1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp phần nghiên cứu khu hệ thú làm cơ sở khoa học cho quản lý thú hoang dã ở tỉnh Quảng Ngãi

264 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 264
Dung lượng 16,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Nguyễn Thanh Tuấn GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU KHU HỆ THÚ LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO QUẢN LÝ THÚ HOANG DÃ Ở TỈNH QUẢNG NGÃI Chuyên ngà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Thanh Tuấn

GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU KHU HỆ THÚ LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO QUẢN LÝ THÚ HOANG DÃ Ở TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Thanh Tuấn

GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU KHU HỆ THÚ LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO QUẢN LÝ THÚ HOANG DÃ Ở TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 62 42 10 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Lê Vũ Khôi

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực Những trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận án có nguồn gốc xác thực

Tác giả

Nguyễn Thanh Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc thầy hướng dẫn khoa học GS TS

Lê Vũ Khôi đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các tập thể và cá nhân:

- GS TSKH Đặng Huy Huỳnh; TS Phạm Trọng Ảnh; PGS TS Nguyễn Xuân Đặng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam,

đã có những ý kiến chỉ bảo, định hướng, động viên, cung cấp một số tài liệu cũng như giúp tôi định loại một số mẫu vật

- PGS TS Hà Đình Đức; GS, TS Mai Đình Yên; PGS TS Nguyễn Xuân Huấn – nguyên Chủ nhiệm Khoa Sinh học; PGS TS Lê Thu Hà – Phó Chủ nhiệm Khoa Sinh học, Chủ nhiệm bộ môn Động vật có xương sống, đã có những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành tốt luận án

- PGS TS Lê Đình Thủy – Trường phòng; TS Vũ Đình Thống – Phó trưởng phòng Bảo tàng động vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp tôi một số dụng cụ và định loại một số loài dơi

- TS Đặng Tất Thế; Th.S Hồ Thị Loan; Th.S Nguyễn Trọng Sơn, Phòng Hệ thống học phân tử và di truyền bảo tồn, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã giúp tôi phân tích DNA một số mẫu vật

- Cử nhân Vũ Ngọc Thành, TS Đoàn Hương Mai, Th.S Nguyễn Trung Thành, Th.S Nguyễn Thị Lan Anh cùng toàn thể cán bộ Bộ môn Động vật có xương sống, Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự Nhiên đã giúp đỡ tôi nhiều mặt trong quá trình học tập

- Ông Nguyễn Văn Hân – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi, ông Nguyễn Đại – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi đã giúp đỡ về thủ tục

và tài liệu trong suốt quá trình tôi nghiên cứu

Trang 5

- Ông Lê Minh Khánh – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ba Tơ, ông Tạ Tiến – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Hà, ông Nguyễn Hồng Thái – phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Trà Bồng và toàn bộ kiểm lâm viên các Hạt Kiểm lâm Trà Bồng, Sơn Hà và Ba Tơ đã giúp tôi một số tài liệu và thông tin cần thiết cũng như quá trình khảo sát thực địa của tôi

- Ban Giám đốc Sở Khoa học và Công Nghệ tỉnh Quảng Ngãi đã giúp tôi một số tài liệu liên quan nội dung nghiên cứu

- Đảng ủy, UBND các huyện Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ; Đảng ủy, UBND 15 xã thuộc địa bàn nghiên cứu (Trà Thủy, Trà Giang, Trà Sơn, Trà Bùi, Trà Tân huyện Trà Bồng; Sơn Giang, Sơn Linh, Sơn Thủy, Sơn Kỳ, Sơn Ba huyện Sơn Hà; Ba Dinh, Ba Bích, Ba Xa, Ba Nam và Ba Lế huyện Ba Tơ) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu tại địa phương

- Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả Già làng, Thôn trưởng, và toàn thể nhân dân 15 xã vùng nghiên cứu đã thương yêu, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi nghiên cứu thực địa tại các địa phương

Tôi xin cảm ơn ba mẹ, anh chị em của tôi, và một số đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THÚ Ở VIỆT NAM VÀ

VNC

4

Trang 7

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VÀ TƯ LIỆU VIẾT LUẬN ÁN

29

3.1 TÍNH ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CỦA KHU HỆ THÚ

QUẢNG NGÃI

37

Trang 8

3.1.2 Những ghi nhận mới bổ sung cho danh lục thú Quảng Ngãi 47

3.1.4 Cấu trúc thành phần phân loại học của Khu hệ thú Quảng Ngãi 63

3.2 SƠ BỘ PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ ĐỘNG VẬT HỌC KHU

HỆ THÚ QUẢNG NGÃI

65

3.2.2 Quan hệ giữa khu hệ thú Quảng Ngãi với các khu hệ thú vùng lân

Trang 9

3.4 GÍA TRỊ BẢO TỒN CỦA KHU HỆ THÚ QUẢNG NGÃI 82

3.5 CÁC MỐI ĐE DỌA VÀ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN

ĐỘNG VẬT RỪNG Ở QUẢNG NGÃI

87

3.6 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

CI Conservation International (Tổ Chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc Tế)

FFI Fauna & Flora International (Tổ chức Bảo tồn Động – thực vật

Quốc tế - Quỹ Bảo tồn Động – thực vật Thế giới) FPD Foundation for Professional Development (Quỹ phát triển Lâm

nghiệp Quốc tế) FZS Frankfurt Zoological Society (Hội Động vật học Frankfurt, Đức)

IUCN (2012) International Union for Conservation of Nature and Natural

Resources (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế - Danh sách các loài động vật có nguy cơ bị diệt vong của Hiệp Hội Bảo Vệ Thiên Nhiên Thế Giới năm 2012)

Trang 11

LR Lower risk (Ít nguy cấp)

MOSAIC Management Of Strategic Areas for Integrated Concervation (Quản lý các khu vực chiến lược bảo tồn kết hợp)

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.2 Chỉ số kích thước cơ thể Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) ở

Quảng Ngãi

49

Bảng 3.4 Số lượng Chà vá chân xám bị săn bắn ghi nhận được ở Quảng

Ngãi (từ tháng 4 năm 2007 đến tháng 02 năm 2010)

52

Bảng 3.6 Địa điểm thu nhận Cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni) ở tỉnh

Quảng Ngãi

56

Bảng 3.7 Cấu trúc thành phần phân loại học khu hệ thú Quảng Ngãi 63 Bảng 3.8 So sánh thành phần phân loại học khu hệ thú VNC và Việt Nam 65 Bảng 3.9 So sánh thành phần các bộ thú ở Quảng Ngãi với toàn quốc 66

Bảng 3.11 Hệ số gần gũi giữa khu hệ thú Quảng Ngãi với các khu hệ thú

lân cận

69

Bảng 3.12 Hệ số tương quan (Cn) khu hệ thú Quảng Ngãi với

5 khu địa lí động vật Việt Nam

71

Bảng 3.16 Số loài thuộc các bộ thú ở Quảng Ngãi có giá trị bảo tồn 83 Bảng 3.17 Tình trạng phá rừng làm rẫy tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2002- 2010 87

Trang 14

Bảng 3.18 Thống kê diện tích rừng bị cháy trong những năm 1996 – 2010

Trang 15

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea Nadler, 1997) ở Sơn Kỳ,

huyện Sơn Hà, năm 2007

57

Hình 3.2 Cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni Thomas, 1912) ở núi Pông, xã

Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, năm 2007

57

Hình 3.3 Sọ Cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni Thomas, 1912) ở Trà Sơn,

huyện Trà Bồng, năm 2009

57

Hình 3.4 Sơ đồ vị trí vùng phân bố của Chà vá chân xám, Cầy vằn bắc,

Mang lớn và Mang Trường Sơn ở tỉnh Quảng Ngãi

62

Hình 3.5 Bản đồ chỉ vị trí tỉnh Quảng Ngãi và các khu vực so sánh lân

cận

68

Hình 3.6 Bản đồ phân khu 5 đơn vị địa lí động vật KHT Việt Nam (Theo

Lê Vũ Khôi, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2001)

