1. Trang chủ
  2. » Địa lý lớp 11

Thi hành các quy định về Thủ tướng Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013 – Một số vấn đề pháp lý cần hoàn thiện

10 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 394,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tác giả, quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai của Bộ trưởng đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh vừa không phù hợp với quy đ[r]

Trang 1

THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

TRONG HIẾN PHÁP NĂM 2013 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ

CẦN HOÀN THIỆN

ThS Nguyễn Nhật Khanh

1 Vị trí, tính chất pháp lý của Thủ tướng Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013

Ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thay thế cho Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Sự ra đời của Hiến pháp mới là sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta Giá trị to lớn của Hiến pháp năm 2013 được thể hiện qua việc kế thừa những tinh hoa của các bản Hiến pháp trước đây, đồng thời hiến pháp hóa nhiều quy định mới tiến bộ, trong đó đáng chú ý là các quy định về

vị trí pháp lý, nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ (TTCP)

Hiến pháp năm 2013 đã nâng chức danh TTCP lên một tầm cao mới khi lần đầu tiên

quy định tư cách “người đứng đầu Chính phủ” của TTCP Nếu như các bản Hiến pháp trước đây chỉ ghi nhận một cách gián tiếp tư cách “người đứng đầu Chính phủ” của TTCP thông

qua các cụm từ như “chủ tọa”, “lãnh đạo công tác”179 của Chính phủ thì Hiến pháp năm 2013

đã quy định rất rõ ràng: “TTCP là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước

Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, TTCP trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”180 Bên cạnh

đó, cùng với việc nâng tầm vị trí của Chính phủ trong tổ chức bộ máy nhà nước khi lần đầu tiên đưa chức năng “hành chính nhà nước cao nhất” lên trước chức năng “chấp hành của Quốc hội” và trao cho Chính phủ thực hiện “quyền hành pháp”181 thì Hiến pháp năm 2013 đã

gián tiếp ghi nhận tư cách thứ hai để nâng tầm của TTCP đó là “người đứng đầu hệ thống

hành chính” Như vậy có thể thấy rằng Hiến pháp năm 2013 đã trao cho TTCP hai tư cách

rất quan trọng đó là “người đứng đầu Chính phủ” và “người đứng đầu hệ thống hành

chính”, cùng với đó là việc mở rộng thêm nhiều nhiệm vụ, quyền hạn mới để TTCP thực sự

trở thành trung tâm của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước.182

Chính phủ, theo Hiến pháp năm 2013, trước hết là cơ quan thực hiện quyền hành pháp với hai nhiệm vụ cốt yếu: “xây dựng chính sách” và “tổ chức thi hành pháp luật”183, do

đó với tư cách là “người đứng đầu Chính phủ - người đứng đầu cơ quan thực hiện quyền

hành pháp”, lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 quy định TTCP “lãnh đạo việc xây dựng chính

sách và tổ chức thi hành pháp luật” song song với quy định “lãnh đạo công tác của Chính

phủ” như các bản Hiến pháp trước đây184 Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 còn bổ sung

quy định TTCP “lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà

nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia”185 Điều này cho thấy Hiến pháp năm 2013 đã củng cố và mở rộng thẩm

 Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

179 Điều 75 Hiến pháp năm 1959, Điều 110 Hiến pháp năm 1980, khoản 1 Điều 114 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi,

bổ sung năm 2001)

180 Khoản 2 Điều 95 Hiến pháp năm 2013

181 Điều 94 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”

182 Khoản 2 Điều 4 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 đã cụ thể hóa 02 tư cách này của TTCP như sau: “TTCP là người đứng đầu Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước”

183183 Trần Thị Thu Hà (2016), “Bàn về nhiệm vụ, quyền hạn của TTCP theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04

184 Khoản 1 Điều 98 Hiến pháp năm 2013

185 Khoản 2 Điều 98 Hiến pháp năm 2013

Trang 2

quyền của TTCP với tư cách “người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước” Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 còn trao thêm cho TTCP thẩm quyền “Quyết định và chỉ đạo việc đàm

phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ;

tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”186 Những bổ sung này của Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục củng cố và nối dài “cánh tay quyền lực” của TTCP, biến chức danh này trở thành một nhân vật rất “thực quyền” trong

bộ máy nhà nước

Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định khá rõ ràng về vị trí pháp lý, nhiệm vụ và quyền hạn của TTCP, thế nhưng các quy định này chỉ mang tính chất khung và nền tảng, còn các vấn đề cụ thể sẽ phải được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật khác để thi hành các quy định của Hiến pháp về chức danh TTCP Bài viết sẽ phân tích các nội dung còn bất cập để góp ý hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chức danh TTCP

