1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

106 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự 21 Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ NHIÊN

KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ NHIÊN

KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số : 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét

để cho tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Nhiên

Trang 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ

VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

pháp trong luật tố tụng hình sự ở nước ta từ năm 1945 đến nay

13

1.2.2 Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn

khởi tố vụ án hình sự

17

1.2.3 Mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực

hành quyền công tố trong tố tụng hình sự

21

Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP

TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN KIỂM SÁT

28

2.1 Quy định của pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong

giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

28

2.1.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội 28

Trang 5

2.1.2 Kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ

2.2.2 Trình độ, năng lực nghiệp vụ trong áp dụng pháp luật của

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU

QUẢ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

72

3.1 Cơ sở và định hướng của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát

hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

72

3.1.1 Cơ sở của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp

trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

72

3.1.2 Định hướng của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư

pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra

CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng TTHS : Tố tụng hình sự

VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.1 Số liệu VKS đã yêu cầu CQĐT khởi tố và CQĐT đã khởi

tố theo yêu cầu của VKS

55

2.2 Số liệu thống kê trường hợp VKS hủy quyết định khởi tố

của CQĐT; VKS hủy quyết định không khởi tố của CQĐT

cả nước từ năm 2013 - 2015

56

2.3 Số liệu người bị tạm giữ và tỷ lệ khởi tố vụ án hình sự

của cả nước từ năm 2006 - 2015

2.6 Số liệu về lệnh bắt khẩn cấp của CQĐT không được VKS

phê chuẩn từ năm 2006 - 2015

64

2.7 Số liệu VKS đã hủy bỏ quyết định tạm giữ theo khoản 3

Điều 86 BLTTHS và không phê chuẩn gia hạn tạm giữ

của CQĐT từ năm 2010 - 2015 của cả nước

67

2.8 Số liệu thống kê của Vụ 8, VKSNDTC về quá hạn tạm

giữ từ năm 2010 - 2015 của cả nước

68

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là một trong những chức năng của Viện kiểm sát (VKS), đây là giai đoạn kiểm sát đầu tiên của quá trình tố tụng Việc kiểm sát chặt chẽ giai đoạn khởi tố vụ

án giúp cho việc khởi tố vụ án đúng pháp luật, định hướng quá trình điều tra nhanh chóng, chính xác Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã nêu rõ trách nhiệm của VKS trong việc thực hiện quyền công tố

và kiểm sát hoạt động tư pháp; trong đó " hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự", không chỉ trong hoạt động công tố

mà muốn kiểm sát chặt chẽ một vụ án hình sự nói chung phải đồng thời thực hiện tốt cả hai chức năng trong đó có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp cũng phải được thực hiện từ giai đoạn khởi tố vụ án Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm mọi tội phạm đã phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và đúng pháp luật; tránh bỏ lọt tội phạm Đáp ứng yêu cầu này ngành Kiểm sát đã không ngừng nâng cao chất lượng trong việc kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm

và kiến nghị khởi tố; kiểm sát chặt chẽ các căn cứ áp dụng bắt, tạm giữ, các căn cứ của các quyết định khởi tố vụ án hình sự và không khởi tố vụ án hình

sự của các cơ quan có thẩm quyền; kịp thời phát hiện những vi phạm của Cơ quan điều tra (CQĐT) trong giai đoạn khởi tố vụ án để có biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo quá trình khởi tố vụ án chính xác, đúng quy định của pháp luật

Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKS vẫn còn có những hạn chế như nhiều nơi chưa chú trọng công tác kiểm sát tin báo tố giác tội phạm hoặc kiến nghị

Trang 9

khởi tố nên tin báo giải quyết quá hạn còn nhiều; việc phát hiện các vi phạm của CQĐT trong quá trình bắt, tạm giữ còn hạn chế, vẫn để xảy ra trường hợp lạm dụng bắt khẩn cấp, tạm giữ, gia hạn tạm giữ không cần thiết; tình trạng khởi tố không đúng tội danh, oan, sai vẫn còn xảy ra đã ảnh hưởng lớn đến quyền con người được pháp luật bảo vệ Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên xuất phát từ việc các quy định của pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng; các bộ luật mới ra đời chưa có thông tư hướng dẫn; công tác phối hợp giữa VKS và CQĐT chưa chặt chẽ; trình độ một số cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát còn hạn chế…

Trước yêu cầu cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra đòi hỏi vai trò của VKS không chỉ tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra mà còn tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó nghiên cứu chuyên sâu chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án và thực tiễn thực hiện

chức năng này là vấn đề cần thiết Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài "Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình

sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý mà còn thể hiện rõ vai trò của VKS trong quá trình kiểm sát giai đoạn khởi tố, giúp định hướng cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo, đảm bảo quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật Nghiên cứu về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS, ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu như sau:

Ở cấp độ luận văn thạc sĩ có đề tài: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong giai đoạn khởi tố, điều tra án hình sự của Nguyễn Thành Trì, Đại học

Quốc gia Hà Nội, năm 1996; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng

hình sự Việt Nam của Nguyễn Hải Phong, năm 1999; Kiểm sát việc tuân theo

Trang 10

pháp luật trong giai đoạn khởi tố, điều tra án hình sự của Trần Công Hòa,

Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004; Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong

tố tụng hình sự Những vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Thu Huệ, Đại

học Quốc gia Hà Nội, năm 2004; Chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng

hình sự của Võ Phước Long, năm 2007

Bài viết tiêu biểu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành: Tác giả

