1. Trang chủ
  2. » Ôn thi đại học

Thi hành quy định về nhiệm vụ bảo đảm công lý của tòa án nhân dân trong Hiến pháp 2013

12 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 403,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số điểm mới khác như: lần đầu có sự xuất hiện của Tòa án nhân dân cấp cao trong hệ thống Tòa án của Việt Nam; Thẩm phán được phân định theo ngạch; Thay đổi nhiệm kỳ của thẩm phán ([r]

Trang 1

THI HÀNH QUY ĐỊNH VỀ NHIỆM VỤ BẢO ĐẢM CÔNG LÝ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG HIẾN PHÁP 2013

ThS Hoàng Thị Bích Ngọc Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

I Khái quát về công lý

Công lý là một khái niệm mang tính lịch sử bởi nó đã được nhắc đến từ xa xưa Đây

là phạm trù trừu tượng, vừa mang tính chất của vật chất vừa mang yếu tố của tinh thần, vừa

mang tính thế tục, vừa mang tính tôn giáo, vì vậy các nhà triết học cả duy tâm lẫn duy vật

ngay từ thời cổ đại cho đến thời đương đại đã tốn nhiều thời gian và công sức để bàn luận

Dù vậy, từ phương Đông đến phương Tây, khái niệm công lý thường được biểu hiện như

một khát vọng về tự do, công bằng, chính nghĩa, lẽ phải, là phẩm hạnh cao quý trong mỗi

người hay mỗi xã hội

Thời hiện đại, khái niệm công lý đã được John Rawls (1921-2002), một triết gia nổi

tiếng người Mỹ phân tích và nghiên cứu thông qua lý thuyết của ông gọi là Lý thuyết Công lý

như là Công bằng (Justice as fairness)258 Ông đã giải thích lý thuyết của ông bằng một mối

quan hệ giữa cái đúng (the right) – cái thiện (the good) – cái công bằng (the fairness) được

sắp xếp theo thứ tự nhất định Bởi theo ông, đã là công bằng thì phải vừa là cái đúng và vừa

phải là cái thiện Có cái đúng chưa chắc đã là cái thiện và cái thiện chưa chắc đã là cái đúng,

trong trường hợp này chúng ta không có công bằng, tức là chúng ta không có công lý Vậy,

cái thiện trước hết phải là cái đúng, cái công lý phải là cái đúng và là cái thiện Chúng phải

tồn tại trong một mối quan hệ có quy luật với nhau Chúng giúp cho mỗi người nhận thấy

một cách chính xác lợi ích riêng của mình trong mọi tình huống, chúng bổ sung cho nhau,

tôn vinh nhau và là điều kiện không thể thiếu trong cuộc sống con người Rawls cho rằng,

công lý là chuẩn mực của xã hội, nó giúp cho pháp luật giữ gìn sự thanh bình của cuộc sống,

bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế Công lý như là cái thế thăng bằng của xã hội Bản thân

công lý, chính là ở giữa, nếu thái quá sẽ là bất công, nếu thiếu sót sẽ làm tổn hại xã hội, cho

nên công lý như là sự công bằng.259

Định nghĩa của Rawls đã phần nào giải thích rõ ràng khái niệm về công lý: Công lý

như là sự công bằng Nó được dành cho tất cả mọi người, mọi tổ chức nhưng khi có sự bất

công thì nó trở thành mục tiêu tìm kiếm hay đòi lại cho những người hay những tổ chức gặp

phải sự bất công đó Và Nhà nước chính là chủ thể thực hiện nhiệm vụ giải quyết những sự

bất công đó, bởi không thể có một nhà nước dân chủ, văn minh nếu như nhà nước đó không

thể duy trì được công lý cho người dân và cho tổ chức

Chính vì thế, khi nói đến công lý chúng ta không thể không nói đến các cơ quan thực

hiện công việc bảo đảm công lý trong Nhà nước Đó chính là bộ máy tư pháp của nhà nước

Hệ thống tư pháp phải được tổ chức độc lập theo nguyên tắc phân quyền của bộ máy nhà

nước mà đã được Montesquieu (1689-1755) xây dựng Montesquieu đã viết: ‘…không có gì

là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền

tư pháp nhập lại với quyền hành pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự

do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền

hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ

258 John Rawls (1971), Một lý thuyết về công lý (A theory of justice), Nxb Trường Đại học Harvard

259 Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Đăng Duy (2018), Bài viết Lịch sử tư tưởng về công lý, trong cuốn Công lý và

Quyền tiếp cận công lý do Đào Trí Úc và Vũ Công Giao chủ biên, Nxb Hồng Đức, tr 23

