xét lại theo thủ tục phúc thẩm VAHS được chấp nhận cũng có nghĩa là số lượng bản án quyết định chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị nhiều hơn, các VAHS sơ thẩm được xét xử lại một c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HÀ
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HÀ
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo qui định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 41.1 Khái niệm, căn cứ và ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự 11
1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự 11 1.1.2 Các luận cứ về căn cứ kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự trong khoa học Luật Tố tụng hình sự Việt Nam 21 1.1.3 Ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự 44
1.2 Các đặc điểm chủ yếu của kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 45
1.2.1 Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự thể hiện quyền năng pháp lý đặc biệt và duy nhất mà Nhà nước chỉ trao cho Viện kiểm sát 45 1.2.2 Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát là một trong những điều kiện pháp lý để vụ án được xét xử lại ở cấp thứ hai 46
1.2.3 Hệ quả của kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiếm sát
nhân dân là để tiến hành một phiên tòa xét xử cấp thứ hai (cấp phúc thẩm) 45 1.2.4 Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự là công cụ đặc biệt của Viện kiểm sát 47
1.3 Vai trò của kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 48
1.3.1 Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự là công cụ hữu hiệu để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử của Toà án 48
Trang 51.3.2 Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự sẽ góp phần không nhỏ vào việc thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn xét xử 50
1.3.3 Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự góp phần bảo vệ quyền con người trong việc xét xử các vụ án hình sự 51
1.4 Phân biệt kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự với kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự của Viện kiểmr sát 51
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUI ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG 56
2.1 Thực trạng các qui định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự 56
2.1.1 Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự 56
2.1.2 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự 61
2.1.3 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm hình sự 63
2.1.4 Thủ tục bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự 64
2.2 Thực tiễn áp dụng các qui định pháp luật trong kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Giang (những năm 2010 -2014) 66
2.2.1 Thực trạng kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Giang 66
2.2.2 Kết quả đạt được 71
2.2.3 Một số tồn tại trong kháng nghị phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Hà Giang và nguyên nhân của những tồn tại đó 74
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 79
Trang 63.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về
kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự 79
3.1.1 Về mặt lập pháp 79
3.1.2 Về mặt lý luận 79
3.1.3 Về mặt thực tiễn 80
3.2 Định hướng hoàn thiện các quy phạm pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành có liên quan đến công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự 80
KẾT LUẬN CHUNG 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân biệt kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự với kháng nghị
giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện kiểm sát 52 Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng án kháng nghị phúc thẩm/ số lượng vụ
án được thụ lý xét xử phúc thẩm 68 Bảng 2.2 Thống kê số bị cáo đã giải quyết theo thủ tục phúc thấm 71 Bảng 2.3 Thống kê quyết định kháng nghị phúc thẩm 2 cấp và việc giải
quyết của tòa án 69
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới sửa đổi năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) mới sửa đổi năm 2014 đã thay thế Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức VKSND năm 2002, thì Viện kiểm sát (VKS) vẫn thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Mục đích hoạt động của VKS trong tố tụng hình sự (TTHS) là nhằm bảo đảm mọi hành
vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời; việc truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội; không làm oan người vô tội
Theo khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất VKSND tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất VKSND cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện (thành phố thuộc tỉnh) thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình Theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 và điểm o khoản 2 Điều 41 BLTTHS năm 2015 thì, khi thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án
hình sự (VAHS), Viện trưởng VKS có những nhiệm vụ và quyền hạn “kháng
Trang 10nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án theo quy định của Bộ luật này”
Kháng nghị phúc thẩm VAHS là quyền năng pháp lý xuất phát từ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của VKS và xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong TTHS nước ta, đó
là bảo đảm hai cấp xét xử VKS có nhiệm vụ kháng nghị các bản án (quyết định) sơ thẩm hình sự của Tòa án cùng cấp (hoặc cấp dưới trực tiếp) chưa có hiệu lực pháp luật nhưng xét thấy không đúng pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử, nhằm bảo đảm việc áp dụng đúng pháp luật
Thực tiễn kháng nghị phúc thẩm VAHS cho thấy, bên cạnh những kết quả
đã đạt được trong công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS và chất lượng kháng nghị của VKSND từng bước đã được nâng lên, về cơ bản các quyết định kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKSND đã đảm bảo về hình thức, nội dung, tỷ lệ kháng nghị được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận ngày một tăng cao thì vẫn còn nhiều bất cập, quy định không rõ ràng, không qui định về hệ thống các căn
cứ kháng nghị phúc thẩm VAHS, không qui định đối tượng và nội dung của kháng nghị phúc thẩm Một mặt, do nhận thức của một số cán bộ, kiểm sát viên không đầy đủ, nên đã có nhiều quyết định kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKSND không đúng luật, không nêu được lý do kháng nghị mà chỉ nêu một cách chung chung như, không thỏa đáng, không đảm bảo tính nghiêm minh, không công bằng… để yêu cầu xét xử phúc thẩm, điều đó đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm
Trong một vài năm trở lại đây, việc các bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị xét xử theo thủ tục phúc thẩm có chiều hướng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp Việc nội dung đề nghị xem
Trang 11xét lại theo thủ tục phúc thẩm VAHS được chấp nhận cũng có nghĩa là số lượng bản án (quyết định) chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị nhiều hơn, các VAHS sơ thẩm được xét xử lại một cách khách quan hơn nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho những người tham gia tố tụng, nhưng cũng
có những vụ việc bị xử đi, xử lại nhiều lần dẫn đến tốn kém về cả thời gian, công sức và tiền bạc của cả Nhà nước và công dân, làm cho người dân mất lòng tin vào các cơ quan bảo vệ pháp luật