70

Hình 3.7 Biểu đồ tỉ lệ các nhóm yếu tố địa lí động vật cấu thành KHT

Quảng Ngãi

72

Hình 3.10 Biểu đồ so sánh đa dạng các bậc phân loại thú ở các huyện 81 Hình 3.11 Đồ thị diễn biến diện tích rừng bị chặt phá làm nương rẫy từ

năm 2002 - 2010 ở tỉnh Quảng Ngãi

88

Trang 16

Hình 3.12 Đồ thị diễn biến diện tích rừng bị cháy giai đoạn 1996 - 2010 ở

Hình 3.14 Đồ thị diễn biến khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ

trong những năm 2002 - 2008 ở tỉnh Quảng Ngãi

91

Hình 3.15 Đồ thị hiện tượng mua bán, vận chuyển trái phép động vật rừng

trong những năm 2002 - 2008 ở tỉnh Quảng Ngãi

93

Hình 3.16 Bản đồ quy hoạch tổng thể KBTTN Nam Ba Tơ đề xuất tỉnh

Quảng Ngãi

108

Trang 17

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Quảng Ngãi là tỉnh thuộc khu vực Trung Trung Bộ với diện tích tự nhiên 5.849,6

km2, nằm ở tọa độ từ 14032’40” đến 15025’00” độ vĩ bắc; 108006’00” đến 109004’25” độ kinh đông, là dải liền kề với cao nguyên Kon Tum, thuộc sườn Đông của khu vực cảnh quan Trung Trường Sơn nên Quảng Ngãi có ý nghĩa quan trọng trong vùng địa lí động vật học Nam Trung Bộ

Địa hình Quảng Ngãi chủ yếu là đồi núi, đồng bằng hẹp Sự phức tạp của địa hình tạo cho Quảng Ngãi nhiều vùng tiểu khí hậu do vậy hệ động thực vật ở đây khá phong phú Tuy nhiên, nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung và khu hệ thú Quảng Ngãi nói riêng còn rất hạn chế Nghiên cứu thành phần loài thú miền Nam Việt Nam, năm

1969 - 1970, Van Peenen và cộng sự [124, 125, 126] đã ghi nhận 164 loài và phân loài thú ở khu vực miền Nam, nhưng trong đó chỉ có 4 loài được ghi nhận ở tỉnh Quảng

Ngãi, đó là: Chuột chù (Suncus murinus), Dơi nghệ nhỏ (Scotophilus temmincki), Chuột lắt (Rattus exulans) và Chuột cống (Rattus norvegicus) Gần đây hơn, khảo sát

tổng quát đa dạng sinh học giai đoạn 1998 – 2000, năm 2001, Lê Khắc Huy và cộng sự [28] đã ghi nhận 76 loài thú Nhưng đây chỉ là những ghi nhận bước đầu, chưa phải là công trình nghiên cứu đầy đủ và hệ thống

Nằm trong hệ thống đới rừng gió mùa á xích đạo, Quảng Ngãi có điều kiện khí hậu khá khắc nghiệt: mùa khô thì hạn hán kéo dài, mùa mưa lại có lũ lớn Bên cạnh đó, tình trạng khai thác, xâm hại rừng, săn bắt, buôn bán trái phép động vật hoang dã đã và đang diễn biến hết sức phức tạp tại nhiều địa phương trong tỉnh, làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học nói chung, khu hệ thú hoang dã nói riêng của tỉnh

Do vậy, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng tài nguyên thú hoang dã và đề xuất giải pháp bảo tồn chúng là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài của tỉnh Quảng Ngãi Xuất phát từ

Trang 18

thực tế đó, chúng tôi chọn và thực hiện đề tài “Góp phần nghiên cứu khu hệ thú làm

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của luận án nhằm các mục đích sau:

- Nghiên cứu khu hệ thú, đánh giá tính đa dạng loài; hiện trạng phân bố, giá trị và hiện trạng bảo tồn của khu hệ thú (KHT) tỉnh Quảng Ngãi

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng khu hệ thú Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thú hoang dã

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Khu hệ thú, đặc điểm sinh cảnh, các yếu tố ảnh hưởng

tới đa dạng sinh học của khu hệ thú ở tỉnh Quảng Ngãi

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài luận án đã chọn khu vực nghiên cứu gồm 15 xã

thuộc 3 huyện Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ đại diện cho tỉnh Quảng Ngãi

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án cung cấp dẫn liệu mới và đầy đủ nhất từ trước đến nay về tính đa dạng thành phần loài, sự phân bố và đặc điểm sinh thái của khu hệ thú làm cơ sở khoa học cho việc quản lý và bảo tồn các loài thú ở tỉnh Quảng Ngãi

Tư liệu của luận án là cơ sở khoa học tin cậy để tỉnh Quảng Ngãi có thể tham khảo để định hướng quản lý, bảo tồn tài nguyên thú hoang dã, đặc biệt đối với các loài

“quý hiếm”, đặc hữu có ở trong tỉnh và xem xét việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên trong tỉnh

5 Các đóng góp của luận án

- Cung cấp danh lục các loài thú đầy đủ nhất từ trước đến nay, trong đó phát hiện,

bổ sung cho KHT Quảng Ngãi 49 loài, 15 giống, 2 họ và các tư liệu khoa học về độ đa dạng thành phần loài, sự phân bố, giá trị bảo tồn, đặc trưng địa lí động vật học khu hệ thú hoang dã tỉnh Quảng Ngãi

Trang 19

3

- Xác định tính chính xác của 4 loài thú bị đe dọa cao trong tỉnh Quảng Ngãi: Chà

vá chân xám (Pygathrix cinerea), Cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni), Mang lớn (Muntiacus vuquangensis) và Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) trên địa

bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Xác định được các nguyên nhân làm suy giảm đa dạng các loài thú hoang dã và

đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn các quần thể thú vùng nghiên cứu và thành lập khu bảo tồn thiên nhiên

6 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 124 trang, chia thành 3 chương, với 23 bảng, 19 hình, 134 tài liệu tham khảo Phần phụ lục gồm 16 phụ lục, 124 trang cung cấp thêm các số liệu và hình ảnh nghiên cứu

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THÚ Ở VIỆT NAM VÀ VNC

1.1.1 Sơ lược nghiên cứu thú ở Việt Nam

Nghiên cứu thú hoang dã ở Việt Nam đã được tiến hành từ rất lâu, gắn liền với lịch sử của đất nước Xuất phát từ những giá trị thực tiễn của thú hoang dã trong cuộc sống, tuy chưa được gọi là công trình nghiên cứu, nhưng bước đầu đã có một số sách ghi nhận, mô tả một số loài có giá trị của địa phương như “Văn đài loại ngữ”, “Phủ biên tập lục” của Lê Quý Đôn (1724 - 1784),…[24, 25] Đến thế kỉ XIX, Quốc sử quán Triều Nguyễn 1865 – 1882 đã soạn “Đại nam nhất thống chí” (1874) [62] thống kê về công dụng của nhiều loài thú phổ biến ở một số tỉnh Tuy nhiên, những tài liệu đó chưa phải là công trình nghiên cứu khoa học để lập được danh lục thú

Trong suốt thế kỉ XIX, hầu như không có công trình nghiên cứu nào chuyên biệt cho Việt Nam Các công trình nghiên cứu thú hoang dã thường được thực hiện kết hợp trên bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện Một số công trình tiêu biểu trong thời gian này có thể kể: The mission to Siam and Hue, the Capital of Conchinchina in the year 1821 – 1822 của George Finlayson (1828) thực hiện ở Campuchia và Việt Nam Trên lãnh thổ Việt Nam, nghiên cứu thú bắt đầu từ Nam Bộ của Milne – Edwards (1867 - 1874), Morice (1875)…; ở miền Bắc

có Billet (1896 - 1898), Boutant (1900 - 1906), De Pousargues (1904), Ménégaux (1905 - 1906) Kết quả khảo sát và phân tích mẫu vật thu được của các đoàn nghiên cứu lần lượt được công bố dưới dạng danh lục các loài thú của khu vực, đáng chú ý là những công bố của Baurae (1900), Heude (1901), Anonyme (1902), Krempf (1911), Trouessart (1911), Dollman G (1912), Allen G.M (1913)…

Đến đầu thế kỉ XX, bên cạnh một số công trình nghiên cứu tổng hợp khu hệ động vật nói chung và thú nói riêng ở Đông Dương và ở Việt Nam của các nhà khoa học nước ngoài như De Monestrol (1925); Bourret (1927, 1942, 1943, 1944); Osgood

Trang 21

5

các địa phương, tiêu biểu có kết quả khảo sát thú ở Nam Trung Bộ của Bonhote (1927),

ở Nam Trung bộ và Nam Bộ của Robinson và Kloss (1920 - 1926), kết quả khảo sát ở Côn Sơn của Kloss C B (1926,1928) Giai đoạn này nhiều công trình được xuất bản, giới thiệu, mô tả nhiều loài thú trong đó có một số loài mới cho khoa học Cụ thể, công trình “Tổng quan về lịch sử tự nhiên ở Bắc bộ” của Brousmiche (1917) và “Mười năm nghiên cứu động vật của Boutan (1906) đã công bố 2 loài thú ăn thịt mới: Cầy móc cua