Khuất Văn Nga, "Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư

pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Kiểm sát, số 7/2004; tác giả Nguyễn Minh Đức, "Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp", Tạp chí Kiểm

sát, số 9/2006; tác giả Phạm Mạnh Hùng, "Một số vấn đề lí luận và thực tiễn

của việc khởi tố vụ án hình sự và việc kiểm sát việc khởi tố vụ án", Tạp chí

Kiểm sát, số 02/2007; tác giả Lê Hữu Thể, "Tổ chức bộ máy và chức năng

nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp", Tạp chí Kiểm

sát, số 6/2008; tác giả Đào Trí Úc, "Đề xuất đổi mới Viện kiểm sát ở Việt Nam

từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới", Tạp chí Kiểm sát, số 12/2013

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy, ở nước ta chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây khẳng định việc nghiên cứu đề

tài "Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam" là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính

lý luận, vừa có tính thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu chức năng "Kiểm sát hoạt động

tư pháp của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự"; thực tiễn thực hiện chức năng này của VKS dựa trên kết quả đạt được, những tồn tại

Trang 11

hạn chế từ đó luận văn đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của việc thực hiện chức năng này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Làm sáng tỏ lý luận về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; hoạt động kiểm sát khởi tố trong tố tụng hình sự (TTHS)

- Nghiên cứu thực trạng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKS, đồng thời phân tích, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm sát khởi tố vụ

án hình sự

- Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thực tiễn

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự kết hợp với thực tiễn thực hiện chức năng này, từ đó nghiên cứu giải pháp kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thực tiễn

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thời gian 10 năm (2006 -2015) trên địa bàn toàn quốc

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của

Bộ Chính trị

Trang 12

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp

so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, để tổng hợp các tri thức khoa học luật TTHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, trong đó nêu ra một số giải pháp kiến nghị nâng cao hiệu quả cho công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ

án hình sự của VKS Trong quá trình nghiên cứu tác giả cập nhật những điểm mới liên quan đến chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự thể hiện Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKS năm 2014 (sửa đổi) và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu tác giả có sự so sánh giữa các quy định của BLTTHS năm 2003 với các quy định của BLTTHS năm 2015 để thấy được những điểm mới liên quan đến hoạt động kiểm sát khởi tố vụ án hình sự Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ thực tiễn thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; những tồn tại, hạn chế cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận

và thực tiễn, luận văn đã đề xuất giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thực tiễn

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu lập pháp, các cán bộ giảng dạy pháp luật, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự Kết quả nghiên cứu của luận văn còn trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán

bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình

Trang 13

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giai đoạn khởi tố và kiểm sát hoạt

động khởi tố trong vụ án hình sự

Chương 2: Pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn

khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn kiểm sát

Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát

hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Trang 14

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ

VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ

VỤ ÁN HÌNH SỰ

Để giải quyết vụ án hình sự nói chung phải trải qua nhiều giai đoạn và

do các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất vụ án Mỗi giai đoạn TTHS có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi CQTHTT có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định Theo tác giả Lê Cảm cho rằng "quá trình giải quyết vụ án hình sự chia thành bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy tố; giai đoạn xét xử vụ án hình sự" Cụ thể:

Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ

cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (vật chất) và về pháp luật

về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự; thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự có liên quan đến hành vi đó

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ

cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm; Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành TTHS có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của CQĐT về việc đề nghị VKS truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng

Trang 15

Giai đoạn truy tố có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng

mà CQĐT có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của VKS được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật Thời điểm của giai đoạn này được

bắt đầu từ khi VKS nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết

luận điều tra và đề nghị truy tố) do CQĐT chuyển đến và kết thúc bằng việc VKS ra một trong ba loại quyết định sau: 1) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), 2) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là 3) Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự tương ứng)

Giai đoạn xét xử vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ

cụ thể do luật định để: 1) Áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử vụ án tại phiên tòa, 2) Xét xử theo thủ tục sơ thẩm (hoặc xét

xử theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật - nếu bị kháng nghị)

và cuối cùng, 3) Tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Như vậy, giai đoạn TTHS được hiểu:

Là bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ

cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công minh, khách quan, có căn

cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân [7, tr 24]

Bộ luật TTHS nước ta chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ

án hình sự và truy tố; giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản

Trang 16

án hình sự Đối với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm không phải là các giai đoạn TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà các hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án hình sự đã xét xử có kháng cáo và kháng nghị

Nghiên cứu chuyên sâu về một giai đoạn cụ thể, luận văn này chỉ tập trung vào nghiên cứu chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố Vì vậy, sau đây chúng tôi sẽ trình bày khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát khởi tố trong TTHS

1.1.1 Khái niệm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Trước khi bàn về khái niệm này, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm khởi tố vụ án hình sự như sau:

Theo Từ điển Luật học thì:

Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để tiến hành điều tra phát hiện tội phạm Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm [51, tr 429]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chí cho rằng:

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ sử dụng các biện pháp của tố tụng hình sự để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm, trên cơ sở đó các cơ quan này sẽ ra một trong hai quyết định đó là quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự [8, tr 64]

Tác giả Lê Cảm khái niệm:

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng đầu tiên mà trong

đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định

Trang 17

của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định việc có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội

đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó [7, tr 26] Các quan điểm trên đều có điểm chung cho rằng khởi tố vụ án hình sự

là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng Là một giai đoạn TTHS nên nó cũng có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc Do vậy, thời điểm bắt đầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được xác định kể từ khi các CQTHTT phát hiện hoặc tiếp nhận thông tin về tội phạm như: Tố giác của công dân; tin báo của

cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của các cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; người phạm tội tự thú Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là khi các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Khoảng thời gian của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tùy thuộc vào tính phức tạp hay không phức tạp của các tin báo, tố giác về tội phạm mà các CQTHTT đã tiếp nhận, thụ lý Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì thời gian tối thiểu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là 20 ngày và tối đa không quá bốn tháng kể

từ khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiến hành kiểm tra, xác minh và ra quyết định giải quyết

Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh nhằm xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự Do vậy, ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự các CQTHTT chưa thể kết luận chính xác ngay được về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội

Như vậy, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể hiểu: Là giai đoạn

đầu tiên của quá trình TTHS trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định

Trang 18

có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự, hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự

1.1.2 Đặc điểm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Từ khái niệm chung nhất về khởi tố vụ án hình sự cho thấy giai đoạn này có đặc điểm chính sau đây:

Thứ nhất, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn TTHS đầu tiên, có thời

hạn được xác định từ khi các CQTHTT phát hiện hoặc tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thời điểm kết thúc khi các CQTHTT ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ hai, nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự chỉ

xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ

án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trong giai

đoạn khởi tố, ngoài các CQTHTT (CQĐT, VKS, Tòa án) còn có những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan Kiểm lâm, Hải quan, Những cơ quan này trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ tư, các biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền được sử dụng

trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Biện pháp yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến thông tin về tội phạm; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân có liên quan giải thích làm rõ sự việc; khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để xác định dấu hiệu của tội phạm; nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì lấy lời khai của người bị bắt

Trang 19

1.1.3 Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Về mặt pháp lý: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu có tính chất định hướng cho các giai đoạn TTHS tiếp theo để giải quyết vụ án hình

sự Nếu khởi tố vụ án hình sự không chính xác sẽ dẫn đến các giai đoạn tiếp theo cũng không chính xác, bởi các giai đoạn TTHS tuy độc lập nhưng có sự gắn kết chặt chẽ với nhau nhằm tìm ra sự thật của vụ án Việc xác định một người có tội hay không có tội ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người được pháp luật bảo vệ Vì vậy giai đoạn này rất quan trọng đòi hỏi vai trò của các CQTHTT cần nghiên cứu thận trọng căn cứ khởi tố vụ án hình sự để đảm bảo việc khởi tố vụ án nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật Thực hiện việc khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh quyền của các CQTHTT như CQĐT, VKS, Tòa án, Thi hành án hình sự trong việc xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) Thời điểm bắt đầu áp dụng các qui định của Bộ luật hình sự (BLHS) và BLTTHS

là khi các CQTHTT có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự, từ thời điểm này các quan hệ pháp luật hình sự được thực hiện Nếu không có giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thì sẽ không có các giai đoạn tố tụng tiếp theo

Về mặt chính trị - xã hội: Ngày nay đất nước ta đang phải đối mặt với nhiều tội phạm nguy hiểm, tội phạm mang yếu tố quốc tế, có tổ chức, xuyên quốc gia và sử dụng công nghệ cao với thủ đoạn hoạt động tinh vi, phương thức hoạt động xảo quyệt, manh động, liều lĩnh Tội phạm hình sự có tổ chức, băng nhóm "xã hội đen" gây án nghiêm trọng, băng nhóm tội phạm ma túy có

vũ trang ở khu vực biên giới, tội phạm tham nhũng và tội phạm kinh tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đầu tư, quản lý, sử dụng đất đai và thương mại, tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn hết sức nhức nhối Mức độ hậu quả gây ra cho xã hội của các loại tội phạm ngày càng lớn, xâm phạm nghiêm trọng trật tự, kỷ cương pháp luật XHCN, lợi ích của Nhà nước

và xã hội, tài sản, tính mạng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, làm

Trang 20

suy giảm niềm tin xã hội và cản trở công cuộc phát triển đất nước Công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm luôn là đòi hỏi sự quan tâm lãnh đạo và thực hiện nghiêm túc của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành các cấp, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân trong đó CQĐT, VKS, Tòa án, Thi hành án giữ vai trò nòng cốt Trên tinh thần đó, khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong đấu tranh phòng, ngừa và chống tội phạm, là công cụ hữu hiệu

để bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đồng thời cũng thể hiện sự trừng phạt đối với người thực hiện hành

vi vi phạm pháp luật góp phần bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

" không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội Bất kể người nào phạm tội đều bị xử lý trước pháp luật" [36, Điều 9] Việc khởi tố vụ án chính xác, khách quan, công bằng sẽ tạo niềm tin cho nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

1.2 KIỂM SÁT CÁC HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.2.1 Sự hình thành và phát triển chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong luật tố tụng hình sự ở nước ta từ năm 1945 đến nay

Sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa nước ta giành được độc lập và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tình hình trong nước bọn phản cách mạng và tội phạm diễn ra phức tạp Trước yêu cầu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xây dựng các cơ quan chuyên trách như cơ quan Công tố và Tòa án với mục tiêu bảo vệ chế độ Nhà nước của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, trừng trị kẻ phạm tội và phòng ngừa các tội phạm hình sự

Tiền thân của cơ quan VKS là cơ quan Công tố viện được thành lập theo Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, vào giai đoạn đó Công tố viện là một

Trang 21

bộ phận trong hệ thống cơ quan Tòa án, sau Nhà nước ta đã ban hành các Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 20/7/1946 và sắc lệnh số 19 ngày 16/2/1947 quy định thành lập hệ thống Tòa

án nhân dân (tòa án thường), trong đó Công tố viện là một tổ chức bên cạnh Tòa

án và trực thuộc Bộ tư pháp quản lý Hệ thống Công tố ở Tòa thượng thẩm và Tòa án đệ nhị cấp do một Viện trưởng lý đứng đầu, lúc này Công tố viện chỉ có chức năng truy tố người phạm tội ra Tòa án để xét xử Cho nên trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến 1950 tổ chức Công tố nằm trong hệ thống Tòa án

Thực hiện nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố Từ thời điểm này, Viện công tố tách khỏi hệ thống Tòa án và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Sau đó Phủ Thủ tướng đã ban hành Nghị định 256/TTg ngày 1/7/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố, trong đó có quy định: "Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra và truy tố trước Tòa án những

kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra " Như vậy, ngoài chức năng truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có chức năng trong việc giám sát chấp hành pháp luật trong điều tra vụ án hình sự Đến năm 1959, Quốc hội ban hành Hiến pháp, trong đó đã quy định tổ chức cơ quan Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thành một hệ thống độc lập với Chính phủ và chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 để cụ thể hóa chức năng của VKS trong đó có chức năng kiểm sát khởi tố vụ án hình sự Với việc ban hành Luật

tổ chức VKSND năm 1960 đã đánh dấu sự hình thành hệ thống cơ quan VKS

từ trung ương đến địa phương, đồng thời khẳng định chức năng hiến định là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

Trang 22

Bước sang giai đoạn những năm 80, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980 trong đó quy định chức năng của VKS như sau:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các

cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và các đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình [27, Điều 138]

Trên cơ sở đó, Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng kiểm sát khởi tố tại chương II Tuy nhiên trong giai đoạn này chưa

có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về hoạt động kiểm sát khởi tố vụ án hình sự, từ đó dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm

Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội Bộ luật tố tụng đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ

và quyền hạn của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Bên cạnh đó, có quy định về hoạt động kiểm sát khởi tố của VKS với mục đích là nhằm xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm

và không làm oan người vô tội BLTTHS năm 1988 quy định:

Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật

tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng những

Trang 23

biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào [28, Điều 23]

Quy định này tạo điều kiện để VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Như vậy, từ giai đoạn này trở đi, hoạt động kiểm sát khởi tố được thực hiện theo quy định của một văn bản quy phạm pháp luật và trong suốt thời gian thực hiện BLTTHS, chức năng kiểm sát khởi tố của VKS đã góp phần quan trọng trong công cuộc phòng chống, đấu tranh các loại tội phạm, đảm bảo việc ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội, đồng thời tăng cường pháp chế XHCN

Năm 2001, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), lần sửa đổi này đã điều chỉnh chức năng của VKS với quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp

và pháp luật" [30, Điều 137], như vậy Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã quy định rõ kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng chính của VKS, điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong khởi tố vụ án hình

sự nói riêng là chức năng quan trọng và chỉ giao cho cơ quan VKS thực hiện

Năm 2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã tiến hành thảo luận

và thông qua BLTTHS năm 2003 thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó tại chương II - Những nguyên tắc cơ bản có quy định:

" Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này" [32, Điều 2]

Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2015 mới đây tiếp tục khẳng định vai trò của VKS trong thực hiện chức năng kiểm sát thực hành quyền công

tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Trong đó, BLTTHS năm 2015 nêu:

Trang 24

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội [36, Điều 20]

Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ quan VKS thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự ngày càng được khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm mục đích là sự tuân thủ nghiêm minh và thống nhất các quy định pháp luật TTHS của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự

1.2.2 Chức năng kiểm sát các hoạt động tƣ pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

a) Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng của VKS, được quy định trong Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở kế thừa các bản Hiến pháp trước đó và được khẳng định lại trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 107) Bên cạnh đó, luật tổ chức VKSND năm 2014 cũng quy định rõ VKS thực hiện chủ yếu hai chức năng đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là một vấn đề được đưa ra tranh luận trong suốt quá trình lập Hiến và lập pháp cũng như trong quá trình đổi mới cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp nước ta trong thời gian qua Với mục đích đi sâu nghiên cứu làm rõ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS để giúp chúng ta nhận thức và phân biệt hình thức hoạt động của VKS với hoạt động của các cơ quan nhà

Trang 25

nước khác Đồng thời đưa đến sự nhận thức chung, thống nhất của toàn thể cán bộ ngành kiểm sát nhằm thực hiện tốt và có hiệu quả các quy định của Luật

tổ chức VKSND năm 2014 trong thực tiễn, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN

Chức năng theo định nghĩa chung nhất được hiểu là những phương diện, hướng hoạt động của tổ chức, cá nhân thể hiện bản chất của hoạt động