Trang 2

chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”.260

Công lý như là công bằng cũng gần tương tự như quyền con người, nó phải được quy định bằng pháp luật và phải được bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống tư pháp mà cụ thể là

cơ quan Tòa án, để từ đó cùng nhau xây dựng một xã hội hạnh phúc, văn minh và một đất nước thịnh vượng Công lý chính là một tiêu chí quan trọng đánh giá tính ưu việt của một chế độ xã hội Tính chính đáng, chính nghĩa của sự xuất hiện và tồn tại của mỗi chính quyền cũng thường được đánh giá thông qua việc nhà nước đó có thừa nhận, bảo vệ và bảo đảm việc thực thi công lý hay không Các cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền lực phải dựa vào công lý Do đó, công lý là phẩm hạnh quan trọng giữ cho mỗi thành viên xã hội gắn kết chặt chẽ vì lợi ích chung của toàn xã hội Để đảm bảo sự ổn định và phát triển, những đức hạnh tử

tế, nhân văn và ấm áp, mà trong đó công lý chiếm một vị trí đặc biệt ưu tiên, cần phải được lan tỏa sâu rộng và mạnh mẽ trong mỗi cộng đồng xã hội

II Nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân Việt Nam

1 Nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân trong Hiến pháp Việt Nam

Công lý không dựa vào quyền lực thì bất lực; quyền lực không đi đôi với công lý thì tàn bạo Các cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền lực phải dựa vào công lý Vì vậy cần phải kết hợp công lý và quyền lực, và nhằm mục đích này, phải làm thế nào cho những điều hợp công lý có đủ quyền lực; hay những điều dựa vào quyền lực phải hợp với công lý Chính với vai trò to lớn trong việc tạo dựng tính chính đáng, chính nghĩa, đạo lý, lòng nhân ái và lẽ công bằng trong mỗi xã hội, ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận công lý ngay tại Lời nói đầu trong Hiến pháp của quốc gia mình, như Hiến pháp Nhật Bản, Hiến pháp Cộng hòa Hàn quốc, Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan, Hiến pháp nước Cộng hòa Nam Phi…

Ở Việt Nam, ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta được ban hành vào năm 1946 -một bản Hiến pháp hết sức ngắn gọn và súc tích với 70 Điều luật, được soạn thảo theo nguyên tắc tam quyền phân lập – đã đề cập đến hệ thống các cơ quan tư pháp như sau (Điều 63):

“Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có:

a) Tòa án tối cao

b) Các tòa án phúc thẩm

c) Các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp"

Theo Hiến pháp năm 1946 và các sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thì Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong bộ máy Nhà nước

Bản Hiến pháp năm 1959 đã kế thừa và phát triển nhiều quy định của Hiến pháp năm

1946 để thích hợp với tình hình, nhiệm vụ và giai đoạn mới của cách mạng Hiến pháp năm

1959 tiếp tục quy định trong Chương VIII, từ Điều 97 đến Điều 104 về hệ thống các cơ quan

tư pháp, nhưng hoàn thiện hơn một bước, đó là bao gồm Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân Các cơ quan này có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân lao động, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự tôn trọng tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Trong các tòa án, có Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), các tòa án nhân dân địa phương, các tòa án quân sự Tương tự, hệ thống viện kiển sát có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân địa phương và các viện kiểm sát quân sự

Kế thừa và phát triển các Hiến pháp năm 1946 và 1959, Hiến pháp năm 1980 cũng có

260 C.L Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 101

Trang 3

những quy định về nhiệm vụ chung của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, hệ thống các cơ quan tòa án, chức năng của các cơ quan tòa án, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án (Chương X, Điều 127 đến Điều 141) Tiếp sau đó, Hiến pháp năm 1992 ra đời, tạo cơ sở để các cơ quan tư pháp tiếp tục phát triển và hoàn thiện Nếu trước năm 1992,

hệ thống pháp luật phục vụ cho hoạt động tư pháp còn tương đối hạn hcees, thì từ tháng

5-1992 đến nay, hệ thống pháp luật này đã khá đầy đủ, phong phú, bao gồm các đạo luật: Luật

Tổ chức tòa án nhân dân; Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân (tháng 10-1992); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật

Tố tụng hình sự (tháng 12-1992); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức tòa án nhân dân; Bộ luật Dân sự (tháng 10-1995); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (tháng 5-1997); Bộ luật Hình sự (tháng 12-1997); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự (tháng 6-2000); Luật Tổ chức tòa án nhân dân; Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân (tháng 4-2002); Bộ luật Tố tụng hình sự (tháng 11-2003); Bộ luật Tố tụng dân sự (tháng 6-2004); Bộ luật Dân sự (tháng 6-2005), và nhiều luật khác có liên quan như Luật Hôn nhân và gia đinh; Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự (tháng 8-2004); Pháp lệnh Giám định tư pháp (tháng 1-2005) Với hệ thống tổ chức bộ máy và hệ thống pháp luật

đó, hoạt động tư pháp đang phấn đấu và ngày càng đạt được mục tiêu hàng đầu là "Xây dựng

nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa", như Nghị quyết số 49-NQ/TW261, của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đã chỉ rõ

Hiến pháp 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua đã kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992, đồng thời tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền cũng như thực tiễn công cuộc Đổi mới và hội nhập của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay Hiến pháp năm 2013 là cơ sở hiến định quan trọng cho công cuộc đổi mới toàn diện ở đất nước ta nói chung, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp nói riêng trong thời gian tới

Những quy định của Hiến pháp năm 2013 chính là cơ sở cho việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các loại án, thể hiện xu thế tất yếu của nhà nước pháp quyền, cụ thể:

Thứ nhất, Tòa án là chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp – một trong ba nhánh

quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước Tại Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy

định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

thực hiện quyền tư pháp” So với Hiến pháp năm 1992 thì ngoài chức năng xét xử thì Tòa

án nhân dân còn thực hiện quyền tư pháp là nhằm phân định quyền lực nhà nước theo hướng Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, lập pháp Làm rõ quyền tư pháp và từ đó xác định cơ quan có chức năng thực hiện quyền tư pháp là rất quan trọng Quyền tư pháp là quyền xét xử, tức quyền áp dụng pháp luật để ra phán quyết về các

vi phạm pháp luật và các tranh chấp xảy ra trong xã hội Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước Vì vậy, xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực Nhà nước đều phải thuộc thẩm quyền của Tòa án Các cơ quan nhà nước khác tham gia vào việc xử lý, giải quyết đó không phải là cơ quan tư pháp, không có chức năng thực hiện quyền tư pháp

mà các cơ quan này chỉ thực hiện các hoạt động tư pháp Từ đó, mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các loại vụ án, giao cho Tòa án bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật

là xu thế tất yếu của nhà nước pháp quyền Điều đó thể hiện vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, khẳng định vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt

261 Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Trang 4

động tư pháp Đây là cơ sở pháp lý để giao cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết những loại vụ việc liên quan đến quyền con người, quyền của công dân, mà những loại việc đó hiện nay là các cơ quan hành chính đang thực hiện

Thứ hai, về tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân, khoản 2 Điều 102 Hiến pháp năm

2013 quy định: “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do Luật

định” cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị

là xác định tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử không phụ thuộc vào địa giới hành chính

mà để Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định, làm cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới hoạt động tư pháp, phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Điều này bảo đảm tính khái quát, ổn định lâu dài của Hiến pháp và tính linh hoạt của luật phù hợp nhu cầu phát triển của đất nước trong từng thời khác nhau Cụ thể hoá Hiến pháp, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định Toà án nhân dân ở nước ta gồm Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân cấp cao, Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân cấp huyện Hiến pháp năm

2013 không quy định về Tòa án đặc biệt để phù hợp với bản chất của Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa, với yêu cầu bảo vệ quyền con người, hội nhập quốc tế hiện nay, đồng thời

bỏ quy định về tổ chức hòa giải ở cơ sở Bởi vì, dù việc thành lập các tổ chức ở cơ sở để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân là cần thiết, nhưng lại không thuộc chức năng tư pháp của Tòa án nhân dân, không thuộc hệ thống Tòa án nhân dân

và không cần thiết ở mức hiến định Quy định này phù hợp với việc phân công thực hiện quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. 262

Thứ ba, về nhiệm vụ của Tòa án nhân dân: Để thực hiện “quyền tư pháp”, Hiến pháp

năm 2013 cũng đã bổ sung Khoản 3 Điều 102 quy định về nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là

“bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,

bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” đã thể hiện rõ

nét về nhiệm vụ của Tòa án, đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ Tòa án Hiến pháp năm 2013 đã nhấn mạnh việc bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là những nhiệm vụ đầu tiên của Tòa án nhân dân; sau đó mới là nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Đó là nhiệm vụ đặc trưng thể hiện cao nhất, tập trung nhất đối với cơ quan xét xử, thực hiện quyền

tư pháp Tòa án phải là nơi mà mọi con người, mọi công dân tìm đến lẽ phải, tìm đến sự thật Khi quyền và lợi ích của mình bị xâm hại hoặc bị tranh chấp, người dân tìm đến Tòa án như

là tìm đến công lý Vì vậy, có thể nói, theo Hiến pháp năm 2013, Tòa án là biểu tượng của công lý và có nhiệm vụ bảo vệ công lý.263 Đồng nghĩa với việc mỗi khi người dân có tranh chấp và khởi kiện đến Tòa án thì Tòa án không được từ chối giải quyết vì bất cứ lý do gì, đây

chính là nội dung của nguyên tắc bất khẳng thụ lí, nguyên tắc này đã được thừa nhận từ lâu

trên thế giới và cả ở Việt Nam

Thứ tư, về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân: Hiến pháp năm

2013 cũng đã sắp xếp và bổ sung một số nội dung quan trọng tại Điều 103 trên tinh thần kế thừa và có bổ sung cho chính xác, phù hợp với thực tiễn và tinh thần cải cách tư pháp một số nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân - cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp ở nước ta, 264 đó là:

262 PGS TS Trần Văn Độ (2015), Vị trí và chức năng của Tòa án trong Hiến pháp, xem:

http://moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc/ctv/news/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=9

263 PGS TS Trần Văn Độ (2014), Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, tr 494-506

264 PGS TS Trần Văn Độ (2014), Hiến pháp năm 2013 về Tòa án và yêu cầu sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Nghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp, số 20 (276), tr 9-15

Trang 5

• Nguyên tắc xét xử có hội thẩm tham gia: Theo Hiến pháp năm 2013 thì Hội thẩm chỉ

tham gia trong xét xử ở cấp sơ thẩm; còn việc xét xử ở cấp phúc thẩm là không bắt buộc Sự sửa đổi này cũng xuất phát từ thực tiễn xét xử những năm qua

• Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập: Nguyên tắc này có một bổ sung quan trọng đó là: “Cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm

phán, Hội thẩm” Bổ sung này nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như thái độ dứt khoát

của Nhà nước ta đối với việc can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế

• Nguyên tắc xét xử tập thể: Để thực hiện cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả của việc

xét xử, bảo đảm cho việc xét xử nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm, Hiến pháp năm

2013 quy định ngoại lệ cho phép Tòa án xét xử bằng một Thẩm phán trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn

• Nguyên tắc xét xử công khai: Thay cho quy định trường hợp ngoại lệ do luật định

trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể điều kiện cho phép Tòa án xét xử kín Đó là “Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự” thì Toà án phải xét xử kín;

• Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp

pháp của đương sự: Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người một cách toàn

diện, công bằng, Hiến pháp năm 2003 ngoài việc quy định quyền bào chữa của bị can,

bị cáo, còn bổ sung việc bảo đảm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của các đương sự khác như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan trong hoạt động xét xử của Tòa án

Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số nguyên tắc quan trọng, bảo đảm sự phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người và thông lệ quốc tế Các nguyên tắc được bổ sung là:

• Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm: Đây là nguyên tắc thể hiện nội

dung rất quan trọng trong cải cách tư pháp ở nước ta Sự thật chỉ được xác định, công

lý chỉ được thiết lập khi có sự tranh tụng giữa các bên trong tố tụng tư pháp, nhất là trong xét xử các vụ án;

• Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm: Nguyên tắc hai cấp xét xử là

nguyên tắc xuyên suốt của hệ thống tư pháp của bất kỳ một quốc gia nào; được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và pháp luật của mọi quốc gia Thực hiện hai cấp xét xử là một trong những biện pháp bảo vệ quyền con người hữu hiệu; đồng thời bảo đảm cho hoạt động tư pháp thận trọng nhưng có điểm dừng, tránh kéo dài, chậm trễ

Trên đây là những nguyên tắc cơ bản nhất, dựa trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các Điều 129,

130, 131, 132 Hiến pháp năm 1992; tiếp thu những quy định về quyền con người trong hoạt động tố tụng của các bản Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người (Universal Declaration of Human Rights – UDHR) năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights) năm 1966 mà Việt Nam là thành viên, cũng như tham khảo Hiến pháp của các nước trên thế giới nhằm bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong hoạt động tố tụng, tăng cường hơn nữa tính độc lập trong hoạt động của Tòa án

Có thể nói, Hiến pháp năm 2013 đã tạo ra vị thế mới, điều kiện mới cho sự phát triển của nền tư pháp, nhưng cũng đòi hỏi các Tòa án nhân dân nâng cao trách nhiệm, khắc phục