(Herpestes urva), Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea)… Đặc biệt, năm 1931, tổng hợp tất

cả các tài liệu về thú đã thu thập của các nghiên cứu thú Đông Nam Á của Kelley - Roosevelt (1928 – 1929), Delacour (1925 - 1933) và F.R Wilsin (1924), H Osgood [113] đã ghi nhận 172 loài và phân loài thú ở Việt Nam, trong đó có 19 dạng mới Đây

là một trong những công trình nghiên cứu thú có giá trị khoa học cao ở Việt Nam và cũng là bước ngoặt trong lịch sử nghiên cứu thú ở Việt Nam [theo 26] Những năm sau

đó, các nghiên cứu khu hệ, lập danh lục thú vẫn được triển khai, đáng chú ý là công trình của Delacour (1940 – 1951), của Bourret (1942 – 1944)

Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thành công, nghiên cứu động vật nói chung

và thú hoang dã nói riêng bắt đầu hoạt động trở lại và nghiên cứu khu hệ thú hướng về các địa phương Giai đoạn này nghiên cứu thú ở miền Bắc hoàn toàn do các nhà khoa học Việt Nam đảm nhận; trong khi đó, tại miền Nam chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện

Giai đoạn đầu nghiên cứu thú ở miền Bắc do ba cơ quan chính đảm nhận: Ban Sinh vật Địa học – Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước, Trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội và Tổng cục Lâm nghiệp Nghiên cứu khu hệ thú không ngừng được mở rộng phạm vi, quy mô và đối tượng tham gia dưới sự trực tiếp nghiên cứu của các nhà khoa học về thú hàng đầu của Việt Nam như Đào Văn Tiến, Lê Hiền Hào, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khôi, Phạm Trọng Ảnh,… Nhiều công trình nghiên cứu

về khu hệ thú, về sinh học, sinh thái của một số loài thú được công bố trên một số tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước Một số công trình tiêu biểu: “Động vật kinh tế tỉnh Hòa Bình” (1975) do Đặng Huy Huỳnh chủ biên với 74 loài thú được ghi nhận ở tỉnh Hòa Bình [29], “Kết quả điều tra nguồn lợi thú miền Bắc Việt Nam”

Trang 22

(1981) với 85 loài thú hoang dã được Đặng Huy Huỳnh và cộng sự mô tả [30] Trong công trình “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam, tập 1” Lê Hiền Hào [26] đã mô tả đặc điểm hình thái, phân bố, sinh học, sinh thái, tập tính hoạt động và ý nghĩa kinh tế của nhiều loài thú,…

Tại miền Nam, ngoài một số công trình nghiên cứu về thú của Vương Đình Xâm

để phục vụ giảng dạy, hầu hết các nghiên cứu về thú được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài, nhiều công trình về thú rừng được công bố như: Van Peenen và cộng

sự (1967, 1970, 1971) [124, 125, 126], Olson (1970), Duncan và cộng sự (1970, 1971) [theo 39] Đặc biệt, công trình “Preliminary Identification Manual for Mammals of South Vietnam” (1969) của Van Peenen và cộng sự [124], đã công bố danh lục thú từ tỉnh Quảng Trị trở vào với 151 loài, thuộc 11 bộ thú của miền Nam Việt Nam, trong đó một số bộ có số loài chiếm ưu thế: bộ Gặm nhấm (Rodentia) có 43 loài, bộ Dơi (Chiroptera) có 40 loài, bộ Ăn thịt (Carnivora) có 30 loài, bộ Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) có 12 loài, bộ Linh trưởng (Primates) có 11 loài và bộ Ăn sâu bọ (Soricomorpha) có 8 loài Tác giả mô tả đặc điểm hình thái, kích thước cơ thể, sọ, sinh cảnh phân bố… Do vậy, đây là công trình được đánh giá có giá trị khoa học rất cao Sau ngày thống nhất đất nước, nghiên cứu về động vật hoang dã nói chung và khu

hệ thú nói riêng được tiến hành trên phạm vi cả nước Nhiều chương trình nghiên cứu không chỉ giới hạn xây dựng danh lục thành phần loài thú mà còn bổ sung nhiều dẫn liệu về sinh thái học cá thể, quần thể, về phân bố địa lí… được thực hiện bởi các nhà khoa học, các cơ quan chuyên trách của Việt Nam, các tổ chức Quốc tế: Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Trung Quốc, Anh,… và các tổ chức phi chính phủ như: WWF, IUCN, FFI, Birdlife… Các công trình nghiên cứu giai đoạn này rất đa dạng được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành: Tạp chí Sinh học, Lâm nghiệp, Nông nghiệp và các tạp chí nước ngoài và các sách chuyên khảo Nghiên cứu khu hệ thú hoang dã của Việt Nam thật sự chuyển sang giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất Vào thập niên 70, 80 của thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, nhiều công trình nghiên cứu thú rừng ở Tây Nguyên được nhiều nhà khoa học thực hiện như Đặng Huy Huỳnh

và cộng sự [31, 35, 36, 37], Cao Văn Sung [70], Hoàng Minh Khiên [42], Trần Hồng

Trang 23

7

Việt và cộng sự [76, 91, 92, 93], Lê Vũ Khôi [43, 48, 49]… Năm 1982, Đặng Huy Huỳnh và cộng sự đã sơ bộ xác định khu hệ thú Tây Nguyên có 104 loài, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế và bảo tồn… Tổng hợp kết quả điều tra thực địa 12 tỉnh miền Bắc trong giai đoạn 1955 – 1985, công trình “Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam” Đào Văn Tiến (1985) đã công bố 129 loài và phân loài thú thuộc 32 họ, 11 bộ có ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có 08 loài mới cho khu hệ thú Việt Nam và 10 loài lần đầu tiên gặp ở miền Bắc [77] Bên cạnh đó, nhiều tác giả tập trung nghiên cứu chuyên sâu về một số nhóm thú: về gặm nhấm có Lê Vũ Khôi, Vũ Quốc Trung, Nguyễn Văn Biền (1979), Cao Văn Sung, Bùi Kính, Đặng Huy Huỳnh (1980),… Về thú ăn thịt có Phạm Trọng Ảnh (1980), Nguyễn Xuân Đặng [20, 21, 22, 23],… Thú móng guốc có Đặng Huy Huỳnh (1968, 1986) [32, 33, 34, 39, 40, 41], Hoàng Minh Khiên [42], Đặng Ngọc Cần [10, 11]… Thú linh trưởng có Phạm Nhật [56, 57]…

Đặc biệt, vào những năm của thập niên 90 và những năm gần đây các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về đa dạng thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái học và hiện trạng khu hệ thú hoang dã, nhiều công trình có giá trị khoa học cao được công bố Những năm 1992 – 1997, được sự hỗ trợ của quĩ động vật hoang dã (WWF) việc điều tra đa dạng sinh vật trong đó có thú đã

phát hiện một số loài thú mới cho khoa học như: Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) (phát hiện tháng 5/1992 tại VQG Vũ Quang, Hà Tĩnh) [104], Mang Lớn (Muntiacus

vuquangensis) (đầu năm 1994 tại VQG Vũ Quang, Hà Tĩnh), Mang Trường Sơn

(Muntiacus truongsonensis) (4/1997 tại KBTTN Sông Thanh, Quảng Nam), Mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis) (1997 tại KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An) bởi các tác giả Vũ

Văn Dũng, Lê Trọng Trải, Đỗ Tước, Phạm Mộng Giao, Nguyễn Ngọc Chính, Peter Arctander, John Mackinnon [105] Năm 1997, Phạm Trọng Ảnh và cộng sự phát hiện

loài Cầy giông Tây Nguyên (Viverra tainguensis) tại Buôn Lưới, Gia Lai [134] Cũng

trong năm 1997, lần đầu tiên ở Việt Nam Nadler Tilo phát hiện Chà vá chân xám

(Pygathrix cinerea) ở Quảng Nam [110, 111, 112] Bên cạnh đó, một số loài mới cũng

được ghi nhận cho khoa học hoặc cho khu hệ thú Việt Nam trong thời gian gần đây

như: Thỏ Vằn (Nesolagus timminsi) (1998) tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng và Pù

Trang 24

Mát); Chồn bạc má Cúc Phương (Melogale cucphuongensis sp nov) (3/2005, tại VQG Cúc Phương) [97]; Dơi mũi ống răng đều (Harpiola isodon) (3/2006 tại KBTTN Ngọc

Linh, Kon Tum) [96] Nhiều công trình khoa học được công bố như: Đinh Thị Phương Anh, Huỳnh Ngọc Tạo (2000) Khu hệ thú ở bán đảo Sơn Trà [1] Lê Vũ Khôi (2003)