Cùng với xu hướng chung của công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và nhà nước ta đang đặt ra theo tinh thần của Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/05/20056 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 là:
Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động
tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp [4, tr.3]
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được thể hiện tại Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của BCHTW Đảng đó là:
Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bảo tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng
và bảo vệ quyền con người [5, tr.2-3]
Trang 12và “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo
vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành hiệu quả và hiệu lực cao” [5, tr.2]
Thực hiện Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19-6-2008 về
"Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự" của Viện trưởng
VKSND tối cao Trong những năm 2010 đến 2014, công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS đối với bản án (quyết định) sơ thẩm hình sự của TAND đã đạt được những kết quả nhất định Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS còn không ít bất cập do xuất phát từ nguyên nhân chủ quan cũng như nguyên nhân khách quan, tuy ít nhiều ở mức độ khác nhau Điều đó cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu và phân tích sâu sắc tất
cả những vấn đề về kháng nghị phúc thẩm VAHS, từ khái niệm cho đến những dạng thức, nguyên nhân tồn tại và hiệu quả của nó, để thể chế hóa thành những quy định của BLTTHS, tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm VAHS, việc tìm hiểu quy định của BLTTHS năm 2003
và BLTTHS năm 2015 về kháng nghị phúc thẩm VAHS, làm rõ một số bất cập của qui định về công tác này, từ đó nêu lên các định hướng hoàn thiện nhằm góp phần làm cho các quy định của BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 sát với thực tiễn, nâng cao công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKS
Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình
sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)” làm luận văn thạc sỹ luật học là có tính cấp bách và cần thiết
trong thời điểm hiện nay
Thông qua việc nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của hạn chế và tồn tại, đồng thời đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm kháng nghị phúc thẩm
Trang 13VAHS và định hướng hoàn thiện BLTTHS năm 2015 (gồm 510 Điều) chưa
có, nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị các VAHS ở cấp phúc thẩm, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong tình hình mới
2 Tình hình nghiên cứu
Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS đã được ngành Kiểm sát quan tâm, đầu tư đúng mức, thể hiện thông qua Chỉ thị 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19-06-2008 của Viện trưởng VKSND tối cao, thể hiện thông qua việc tổ chức các hội thảo, hội nghị, tổng kết rút kinh nghiệm của ngành kiểm sát Ngoài ra, công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKSND còn được một số nhà khoa học
- Luật gia hình sự quan tâm nghiên cứu, thể hiện ở một số sách chuyên khảo, tham khảo, bình luận và giáo trình đại học, trong đó phải kể đến các công
trình ở những cấp độ khác nhau
2.1 Các sách (sách chuyên khảo, sách tham khảo, sách hướng dẫn)
và các giáo trình:
1) GS.TSKH Lê Văn Cảm (2009), “Hệ thống tư pháp hình sự trong
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền”, Sách chuyên khảo, Khoa luật -
Đại học Quốc gia, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
2) Kỷ yếu (2009), “Đổi mới cơ cấu tổ chức cơ quan kiểm sát trong tiến
trình cải cách tư pháp tại Việt Nam (Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước)”, NXB Tư pháp, Việt Nam, Hà Nội
3) PGS.TS Võ Khánh Vinh (2004), “Bình luận khoa học Bộ luật tố
tụng hình sự”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội
4) Đinh Văn Quế (2011), “Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình
sự”, Nxb Hải Phòng
5) Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) “Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt
Nam”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội – Hà Nội 2015
Trang 142.2 Các bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành có thể kể đến các công trình sau:
1) Dương Thanh Biểu (2007), “Những vấn đề cần chú ý để nâng cao
chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND” Tạp chí
Kiểm sát, số 8
2) Nguyễn Huy Tiến (2009), “Một số vấn đề liên quan đến trách
nhiệm, quyền hạn của VKSND trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự”,
Tạp chí kiểm sát, số 17
3) Đinh Văn Quế (2007), “Bàn thêm về kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm án hình sự”, Tạp chí kiểm sát, số 15- 8/2007 và số 17 - tháng 9
4) Viện Phúc thẩm 1- VKSND tối cao (2006), Chuyên đề: “Thực trạng
và giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm hình sự của Toà án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, Tạp chí kiểm sát, Hà Nội
Đặc biệt trong năm năm gần đây, từ năm 2010 đến năm 2014, tại các Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án có đăng các bài báo nghiên cứu khoa học có liên quan đến kháng nghị phúc thẩm VAHS và bao gồm:
1) Lê Thành Dương (2014), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
kháng nghị phúc thẩm hình sự”, Tạp chí kiểm sát, số 12
2) Trần Đức Dương (2010), “Mối quan hệ giữa phạm vi xét xử sơ thẩm và
giới hạn kháng cáo, kháng nghị phúc”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 07
3) Bùi Văn Kim (2014), “Một số vấn đề về quyền hạn, trách nhiệm của
kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm”, Tạp chí Kiểm sát, số 19
4) Duy Kiên (2015), “Một số vấn đề về các qui định chung trong thủ
tục xét xử phúc thẩm”, Tạp chí Kiểm sát, số Tân xuân
Trang 155) Nguyễn Nông (2014), “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm hình sự”, Tạp chí
Kiểm sát, số 12
6) Hồ Ngọc Thảo (2013), “Một số giải pháp thực hiện có hiệu quả công
tác kháng nghị phúc thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 21
7) Nguyễn Huy Tiến (2014), “Quyền kháng nghị bản án, quyết định
của Tòa án”, Tạp chí Kiểm sát, số 12
8) Ngô Thanh Xuyên (2012), “Một số ý kiến về bổ sung, thay đổi và rút
kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hình sự” Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17
Ngoài ra còn có một số bài viết của các tác giả khác, tuy nhiên hầu hết các tác giả trong mỗi bài viết đều khai thác ở một khía cạnh của kháng nghị phúc thẩm VAHS trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật thực định
2.3 Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ luật học
1) Mai Thanh Hiếu (2015), “Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” Luận án tiến sỹ, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận án đã phân tích điều kiện hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong TTHS là sự hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị về đối tượng, chủ thể, giới hạn, thời hạn, hình thức và thủ tục Đặc biệt, luận án đi sâu phân tích hai nội dung hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đó là: kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp cao hơn và kháng cáo, kháng nghị giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị Trên cơ sở phân tích pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật TTHS Việt Nam về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, làm sáng tỏ các yêu cầu và giải pháp bảo đảm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong TTHS Việt Nam