2 Một số vấn đề pháp lý cần hoàn thiện trong quá trình triển khai thi hành quy định về Thủ tướng Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013

2.1 Về vấn đề tuyên thệ của Thủ tướng Chỉnh phủ

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp năm 2013 quy định: “sau khi được

bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, TTCP, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải

tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp”187 Quy định về nghi thức

“tuyên thệ” của những người giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước là điều khoản mới phù hợp với thông lệ quốc tế, thể hiện tầm quan trọng cũng như trách nhiệm chính trị của các chủ thể này trước Nhà nước và Nhân dân trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy quy định về nghi thức tuyên thệ của các quốc gia trên thế giới thường chỉ dành cho nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Nhà nước, trong khi đó Hiến pháp năm 2013 quy định về nghi thức này cho 04 chức danh: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, TTCP và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Việc quy định Chủ tịch nước thực hiện nghi thức tuyên thệ là điều tất yếu vì Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại188 Đối với các chức danh còn lại là Chủ tịch Quốc hội, TTCP, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, theo tác giả, Hiến pháp năm 2013 hoàn toàn có lý khi quy định các chức danh này cũng phải thực hiện nghi thức tuyên thệ vì họ là người đứng đầu của các cơ quan được trao chức năng thực hiện các bộ phận của quyền lực nhà nước Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 quy định

“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan

nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”189 Trong đó, Quốc hội là cơ quan được giao thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Tòa án thực hiện quyền tư pháp190

Mặc dù đã có quy định về nghi thức tuyên thệ, thế nhưng cách thức, trình tự thực hiện cũng như lời tuyên thệ của các chức danh này như thế nào thì đến nay vẫn chưa có quy định

cụ thể, dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất trong quá trình thực hiện

Cụ thể, trong buổi lễ nhậm chức TTCP nhiệm kỳ 2011-2016 ngày 07/4/2016, TTCP

Nguyễn Xuân Phúc tuyên thệ: “Trước cờ đỏ sao vàng thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc

186 Khoản 5 Điều 98 Hiến pháp năm 2013

187 Khoản 7 Điều 70 Hiến pháp năm 2013

188 Điều 86 Hiến pháp năm 2013

189 Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013

190 Điều 69, Điều 94, Điều 102 Hiến pháp năm 2013

Trang 3

hội, trước đồng bào và cử tri cả nước, tôi xin tuyên thệ: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân, với Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tôi nguyện

ra sức phấn đấu, rèn luyện để hoàn thành tốt các nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân

dân giao phó”.191 Trong khi đó, lần thứ hai được bầu làm TTCP nhiệm kỳ 2016 - 2021 vào

ngày 26/7/2016, ông Nguyễn Xuân Phúc lại tuyên thệ như sau: “Dưới cờ đỏ sao vàng thiêng

liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước, tôi TTCP nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam, xin tuyên thệ: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nỗ lực công tác tốt để hoàn thành

nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó”192 Rõ ràng lời tuyên thệ của TTCP

Nguyễn Xuân Phúc đã không có sự thống nhất trong hai lần tuyên thệ, qua đó vô tình làm giảm giá trị của nghi thức tuyên thệ

Nghi thức tuyên thệ là một nghi thức thiêng liêng, thể hiện niềm tin của Nhân dân, thông qua Quốc hội để lựa chọn những chức danh chủ chốt của bộ máy nhà nước Lời tuyên thệ như một lời “thề”, lời cam kết sẽ chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người tuyên thệ trước Nhân dân Do đó, nghi thức tuyên thệ cần phải được cụ thể hóa thành các quy định pháp luật một cách rõ ràng để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình thực hiện