đó Với quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp có vai trò xuyên suốt toàn bộ hoạt động của hệ thống cơ quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKS nước ta

Cho đến nay nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét

xử và thi hành án" [50, tr 49]

Nhóm quan điểm thứ hai có quan điểm rộng hơn cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử (cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh

tế, hành chính) và phần "tư pháp" trong thi hành án" [50, tr 50]

Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng:

Hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên ngoài cũng như

từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát xã hội Theo nghĩa rộng, kiểm sát tư pháp cũng được hiểu là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Còn theo nghĩa hẹp thì kiểm sát tư pháp được hiểu là chức năng của Viện kiểm sát Phạm vi kiểm sát tư pháp

là việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử các vụ

Trang 26

án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002) Mục đích của của kiểm sát tư pháp là bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định [17, tr 21-22] Mỗi quan điểm nêu trên đều có lập luận riêng về khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp, nhưng trước hết cần phải khẳng định kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS, được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013) Kiểm sát hoạt động tư pháp là một dạng giám sát nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án và bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát Từ đó, theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về khái

niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS như sau: Kiểm sát các hoạt

động tư pháp trong TTHS là chức năng hiến định của VKS, là sự giám sát trực tiếp các hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ

án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất

b) Khái niệm chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố

Với phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập đến chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố, vì vậy chúng tôi đi sâu làm rõ

Trang 27

khái niệm về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự như sau:

Chức năng kiểm sát khởi tố vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự Hoạt động kiểm sát khởi tố với tính chất là một chức năng của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động TTHS được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố các vụ

án hình sự nhằm bảo đảm việc khởi tố vụ án đúng tội danh, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm

Đối tượng của kiểm sát khởi tố các vụ án hình sự chính là các hành vi

xử sự của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình khởi tố vụ án hình sự Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật tổ chức VKS, BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan để tiến hành kiểm sát bảo đảm sự tuân theo pháp luật, cũng như bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp của các hành vi TTHS mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện

Phạm vi của hoạt động kiểm sát khởi tố các vụ án hình sự được xác định bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặc phát hiện được dấu hiệu của tội phạm cho tới khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Việc xác định phạm vi như vậy là thể hiện tính đầy đủ, toàn diện của hoạt động kiểm sát khởi tố các vụ án hình sự của VKS, cũng như thể hiện đầy đủ bản chất pháp lý của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố các vụ án hình sự đó là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng của CQTHTT trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Từ những nội dung nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự như sau:

Trang 28

Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là chức năng hiến định của VKS, là sự giám sát trực tiếp mọi hoạt động tố tụng của CQTHTT, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất

Xuất phát từ khái niệm đã nêu ở trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, có thể rút ra một số đặc điểm chung của nó như sau:

Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố vụ án hình sự

là chức năng hiến định của VKS, có phạm vi xác định thời điểm bắt đầu từ khi có dấu hiệu của tội phạm xảy ra và thời điểm kết thúc khi cơ quan có thẩm

quyền ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ hai, nội dung của chức năng này chính là việc giám sát trực tiếp

mọi hoạt động tố tụng của CQTHTT, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố các vụ án hình sự

Thứ ba, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố vụ án hình sự là

nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách

Cùng với việc ban hành Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức VKSND năm 1981, khái niệm "quyền công tố" và "thực hành quyền công tố" lần đầu tiên được xuất hiện bên cạnh khái niệm truyền thống "kiểm sát việc tuân theo pháp luật" Từ đó đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái

niệm này, song vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố

Trang 29

Quan điểm thứ nhất: Công tố không phải là chức năng độc lập của

VKS mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [19, tr 5]

Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho

VKS truy tố kẻ tội phạm ra trước Tòa án, thực tiện buộc tội tại tòa án Ý kiến này thu hẹp nội dung phạm vi quyền công tố (hoạt động khởi tố, điều tra không đề cấp đến chức năng này) [19, tr 7]

Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của VKS thay mặt Nhà

nước bảo vệ lợi ích công, do vậy quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà có trong lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính (thông qua VKS thực hiện quyền khởi tố vụ án dân sự, hành chính) [19, tr 22]

Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho

VKS truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa

án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [6, tr 40]

Bàn về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác nhau Mỗi quan điểm trong số đó đều những điểm hợp lý của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của VKS trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố

Với các quan điểm nêu trên tôi đồng tình với quan điểm thứ tư về khái niệm quyền công tố vì theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong TTHS; ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho duy nhất VKSND, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được

Trang 30

Quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố: "Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự chung của toàn xã hội" Đồng thời phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…" Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 quy định "Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát tuân

theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố" Hay luật Tổ

chức VKSND năm 2014 cũng khẳng định:

Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [35, Điều 3] Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công

tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị (hoặc kết thúc khi vụ án bị đình chỉ) Để thực hiện được quyền công tố đó, Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền năng pháp lý khác nhau để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong từng giai

đoạn khác nhau của TTHS đó là thực hành quyền công tố Ở Việt Nam, căn

cứ vào các quy định của Hiến pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho duy nhất VKS Vậy, chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là VKSND