Đa dạng thành phần loài thú khu vực Bà Nà huyện Hòa Vang – Đà Nẵng [47], Lê Vũ Khôi, Nguyễn Đức Lành (2009) Danh lục các loài thú ở KBTTN Pù Hoạt (Nghệ An) [50] Đặng Huy Phương, năm 2005 và 2009, đã công bố thành phần loài thú ở KBTTN Đăk Rông (Quảng Trị) [60] và VQG Phước Bình (Ninh Thuận) [61] Năm 2002, với tài liệu Thú linh trưởng của Việt Nam, Phạm Nhật đã mô tả khá chi tiết đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh học và phân bố của 25 loài và phân loài linh trưởng của Việt Nam [56] Về danh lục thú, tổng hợp các tài liệu đã được công bố ở trong và ngoài nước về các mẫu vật được sưu tầm ở nước ta, năm 1994, Đặng Huy Huỳnh và cộng sự đã xuất bản cuốn “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” [32], theo đó, khu hệ thú hoang dã của Việt Nam có 223 loài thuộc 37 họ và 12 bộ Mỗi loài các tác giả đã nêu tên khoa học, tên đồng nghĩa, tên Việt Nam, vùng phân bố, giá trị nguồn lợi và hiện trạng của chúng Có thể nói, đây là tài liệu đầy đủ nhất về danh sách thành phần loài thú hoang dã của khu hệ thú nước ta tính đến thời điểm hiện tại Năm 2000, Lê Vũ Khôi đã xuất bản cuốn “Danh lục các loài thú ở Việt Nam”, tác giả bổ sung 2 bộ thú biển (bộ Cá voi – Cetacea và bộ Bò biển - Sirenia) vào khu hệ thú hoang dã của Việt Nam, nâng số bộ thú hoang dã nước ta lên 14 bộ, gồm 40 họ và 289 loài và phân loài được ghi nhận Mỗi loài tác giả giới thiệu tên khoa học, tên tiếng Việt và tiếng các dân tộc, tên tiếng Anh, tiếng Pháp và tên tiếng Nga; công trình được xem như “cuốn từ điển” về tên các loài thú hoang dã của Việt Nam [45] Năm 2008, nhằm tổng kết nhiều kết quả nghiên cứu và tạo sự đồng nhất trong sự trao đổi thông tin giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước, Đặng Ngọc Cần và cộng sự đã xuất bản cuốn “Danh lục các loài thú hoang dã Việt Nam” với 13 bộ (không bao gồm thú biển), gồm 37 họ, 295 loài (298 loài và phân loài) [11] Các công trình khoa học này góp phần tra khảo tên loài, phân loài thú hoang dã ở Việt Nam một cách thuận tiện và có ý nghĩa rất lớn trong việc biên soạn Động vật chí Việt Nam ở các thời kì Tập hợp những kết quả nghiên cứu các

Trang 25

9

nhóm thú, năm 2007, 2010, Đặng Huy Huỳnh (chủ biên) và cộng sự đã xuất bản “Thú rừng – Mammalia Việt Nam: Hình thái và sinh học, sinh thái một số loài, Tập 1 và 2 [39, 41], và năm 2008, hoàn tất “Động vật chí Việt Nam, tập 25, Lớp Thú – Mammalia” [40]

Ngoài những nghiên cứu, điều tra khu hệ về thành phần loài, một số nhà khoa học đầu ngành còn bàn về phân vùng địa lí động vật học trên lành thổ Việt Nam: Thái Trần Bái (1982) bàn về phân bố địa lí động vật của Giun đất; Hoàng Đức Nhuận (1987) bàn

về ranh giới vùng địa lí động vật Đông Dương của bọ rùa; Nguyễn Thị Lê (2010) lấy đối tượng sán kí sinh để bàn luận; Đặng Ngọc Thanh (1985) lấy động vật không xương sống nước ngọt Mai Đình Yên; Nguyễn Thái Tự và một số người khác bàn về phân vùng động vật địa lí cá nước ngọt; Trần Kiên và Hoàng Xuân Quang (1992) bàn về phân vùng địa lí động vật học của lưỡng cư – bò sát; về chim có Võ Quý, Nguyễn Cử (1994) Đào Văn Tiến (1978) lần đầu tiên bàn về phân vùng địa lí động vật học của thú

ở miền Bắc Việt Nam; trong “Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam” (1976) [77] ông đã đưa ra các yếu tố động vật địa lí học của khu hệ thú ở miền Bắc Việt Nam bao gồm yếu

tố Hymalaya, Trung Hoa, Ấn Độ – Malaya, và đặc hữu Cao Văn Sung (1990, 1992, 1995) bàn về phân vùng động vật địa lí học của Gặm nhấm (Rodentia) ở Việt Nam Lê

Vũ Khôi (1994) đã bàn về ái tính động vật địa lí khu hệ thú hệ sinh thái Tam Đảo [44] Năm 2005, Lê Vũ Khôi và Nguyễn Minh Tâm đã đưa ra thành phần loài và đặc điểm động vật địa lí khu hệ Gặm nhấm (Rodentia) ở Việt Nam Và sau đó, năm 2011, Lê Vũ Khôi tiếp tục bàn về phân vùng động vật địa lí học của Gặm nhấm và đưa ra thành phần loài đặc trưng của mỗi khu vực động vật địa lí học trên lãnh thổ Việt Nam Năm

1997, Đặng Huy Huỳnh đã có “Phân vùng địa lí sinh vật ở Việt Nam và cơ sở khoa học trong việc bố trí hợp lý hệ thống rừng đặc dụng [33] Trong công trình này tác giả

đã đưa ra danh sách các loài thú đặc trưng cho từng khu vực địa lí động vật học trên lãnh thổ Việt Nam Các tác giả khi bàn về địa lí động vật học khu hệ thú Việt Nam đều gần như thống nhất phân chia lãnh thổ Việt Nam ra làm 5 đơn vị: Khu Đông Bắc, khu Tây Bắc, Khu Bắc Trung Bộ, khu Nam Trung Bộ và khu Nam Bộ

Trang 26

1.1.2 Lược sử nghiên cứu thú ở miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Khu địa lí động vật học Nam Trung Bộ bao gồm 8 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ

và Tây Nguyên, với diện tích tự nhiên: 98.728km2, chiếm khoảng 1/3 diện tích rừng tự nhiên cả nước, là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam Trước năm 1974, nghiên cứu đa dạng sinh học nói chung và khu hệ thú của khu vực này nói riêng chỉ được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài, nhiều loài thú được ghi nhận: Năm 1909, Elliot D G, Thomas O ghi nhận 2 loài linh trưởng Vooc bạc

(Presbytis margarita) và Vượn đen má vàng (Hylobates gabriellae) tại Cao nguyên

Langbian; 1922, Robinson H C và Kloss C B thông báo 12 dạng mới cho khu hệ thú Trung Bộ; 1927, phân tích bộ sưu tập mẫu của Delacour, Osgood (1932) thông báo 45 loài ở Trung Bộ; 1932, tổng hợp các tài liệu nghiên cứu thú ở Đông Dương, Osgood thông báo khu hệ thú Tây Nguyên có 42 loài thuộc 7 bộ,… [theo 93] Từ 1965 đến

1968, Van Peenen và cộng sự khảo sát nhiều địa điểm thuộc 25 tỉnh miền Nam Việt Nam từ Quảng Trị đến Vĩnh Long, kết quả phân tích bộ sưu tập mẫu và tích hợp các nguồn tư liệu đã được công bố từ đầu thế kỉ XX, nhóm tác giả công bố tác phẩm

“Preliminary Identification Manual for Mammals of South Vietnam” với 151 loài và phân loài được mô tả Theo đó khu hệ thú miền Nam Việt Nam có 138 loài và phân loài thuộc 11 bộ, trong đó Trung Bộ có 127 loài và phân loài, thuộc 10 bộ (riêng khu vực Tây Nguyên có 86 loài và phân loài) [124]

Năm 1974, đoàn điều tra tài nguyên động vật Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội khảo sát tại Đăk Lăk và Gia Lai – Kon Tum, mẫu vật được lưu trữ tại Bảo tàng Động vật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội [92, 93]

Sau khi thống nhất đất nước, để đánh giá toàn diện đa dạng nguồn tài nguyên đa dạng sinh học nói chung, đa dạng khu hệ thú nói riêng, nhiều cơ quan khoa học của Việt Nam, tổ chức phi chính phủ đã tham gia khảo sát thú khu vực Nam Trung Bộ, đặc biệt quan tâm khu vực Tây Nguyên: Trường Đại học khoa học Tự nhiên Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Điều