Trang 162) Chu Thị Thanh Tú (2007), “Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự” luận
văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
3)- Trần Thị Minh Ngọc (2011), “Kháng nghị phúc thẩm các vụ án
hình sự của VKSND tỉnh Hà Tĩnh, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận
văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia, Hà Nội
Kế thừa các nghiên cứu trong các công trình nêu trên, tác giả mạnh dạn nghiên cứu, phân tích các qui định pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành và BLTTHS năm 2015 cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKSND để đưa ra định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS
3 Mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận
về kháng nghị phúc thẩm VAHS cũng như thực tiễn pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về công tác này trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014, luận văn đề xuất những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS về kháng nghị phúc thẩm và nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong thực tiễn
3.2 Các nhiệm vụ của luận văn
Để đạt mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công tác kháng nghị phúc
thẩm vụ án hình sự của VKSND;
Hai là, đánh giá các quy định của BLTTHS năm 2003 về công tác
kháng nghị phúc thẩm VAHS trong hệ thống VKSND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng như thực tiễn và hiệu quả áp dụng các qui định
này trên địa bàn tỉnh Hà Giang (Năm 2010 - 2014)
Trang 17Ba là, đưa ra các luận cứ khoa học cho định hướng hoàn thiện các quy
phạm pháp luật TTHS hiện hành liên quan đến kháng nghị phúc thẩm VAHS của hệ thống VKS
4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
4.1 Về đối tượng: Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến
kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
4.2 Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn về công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS theo Luật TTHS Việt Nam, đánh giá thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang (những năm 2010 - 2014), với việc chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản, từ đó luận chứng và đề xuất những kiến giải lập pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trên địa bàn tỉnh Hà Giang
4.3 Về thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các số liệu thực tiễn
trong khoảng thời gian 05 năm (từ năm 2010 đến năm 2014)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước về Nhà nước và pháp luật; về cải cách tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kháng nghị nói chung và kháng nghị phúc thẩm VAHS nói riêng; về chính sách hình sự và TTHS; về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng X,
XI, và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26-05-2005 về “Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020” của Bộ chính trị Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác
giả của luận văn sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học pháp lý hình
sự nói chung và khoa học luật TTHS nói riêng đó là phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học trong lĩnh vực TTHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu của luận văn
Trang 186 Ý nghĩa của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS theo Luật TTHS Việt Nam hiện hành, cũng như thực tiễn công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang (những năm 2010 - 2014), tác giả đề xuất một số định hướng nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm VAHS BLTTHS năm 2015 (gồm 510 Điều) Xác định được sự cần thiết của việc đề xuất một số định hướng nhằm hoàn thiện kháng nghị phúc thẩm VAHS, nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm VAHS của theo Luật TTHS Việt Nam trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về công tác kháng nghị phúc
thẩm vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2 Thực trạng các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 về kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng các qui định này trên địa bàn tỉnh Hà Giang (những năm 2010 - 2014)
Chương 3: Định hướng nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam về kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 19Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, căn cứ và ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự
Trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, từ thời Pháp thuộc, Viện Công tố đã được thành lập và tồn tại trong hệ thống tổ chức của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cơ quan công tố nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án Các Công tố viên thuộc cơ quan Toà án làm nhiệm vụ buộc tội, nhân danh nhà nước trước phiên toà trong các VAHS Khi công tố còn là một bộ phận của Toà án thì quyền kháng nghị đã được quy định tại văn bản pháp lý đầu tiên là Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946 của Chủ tịch nước đã qui định quyền kháng nghị tại Điều thứ 34
“Toà đại hình xử sơ thẩm Ông Biện lý, bị can và nguyên đơn có quyền chống
án lên Toà Thượng thẩm” [11 , tr.4] Trong Chương VI của Hiến pháp 1946,
từ Điều 63 đến Điều 69 quy định về các cơ quan tư pháp, trong đó nói rõ các
cơ quan tư pháp chỉ có Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa đệ nhị cấp Ngày 05-12-1957 Thông tư số 141-HCTP của Bộ tư pháp ra đời tại điểm
“c” Điều 1 mục II đã qui định “Ông Công tố ủy viên, dưới sự lãnh đạo của Bộ
tư pháp có nhiệm vụ kháng nghị đối với Bản án hoặc Nghị quyết của Tòa án xét không đúng pháp luật” [9 , tr.6] Đến năm 1958, Viện công tố được tách
ra khỏi Toà án trực thuộc Hội đồng Chính phủ và hình thành hệ thống cơ quan nhà nước độc lập với Toà án từ Trung ương tới địa phương, hoạt động chủ yếu vẫn là hoạt động công tố trước Toà án
Từ Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức VKSND năm 1960 đến nay, VKSND được tổ chức thành một hệ thống độc lập nhằm thiết lập một hệ thống cơ quan nhà nước mới, không chỉ thực hiện quyền công tố mà còn là cơ
Trang 20quan có chức năng chuyên trách giám sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, ngăn ngừa tình trạng cục bộ địa phương, cục bộ bản vị của các ngành, các cấp Theo Hiến pháp năm 1959, VKS ngoài chức năng công tố còn thực hiện một chức năng thứ hai là kiểm sát việc tuân theo pháp luật Hiến pháp năm
1980 đến Hiến pháp năm 2013, tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và hoạt động của VKS nhưng chức năng công tố vẫn giao cho VKS đảm nhiệm Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về
“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” vẫn khẳng định: “Viện kiểm sát
nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [5, tr.5]
Khi bàn về công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS tức là nói đến chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp mà nhà nước chỉ giao duy nhất cho VKS thực hiện, được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND và đặc biệt được cụ thể hóa trong BLTTHS
Thực tế cho thấy một trong những lý do quan trọng giải thích tại sao công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS là một hoạt động quan trọng của
VKSND là một quyền năng pháp lý mà nhà nước chỉ giao cho VKSND để