Trang 6

khó khăn, khắc phục những hạn chế thời gian qua, tích cực đổi mới về mọi mặt để đáp ứng tinh thần cải cách tư pháp là xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành

có hiệu quả và hiệu lực cao trong một nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Để các quy định của Hiến pháp năm 2013 đi vào cuộc sống và phát huy hiệu lực, các quy định đó cần được cụ thể hóa bằng việc ban hành các luật khác nhau, mà trước hết là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, các luật Tố tụng tư pháp và có các biện pháp triển khai trên thực tế

2 Nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân trong các văn bản quy phạm pháp luật khác

Sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực, một số văn bản luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế thể hiện sự thống nhất quan điểm với Hiến pháp năm 2013, có thể kế đến một số quy định mới như:

+ Trong Bộ luật Dân sự 2015 tại Khoản 2 Điều 14 đã ghi nhận nguyên tắc bất khẳng

thụ lý265 bằng quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa

có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng”; và các quy định tại Điều 14, Điều 5 và Điều 6 Bộ luật Dân sự 2015 quy

định về việc áp dụng tập quán pháp và tương tự pháp luật (án lệ, lẽ công bằng) Tương tự, trong Khoản 2, Điều 4, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng khẳng định “Tòa án không được từ

chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng…”; Như vậy,

thông qua việc sửa đổi và ban hành các điều luật trên ta nhận thấy, ngoài nguồn pháp luật

thành văn, pháp luật dân sự Việt Nam còn thừa nhận các nguồn khác như tập quán, các

nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng Việc mở rộng nguồn pháp luật

để Tòa án tham chiếu là một bước tiến mang tính cách mạng trong việc đảm bảo công lý và quyền tiếp cận công lý của công dân Sự thay đổi trong các quy định ở Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật Tố tụng Dân sự nêu trên đã bổ trợ và đưa các nhiệm vụ của Tòa án được quy định trong

Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013 vào thực tiễn

Một số kiến nghị cũng đã được đề ra nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc bất khẳng

thụ lý, bao gồm:

Thứ nhất, bổ sung quy định về tội ‘từ chối xét xử/từ chối công lý’266, bởi trong Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015 vẫn chưa có quy định về tội từ chối xét xử mặc dù đã có quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong Chương XXIV;

Thứ hai, xem xét và xây dựng việc chọn lựa và áp dụng án lệ để đảm bảo tính hiệu

quả cao trong thực tiễn Để án lệ trở thành một nguồn luật và góp phần bảo đảm công lý và quyền tiếp cận công lý cho người dân, thì cần phải trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa

án, bởi vì theo Khoản 2 Điều 74 Hiến pháp năm 2013 thì thẩm quyền ‘giải thích Hiến pháp,

luật, pháp lệnh’thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng trên thực tế cơ quan này lại

không thường xuyên thực hiện quyền này trong khi nhu cầu giải thích pháp luật lại rất lớn

Trong khi đó thì thực tế thời gian qua, Tòa án đã thực hiện việc giải thích pháp luật thông qua hoạt động diễn giải, làm rõ các quy định của pháp luật bằng các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền Việc này thể hiện rõ nhất trong các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và 10 án lệ được Chánh án TANDTC ban hành theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/04/2016 về việc công bố án lệ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và

265 Nguyên tắc bất khẳng thụ lý là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự

266 TS Nguyễn Văn Quân (2018), Mối quan hệ giữa nguồn pháp luật và đảm bảo quyền tiếp cận công lý tại Việt Nam, trong cuốn sách Công lý và Quyền tiếp cận công lý: Những vấn đề lý luận, thực tiễn, Nxb Hồng Đức, tr.265

Trang 7

Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 Quyền giải thích pháp luật được trao cho Tòa

án là xu thế phát triển của hệ thống pháp luật trên thế giới hiện nay Khi án lệ ở Việt Nam đã được công bố, thì đã đến lúc Việt Nam cần có quy phạm chính thức để ghi nhận quyền giải thích pháp luật của Tòa án, nhằm nâng cao tính hiệu quả và tính pháp lý trong hoạt động giải thích pháp luật Để phù hợp với thực tiễn và tạo tính thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam, Hiến pháp Việt Nam cần bổ sung, mở rộng các chủ thể có thẩm quyền “giải thích pháp luật”, trong đó có Tòa án với sản phẩm là án lệ.267

Bên cạnh đó, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân được Quốc hội thông qua vào cuối năm