Trang 27

- Đặng Huy Huỳnh và cộng sự trong những năm 1978, 1980, 1982 đã thống kê được 102 loài, thuộc 11 bộ cho khu hệ thú Tây Nguyên Trong đó, tỉnh Gia Lai – Kon Tum (lúc bấy giờ): 62 loài, thuộc 10 bộ; tỉnh Đăk Lăk: 63 loài, thuộc 10 bộ; tỉnh Lâm Đồng: 65 loài, thuộc 10 bộ Cũng trong giai đoạn này nhóm tác giả đã nghiên cứu chuyên sâu khu hệ thú khu vực Kon Hà Nừng (Gia Lai – Kon Tum), với 750 mẫu vật được thu thập, phân tích, định loại cho thấy: khu hệ thú Kon Hà Nừng có 55 loài, thuộc

23 họ và 10 bộ Mặt khác, công trình nghiên cứu đã bổ sung cho danh sách thú Tây

Nguyên loài Mèo gấm (Felis marmorata) và lần đầu tiên ghi nhận loài Cầy tai trắng (Arctogalidia trivigrata) ở miền Nam Việt Nam [31] Đặc biệt từ mẫu vật thu thập ở

Kon Hà Nừng, Viện sĩ Xô Kô Lốp, Rôznôv và Phạm Trọng Ảnh đã công bố loài Cầy

giông mới ở Việt Nam – Cầy giông Tây Nguyên (Viverra tainguensis Sokolov,

Rozhnov, Pham Trong Anh, 1997) [134]

- Trần Hồng Việt và cộng sự (1984, 1990, 1994) phân tích kết quả khảo sát thực địa tại huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum giai đoạn 1977 – 1983, năm 1984, Đào Văn Tiến

và Trần Hồng Việt thông báo khu hệ thú huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum gồm 87 loài và phân loài, thuộc 10 bộ [76] Năm 1990, tổng hợp các tài liệu nghiên cứu từ trước và phân tích 500 mẫu vật thu thập, Trần Hồng Việt ghi nhận khu hệ thú tỉnh Gia Lai – Kon Tum có 90 loài và phân loài, thuộc 11 bộ Trong đó, 3 bộ chiếm ưu thế: Gặm nhấm (Rodentia): 35 loài và phân loài; thú ăn thịt (Carnivora): 20 loài và phân loài; Linh trưởng (Primates): 10 loài và phân loài Tuy nhiên, theo hệ thống phân loại hiện

tại, 2 loài Đồi (Tupaia glis modesta) và Nhen (Dendrogale murina) được xếp vào bộ

Trang 28

linh trưởng (Primates) chứ chưa được tách thành bộ riêng – bộ thú Nhiều răng (Scandentia) [92] Năm 1994, tác giả thông báo danh sách thú Tây Nguyên gồm 123 loài, thuộc 30 họ, 10 bộ (Gia Lai: 59 loài và phân loài; Kon Tum: 86 loài và phân loài; Đăk Lăk: 60 loài và phân loài; Lâm Đồng: 74 loài và phân loài) [93]

- Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Birdlife International (1996 – 1998): ghi nhận Khu hệ thú KBTTN Ngọc Linh (Kon Tum) có 52 loài, trong đó có 20 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam [96, 97]

Bên cạnh những nghiên cứu về đa dạng của khu hệ, nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về đa dạng, biến động số lượng của một nhóm đối tượng cụ thể cũng được tiến hành tại một số địa điểm trên Cao nguyên Trung Bộ Tiêu biểu: Cao Văn Sung và cộng sự (1998), với công trình Điều tra Dơi ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1996 –

1999 đã ghi nhận 6 loài dơi, thuộc 3 họ tại thành phố Đà Lạt [70]

Những năm đầu thế kỉ XXI, rừng khu vực Tây Nguyên bị xâm hại nghiêm trọng, nghiên cứu thú tập trung chủ yếu ở các khu rừng đặc dụng, về đa dạng thành phần loài:

- VQG Chư Mom Ray (Kon Tum): Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (2001 - 2002):

có 98 loài, thuộc 28 họ và 11 bộ, phân bố ở 7 sinh cảnh [36, 37] Lê Xuân Cảnh và cộng sự (2008 - 2010) ghi nhận 83 loài thú, thuộc 27 họ và 10 bộ [8]

Những năm 2005 – 2007, Lê Vũ Khôi và cộng sự điều tra ở KBTTN Chư Yang Sin, VQG Yok Đôn (Đăk Lăk), Chư Mom Ray (Kon Tum) đã ghi nhận 14 loài dơi thuộc 5 giống, 3 họ và 1 phân bộ, 32 loài gặm nhấm, thuộc 5 họ (2007) [48, 49] Những năm 2008 – 2010, Nguyễn Trường Sơn và Vũ Đình Thống, khảo sát và công bố

22 loài dơi, thuộc 4 họ được ghi nhận [69]

- KBTTN Ngọc Linh (Kon Tum): Ngoài những nghiên cứu đa dạng sinh học làm luận chứng kỹ thuật thành lập KBTTN, năm 2004 – 2005, Vũ Đình Thống và cộng sự khảo sát và công bố 29 loài dơi, thuộc 15 giống, 6 họ, 2 phân bộ được ghi nhận [74] Năm 2004 – 2006, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga ghi nhận 12 loài thú, thuộc 6 bộ,

trong đó có 6 loài lần đầu tiên được ghi nhận cho khu hệ: Harpiola isodon, Mus

Trang 29

13

pahari, Chiropodomys gliroides, Niviventer fulvescens, Niviventer langbianis và Tamiops maritimus [96]

- VQG Yok Đôn và VQG Chư Yang Sin (Đăk Lăk): Lê Vũ Khôi và cộng sự,

2004 – 2005 ghi nhận 32 loài gặm nhấm, thuộc 5 họ; 7 loài dơi thuộc 4 họ tại Yok Đôn

và 12 loài dơi, thuộc 5 họ tại Chư Yang Sin (2006, 2007) [48, 49]

- Tháng 11/2002, phòng Động vật học Có xương sống viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật khảo sát KBTTN Bi Đúp – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng ghi nhận khu hệ thú KBTTN có 50 loài, thuộc 22 họ và 9 bộ Đa dạng nhất là bộ thú Ăn thịt (Carnivora) với 18 loài (chiếm 36% số loài toàn hệ) [66] Giai đoạn 2002 – 2009, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga khảo sát thực địa và ghi nhận 36 loài thú nhỏ tại VQG Bi Doup – Núi

Bà [97] Ngoài ra, giai đoạn 2004 – 2005, đoàn nghiên cứu cũng ghi nhận và thông báo

32 loài thú, thuộc 18 họ và 7 bộ tại khu Du lịch sinh thái hồ Tuyền Lâm, tỉnh Lâm Đồng [75]

Nghiên cứu thú khu vực duyên hải Nam Trung Bộ còn rất non trẻ, khởi đầu từ những năm 90 của thế kỉ XX, tập trung chủ yếu ở khu vực ven sườn Đông của dãy Trường Sơn Năm 1969, với tác phẩm “Preliminary Identification Manual for Mammals of South Vietnam”, khu hệ thú các tỉnh duyên hải Trung Bộ có 59 loài, thuộc 10 bộ được ghi nhận và mô tả Đến những năm 1990, nhiều công trình nghiên cứu thú từ mức độ tổng quát đến chuyên sâu được thực hiện ở các địa phương, phong phú nhất là ở Quảng Nam, như: khảo sát Sao la của FPD (1996); Voi châu Á có Waltson và cộng sự (1997), Thái Tuyền (1998), Hefferman và cộng sự (2000); nghiên cứu Hổ châu Á của Trần Quốc Bảo (1999); Về Linh trưởng có Vũ Ngọc Thành và cộng

sự (1999, 2001) [71], Hà Thăng Long (2004) [107]; Về Dơi có Vũ Đình Thống và cộng

sự (1999), Nguyễn Trường Sơn, Vũ Đình Thống (2011) [69], Cao Văn Sung và cộng

sự (1996 - 1999) [70]… Tổng hợp các tài liệu của dự án WWF MOSAIC giai đoạn

2002 – 2005 về thú ăn thịt nhỏ, Long B và Minh Hoàng công bố danh sách 12 loài thú

ăn thịt nhỏ được ghi nhận ở tỉnh Quảng Nam [108] Lê Xuân Cảnh và cộng sự (2008 - 2010), khảo sát và công bố danh lục thú Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh có 71

Trang 30

loài, thuộc 27 họ và 10 bộ [8]… Nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thú ở các địa phương cũng lần lược được công bố:

+ Năm 1997, Đinh Thị Phương Anh và cộng sự nghiên cứu đa dạng sinh học KBTTN Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, công bố khu hệ thú có 36 loài [1]