kháng nghị đối với những bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cùng cấp (hoặc cấp dưới trực tiếp) khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm hình sự là để đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời, không làm oan người vô tội, không
để lọt người phạm tội, tránh được những sai lầm do xét xử sơ thẩm VAHS gây ra Theo PGS.TS Nguyễn Thái Phúc thì:
Viện kiểm sát luôn là một hệ thống cơ quan nhà nước có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù, có vị trí độc lập trong
Trang 21bộ máy Nhà nước Nhiệm vụ của VKS đã được ghi nhận nhất quán trong Hiến pháp là “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo
vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự
do, danh dự và nhân phẩm của công dân [58 , tr.13]
Với chức năng trên, trong hoạt động tố tụng, VKS có nhiệm vụ kháng nghị các bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Toà
án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật, nhằm bảo đảm việc áp dụng đúng pháp luật
Trước hết, về khái niệm thế nào là kháng nghị phúc thẩm VAHS, cho đến thời điểm hiện nay chưa có một định nghĩa chung được thừa nhận và áp
dụng trên phạm vi toàn quốc BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015
cũng như các văn bản pháp luật có liên quan chưa có một khái niệm thống nhất về kháng nghị phúc thẩm VAHS
Mặc dù vậy, từ trước đến nay đã có một số tác giả đưa ra định nghĩa về kháng nghị phúc thẩm VAHS
Theo Giáo trình Công tác kiểm sát năm 2012 của Trường Đại học Kiểm
sát Hà Nội thì: “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một trong những quyền
của Viện kiểm sát được thể hiện bằng một văn bản pháp lý thể hiện quan điểm không thống nhất với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa
án cấp sơ thẩm vì xét xử thiếu căn cứ, không hợp pháp và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án đó đúng pháp luật” [32, tr.70]
Tác giả Lê Thành Dương cho rằng:
Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo
Trang 22thủ tục phúc thẩm nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời [27 , tr.32]
Theo tác giả Lê Thanh Biểu thì lại cho rằng:
Khi VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên toà sơ thẩm hình sự, nếu xét thấy bản án và quyết định của Tòa án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật hình sự, xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, xã hội và mọi quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng thì VKS phải có trách nhiệm yêu cầu đưa vụ án lên Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại bằng quyền năng pháp lý do luật định đó là kháng nghị phúc thẩm [10, tr 4]
Các quan điểm trên, về cơ bản đã thể hiện rõ ràng, xúc tích, tuy nhiên
có một nhược điểm là không nêu rõ VKS cấp nào được kháng nghị đối với bản án (quyết định) của Tòa án cấp nào, ngang cấp hay cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
hình sự là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp
đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật’ [68 , tr 235]
Tiếp thu lý luận của các tác giả nghiên cứu về công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS, tác giả luận văn cho rằng, các khái niệm nêu trên chưa thể hiện đầy đủ bản chất của kháng nghị phúc thẩm VAHS, bởi kháng nghị phúc thẩm VAHS là một quyền năng pháp lý riêng biệt mà nhà nước chỉ giao cho VKSND và phải đánh giá là kháng nghị phúc thẩm VAHS là để khắc phục các vi phạm nghiêm trọng đối với bản án (quyết định) sơ thẩm hình sự chưa
có hiệu lực pháp luật Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Tú thì:
Trang 23Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý đặc thù của VKSND, do người có thẩm quyền thực hiện thông qua một văn bản pháp lý nêu rõ lý do của việc kháng nghị và yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án; hoặc xét lại Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án sơ thẩm nhưng xét thấy không đúng pháp luật nhằm khắc phục các vi phạm hoặc sai lầm trong bản án và quyết định đó [79 , tr.13] Khái niệm trên đã cho rằng VKS yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án; hoặc xét lại bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
là chưa hoàn toàn chính xác, bởi khi dùng từ “xét lại bản án, quyết định sơ
thẩm…”, vấn đề này chắc chắn sẽ gây hiểu lầm sang việc xét lại bản án
(quyết định) theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, mà thực chất là xét xử phúc thẩm VAHS là việc xét xử lại ở cấp thứ hai
Theo tác giả Trần Thị Minh Ngọc nêu trong luận văn thạc sỹ luật học:
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt
mà Nhà Nước chỉ giao cho VKS các cấp thực hiện thông qua một văn bản pháp lý nêu rõ lý do của việc kháng nghị và yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm Thông qua việc kháng nghị phúc thẩm hình sự, VKS bảo vệ quan điểm truy tố, đồng thời nhằm khắc phục các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án chưa có
hiệu lực pháp luật [57 , tr 24]
Khái niệm trên có nội dung toàn diện hơn, tuy nhiên quá rườm rà, không cô đọng Để đưa ra một khái niệm đúng với bản chất của nó, trước hết phải nghiên cứu một cách tổng thể đến hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nghiên cứu thế nào là thủ tục tố tụng hình sự và phân biệt thủ tục tố tụng hình sự với các thủ tục tố tụng khác
Trang 24Theo cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi
mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của TS Lê
Hữu Thể, TS Đỗ Văn Đương, ThS Nguyễn Thị Thủy (Đồng chủ biên) đưa ra định nghĩa về thủ tục tố tụng:
Thủ tục tố tụng theo nghĩa rộng là trình tự, điều kiện, các bảo đảm chung, thống nhất và có tính bắt buộc phải tuân thủ theo luật định đối với toàn bộ hoạt động tố tụng cũng như đối với từng giai đoạn tố tụng, từng hành vi tố tụng cụ thể, đối với các quyết định tố tụng và đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể tố tụng, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không
để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội [80 , tr.23]
Từ định nghĩa về thủ tục nêu trên, cho thấy, thủ tục TTHS là loại tố tụng đặc thù, khác với tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật trong tố tụng không làm mất đi mối liên hệ chặt chẽ giữa các qui phạm pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau, hoạt động TTHS không chỉ là lĩnh vực áp dụng các qui phạm pháp luật hình sự mà trong phạm vi nhất định còn có một số chế định của quan hệ dân sự cũng được áp dụng, chẳng hạn như: Giải quyết vấn đề dân sự trong VAHS, các qui định hành chính cũng được áp dụng để quản lý, điều hành trong việc giải quyết VAHS
Trong quá trình tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ các quy định của BLTTHS bởi lẽ mọi vi phạm pháp luật hoặc việc áp dụng pháp luật không đầy đủ có thể dẫn đến việc xử lý oan, sai, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây tổn hại đến
uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật và làm giảm lòng tin của nhân dân vào hiệu lực và sự công minh của pháp luật Việc nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ các quy định của BLTTHS không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan
Trang 25tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà còn là nhiệm vụ của những người tham gia tố tụng VKS là một trong những cơ quan tư pháp tiến hành các hoạt động tố tụng xuyên suốt ngay từ giai đoạn tin báo tố giác về tội phạm, đến khi bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm có hiệu lực thi hành và được thi hành Thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình VKS bảo đảm cho mọi hoạt động của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng
và người tham gia tố tụng được tiến hành nghiêm chỉnh, thống nhất theo quy định của pháp luật
Trước khi đưa ra khái niệm thế nào là kháng nghị phúc thẩm VAHS tác giả luận văn cho rằng, cần phải hiểu „Kháng nghị” là gì và “Phúc thẩm” là gì
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, thuật ngữ “Kháng
nghị” được hiểu là sự bày tỏ ý kiến phản đối bằng văn bản chính thức [78 , tr.492]; còn “Phúc thẩm” được hiểu là (Tòa án cấp trên) xét xử lại một vụ án
do cấp dưới đã xử sơ thẩm mà có chống án [78 , tr.790] Theo từ điển Luật
học thì:
Kháng nghị là quyền mà pháp luật qui định cho Viện kiểm sát và những người có thẩm quyền ra văn bản kháng nghị, làm ngưng hiệu lực phán quyết của Tòa án trong Bản án hoặc quyết định đã tuyên để xét xử lại theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, nhằm làm cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp luật [77 tr 53 và 404];
“Phúc thẩm” là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại những Bản
án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bị kháng cáo hoặc kháng nghị, nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp, tính có căn cứ của Bản án, quyết định sơ thẩm, sửa lại những sai lầm và
vi phạm của Tòa án sơ thẩm, bảo đảm cho việc áp dụng thống nhất pháp luật [77 , tr.378]
Trang 26Từ các khái niệm trên có thể hiểu quyền kháng nghị phúc thẩm nói chung (bao gồm: kháng nghị phúc thẩm VAHS, vụ án dân sự hoặc vụ án hành chính ) chỉ có VKS cùng cấp (hoặc VKS cấp trên trực tiếp) cùng lãnh thổ với Toà án đã ra bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm mới có quyền kháng nghị những bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm Tuy nhiên, ở các giai đoạn khác nhau thì quyền kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKS cũng được quy định khác nhau
Với việc ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960, chức năng kháng
nghị phúc thẩm VAHS đã chính thức được ghi nhận tại Điều 17 “Viện kiểm
sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp” [50 , tr.6]
Trong giai đoạn tiếp theo, sau khi thông qua Hiến pháp năm 1980, với việc ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1981 (với một vài sửa đổi, bổ sung), chức năng kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKS được quy định lại tại Điều
13 “Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các viện kiểm sát nhân dân có
quyền: … Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật” [50 , tr.7]
Sau khi thông qua Hiến pháp 1992, trong Luật tổ chức VKSND (Điều 16) sửa một số đổi bổ sung khi viện dẫn chức năng kháng nghị của VKS sang
pháp luật TTHS như sau: “Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử vụ án hình
sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:…3- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự”[50 , tr.13] Cụ thể hóa vấn đề này, Luật tổ chức VKSND năm 2002
(Điều 19) qui định:
Trang 27Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình
sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị với Tòa
án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong việc xét xử; kiến nghị với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; nếu có
dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự [50 , tr 14 -15]
Sau khi thông qua Hiến pháp mới năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 (một số sửa đổi, bổ sung) hoàn thiện và rõ hơn, tại Điều 5 qui định
về kháng nghị phúc thẩm VAHS của VKSND với nội dung như sau:
Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì VKSND phải kháng nghị Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật [45 , tr.4]
Từ việc nghiên cứu quyền kháng nghị phúc thẩm và bản chất của kháng nghị phúc thẩm, căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và xuất phát từ thực tiễn hai mươi năm công tác trong ngành kiểm sát, tác giả xin đưa ra định
nghĩa khoa học của kháng nghị phúc thẩm VAHS như sau: Kháng nghị phúc
thẩm vụ án hình sự là việc Viện kiểm sát cùng cấp (hoặc cấp trên trực tiếp) ban hành văn bản thể hiện sự phản ứng lại đối với bản án, quyết định sơ thẩm hình sự của Tòa án cùng cấp (hoặc cấp dưới trực tiếp) đã xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự khi có các căn cứ do pháp luật tố tụng hình sự quy định
Theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm 2003 thì khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với VAHS, Viện trưởng VKS có những
Trang 28nhiệm vụ và quyền hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết
định của Toà án [7 , tr 31] Như vậy, việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
các bản án (quyết định) của Toà án không chỉ là quyền mà còn là nhiệm vụ của Viện trưởng VKS trong hoạt động TTHS Thực tiễn công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với VAHS của VKS cho thấy, tỷ lệ án có kháng nghị còn thấp hơn tỷ lệ án
có kháng cáo, một phần chủ yếu do VKS cùng cấp biết rõ vi phạm của bản án (quyết định) sơ thẩm hình sự, lẽ ra Viện trưởng VKS phải ra kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng lại không kháng nghị vì cho rằng quan điểm của VKS và quan điểm của Tòa án không khác nhau, hoặc trong cái sai của Tòa
án cũng có phần sai của VKS, hoặc tuy bản án, quyết định sơ thẩm hình sự có
vi phạm, nhưng nếu kháng nghị thì VKS cấp trên khó bảo vệ hoặc không bảo
vệ kháng nghị hay lại rút kháng nghị, thậm chí có nhiều khi còn cho rằng kháng nghị nhiều sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ phối hợp giữa VKS và Tòa
án, nên đã bỏ qua nhiều bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm mà rõ ràng xác định là có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, dẫn đến một thực tế là có địa phương, nhiều năm liền không không ban hành một bản kháng nghị phúc thẩm VAHS nào trong khi số án xét xử phúc thẩm bị sửa, hủy do có kháng cáo còn chiếm tỷ lệ cao Một thực tế nữa là, khi VKSND cấp dưới giải quyết một VAHS và khi kiểm sát bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm của Tòa án, tuy đã nhận thức rõ là có vi phạm pháp luật hình sự, TTHS và các văn bản
hình sự có liên quan, nhưng vì một lý do nào đó đã không chuyển bản án
(quyết định) hình sự sơ thẩm đó lên VKS cấp trên theo qui định, trong thời hạn luật định để VKS cấp trên ban hành kháng nghị phúc thẩm VAHS Một
số hạn chế khác nữa là do trình độ, năng lực của một số kiểm sát viên, lãnh đạo VKS về công tác kháng nghị phúc thẩm VAHS còn non kém, không hiểu đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND hoặc nắm không chắc các quy định của pháp luật hình sự và TTHS, dẫn đến không thể ban hành hoặc ban hành kháng nghị không đúng quy định của pháp luật TTHS, dẫn đến VKS
Trang 29cấp trên phải rút kháng nghị hoặc Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị Ngược lại, có những trường hợp chỉ có thể kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu người tham gia tố tụng không có kháng cáo bản án (quyết định) của Toà án cấp sơ thẩm, thì lại kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; lại có trường hợp Viện trưởng VKS kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự các bản án (quyết định) của Toà án cấp sơ thẩm chủ yếu là để tỏ thái
độ không đồng tình với bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm của Toà án, nhưng sau đó lại rút kháng nghị hoặc đề nghị Viện trưởng VKS cấp trên rút kháng nghị vv…