2014 có khá nhiều điểm mới nhằm cụ thể hóa các nguyên tắc và các quy định hướng đến xây dựng một hệ thống Tòa án độc lập theo tinh thần của Hiến pháp 2013 Một số điểm mới khác như: lần đầu có sự xuất hiện của Tòa án nhân dân cấp cao trong hệ thống Tòa án của Việt Nam; Thẩm phán được phân định theo ngạch; Thay đổi nhiệm kỳ của thẩm phán (nhiệm kỳ đầu tiên là 5 năm và các nhiệm kỳ sau nếu được tái bổ nhiệm là 10 năm); Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị, và đặc biệt là những thay đổi quan trọng liên quan đến việc mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự Những quy định mới này giúp phản ảnh tốt hơn bản chất của quyền lực tư pháp đồng thời bảo đảm công lý được thực thi

Một số điểm mới liên quan đến chức năng, quyền hạn của thẩm phán được thể hiện khá rõ nét trong Điều 2 của Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 Đáng chú ý những điểm mới đó

quy định như sau: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” và tại khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy

định: “Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án có quyền:

a) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;…

b) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp;

c) Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

d) Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm;”

Một là, việc giao cho Tòa án xem xét, kết luận tính hợp pháp của hành vi, quy định tố tụng của kiểm sát viên, điều tra viên, xem xét tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, truy tố thu thập, luật sư, bị can, bị cáo và những người khác cung cấp là quy định rất hợp lý Điều này là bởi tố tụng hình sự là một chuỗi các hành động, quyết định của cơ quan điều tra, công tố, vì thế, muốn mang lại công lý cho người dân, thẩm phán phải trước hết phải chắc chắn việc đưa bị cáo đưa ra trước tòa là kết quả của những hành vi, quyết định tố tụng đúng đắn, phù hợp với pháp luật Tuy nhiên, thẩm phán, tòa án phải thực hiện việc xem xét các hành vi, quyết định tố tụng tại phiên tòa một cách độc lập, khách quan Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật tố tụng để thẩm phán, hội đồng xét xử có thể thực hiện việc này mà không có sự phối hợp hoặc với cơ quan điều tra, công tố Phối hợp cần ở các cơ quan nhà nước khác song không nên tồn tại trong hoạt động xét xử của tòa án Vì vậy, luật tố tụng

267 Hoàng Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Mai Trang (2017), Án lệ - một số vấn đề về giải thích pháp luật ở Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2017, tr 22

Trang 8

hình sự cần có những qui định chặt chẽ nhằm loại trừ dần những cuộc họp bàn án giữa các cơ quan điều tra, truy tố và tòa án Tương tự, thẩm phán phải dựa trên những chứng cứ hợp pháp, có độ tin cậy cao Việc trao cho thẩm phán xem xét tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, truy tố thu thập, do luật sư và bị cáo cung cấp thông qua thủ tục tố tụng rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn tư pháp ở nước ta Việc giao quyền đánh giá chứng cứ cho Thẩm phán là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải hình thành các quy định để đảm bảo thẩm phán hoàn toàn độc lập và bình đẳng trong việc đánh giá chứng cứ, cho dù đó

là chứng cứ của cơ quan nhà nước hay của luật sư, bị can hay người khác đưa ra.268

Hai là, thực tiễn hoạt động xét xử cho thấy không ít trường hợp khi tòa án yêu cầu điều tra lại, cơ quan công tố, cơ quan điều tra không thực hiện và yêu cầu tòa án xử theo những chứng cứ đã có Trong trường hợp này, thẩm phán phải xử mặc dù thấy chứng cứ không thỏa đáng Thẩm phán cũng chỉ có thể xử theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn chứ không được xử theo tội danh nặng hơn so với truy tố của cáo trạng Trường hợp này thực tiễn còn tồn tại hướng dẫn là toà án phải trã hồ sơ cho Viện kiểm sát để đề nghị truy tố về tội nặng hơn, nếu Viện kiểm sát không truy tố theo tội danh nặng hơn thì toà vẫn xét xử theo tội danh đã truy tố và báo cáo lên toà án cấp trên Quy định này rõ ràng là không nhất quán nguyên tắc hiến định là khi xét xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Việc trả hồ

sơ yêu cầu bổ sung thực sự sẽ trở thành vấn đề nếu trong Bộ luật tố tụng hình sự sắp tới không có những điều chỉnh thích hợp Quan điểm cần ủng hộ là Bộ luật tố tụng hình sự cần qui định việc trả hồ sơ yêu cầu bổ sung chỉ trong những trường hợp rất hạn chế và với những điều kiện chặt chẽ Nhìn chung, cần trao cho thẩm phán quyền tuyên bố bị cáo vô tội nếu hội đồng xét xử thấy chứng cứ không đủ để buộc tội bị cáo Qui định này sẽ buộc cơ quan điều tra, truy tố đặc biệt cẩn trọng khi chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ và giúp tránh được những vụ án oan Đồng thời, quy định này cũng hạn chế được việc thẩm phán thiếu bản lĩnh, sợ trách nhiệm, không dám phán quyết theo đúng tình trạng hồ sơ và kết quả tranh tụng, trả hồ sơ cho