+ Năm 2003, khảo sát khu hệ thú VQG Phước Bình, tỉnh Ninh Thuận, Đặng Huy Phương ghi nhận và công bố 60 loài thú, thuộc 23 họ, 10 bộ [61]

+ Năm 2003 – 2004, khảo sát thực địa các huyện miền núi tỉnh Bình Định làm cơ

sở xây dựng Luận chứng khoa học kỹ thuật thành lập KBTTN An Toàn – An Lão, Đặng Huy Huỳnh, Vũ Đình Thống công bố danh sách khu hệ thú tỉnh Bình Định gồm

87 loài và phân loài, thuộc 30 họ và 11 bộ, trong đó có 36 loài “quý hiếm” [38]

Ngoài những công trình nghiên cứu về khu hệ, một số tác giả khảo sát chuyên sâu

về sự phân bố, tập tính của một số loài thú linh trưởng bị đe dọa tuyệt chủng trong khu

vực: khảo sát Chà Vá chân đen (Pygathrix nigripes) tại KBTTN Tà Kóu, tỉnh Bình Thuận của Trần Văn Bằng và cộng sự (2009, 2011) Về Chà vá chân nâu (Pygathrix

nemaeus) tại KBTTN Sơn Trà (Đà Nẵng) của Đinh Phương Anh và cộng sự (2010) [98]

Tuy nghiên cứu thú khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên còn non trẻ, nhưng các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện, ghi nhận nhiều loài mới cho khu hệ

thú của khu vực: Mèo gấm (Felis marmorata), Cầy tai trắng (Arctogalidia trivirgata) (Kon Hà Nừng, Gia Lai, 1984) [31]; Chuột nhắt nương (Mus pahari), Chuột nhắt cây (Chiropodomys gliroides), Chuột hươu bé (Niviventer fulvescens), Chuột lang – bi – an (Niviventer langbian) và Sóc chuột hải nam (Tamiops maritimus) (KBTTN Ngọc Linh – Kon Tum, 2006) [96]; và cho Việt Nam: Dơi mũi ống răng đều (Harpiola isodon)

(KBTTN Ngọc Linh – Kon Tum, 2006) [96] và một số loài mới cho khoa học: Chuột

chù răng trắng (Crocidura phanluongi sp nov) (VQG Yok Đôn – Đăk Lăk, 2007) [115], Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) (KBTTN Sông Thanh – Quảng Nam, 1997) [105], Cầy giông Tây Nguyên (Viverra tainguensis) (Buôn Lưới – Kon Hà Nừng – Gia Lai, 1997) [127, 128, 134] và Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea)

(Quảng Nam, 1997) [111]

Trang 31

15

1.1.3 Sơ lược nghiên cứu đa dạng thành phần loài thú ở Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải Trung Trung Bộ, diện tích tự nhiên 5.856km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước Về địa lí động vật học, Quảng Ngãi thuộc đơn

vị địa lí Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thuộc hệ thống Đới rừng gió mùa Á xích đạo

Sự đa dạng của lớp vỏ thổ nhưỡng và điều kiện khí hậu thuận lợi tạo cho Quảng Ngãi

có khu hệ động – thực vật khá phong phú Tuy nhiên, cho đến nay nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung và đa dạng khu hệ thú tỉnh Quảng Ngãi nói riêng còn rất hạn chế, một số công trình cơ bản:

- Năm 1969, với tác phẩm “Preliminary Identification Manual for Mammals of South Vietnam”, số loài thú được Van Peenen và cộng sự ghi nhận tại Quảng Ngãi hết sức khiêm tốn, 4 loài trong số 164 loài và phân loài của miền Nam Việt Nam, đó là:

Chuột chù nhà (Suncus mirinus), Dơi nghệ nhỏ (Scotophilus temmincki), Chuột lắt (Rattus exulans) và Chuột cống (Rattus norvegicus) [124]

- Năm 1998, theo tài liệu “Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Ngãi, năm

1995 - 1997”, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Quảng Ngãi thông báo Quảng Ngãi có 77 loài chim và 38 loài thú được chia thành 2 nhóm là nhóm thú kinh tế và nhóm thú dược liệu [63]

- Năm 1999, trong công trình “Về tính đa dạng sinh học vùng Đức Phổ – Ba Tơ”,

Võ Văn Phú thông báo: khu vực Đức Phổ 39 loài thú, thuộc 27 giống, 16 họ và 9 bộ [58]; khu vực huyện Ba Tơ có 74 loài thú, thuộc 50 giống, 27 họ và 10 bộ Ngoài ra, giai đoạn 1998 – 2000, một số khảo sát đa dạng sinh học được tiến hành tại một số địa phương: Đổ Xuân Cẩm (1998, 1999, 2000), Lê Quang Minh (1998), Võ Văn Phú (1998, 1999) [9, 28, 58]

- Tháng 6/2000, FZS lần đầu tiên ghi nhận và thông báo sự tồn tại của Chà vá

chân xám (Pygathrix cinerea) tại một số địa phương huyện Trà Bồng và huyện Ba Tơ

(khoảng 9 đàn với khoảng 120 – 140 cá thể) [107, 110, 111]

Trang 32

- Năm 2000, 2001 với tác phẩm “Đa dạng sinh học tỉnh Quảng Ngãi”, Lê Khắc Huy, Võ Văn Phú và cộng sự thông báo khu hệ thú (Mammalia) ở Quảng Ngãi có 76 loài, thuộc 50 giống, 27 họ và 10 bộ [28, 58]

- Năm 2006, báo cáo “Quy hoạch chung Xây dựng Khu kinh tế – Văn hóa – Thương Mại – Du lịch Sa Huỳnh”, Trung tâm Quy hoạch 3 – Viện Quy hoạch ghi nhận

ban đầu về Quần thể Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina) với khoảng 25 – 40 cá thể sống

trên núi Hóc Mỏ

Như vậy, đến nay nghiên cứu đa dạng sinh học nói chung và khu hệ thú ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng chỉ mang tính bước đầu, thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu, có độ tin cậy cao

1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải Trung Trung Bộ, thuộc sườn Đông của dãy Trường Sơn, với diện tích tự nhiên khoảng 5.856km2, nằm ven rìa Đông – Đông Bắc của địa khối Kon Tum; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Tây – Tây Bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía Tây Nam giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Đông giáp Biển Đông Tọa độ địa lý: 14032’40’’ đến 15025’00’’ vĩ độ Bắc; 108006’00’’ đến

109004’25’’ độ kinh Đông Quảng Ngãi gồm 14 huyện thị: thành phố Quảng Ngãi và các huyện: Tây Trà, Trà Bồng, Bình Sơn, Sơn Tây, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Ba Tơ, Đức Phổ, và huyện đảo Lý Sơn (hình 1.1)

Trà Bồng, Sơn Hà và Ba Tơ là 3 trong 6 huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, với tổng diện tích tự nhiên 230.788,52ha Vị trí địa lý: 14031’54’’ – 15021’00’’ độ vĩ Bắc, 108019’00’’ – 108058’34’’ độ kinh Đông

- Phía Bắc giáp huyện Bắc Trà My và huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam

- Phía Nam giáp huyện An Lão tỉnh Bình Định

Trang 33

17

Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi

Trang 34

- Phía Tây là các huyện: Tây Trà và Sơn Tây của tỉnh Quảng Ngãi; huyện KonPlong tỉnh Kon Tum và huyện K’Bang tỉnh Gia Lai

- Phía Đông là các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành và huyện Đức Phổ của tỉnh

Như vậy, 3 huyện Trà Bồng, Sơn Hà và Ba Tơ tạo thành một dãy liên tục từ phía Bắc tới phía Nam, nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi, ven theo sườn Đông của dãy Trường Sơn, giáp liền với Kon Tum và Gia Lai của cao nguyên Tây Nguyên và là khu vực chuyển tiếp của địa hình miền núi và trung du xuống đồng bằng duyên hải Trung Trung Bộ

1.2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên khoảng 5.856km2, địa hình có tính chất chuyển tiếp từ địa hình đồng bằng ven biển ở phía Đông đến địa hình miền núi ở phía Tây Nhìn chung Quảng Ngãi được chia thành 4 vùng khá rõ rệt: vùng rừng núi, vùng trung

du, vùng đồng bằng và vùng bãi cát ven biển với 2 kiểu địa hình: kiểu địa hình núi xâm thực, bóc mòn và kiểu địa hình đồng bằng tích tụ độ cao dưới 50m

- Vùng rừng núi có diện tích khoảng 391.192ha, chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh, chủ yếu thuộc địa phận của 6 huyện miền núi của tỉnh: Trà Bồng, Tây Trà (trước năm

