào mùa hè

Các công việc của nông dân Kawakami bao gồm – thu hoạch, vận chuyển, trồng cấy thường diễn ra trong 4 tháng (tháng 6 đến tháng 10), 8 tháng còn lại do nhiệt độ xuống quá thấp (dưới -20 độ C) nên không thể canh tác được

Một ngày làm việc lúc mùa vụ của nông dân Kawakami thường bắt đầu vào lúc 2 giờ sáng dưới sự trợ giúp của ánh đèn pha Họ trở về nhà lúc 5 giờ chiều, tắm rửa, ăn tối và đi ngủ

Dù thời gian canh tác ít là vậy nhưng năng suất cao nên người dân Kawakami có thu nhập đáng ngưỡng mộ Riêng năm 2014, Kawakami đã cung cấp ra thị trường trong nước được 60.000 tấn rau xà lách, thu về 16 tỉ yên (3200 tỉ đồng)

Vào những khoảng thời gian trong năm không canh tác được do thời tiết, thì người dân nơi đây thường chọn cách hưởng thụ bằng việc đi du lịch, nghỉ dưỡng ở những đất nước khác trên thế giới Đến mùa sản xuất thì họ lại quay về tiếp tục bắt tay vào các công việc sản xuất rau của mình

Với những kỹ thuật đã đúc rút được, Nhật Bản muốn chuyển giao sang các nước khác, trong đó có Việt Nam Thời gian qua làng Kawakami đã tích cực tìm kiếm cơ hội hợp tác với Việt nam Hiện nay làng đang tiếp nhận hơn

240 thực tập sinh nông nghiệp từ Việt Nam trên tổng số gần 1.000 thực tập sinh nước ngoài đang làm việc trên làng

2.2.3 Tình hình sản xuất rau sạch tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, khi vấn đề an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường ngày càng trở nên bức xúc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của của cộng

đồng, cụm từ “nông nghiệp sạch” và “nông sản sạch” luôn được nhắc đến

nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Đã xuất hiện nhiều cửa hàng

Trang 35

kinh doanh nông sản sạch và có nhiều doanh nghiệp mang tên doanh nghiệp nông nghiệp sạch, nhiều diễn đàn về nông nghiệp sạch và nông sản sạch được

tổ chức Tuy nhiên, cho đến nay, trong các văn bản pháp luật và các tài liệu khoa học của Việt Nam hầu như chưa có định nghĩa chính thức và thống nhất

về các khái niệm này

Trên các phương tiện truyền thông, có các ý kiến khác nhau về khái niệm nông sản sạch Nhiều người cho rằng nông sản sạch là nông sản không

bị “nhiễm bẩn” bởi các tác nhân độc hại, có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người sử dụng và nông sản sạch đồng nghĩa với nông sản an toàn ( ví dụ, rau an toàn được gọi tắt là rau sạch) Một số người khác lại cho

rằng nông sản sạch là nông sản hữu cơ, được sản xuất theo phương pháp hữu

cơ không dùng hóa chất tổng hợp như phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng, chât bảo quản, vật liệu biến đổi gen…

Trên Thế giới, đặc biệt là tại một số nước phát triển cao như Mỹ, EU…, nơi mà an toàn thực phẩm luôn được đảm bảo tốt cũng có các khái niệm

tương tự, đó là “ clean food” ( thực phẩm sạch), “clean eating” (ăn sạch) Từ những năm 1990, tại các nước này đã xuất hiện một trào lưu sử dụng” clean food” Nhiều khách sạn, nhà hàng chuyên cung cấp “ clean food” với giá cao

hơn bình thường Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn hiểu khác nhau về khái

niệm “ clean food- thực phẩm sạch” Những người hiểu theo nghĩa hẹp thì

cho rằng thực phẩm sạch là thực phẩm giữ được chất lượng tự nhiên vốn có của nó, không nhiễm các hoá chất của quá trình chế biến, bảo quản, kể cả các hoá chất này được pháp luật cho phép sử dụng và không bị lạm dụng Nhiều người khác hiểu theo nghĩa rộng lại cho rằng ngoài các yêu cầu nói trên thực phẩm sạch còn phải có tính nhân văn, được sản xuất bởi những người có “ lương tâm sạch” ( chấp hành tốt pháp luật, có ý thức bảo vệ môi trường, vì lợi ích người tiêu dùng…) Người mua trả giá cao hơn cho người sản xuất thực phẩm sạch không phải chỉ vì thực phẩm sạch an toàn hơn và tốt hơn cho sức