Khác với phạm vi quyền công tố, thực hành quyền công tố chỉ bắt đầu khi khởi tố vụ án Trên thực tế không phải bất cứ hành vi phạm tội nào cũng

bị phát hiện và đưa ra xét xử Chỉ khi VKS áp dụng các biện pháp luật định

Trang 31

xác định được dấu hiệu của tội phạm thì thực hành quyền công tố mới bắt đầu xuất hiện, đó chính là giai đoạn khởi tố vụ án Như vậy, phạm vi quyền công

tố rộng hơn so với phạm vi thực hành quyền công tố Khi tìm hiểu về phạm vi thực hành quyền công tố cho thấy không phải trong mọi trường hợp quyền công tố đều kéo dài đến tận khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mà

nó có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của pháp luật TTHS Nghĩa là, không phải mọi vụ án đều được đưa ra xét xử trước Tòa án

Vì vậy, khi quyền công tố bị triệt tiêu thì thực hành quyền công tố cũng không còn Những căn cứ dẫn đến triệt tiêu quyền công tố, và theo đó chấm dứt việc thực hành quyền công tố như: những căn cứ đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, rút quyết định truy tố Do vậy, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc kết thúc khi vụ án bị đình chỉ

Đối tượng thực hành quyền công tố: Quyền công tố là quyền của Nhà

nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Do

đó, đối tượng của thực hành quyền công tố chính là việc truy cứu trách nhiệm

hình sự đối với người phạm tội

Nội dung thực hành quyền công tố là việc sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành

vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người không có tội Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố bao gồm:

Thứ nhất, những hoạt động phát động công tố: khởi tố vụ án, khởi tố

bị can

Thứ hai, hoạt động thực hành quyền công tố tiếp tục được thực hiện

bởi VKS trong giai đoạn điều tra, được quy định tại Điều 112 BLTTHS năm

2003 (sửa đổi tại Điều 165 BLTTHS năm 2015) như yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt

Trang 32

động điều tra khi cần thiết; yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT

Thứ ba, những hoạt động thực hành quyền công tố của VKS trong giai

đoạn xét xử vụ án hình sự như: đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; phát biểu quan điểm của VKS tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm

Từ những nội dung trình bày trên, có thể đưa ra khái niệm: "Thực

hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử" [37, tr 215]

Từ những nội dung nêu trên chúng ta đi vào phân tích mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực hành quyền công tố trong TTHS

Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKS năm 2014, quy định VKS có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết, bổ trợ lẫn nhau Trên thực tế, để giải quyết các vụ án hình sự đảm bảo truy tố đúng người, đúng tội tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội VKS phải thực hiện tốt cả hai chức năng trên bởi: Vai trò của VKS tham gia từ khi vụ việc xác định có dấu hiệu tội phạm, sau đó vụ án được khởi tố, tức là quyền công

tố được phát động đã làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự, hoạt động này được VKS thực hiện để bảo đảm việc khởi tố đúng với các quy định pháp luật Thông qua hoạt động kiểm sát khởi tố xét thấy quyết định khởi tố của CQĐT không có căn cứ và hợp pháp thì VKS yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấm dứt ngay hoạt động điều

Trang 33

tra, đồng thời ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố trái pháp luật, như thế quyền công tố có thể bị triệt tiêu và việc ra quyết định hủy bỏ tức là VKS đã thực hành quyền công tố Do vậy, làm tốt chức năng kiểm sát khởi tố vụ án hình sự sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định của VKS được chính xác và đúng pháp luật nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và hạn chế được các vi phạm trong việc thực hành quyền công tố của VKS Ngược lại, nếu thực hiện kiểm sát khởi tố không tốt sẽ mất đi tính hiệu quả trong việc thực hành quyền công tố

dễ dẫn đến việc phê chuẩn các quyết định của CQĐT không chính xác, tình trạng án oan sai xảy ra mà trước hết ảnh hưởng trực tiếp đến những người làm công tác kiểm sát Khi VKS quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các quyết định tố tụng khác của CQĐT, tức là VKS đã trực tiếp sử dụng quyền công tố Để các quyết định phê chuẩn hay hủy bỏ của VKS có căn cứ, đảm bảo chính xác thì VKS phải tuân theo quy định của pháp luật, muốn vậy trước khi quyết định các vấn đề trên, VKS phải tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp của CQĐT trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn có đảm bảo đúng căn cứ và tính hợp pháp không Trên

cơ sở kết quả của hoạt động kiểm sát thấy rằng quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS là có căn cứ và hợp pháp thì VKS sẽ quyết định phê chuẩn để thi hành, ngược lại nếu xét thấy quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế về TTHS của CQĐT là không có căn cứ và hợp pháp VKS sẽ quyết định không phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT chấm dứt ngay các hoạt động

tố tụng

Có thể nói, việc thực hiện tốt chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm tiền đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác, đúng pháp luật Nếu thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp không phát hiện được vi phạm sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động thực hành quyền công tố Ngược lại, khi chức năng thực hành quyền

Trang 34

công tố của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát Ví dụ, khi VKS phê chuẩn lệnh bắt khấn cấp của CQĐT thì làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong áp dụng việc bắt khẩn cấp có đúng căn cứ quy định không, lệnh bắt khẩn cấp có hợp pháp không

Như vậy, giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố trong lĩnh vực tư pháp hình sự luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ và biện chứng với nhau, nhiệm vụ của hoạt động này làm tiền đề cho nhiệm vụ của hoạt động kia và ngược lại; kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kia và ngược lại Mối quan hệ biện chứng giữa hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị

Trang 35

Chương 2

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP

TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

sự nhằm phát hiện hành vi phạm tội Trên cơ sở tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền xác định có dấu hiệu tội phạm hay không để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình

sự Trách nhiệm của VKS để làm tốt công tác này là vừa kiểm sát việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố, bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT đúng pháp luật, đầy đủ; bảo đảm mọi tội phạm đều được phát hiện, khởi tố, điều tra và xử lý

Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết để bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật Thực tiễn thực hành quyền công tố cho thấy, kiểm sát tốt việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sẽ quyết định chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử những bước quan trọng để có thể khẳng định có hay không có hành vi tội phạm xảy ra, người nào thực hiện hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và hậu quả do hành

Trang 36

vi phạm tội đó gây ra như thế nào Đồng thời, thông qua hoạt động này để có

cơ sở khẳng định việc khởi tố là đúng người, đúng tội và bảo đảm các căn cứ

để xử lý tội phạm, bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý theo quy định của pháp luật, tránh làm oan, sai và không bỏ lọt tội phạm Kiểm sát tốt việc giải quyết tin báo và tố giác tội phạm sẽ giúp cho việc đồng

ý hoặc hủy bỏ quyết định không khởi tố của VKS đối với CQĐT chính xác và

có căn cứ Như vậy, có thể khẳng định hoạt động kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình TTHS vì nó bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không bỏ lọt tội phạm

Trước khi BLTTHS năm 2015 ra đời, pháp luật TTHS ở nước ta chưa quy định rõ các quyền năng của VKS trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cụ thể: Đối với kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Kiểm sát viên chủ yếu dựa vào quy chế của ngành như Quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự được ban hành theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của VKSNDTC hướng dẫn:

Kiểm sát viên được phân công phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận và giải quyết của cơ quan điều tra cùng cấp đối với các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Hàng tuần Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan điều tra cùng cấp thông báo đầy đủ cho Viện kiểm sát các tố giác, tin báo về tội về tội phạm và kiến nghị khởi tố

mà cơ quan điều tra đã tiếp nhận được… [55, tr 9]

Đối với kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: BLTTHS quy định: "Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố" [32, khoản 4 Điều 103]; năm 2005 liên ngành VKSNDTC, Tòa

án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đã có Thông tư liên tịch số

Trang 37

01/2005/TTLT ngày 01/7/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm: "Cơ quan Công an có trách nhiệm thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm từ kết quả xử lý những vụ vi phạm pháp luật hình sự thuộc thẩm quyền xử lý của mình và chuyển kết quả tổng hợp thống kê sang Viện kiểm sát cùng cấp" [58] Nhìn chung hoạt động kiểm sát tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố trong những năm trước đây chủ yếu dựa trên những quy định của Ngành và những quy định trong thực hiện thống kê hình sự - thống kê liên ngành nên hiệu quả kiểm sát khâu công tác này còn hạn chế, sự phối hợp giữa CQĐT và VKS chưa được thường xuyên; kiểm sát đầu vào của tố giác, tin báo về tội phạm còn phụ thuộc vào số liệu do CQĐT chuyển sang; còn nhiều tin báo quá hạn chưa được giải quyết triệt để do quy định về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố còn ngắn:

Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là 20 ngày Trong trường hợp tin báo tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, và tin báo có thể dài hơn nhưng không quá hai tháng [32, khoản 2 Điều 103]

Nhận định tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, tham nhũng còn diễn biến phức tạp, trên một số lĩnh vực có xu hướng gia tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô và tính chất Công tác phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật và tội phạm, tham nhũng hiệu quả chưa cao, hiệu lực răn đe, phòng ngừa thấp Tiến độ và chất lượng giải quyết nhiều vụ án, nhất là các vụ án về kinh tế, tham nhũng lớn, trọng điểm còn kéo dài, chưa nghiêm minh Quốc hội đã đề

ra nhiệm vụ và chỉ tiêu "Các cơ quan điều tra phải xác minh đầy đủ, xử lý theo quy định của pháp luật các tố giác, tin báo về tội phạm; phát hiện, điều tra có hiệu quả các loại tội phạm, hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm Nâng tỷ

lệ xử lý tố giác, tin báo về tội phạm đạt trên 90%" [33, tr 3] Trước yêu cầu

Trang 38

trên không chỉ đặt ra đối với các ngành tư pháp nói chung mà còn đặt ra đối với ngành kiểm sát nói riêng: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các Viện kiểm sát áp dụng đồng bộ các giải pháp, bảo đảm thực hành quyền công

tố, làm tốt hơn công tác kiểm sát xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiểm sát 100% số vụ án hình sự ngay từ khi khởi tố" [33, tr 1] Có thể nói, công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố ngày càng được quan tâm đòi hỏi các cơ quan tư pháp cần có sự phối hợp trong việc tiếp nhận

và giải quyết triệt để mới đạt chỉ tiêu do Quốc hội đề ra Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của liên ngành trung ương (sau đây gọi tắt là thông tư liên tịch số 06) về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố ra đời là căn

cứ pháp lý quan trọng để VKS cũng như các ngành thực hiện tốt chức năng của mình Thông tư có những quy định mới như nêu rõ khái niệm "tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là gì"; quy định chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không chỉ CQĐT, VKS mà các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân) cũng

có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (quy định tại Điều 7, Điều 9 của Thông tư) Để việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt hiệu quả Thông tư còn quy định:

Cơ quan điều tra phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu Nếu xác định thông tin đó là tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì trong thời hạn ba ngày làm việc, Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố [4, khoản 1 Điều 9]

Trang 39

Quy định trên đã làm giảm thiểu tình trạng thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm một cách tràn lan, có những tin không có dấu hiệu tội phạm nhưng CQĐT vẫn thụ lý

Trong hơn 03 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 06 đến nay thực tiễn

đã cho thấy hiệu quả của việc kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, góp phần quan trọng vào việc phát hiện,

xử lý nhanh chóng, kịp thời, chất lượng điều tra giải quyết án ngày càng nâng cao Do đó BLTTHS năm 2015 "luật hóa" chức năng, nhiệm vụ này, đồng thời quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm BLTTHS năm 2015 quy định:

1 Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến, tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết

2 Kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm

3 Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động:

a) Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy đủ, đúng pháp luật;

b) Kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;

Trang 40

c) Cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm;

d) Khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người

vi phạm;

đ) Yêu cầu thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra

4 Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin

về tội phạm

5 Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm

6 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật này [36, Điều 160]

Nhìn chung, về lý thuyết hoạt động của VKS trong việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố bao gồm những nội dung:

Thứ nhất, kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến

nghị khởi tố Theo quy định của BLTTHS năm 2015, VKSND có nhiệm vụ kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Để kiểm sát việc tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm và CQĐT cũng như các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có đầy

đủ không đòi hỏi người cán bộ kiểm sát bên cạnh việc nắm rõ quy định chung của BLTTHS năm 2015, Kiểm sát viên còn phải nắm qua các kênh thông tin như: nguồn đơn thư tố giác tội phạm do công dân chuyển đến VKS, sau đó VKS chuyển đến CQĐT để tiến hành xác minh theo thẩm quyền; thông qua kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; các thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng, công tác tiếp dân từ đó hàng tuần Kiểm sát

Ngày đăng: 04/02/2021, 22:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh Biểu (2015), "Dấu ấn 55 năm công tác hậu cần của ngành Kiểm sát nhân dân", http://www.baomoi.com, ngày 24/7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn 55 năm công tác hậu cần của ngành Kiểm sát nhân dân
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Năm: 2015
2. Nguyễn Hòa Bình (2016): "Ngành Kiểm sát nhân dân chủ động, tích cực hợp tác quốc tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới", http://kiemsat.vn, ngày 14/3/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Kiểm sát nhân dân chủ động, tích cực hợp tác quốc tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Năm: 2016
3. Nguyễn Mai Bộ (1997), Những biện pháp trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện pháp trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
5. BT. (2015), "Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm", http://www.antv.gov.vn, ngày 23/02/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm
Tác giả: BT
Năm: 2015
6. Lê Cảm (2001), "Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
7. Lê Cảm (2004), "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự", Kiểm sát, (2), tr. 24-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
8. Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
9. Nguyễn Ngọc Chí (2007), "Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự", Khoa học, (Kinh tế - Luật), (23), tr. 64-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2007
10. Quang Chung (2015), "71 trường hợp làm oan người vô tội", http://www. thesaigontimes.vn, ngày 10/4/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 71 trường hợp làm oan người vô tội
Tác giả: Quang Chung
Năm: 2015
11. Thành Công (2015), "Một số sai sót nhầm lẫn của Cơ quan điều tra giữa bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang - Bài học rút ra từ một vụ án hình sự", http://www.vksquangninh.gov.vn, ngày 19/7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số sai sót nhầm lẫn của Cơ quan điều tra giữa bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang - Bài học rút ra từ một vụ án hình sự
Tác giả: Thành Công
Năm: 2015
12. Lương Thúy Dung (2015), "Hội nghị sơ kết hai năm thực hiện thông tư liên tịch số 06 về giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố", http://vienkiemsathaiphong.gov.vn, ngày 08/10/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị sơ kết hai năm thực hiện thông tư liên tịch số 06 về giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Tác giả: Lương Thúy Dung
Năm: 2015
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Nguyễn Tiến Đạt (2006), "Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam", Khoa học pháp lý, 3(34), tr. 4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Năm: 2006
17. Trần Văn Độ (2003), "Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm soát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay", Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hà Nộ, tr. 21-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm soát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2003
18. Nguyễn Đức (2016), "Viện kiểm sát Bình Phước rút kinh nghiệm án oan", http://plo.vn, ngày 21/4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát Bình Phước rút kinh nghiệm án oan
Tác giả: Nguyễn Đức
Năm: 2016
19. Đỗ Văn Đương (1999), "Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố", Kỷ yếu đề tài cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, tr. 5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Năm: 1999
20. Phạm Văn Gòn (2014), "Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm", http://www.vksnd.hochiminhcity.gov.vn, ngày 11/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
Tác giả: Phạm Văn Gòn
Năm: 2014
21. Vũ Việt Hùng (2009), "Quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thực trạng và một số đề xuất, kiến nghị", Kiểm sát, (12), tr. 4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thực trạng và một số đề xuất, kiến nghị
Tác giả: Vũ Việt Hùng
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w