1.1.2 Các luận cứ về căn cứ kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự trong
khoa học Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Quan điểm được thừa nhận chung hiện nay là kháng nghị phúc thẩm VAHS là văn bản TTHS của VKS cùng cấp (hoặc cấp trên trực tiếp) thể hiện quan điểm của VKS đối với bản án (quyết định) của Tòa án cùng cấp (hoặc cấp dưới trực tiếp) vì đã để xảy ra những sai sót về áp dụng pháp luật hình sự
và TTHS, cũng như sự đánh giá phiến diện, không khách quan và đầy đủ của
cơ quan tiến hành tố tụng đối với các trình tự cụ thể của vụ án được xét xử cũng như việc áp dụng hình phạt không phù hợp với mức độ nghiêm trọng của tội phạm cũng như của nhân thân bị cáo
Nhằm góp phần hoàn thiện các qui định về kháng nghị phúc thẩm VAHS
trong BLTTHS năm 2015 Sau hơn hai mươi năm công tác trong ngành kiểm
sát, căn cứ vào thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử các VAHS, tác giả nhận thấy bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi có một trong 5 (năm) căn cứ sau đây thì VKS cùng cấp (hoặc cấp trên trực tiếp) có quyền kháng nghị đối với bản án (quyết định) của Tòa án cùng cấp (hoặc cấp dưới trực tiếp) mà cụ thể năm căn cứ đó là:
Trang 301) Căn cứ thứ nhất – bản án mang tính phiến diện, không phản ánh
một cách khách quan, đầy đủ các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự của Tòa án cùng cấp (hoặc cấp dưới trực tiếp)
Trong khoa học TTHS, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là ba giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng, bất kể một hoạt động nào trong ba giai đoạn trên đều phải tuân theo qui định của BLTTHS hiện hành, từ hoạt động khởi tố, điều tra, việc thu thập chứng cứ, việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, giám định cho đến quá trình truy tố, xét xử sơ thẩm, tất cả đều có vị trí, vai trò quan trọng của quá trình tố tụng Các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố được coi là giai đoạn chuẩn bị điều kiện cho quá trình xét xử sơ thẩm, việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa, việc xem xét, đánh giá, chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ hành vi của bị cáo và áp dụng pháp luật của Tòa án liên quan chặt chẽ đến giai đoạn giải quyết vụ án tiếp theo và các quyết định của Tòa án chính là đối tượng để xem xét lại ở giai đoạn phúc thẩm
Theo tập thể tác giả đồng chủ biên TS Lê Hữu Thể - TS Đỗ Văn Đương
- Ths Nguyễn Thị Thủy trong cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp
bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” thì: Xét xử VAHS sự là giai đoạn trung tâm của TTHS, thể hiện đầy đủ
bản chất chế độ tư pháp hình sự của mỗi quốc gia, quyết định việc giải quyết
vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, Tòa án xét xử phải chính xác, công minh, vì thông qua phán quyết về những hành vi phạm tội, Tòa án duy trì công lý trong xã hội, kiểm soát xã hội
trong vòng trật tự; “Tòa án phải là nơi thể hiện đầy đủ nền công lý, thể hiện
chất lượng và uy tín của toàn bộ hệ thống tư pháp nước ta” [80 , tr.367]
Trong pháp luật TTHS hiện hành, giai đoạn xét xử được coi là giai đoạn trung tâm bởi chính trong giai đoạn này, Tòa án nhân danh Nhà nước
Trang 31phán quyết đối với bị cáo, tại phiên tòa, với sự có mặt của các bên tham gia tố tụng, xét hỏi công khai tại phiên tòa xét xử VAHS nói chung là giai đoạn vô cùng quan trọng và đặc biệt là tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm nói riêng, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên đưa ra những câu hỏi đối với bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ các tình tiết khách quan của vụ
án, giải quyết được những mâu thuẫn trong vụ án, kiểm tra tính đúng đắn của toàn bộ tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án; kiểm tra các tài liệu, chứng cứ đó có được thu thập theo qui định của pháp luật TTHS hiện hành không, lời khai của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác có phù hợp với nhau, phù hợp với các tình tiết khác có trong
hồ sơ vụ án không, để nhận thấy việc truy tố của VKS có đúng người, đúng tội, đúng qui định của pháp luật không; làm rõ các tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, các vấn đề làm căn cứ cho việc giải quyết vấn
đề bồi thường dân sự trong VAHS cũng như làm rõ các căn cứ để xử lý vật chứng trong vụ án
Việc điều tra xét hỏi công khai tại phiên toà phiến diện, được hiểu là Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, việc điều tra xét hỏi qua loa, chỉ thiên về một mặt, một khía cạnh, không điều tra xét hỏi đầy đủ các mặt các khía cạnh của vụ án,
có thể do một lý do nào đó mà việc xét hỏi tại phiên tòa chỉ xét hỏi thiên về yếu tố buộc tội mà không điều tra xét hỏi các mặt, các khía cạnh gỡ tội, chỉ thiên về các tình tiết tăng nặng mà không xét hỏi về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc ngược lại, chỉ thiên về vấn đề xác định lỗi của bên
bị cáo mà không xem xét đến phần lỗi của bị hại hoặc ngược lại, có thể do Hội đồng xét xử đã quá tin vào các tài liệu của cơ quan điều tra, VKS mà không điều tra, xét hỏi kỹ bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng
Trang 32khác, không tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng trình bày hết các
ý kiến của mình Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử khi bị cáo,
người bị hại, nguyên đơn dân sự… vắng mặt, mà sự vắng mặt của họ gây trở ngại đến việc xác định sự thật của vụ án; có những mâu thuẫn giữa các lời khai của người tham gia tố tụng, mâu thuẫn giữa các nguồn chứng cứ nhưng không được xét hỏi, đối chất làm rõ tại phiên tòa dẫn đến nhận định, đánh giá của Hội đồng xét xử đối với vụ án chưa đảm bảo khách quan, toàn diện
Việc điều tra xét hỏi công khai tại phiên toà không đầy đủ có nghĩa là điều tra xét hỏi còn bỏ sót một hoặc một số tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án hoặc không điều tra xét hỏi đối với người tham gia tố tụng,
và lời khai của người tham gia tố tụng đó rất có ý nghĩa trong việc định tội, việc quyết định hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Việc điều tra, xét hỏi công khai tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ sẽ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bản án phiến diện, oan sai, bỏ lọt tội phạm, việc quyết định hình phạt không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, không có tính chất răn đe, phòng ngừa tội phạm, làm ảnh hưởng đến chính sách hình sự của nhà nước Việt Nam
Chẳng hạn như, trong quá trình điều tra, truy tố một vụ án theo tội
“Đánh bạc” qui định tại khoản 1 Điều 248 BLHS, cơ quan điều tra bắt quả tang 10 (mười) đối tượng đang đánh bạc trên hai chiếu bạc, tiến hành thu giữ tại chiếu bạc thứ nhất 1.050.000,VNĐ, thu tại chiếu thứ hai 3.950.000,VNĐ tổng thu giữ cả hai chiếu bạc là 5.000.000,VNĐ.Căn cứ theo qui định của BLHS và nhân thân của các đối tượng thì hành vi của các đối tượng đánh bạc tại chiếu thứ nhất không cấu thành tội phạm, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại căn
cứ vào tổng số tiền thu của hai chiếu bạc để điều tra, truy tố, xét xử đối với cả
5 (năm) đối tượng đánh bạc tại chiếu thứ nhất Sau khi nhận được bản án số 56/2013/HSST của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang,