Trang 36

khoẻ của người tiêu dùng mà còn có ý nghĩa nhân văn, đó là muốn góp phần bảo vệ môi trường và khuyến khích những người thực hành sản xuất nông nghiệp tốt

Gần đây, cụm từ “nông nghiệp sạch” đã được sử dụng trong một văn

bản pháp quy của Bộ Nông nghiệp và PTNT Đó là Quyết định số BNN-KHCN ngày 14/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về

738/QĐ-Tiêu chí xác định chương trình, dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ

cao, nông nghiệp sạch, danh mục công nghệ cao ứng dụng trong nông nghiệp Văn bản này đã xác định danh mục các dự án nông nghiệp sạch bao

gồm các dự án đáp ứng một trong số các tiêu chí sau:

+ Dự án thực hiện tại các cơ sở sản xuất kinh doanh được cấp giấy

chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm

+ Dự án của doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh

nghiệp ứng dụng công nghệ cao

+ Dự án sản xuất sản phẩm nông nghiệp được cấp Giấy chứng

nhận VietGAP

+ Dự án đầu tư mới vào sản xuất nông nghiệp sạch áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cấp quốc gia hoặc quốc tế tương đương

( VietGAP, GlobalGAP…)

Căn cứ văn bản nói trên của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT có

thể thấy rằng nông sản sạch ( kết quả của sản xuất nông nghiệp sạch)

là “ nông sản an toàn được sản xuất tại các cơ sở sản xuất kinh doanh đủ điều kiện an toàn thực phẩm; ứng dụng công nghệ cao hoặc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt” Đặc điểm chung của nông sản

sạch, trong đó có nông sản thực phẩm là đáp ứng tốt các yêu cầu về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng Như vậy, có nhiều cách thức khác nhau để sản xuất ra nông sản sạch và khái niệm về nông sản

Trang 37

sạch hiện nay ở Việt Nam vẫn chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh an toàn thực phẩm

a Thực trạng vấn đề an toàn thực phẩm và sản xuất nông sản sạch

ở Việt Nam

Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ sức khoẻ người dân hiện tại và tương lai Nhà nước, các Bộ, Ngành, các địa phương và toàn xã hội luôn quan tâm, ưu tiên tập trung nguồn lực và ban hành nhiều chính sách, pháp luật để cải thiện tình hình, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra liên quan đến ATTP Ngày 27/7/2016, Quốc hội khoá XIV đã ban hành Nghị quyết số 14/2016/QH14 về “ Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2017”, theo đó Quốc hội đã chọn giám sát chuyên đề đầu tiên là về “ Việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011- 2016” Có thể nói, kết quả giám sát của Quốc hội vừa qua đã phản ánh đầy đủ và cập nhật về thực trạng công tác ATTP ở nước ta

Trên cơ sở báo cáo của các Bộ, Ngành, địa phương, Chính phủ và kết quả khảo sát thực tế tại 21 tỉnh/thành phố, Đoàn giám sát của Quốc hội đã

đánh giá có 8 kết quả chính đáng ghi nhận trong công tác ATTP ở nước ta

thời gian qua gồm:

- Đã xây dựng và ban hành được hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ

- Công tác thanh, kiểm tra được triển khai đồng bộ , chế tài xử phạt mạnh hơn làm cho thị trường thực phẩm an toàn hơn

Trang 38

+ Nhận thức và hành động của các cấp chính quyền và người dân về ATTP đã có sự chuyển biến đáng kể

+ Công tác tổ chức sản xuất thực phẩm an toàn được đổi mới, đẩy mạnh theo hướng hiện đại, quy mô lớn, kiểm soát theo chuỗi sản phẩm

+ Việc kiểm soát môi trường, điều kiện sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn đã được tăng cường

+ Môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh thực phẩm được cải thiện

đáng kể, thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định đáng khích lệ, công tác thực hiện chính sách, pháp luật về ATTP vẫn bộc lộ những tồn tại và yếu kém Theo đánh giá của Đoàn Giám sát của Quốc hội thì vấn đề ATTP ở

nước ta thời gian qua có lúc, có nơi đã đến giới hạn đỏ- giới hạn báo động Có 9 tồn tại, yếu kém chủ yếu được nêu ra như sau:

- Việc ban hành, hướng dẫn các văn bản pháp luật còn chậm, thiếu cụ thể, chồng chéo, tính khả thi chưa cao

- Công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, bộ máy quản lý ATTP còn một số bất cập cả về tổ chức, nguồn lực và cơ chế phối hợp