‘an toàn’, làm kéo dài vụ án, ảnh hưởng quyền lợi của người tham gia tố tụng

Ba là, việc quy định cho Tòa án quyền kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ; yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa cũng là một trong những điểm mới nhằm nâng cao vai trò của Tòa án trong thực thi quyền lực tư pháp Tuy nhiên, có một số vấn đề có thể được đặt ra như: liệu điều này có làm cho ranh giới giữa quyền lực tư pháp và quyền lực hành pháp bị lu mờ? Và vai trò trọng tài của Tòa án có còn được bảo đảm khi xem xét chứng cứ được thu thập đó có lợi cho bên nào? Ai sẽ là người tiến hành thu thập, bổ sung chứng cứ (thành viên hội đồng xét xử hay cán bộ Tòa án)? Do đó, để đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Tòa án nhân dân thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của Tòa án là phải hoàn thiện cơ sở pháp lý, đề xuất xây dựng thể chế để Tòa án thực hiện chức năng xét xử, thực hiện quyền tư pháp và như vậy, pháp luật tố tụng cần thiết phải sửa đổi, bổ sung để Tòa án nhân dân bảo vệ công lý Bộ luật Tố tụng hình sự cần quy định

rõ trong trường hợp nào thì Tòa án có thể thu thập, bổ sung chứng cứ; đưa ra giới hạn, phạm vi cũng như những công cụ pháp lý để Tòa án có thể thực thi quyền này

Tóm lại, Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 đã có những điểm mới tiến bộ, tuy nhiên, yêu cầu phát huy giá trị tối đa đối với những quy định mới đó lại đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện các văn bản pháp luật tố tụng liên quan để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống tư pháp, hướng đến một hệ thống tòa án độc lập, thực thi nhiệm vụ bảo vệ công lý theo tinh thần Hiến pháp năm 2013

Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã thể chế hóa toàn diện chủ trương cải cách tư

268 Lê Hồng Quang (2015), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 – Những điểm mới và yêu cầu đặt ra đối với việc thực thi, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, số tháng 3

Trang 9

pháp của Đảng; cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013; kế thừa, phát triển các quy định còn phù hợp của BLTTHS năm 2003; hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự nhằm bảo đảm tính thống nhất nội tại của BLTTHS và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tạo ra cơ chế hữu hiệu

để bảo vệ công lý, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội; tăng cường trách nhiệm các cơ quan

tư pháp trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; xác định rõ trách nhiệm của từng chức danh tố tụng; cụ thể hóa trình tự, thủ tục tạo điều kiện để người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm theo quy định của luật; bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội Có thể khái quát những nội dung lớn được sửa đổi bổ sung có liên sự hệ mật thiết tới nhiệm vụ bảo đảm công

lý của Tòa án như sau:

Một là, Bộ luật TTHS 2015 đã bổ sung quy định các nguyên tắc phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và thực tiễn Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS năm 2015 được quy định tại Chương II gồm 27 nguyên tắc, trên cơ sở điều chỉnh 30 nguyên tắc của BLTTHS năm 2003 và bổ sung một số nguyên tắc đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nhằm khắc phục những hạn chế của BLTTHS năm 2003, bảo đảm các quy định về nguyên tắc cơ bản đúng nghĩa là những tư tưởng chỉ đạo đối với việc xây dựng và thực hiện BLTTHS, tạo cơ sở cho việc hình thành những chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Nguyên tắc tố tụng hình sự chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, thể hiện bản chất của tố tụng hình

sự và tính dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự, là cơ sở để xây dựng các nội dung trong

Bộ luật Theo đó, BLHS năm 2015 đã bổ sung các nguyên tắc sau: nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13); nguyên tắc không ai bị kết án 02 lần vì một tội phạm (Điều 14); nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra (Điều 19); nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo (Điều 26)

Hai là, Bộ luật TTHS 2015 đã bổ sung những quy định cụ thể quan trọng liên quan đến trình tự, thủ tục và các hoạt động tố tụng theo từng giai đoạn, bao gồm: giai đoạn khởi tố; điều tra; truy tố và xét xử; Thực hiện nghiêm túc yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp thành những quy định, yêu cầu cụ thể đối với: quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng; bổ sung các quyền

và cơ chế bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng Đặc biệt là, bổ sung quyền của

bị can được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu; bổ sung và quy định đầy đủ nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội; rút ngắn thời hạn tạm giam; quy định đầy đủ các cơ chế để người bị buộc tội thực hiện tốt quyền