Trang 33VKSND tỉnh Hà Giang đã kháng nghị phúc thẩm VAHS, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 248 BLTTHS hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra, xét xử lại, quyết định kháng nghị đã được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận theo đề nghị của VKS
2) Căn cứ thứ hai – các kết luận trong bản án (quyết định) của Tòa án
cùng cấp (hoặc cấp dưới trực tiếp) không phù hợp với các tình tiết thực tế của
vụ án
Bản án hình sự nói chung và bản án hình sự sơ thẩm nói riêng là một văn bản TTHS, nó ghi nhận các kết luận và quyết định của Hội đồng xét xử, cao hơn nữa là sự đánh giá của những người nhân danh nhà nước đối với một hành vi, một con người cụ thể khi hành vi đó, con người đó bị truy tố trước Tòa án Bản án hình sự đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, với yêu cầu chính trị là bản án phải phản ánh trung thực diễn biến của vụ án và phải xác định rõ sự thật khách quan của vụ án đó là: Có sự việc phạm tội xảy ra không, ai là người đã thực hiện các hành vi đó và hành vi đó có cấu thành tội phạm không, nếu là tội phạm thì phạm tội gì, vi phạm vào điểm, khoản, điều nào của BLHS, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội cụ thể thế nào
Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử thực hiện nhiệm vụ thẩm vấn công khai tại phiên tòa để kiểm tra lại tính đúng đắn của các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án, tiếp thu các ý kiến tranh luận của các bên tham gia tố tụng với kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, chắt lọc thông tin, tìm ra chân lý của vụ án và đưa ra kết luận chính xác
nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện Trong phần “Xét thấy”
của bản án được qui định là ghi toàn bộ sự phân tích và đánh giá của Hội đồng xét xử về vụ án bao gồm: Phân tích và đánh giá những vấn đề đã được
Trang 34tranh tụng tại phiên toà; Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; Đánh giá bị cáo có phạm tội không và nếu bị cáo có phạm tội thì phạm tội gì, theo khoản nào, Điều nào của BLHS; Đánh giá tính chất, mức
độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Đánh giá thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có); Hướng giải quyết về xử lý vật chứng (nếu có)
Kết luận trong bản án (quyết định) cuả Tòa án cùng cấp (hoặc cấp dưới
trực tiếp) không phù hợp với các tình tiết thực tế của vụ án thông thường
được thể hiện trên 04 (bốn) bình diện sau đây:
a) Kết luận không được khẳng định bởi các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa Chẳng hạn như, trong quá trình xét xử ở cấp sơ thẩm, kết quả thẩm vấn công khai và kết quả tranh luận tại phiên tòa thể hiện đầy đủ bản chất của sự việc phạm tội, nhưng Hội đồng xét xử lại dựa trên tài liệu có trong
hồ sơ vụ án để kết luận vụ án (Bản án số 08/2015/HSST ngày 12/8/2014 của TAND huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang)
b) Bản án (quyết định) sơ thẩm hình sự đã không cân nhắc đến các tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, dẫn đến ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với chính sách hình
sự của nhà nước nói riêng cũng như sự nhìn nhận của các nước bạn đối với chính sách hình sự của nước Việt Nam.Ví dụ như: bản án số 09/2015/HSST ngày 12/3/2012 của TAND huyện BM, tỉnh Hà Giang đối với bị cáo Lý Văn Nguyên, bị cáo Nguyên thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhưng khi áp dụng điều luật để quyết định hình phạt đã không áp dụng chế định giành cho người chưa thành niên phạm tội qui đình tại các điều 18 và Điều 52 BLHS làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo
c) Khi có sự mâu thuẫn liên quan trực tiếp đến vấn đề giải quyết vụ án
và việc giải quyết mâu thuẫn đó có ý nghĩa quan trọng cơ bản để việc kết luận
Trang 35trong bản án của Tòa án, khi vụ án còn nhiều mâu thuẫn cần giải quyết, nhưng Tòa án đã không tiến hành giải quyết triệt để, không đưa ra lập luận cho những vấn đề loại trừ những chứng cứ phù hợp và những chứng cứ không phù hợp dẫn đến kết luận theo hướng chủ quan, thừa nhận hoặc phủ nhận một số vấn đề mà không đưa ra cơ sở cho kết luận đó Chẳng hạn như, bản án số 07/2013/HSST ngày 23/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Xín Mần, tỉnh
Hà Giang, lời khai của các bị cáo Hoàng Văn Hùng và Phượng Tà Phin mâu thuẫn nhau về vấn đề ai là người chủ mưu, khởi xướng đối với tội “Cướp tài sản”, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã không làm rõ vấn đề này tại phiên tòa, để cân nhắc mức án cho phù hợp, không có lập luận bác bỏ lời khai không phù hợp và lập luận chấp nhận lời khai phù hợp với các tiết khách quan của vụ án
để quyết định mức án đối với các bị cáo, gây bức xúc cho các bị cáo
d) Những kết luận của Tòa án cùng cấp (hoặc cấp dưới trực tiếp) trong bản án (quyết định) đã không thể hiện đầy đủ và toàn diện bản chất của vụ án.Như vụ Lò Ngọc Hùng, phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Bản án số 01/2013/HSST ngày 27/3/2013 của TAND huyện QB, tỉnh Hà Giang, trong phần “Xét thấy” đã không nêu tình tiết liền trước thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bị người khác đe dọa, cưỡng bức, để làm căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm i khoản 1 Điều 46 BLHS, dẫn đến làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bị cáo
Bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật là sự thể hiện quyền lực của nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, để xác định một người có tội hay không có tội, phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt có ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc và trước hết trực tiếp ảnh hưởng tới người bị đưa ra xét xử Bản án hình sự tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không chỉ có ý nghĩa về mặt đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm minh mà còn mang tính giáo dục, răn
Trang 36đe, phòng ngừa tội phạm trong xã hội, đồng thời tạo niềm tin của nhân dân vào công lý
Với ý nghĩa pháp lý nêu trên, bản án hình sự cần phải có nội dung mang tính khoa học pháp lý, văn phong chuẩn xác, thống nhất theo quy định của BLTTHS hiện hành phải thể hiện đầy đủ bản chất của vụ án, giải quyết được những mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia tố tụng
và trong các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án
3) Căn cứ thứ 3 – có sự vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp
luật tố tụng hình sự hoặc (và pháp luật hình sự)
Từ khi có BLTTHS năm 1988 đến nay, chưa có văn bản nào giải thích một cách rành mạch, phân biệt một cách rõ ràng ranh giới giữa vi phạm nghiêm trọng với vi phạm chưa tới mức nghiêm trọng mà hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự đánh giá của người có thẩm quyền kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm Tuy nhiên, việc đánh giá này không tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của người kháng nghị cũng như Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử mà phải căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và thực tiễn công tác kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và xét xử phúc thẩm VAHS trong nhiều năm qua
Theo qui định tại khoản 1 Điều 33 Qui chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các VAHS của VKSND tối cao thì để kháng nghị bản án (quyết định) sơ thẩm hình sự chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục
phúc thẩm phải có một trong các căn cứ như: “a Việc điều tra, xét hỏi tại
phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ; b Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án;
c Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự; d Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng” [62 , tr.13], điều đó cho thấy, chỉ được coi là căn cứ kháng
nghị phúc thẩm VAHS, khi bản án (quyết định) sơ thẩm hình sự chưa có hiệu
Trang 37lực pháp luật và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS và các vi phạm này chỉ là những vi phạm của Toà án cấp sơ thẩm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm (bao gồm cả giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm), còn các vi phạm của cơ quan điều tra và VKS trong giai đoạn điều tra, truy tố không phải căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, bởi giai đoạn tố tụng sau phải có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của giai đoạn tố tụng trước đó, phát hiện những vi phạm để yêu cầu khắc phục Chính vì thế, Tòa án cấp sơ thẩm phải có trách nhiệm phát hiện ra những sai lầm của cơ quan điều tra, VKS trước đó nhưng nếu tòa án cấp sơ thẩm không phát hiện ra được mà vẫn xét
xử dựa trên sự sai lầm thiếu xót trong quá trình điều tra thì là lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm nên bản án sơ thẩm sẽ bị xét xử phúc thẩm lại Trong trường hợp bản án (quyết định) của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện sai xót
từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử thì sẽ bị kháng nghị giám đốc thẩm theo Điều 273 BLTTHS:
Bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong các căn
cứ sau đây: 1 Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; 2 Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; 3 Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố, xét xử; 4
Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình
sự [8 , tr.191]
Những vi phạm thủ tục tố tụng ở giai đoạn chuẩn bị xét xử của Toà án cấp sơ thẩm tới mức nghiêm trọng phải kháng nghị theo thủ tục phúc phẩm thường là những vi phạm như: Xác định sai người tham gia tố tụng, mỗi người tham gia tố tụng đều có những quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khác nhau Mọi trường hợp xác định sai tư cách hoặc bỏ sót người tham gia tố
Trang 38tụng đều dẫn đến hậu quả ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong vụ
án và không đúng pháp luật; Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án không đúng; Việc giao các quyết định của Toà án không đúng với quy định tại Điều
182 BLTTHS năm 2003; Triệu tập không đầy đủ những người cần triệu tập đến phiên toà để xét hỏi hoặc tuy có triệu tập nhưng người được triệu tập không nhận được giấy triệu tập vì có lý do chính đáng Còn ở phiên toà, những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thường là các trường hợp như: xét xử sai thẩm quyền; Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng với quy định của pháp luật; Bị cáo vắng mắt có lý do chính đáng, nhưng Toà án cấp sơ thẩm vẫn xét xử vắng mặt họ ở phiên toà sơ thẩm (vi phạm khoản 1 Điều 187 BLTTHS năm 2003); người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 vắng mặt, nhưng Toà án cấp sơ thẩm vẫn xét xử; Người bị hại vắng mặt trong trường hợp sự vắng mặt của họ trở ngại cho việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng Toà án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử; Những người tham gia tố tụng khác như: Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định mà sự vắng mặt của họ trở ngại đến việc xác định sự thật của vụ án; Chủ toạ phiên toà không thực hiện đúng các quy định của BLTTHS năm 2003 tại phiên toà như: Không đọc quyết định đưa vụ
án ra xét xử, không xét hỏi những người tham gia tố tụng trong trường hợp lời khai của họ tại cơ quan điều tra mâu thuẫn với lời khai của người khác, nhưng lại căn cứ vào lời khai tại Cơ quan điều tra để làm căn cứ xác định sự thật của
vụ án, không cho bị cáo nói lời sau cùng, chủ toạ phiên toà không xét hỏi lại giao cho các thành viên khác xét hỏi rồi chủ toạ tóm tắt lại như một lời kết luận v.v…; Biên bản nghị án phản ánh nội dung quyết định của Hội đồng xét
xử không đúng với phần quyết định của bản án đã tuyên tại phiên toà
Trang 39Tại mục 4.4 Phần I Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về xét xử sơ thẩm VAHS có quy định:
Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp Bộ luật Tố tụng Hình sự qui định bắt buộc phải tiến hành hoặc tiến hành thủ tục đó, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc
làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện [35 , tr.6]
Khái niệm này đã cho thấy bốn đặc điểm về vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS thông thường là: a) Phải có hành vi không thực hiện những quy định bắt buộc trong BLTTHSnăm 2003, khi tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; b) Hoặc có hành vi thực hiện, nhưng thực hiện không đúng theo trình tự, thủ tục đã quy định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; c) Các hành vi trên phải xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…; d) Việc bỏ qua hoặc thực hiện không đúng không đầy đủ thủ tục tố tụng bắt buộc
làm cho việc giải quyết vụ án hình sự thiếu khách quan, toàn diện
Các đặc điểm của vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:
Thứ nhất, không thực hiện những quy định bắt buộc trong BLTTHS khi
tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
được hiểu là các chủ thể tiến hành tố tụng không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng như, bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa, người làm chứng, người giám định,
Trang 40người phiên dịch, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự Các hành vi này phải xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự Những vi phạm thuộc các trường hợp trên đều coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và phải được điều tra, truy tố lại hoặc xét xử lại Những vi phạm ngoài phạm vi khái niệm này thì được coi
là những vi phạm tố tụng không nghiêm trọng và chỉ thực hiện việc kiến nghị sửa chữa, khắc phục
Thứ hai, có hành vi thực hiện, nhưng thực hiện không đúng theo trình
tự, thủ tục TTHS đã quy định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng, được hiểu là các chủ thể tiến hành tố tụng có thực hiện hoạt động tố
tụng theo quy định nhưng bỏ qua một số qui định hoặc thực hiện không đúng không đầy đủ thủ tục làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện Trong các vi phạm tố tụng của HĐXX, có những vi phạm chỉ cần căn cứ
vào quy định của BLTTHS cũng biết là nghiêm trọng Ví dụ: thẩm phán tham
gia HĐXX là người theo quy định phải từ chối hoặc bị thay đổi Cũng có những vi phạm phải qua đánh giá mới xác định có nghiêm trọng hay không như việc người làm chứng vắng mặt mà sự vắng mặt của họ sẽ trở ngại cho việc xác định sự thật của vụ án thì việc xét xử vắng mặt người làm chứng là vi phạm nghiêm trọng Còn sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án thì vi phạm đó không phải là nghiêm trọng; hoặc Cơ quan điều tra vi phạm về thời hạn điều tra, Tòa án vi phạm về thời hạn xét xử, cũng là những vi phạm tố tụng nhưng không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng; hoặc quá trình lấy lời khai của người làm chứng dưới 16 tuổi
mà không mời cha mẹ của người đó tham dự là vi phạm Nhưng nếu người làm chứng dưới 16 tuổi này chỉ là một trong nhiều người làm chứng khác cùng khai giống nhau về một sự việc thì vi phạm này không ảnh hưởng đến