2004, Trà Bồng và Tây Trà là một huyên Trà Bồng), Sơn Tây, Sơn Hà (Sơn Tây tách khỏi Sơn Hà thành huyện riêng vào năm 1994), Ba Tơ và Minh Long Rừng núi tạo thành hình vòng cung, hai đầu vòng cung nhô ra sát biển, ôm lấy đồng bằng Vùng rừng núi có nhiều núi cao, sườn dốc khoảng 30 – 400 nghiêng thoải về phía Đông như núi Cà Đam (cao 1.413m so với mặt nước biển), núi Đá Lét (1.130m), núi Ra Lóc (1.063m) trên địa phận huyện Trà Bồng; các núi A Zin (1.233m), núi Đá Vách hay Thạch Bích (1.115m), núi Đôn (1.064m) thuộc huyện Sơn Hà; các núi Ha Peo (1.254m), núi Ho (1.096m), núi Bờ Rẫy (1.371m), thuộc huyện Sơn Tây; các núi Làng Rầm (1.095m), núi Cao Muôn (1.085m) thuộc huyện Ba Tơ Các núi ở vùng thấp phía Nam và Đông Nam của tỉnh thường có dạng khối tảng – dạng vòm, độ cao từ 400 – 600m, sườn dốc 20 – 300 Ở vùng tiếp giáp đồng bằng, núi chỉ cao từ 200 – 300m, độ

Trang 35

19

dốc chỉ 8 - 200 Nhìn chung, hệ thống dông của núi rừng Quảng Ngãi có hướng chủ yếu

là Tây Bắc – Đông Nam

Xen kẽ với các dãy núi cao là các thung lũng Vùng rừng núi Quảng Ngãi có 3 vùng thung lũng chính: Các thung lũng thuộc hệ thống sông Trà Bồng ở phía Bắc, Tây Bắc; các thung lũng phía Nam thuộc hệ thống sông Liên, sông Rhe huyện Ba Tơ; Các thung lũng sông Rinh, sông Rhe thuộc huyện Sơn Hà

- Vùng trung du với diện tích khoảng 1.770ha, chiếm 0,3% diện tích toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các rìa phía Tây, Tây Bắc, Tây Nam các huyện đồng bằng (Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ) Bề mặt địa hình nhấp nhô, nhiều gò đồi, có hướng nghiêng về phía Đông

- Vùng đồng bằng: diện tích khoảng 150.678 ha, chiếm khoảng 25,54% diện tích toàn tỉnh Tuy diện tích nhỏ hẹp nhưng vùng đồng bằng Quảng Ngãi khá đa dạng về hình thái, càng về phía Nam càng bị thu hẹp Địa hình bề mặt đồng bằng Quảng Ngãi khá bằng phẳng, nghiêng thoải về phía Đông, độ cao từ 2 – 30m so với mặt nước biển

- Vùng bãi cát ven biển: diện tích khoảng 2.446,8ha, mang đặc điểm chung của vùng bãi cát miền Trung với các dải cát cao song song với đường bờ biển Ngoài ra, vùng cát ven biển Quảng Ngãi còn có kiểu địa hình thấp rất đặc trưng – là dạng đầm lầy cửa sông bị bồi lấp và các đầm phá ven biển Bề mặt địa hình nhiều nơi khá bằng phẳng, diện tích lớn, phổ biến ở các huyện Đức Phổ, Mộ Đức và Bắc Bình Sơn

1.2.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng

Quảng Ngãi có 513.520 ha đất tự nhiên, thuộc 9 nhóm đất chính (với 25 đơn vị đất, 68 đơn vị đất phụ), trong đó, chủ yếu là nhóm đất xám, với 376.547 ha, chiếm khoảng 73,33% tổng diện tích đất tự nhiên, 97.158 ha đất phù sa chiếm 18,92% diện tích đất tự nhiên, ít nhất

là nhóm đất nứt nẻ: 634 ha, chiếm 1,23% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh

Tổng diện tích đất tự nhiên VNC thuộc 3 huyện Trà Bồng, Sơn Hà và Ba Tơ là 230.626,69 ha, thuộc 3 nhóm đất chính:

Trang 36

- Nhóm đất xám (AC): là nhóm đất phổ biến nhất ở VNC với tổng diện tích 145.708,4 ha, chiếm 63,18% diện tích đất của vùng, nhưng tập trung chủ yếu ở 2 huyện Trà Bồng (39.818,00 ha, chiếm 94,97% diện tích của huyện) và Ba Tơ (105.554,4 ha; chiếm 92,86% diện tích của huyện), còn ở huyện Sơn Hà chỉ có 336,00 ha (chiếm 0,45% diện tích toàn huyện)

- Nhóm đất đỏ vàng có khoảng 67.638,04 ha, chiếm 29,33% diện tích đất toàn VNC, phân bố hầu hết ở các xã của huyện Sơn Hà, chiếm 90,15% diện tích đất của huyện

- Nhóm đất phù sa có diện tích khoảng 10.754,17 ha, phân bố ven các sông, suối, chiếm 4,66% diện tích toàn VNC, chiếm từ 3 – 5,5% diện tích tự nhiên mỗi huyện Do phân bố ở những vùng có độ cao tương đối khác nhau nên mức độ bồi đắp phù sa về mùa lũ, độ sâu và mức độ bão hòa nước cũng không giống nhau, dẫn đến quá trình oxy hóa và khử trong đất ở các vị trí không cân đối

Ngoài 3 loại đất chính trên, một số nơi của VNC còn có một lượng nhỏ các loại đất: đất trơ sỏi đá, cát trắng, đất mùn vàng đỏ trên đá mácma axit,…

Nhìn chung, đất trên VNC khá đa dạng về chủng loại, hàm lượng dưỡng chất không cao và tiếp tục bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi là hậu quả nghiêm trọng của hiện tượng chặt phá rừng, cùng với địa hình dốc cao, tốc độ dòng chảy của sông suối lớn

1.2.1.4 Đặc điểm khí hậu

Quảng Ngãi nằm trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, chịu sự chi phối chủ yếu của các hoàn lưu gió mùa, tín phong và chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nhiễu động nhiệt đới (bão, áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới,…) Sự tác động của điều kiện bức

xạ, hoàn lưu khí quyển và vị trí địa lí, đặc điểm địa hình, tạo nên chế độ khí hậu của tỉnh mang đậm nét khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Trường Sơn, Nam Trung Bộ [27, 89] Khí hậu Quảng Ngãi có 2 mùa khá rõ rệt: mùa mưa từ tháng IX đến tháng XII và mùa khô từ tháng I đến tháng VIII Riêng các huyện miền núi ở phía Tây của tỉnh còn

có thêm mùa mưa phụ từ tháng V đến tháng VIII [27]

Trang 37

21

Khí hậu VNC (Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ) có các đặc điểm sau:

- Mưa: tổng lượng mưa trung bình năm từ 2.924 đến 3.624,6mm, cao hơn nhiều

so với lượng mưa trung bình của tỉnh 2.066mm [80, 81] Số ngày có mưa trung bình/năm: 147,7 ngày/năm Mưa tập trung từ tháng X đến tháng XII, tổng lượng mưa

từ 1.966,4mm (Sơn Hà) đến 2.640,7mm (Ba Tơ) Tháng XI có lượng mưa nhiều nhất, thường gây ra lũ quét Toàn VNC không có tháng không mưa, nhưng mưa ít nhất vào tháng II – III

- Nắng: Số giờ nắng của VNC trung bình 2.002,7 giờ/năm, dao động từ 1.937 giờ/năm (huyện Trà Bồng) đến 2.037 giờ/năm (huyện Sơn Hà), cao hơn không đáng kể

so với số giờ nắng trung bình của vùng núi toàn tỉnh (gần 2.000 giờ/năm) [27] Tháng III – VIII là thời kỳ nắng nhiều, trung bình đạt 203,4 giờ/tháng; cao nhất ở huyện Ba

Tơ với 212,8 giờ/tháng Tháng IX – XII, số giờ nắng it nhất trong năm, thấp nhất vào tháng XII Vào mùa khô, khô hạn nghiêm trọng, là một trong những nguyên nhân gây cháy rừng ở nhiều địa phương

- Gió: Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên Quảng Ngãi có hai mùa gió chính: gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hè Tuy nhiên, do có địa hình phức tạp nên hướng gió có nhiều biến đổi Hướng gió thịnh hành từ tháng X đến tháng III năm sau là hướng Bắc đến Đông Bắc, tuy nhiên trong thời kỳ này hướng gió Nam và Tây Nam cũng xuất hiện với tần suất khá cao; từ tháng IV đến tháng IX là hướng gió Tây Nam [27] Từ cuối tháng III đến đầu tháng IX, toàn khu vực có khoảng 50 - 55 ngày/năm chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng vượt dãy Trường Sơn tràn xuống, gây nên những đợt khô hanh kéo dài, nhiệt độ có thể đạt 400C, độ ẩm dưới 60%