- Việc thanh, kiểm tra về ATTP còn thụ động, chưa kiên quyết, chưa bảo đảm tính răn đe và thực thiu nghiêm pháp luật, mức xử phạt còn thấp

- Đầu tư nguồn lực cho công tác bảo đảm ATTP còn hạn chế

- Chưa kiểm soát được ATTP trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm sản xuất từ khu vực kinh doanh nhỏ lẻ, thủ công; biện pháp, công cụ quản lý còn hạn chế

- Việc quản lý, kiểm soát ATTP còn chưa được dựa trên việc giám sát nguy cơ và bằng chứng khoa học; việc phân tích, đánh giá nguy cơ đối với ATTP chưa được chú trọng, ngộ độc thực phẩm vẫn ở mức cao

- Yếu tố môi trường, điều kiện sản xuất kinh doanh chưa được quan tâm đúng mức

Trang 39

+ Công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục về ATTP chưa thường xuyên, kết quả còn hạn chế

+ Công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại, hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa được chú trọng đúng mức

Theo báo cáo của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và PTNT, nguy cơ cao gây mất ATTP tập trung chủ yếu trên các loại nông sản thực phẩm chính có trong bữa ăn hàng ngày của người dân như: rau, củ, quả tươi, thịt, cá…

Đối với nhóm thực phẩm nguồn gốc thực vật nguy cơ cao tập trung trên rau, củ, quả tươi với nguyên nhân chính là do việc lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật Kết quả của Chương trình giám sát Quốc gia cho thấy, trong giai đoạn 2011- 2016, tỷ lệ mẫu rau, củ, quả tươi và sơ chế có tồn dư hoá chất

vượt ngưỡng cho phép là 8,47%, trong đó tỷ lệ mẫu có chất cấm là 0,34%

Theo kết quả điều tra của Cục Bảo vệ thực vật thì nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do người dân không thực hiện nguyên tắc ‘ 4 đúng” trong sử dụng thuốc BVTV, chủ yếu là không thực hiện đúng thời gian cách ly và số lần phun thuốc Tỷ lệ người sản xuất vi phạm các quy định sử dụng thuốc BVTV vẫn ở mức cao: trên 16%

Đối với sản phẩm chăn nuôi, nguy cơ mất ATTP chủ yếu do việc sử dụng hoá chất, chất cấm và nhiễm vi sinh vật Tỷ lệ mẫu thịt tươi các loại có tồn dư hoá chất vượt ngưỡng cho phép là 1,59%, tỷ lệ mẫu có chất cấm là 1,27% Ngoài ra, do không đảm bảo các điều kiện giết mổ, tỷ lệ mẫu thịt bị

nhiễm vi sinh vật vượt mức cho phép rất cao: trên 19%

Đối với thuỷ sản, sử dụng các chất cấm và nhiễm vi sinh vật là nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ gây mất ATTP Kết quả kiểm nghiệm giai đoạn 2011- 2016 cho thấy tỷ lệ mẫu thuỷ sản chứa chất cấm là 1,82%; tỷ lệ mẫu

nhiễm vi sinh vật trên 4%

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, đến đầu năm 2017 có 43 tỉnh có quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn với diện tích đến năm 2010 là

Ngày đăng: 05/02/2021, 01:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thượng Chính, Giáo trình “Tổ chức sản xuất” – Nhà xuất bản Hà Nội - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản xuất
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội - 2006
2. Phúc Hậu (2018), “Nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt nhiều rủi ro, thách thức”, Báo Mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt nhiều rủi ro, thách thức”
Tác giả: Phúc Hậu
Năm: 2018
3. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình (2008), Tài liệu tập huấn phát triển kinh tế hộ gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập
Tác giả: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình
Năm: 2008
4.Đỗ Quang Quý (2009), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, NXB Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Quang Quý
Nhà XB: NXB Đại học Thái Nguyên
Năm: 2009
6.Trần Khắc Thi, 1995 “Rau sạch và một số vấn đề được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng” Tạp chí khoa học kỹ thuật, số 1/1995, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rau sạch và một số vấn đề được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
5.Thông tư số 03/2016/TT-BNNPTNT của Bộ NN& PTNT về giới hạn cho phép của một số thuốc bảo vệ thực vật trong một số rau quả Khác
7.Nguyễn Thị Phương Thúy (2015), Hành vi tiêu dùng rau sạch của người dân tại các siêu thị trren địa bàn Hà Nội, Trường Đại hoc Kinh tế quốc dân Khác
8..Tài liệu về khí hậu, lượng mưa, nhiệt độ làng Kawakami (2016) II. Tài liệu từ internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w