“tự bào chữa” và “nhờ người khác bào chữa”; bổ sung các quy định nhằm đề cao trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đồng thời, quy định nghiêm khắc các chế tài áp dụng nếu cơ quan tố tụng vi phạm quy định của luật

Ba là, Bộ luật TTHS 2015 đặc biệt đã bổ sung thêm một chương (chương V) liên quan đến bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo Hiến pháp năm 2013 Theo đó, bổ sung khái niệm người bào chữa; bổ sung người bị bắt thuộc đối tượng được bảo đảm quyền bào chữa; bổ sung quy định Trợ giúp viên pháp lý có thể là người bào chữa trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý;

bổ sung diện những người không được bào chữa; bổ sung các quyền, nghĩa vụ của người bào chữa; bổ sung các quy định liên quan về lựa chọn người bào chữa; chỉ định người bào chữa; thay đổi và từ chối người bào chữa; thủ tục đăng ký bào chữa; trách nhiệm thông báo cho

Trang 10

người bào chữa; thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến bào chữa; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người

bị tố giác, kiến nghị khởi tố

Bốn là, BLTTHS năm 2015 đã có những đổi mới quan trọng khi quy định về chứng

cứ và chứng minh, đó là: bổ sung cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ; quy định cụ thể cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ; bổ sung và quy định cụ thể trách nhiệm, trình tự, thủ tục các cơ quan tố tụng tiếp nhận và đánh giá chứng cứ do những người tham gia tố tụng cung cấp; bổ sung vào hệ thống nguồn chứng cứ gồm: dữ liệu điện tử; kết quả định giá tài sản; quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu thập, phục hồi dữ liệu điện tử nhằm bảo đảm tính khách quan, tính nguyên trạng và tính có thể kiểm chứng của loại chứng cứ đặc thù này; bổ sung nguyên tắc loại trừ chứng cứ

Năm là, đặt ra yêu cầu bảo đảm quá trình giải quyết vụ án hình sự phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Bộ luật TTHS 2015 đã có sửa đổi và

bổ sung một số nội dung như: bổ sung nguyên tắc kiểm tra, giám sát, kiểm soát trong tố tụng hình sự vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản; quy định cụ thể việc giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự và trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc trả lời yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan này; quy định

cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tố tụng, theo đó khâu sau có trách nhiệm giám sát kết quả của khâu trước, loại bỏ chứng cứ do khâu trước thu thập bằng các biện pháp trái luật; đồng thời, quá trình tiến hành tố tụng, khâu sau có trách nhiệm thông báo các kết quả giải quyết vụ án cho các giai đoạn tố tụng trước; quy định cụ thể, minh bạch các thủ tục tố tụng, bổ sung trách nhiệm và hình thức công khai các quyết định tố tụng nhằm tạo điều kiện

để người dân dễ tiếp cận công lý và tăng khả năng giám sát của xã hội đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự

Bộ Luật TTHS năm 2015 được ban hành nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược Cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Một nhà nước mà ở đó có một nền tư pháp hình sự trong sạch, nghiêm minh, bảo vệ công lý BLTTHS năm 2015 nhìn chung đã thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, tránh làm oan người vô tội Tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân; cụ thể hóa các trình tự, thủ tục để người tiến hành tố tụng và tham gia tố tục thực hiện đầy đủ quyền

và trách nhiệm theo luật định, từ đó đảm bảo quyền tiếp cận công lý cho nhân dân nói riêng, xây dựng một hệ thống tư pháp công bằng nói chung

Kết luận

Là đạo luật cơ bản của đất nước đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới, Hiến pháp năm 2013 phản ánh những bước tiến trong nhận thức lý luận và kết quả thực tiễn của quá trình cải cách bộ máy nhà nước, dân chủ hóa đời sống chính trị - pháp lý nói chung, của công cuộc cải cách tư pháp đầy khó khăn, thách thức nói riêng trong suốt những năm qua ở nước ta

Cùng với việc hiến định nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước với đủ ba

yếu tố phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp,

Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên kể từ sau Hiến pháp năm 1946, đã xác định phân công rành mạch: Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp và tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp Đồng thời, cũng lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 khẳng định sứ mệnh cao quý, riêng có của tòa án - cơ quan xét

Ngày đăng: 04/02/2021, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w