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm trong VNC khoảng 25,30C Nhiệt độ thay đổi

rõ rệt theo đai cao: vùng đồi và thung lũng thấp nhiệt độ trung bình năm 25,5 - 26,50C; vùng núi cao dưới 500m là 23,5 - 25,50C; vùng núi cao trên 500 – 1.000m: 21,0 - 23,50C, cao trên 1.000m: dưới 21,00C

Khoảng thời gian nóng nhất kéo dài từ tháng V đến tháng VIII, nhiệt độ trung bình ngày từ 27,0 - 28,40C, cao nhất khoảng 34,50C, thấp nhất khoảng 24,00C [27, 82,

83, 89]

Trang 38

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình VNC là 85,0%, thấp nhất vào tháng VII, VIII đạt 80,0% và đạt cực đại vào tháng XI, XII tới 90,0% Độ ẩm thay đổi theo độ cao và theo hướng từ Nam ra Bắc: ở vùng núi cao đạt đến 92,0% nhưng vào các tháng từ tháng VI đến tháng II năm sau, độ ẩm thấp nhất có thể chỉ đạt 43,0% Đặc biệt vào các tháng III,

IV, V, do chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, độ ẩm thấp nhất chỉ còn khoảng 35,0% Tuy nhiên, khoảng thời gian này không dài (50 - 55 ngày) nên ảnh hưởng không lớn đến sự phát triển của thực bì [27, 86]

- Các loại thời tiết đặc biệt:

Bão và áp thấp nhiệt đới: Mùa bão diễn biến khá phức tạp qua các năm: có năm ảnh hưởng sớm, có năm muộn Trung bình mỗi năm có 0,28 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp vào tỉnh Quảng Ngãi, thường vào tháng X, ít hơn vào tháng IX và tháng XI Ảnh hưởng của bão kết hợp với gió mùa Đông Bắc đã gây mưa to, gió mạnh cho VNC, dẫn đến bào mòn, sạt lở, lũ quét, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cũng như tính mạng của nhân dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số vốn sinh sống ven sông, suối [27, 80, 81, 88]

Gió mùa Tây Nam khô nóng: vào khoảng thời gian cuối tháng III đầu tháng IV, xuất hiện những đợt nắng nóng kéo dài, gây khô hạn [27]

Gió mùa Đông Bắc: trung bình mỗi năm có khoảng 10,7 đợt gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng đến thời tiết NVC, có thể gây mưa to, ẩm ướt mùa mưa; hoặc gây gió giật, lốc tố vào các tháng mùa khô (tháng I đến tháng V)

Dông: trung bình mỗi năm có 110 ngày có dông Dông xuất hiện nhiều nhất vào các tháng V, VI và VII, trung bình mỗi tháng có từ 17 đến 20 ngày có dông [27] Thường dông xuất hiện đi kèm với lốc xoáy và xảy ra trong khoảng thời gian ngắn, nên rất khó để phòng tránh loại thiên tai này

Sương mù: trung bình mỗi năm có 49 ngày có sương mù; hầu như không có tháng nào là không có sương mù, ít nhất là tháng VI, nhiều nhất vào các tháng I, II, III [27]

Trang 39

23

1.2.1.5 Đặc điểm thủy văn

Mạng lưới sông, suối ở Quảng Ngãi khá dày đặc (xem Phụ lục 2, hình 124)

Ngoài ra còn nhiều hồ dự trữ nước tự nhiên cũng như nhân tạo Tỉnh Quảng Ngãi có 4

hệ thống sông chính: sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Cau Sông suối ở các huyện trong VNC thể hiện như sau:

- Huyện Trà Bồng có hệ thống sông suối dày đặc của 3 sông chính: sông Trà Bồng, sông Giang, sông Trà Bói Sông Trà Bồng bắt nguồn từ dãy núi Răng Cưa, thuộc xã Trà Hiệp phía Tây bắc của huyện, dài 45km Dòng chảy sông Trà Bồng ngắn,

độ dốc cao nên tốc độ dòng chảy khá xiết Sông Giang, sông Trà Bói, sông Tang, suối Cha Năng,… và hệ thống hồ chứa nước: hồ Vực Thành, suối Thìn, Hố Võ, Gồ Kiêu và

43 đập dâng các loại… chi phối chế độ thủy văn ở huyện Trà Bồng [83, 84, 85]

- Huyện Sơn Hà có sông Trà Khúc, bắt nguồn từ vùng rừng núi Giá Vực phía Tây nam tỉnh Quảng Ngãi Đoạn chảy qua địa phận huyện Sơn Hà được tính từ ngã ba sông Dak Drinh – sông Rhe đến vùng giáp ranh huyện Sơn Tịnh với chiều dài khoảng 30km Trên địa phận huyện Sơn Hà, sông Trà Khúc có 3 phụ lưu chính: Sông Dak Drinh là thượng nguồn sông Trà Khúc, chiều dài chảy qua huyện Sơn Hà khoảng 24km rồi đổ vào sông Trà Khúc Sông Dak Se Lo nằm phía Đông Nam của huyện; đoạn chảy qua huyện Sơn Hà dài khoảng 20km Sông Rhe chảy qua huyện Sơn Hà khoảng 28km [86] Ngoài ra, trên địa phận huyện Sơn Hà còn có nhiều sông, suối khác đổ vào sông Trà Khúc như: sông Nước Trong có 8km chảy qua huyện Sơn Hà; Suối Xã Điệu với chiều dài khoảng 11km; Suối Tam Rao với chiều dài khoảng 18km [86, 87]

- Huyện Ba Tơ có mật độ sông, suối cao với 3 con sông chính: Sông Liên là thượng nguồn của sông Vệ, chảy qua huyện Ba Tơ gần 21km Sông Rhe là thượng nguồn của sông Trà Khúc, chiều dài chảy qua huyện Ba Tơ khoảng 17km Sông Tô dài khoảng 6 km do nhiều nhánh suối hợp thành rồi nhập vào sông Liên Ngoài ra trong huyện Ba Tơ còn có các suối: suối Loa, suối Nước Nẻ, suối Nước Lá, suối Nước Lang, suối Nước Đang, suối Nước Lếch và một số hồ chứa nước nhân tạo: hồ Núi Ngang, hồ Suối La, hồ Tôn Dung,…

Trang 40

Nhìn chung, hệ thống sông, suối VNC phong phú, phân bố khá đồng đều, phần lớn bắt nguồn từ các dãy núi thuộc sườn Đông của dãy Trường Sơn Hầu hết sông, suối ngắn, độ dốc lòng sông tương đối lớn nên tốc độ dòng chảy mạnh, lưu lượng nước dồi dào, biến động lớn theo mùa

1.2.1.6 Đặc điểm giới thực vật, động vật

Theo các báo cáo hàng năm của Chi cục Kiểm Lâm [13, 14, 15], Sở Khoa học và Công nghệ [64], Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008, 2009) [65], đến tháng 12 năm 2008, Quảng Ngãi có 297.857,7 ha đất lâm nghiệp, chiếm 57,9% tổng diện tích tự nhiên trong tỉnh Trong đó, đất có rừng là 194.155,4 ha, bao gồm: 107.664,3 ha rừng tự nhiên và 86.491,1 ha rừng trồng Độ che phủ của rừng đạt 33,8%, thấp hơn độ che phủ trung bình cả nước (36,48%) [88] Trên địa bàn 3 huyện VNC: Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ thì tổng diện tích rừng đạt 156.016,6 ha, trong đó rừng phòng hộ 69.603,1 ha, rừng sản xuất 86.413,5 ha; độ che phủ của rừng đạt 63,03% ở huyện Ba Tơ [82], 47,8% ở huyện Trà Bồng [83, 84] và 38,0% ở huyện Sơn Hà [86]

Hệ Thực vật: Kết quả điều tra bước đầu ở khu vực Dung Quất, năm 1998, Phan

Văn Mạch xác định thành phần loài thực vật nổi gồm 86 loài thuộc 3 ngành: Khuẩn lam (Cyanophyta), Tảo silic (Bacillaryophyta) và Tảo giáp (Pyrrophyta), trong đó, Tảo silic chiếm 77,9% tổng số loài của khu hệ [54] Kết quả điều tra khảo sát điểm ở một số khu vực của tỉnh Quảng Ngãi: Ba Tơ và Sa Huỳnh, đã xác định được 560 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 415 chi, 140 họ của 3 ngành [9, 28], trong đó:

Ngành Quyết thực vật có 33 loài, 24 chi, 14 họ;

Ngày đăng: 04/02/2021, 22:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w