Ở các quốc gia trên thế giới, nội dung và nghi thức tuyên thệ của những người đứng đầu Nhà nước đã được quy định minh thị ngay trong Hiến pháp Theo mục 1 Điều II Hiến

pháp Mỹ thì trước khi nhậm chức, Tổng thống sẽ tuyên thệ hoặc thề nguyện như sau: “Tôi

trân trọng tuyên thệ (hoặc thề) rằng tôi sẽ giữ chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ với lòng trung thành và tận dụng hết khả năng của mình để duy trì, giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ”

Trong khi đó, theo Điều 130 Hiến pháp Ba Lan thì trong lễ nhậm chức, Tổng thống Cộng

hòa Ba Lan phải tuyên thệ trước Quốc hội như sau: “Với mong muốn của nhân dân, nhậm

chức Tổng thống Cộng hòa Ba Lan, tôi chính thức tuyên thệ trung thành với các quy định của Hiến pháp; tôi cam kết rằng tôi sẽ kiên trì bảo vệ các giá trị của dân tộc, sự độc lập và

an ninh của quốc gia, cũng như những điều tốt đẹp của Tổ quốc và sự phồn vinh của người dân sẽ là nghĩa vụ cao quý của tôi” Khoản 1 Điều 82 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

thì quy định khi nhậm chức, Tổng thống Liên bang Nga tuyên thệ: “Tôi xin thề khi thực thi

quyền hạn của Tổng thống Liên bang Nga sẽ tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân, tuân thủ và bảo vệ Hiến pháp Liên bang Nga, bảo vệ chủ quyền, độc lập, an ninh và toàn vẹn của quốc gia, trung thành phục vụ nhân dân” Điều 91 Hiến

pháp Bỉ năm 2014 quy định khi nhậm chức Nhà vua sẽ tuyên thệ như sau: “Tôi xin thề sẽ

tuân thủ Hiến pháp và luật pháp của người dân Bỉ, giữ gìn sự độc lập và bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ quốc gia” Mục 5 Điều 7 Hiến pháp Philippines năm 1987 quy định lời tuyên thệ

nhậm chức của Tổng thống như sau: “Tôi xin thề trước mọi người là tôi sẽ thực hiện chu

đáo và mọi nhiệm vụ của Tổng thống Philippines, gìn giữ và bảo vệ Hiến pháp Philippines, thi hành luật pháp Philippines, thực hiện công bằng cho mọi người, hiến dâng bản thân để phục vụ đất nước Xin Chúa giúp tôi” Do vậy, kinh nghiệm rút ra từ các quốc gia có quy

định về nghi thức tuyên thệ cho thấy sẽ hợp lý nhất khi nghi thức và lời tuyên thệ được quy định một cách cụ thể trong Hiến pháp, đáng tiếc Hiến pháp năm 2013 chỉ mới ghi nhận về việc tuyên thệ chứ chưa quy định cụ thể trình tự thực hiện cũng như lời tuyên thệ của TTCP

và các chức danh khác

Cho đến nay, hướng dẫn duy nhất về việc tuyên thệ được quy định tại Điều 29 Nghị

191 Hoàng Thùy - Võ Hải, “Ông Nguyễn Xuân Phúc nhậm chức Thủ tướng”, tại website: https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ong-nguyen-xuan-phuc-nham-chuc-thu-tuong-3382546.html, truy cập ngày 06/9/2018

192 Báo Điện tử Chính phủ, “Lễ tuyên thệ nhậm chức của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc”, tại website: http://baochinhphu.vn/Tieu-diem/Le-tuyen-the-nham-chuc-cua-Thu-tuong-Nguyen-Xuan-Phuc/282614.vgp, truy cập ngày 06/9/2018

Trang 4

quyết số 102/2015/QH13 ngày 24/11/2015 của Quốc hội về Ban hành Nội quy kỳ họp của

Quốc hội quy định: “Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, TTCP, Chánh án Tòa án nhân dân

tối cao tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp Ngoài nội dung trên, người tuyên thệ quyết định nội dung tuyên thệ phù hợp với trách nhiệm được giao Người tuyên thệ phải đứng trước Quốc kỳ tuyên thệ Thời gian tuyên thệ không quá 03 phút” Trong

bối cảnh Hiến pháp năm 2013 thiếu vắng các quy định cụ thể về nghi thức và lời tuyên thệ thì quy định của Nghị quyết số 102/2015/QH13 có thể xem là giải pháp hợp lý để khỏa lấp

“lỗ trống” đó mà vẫn bảo đảm tính pháp lý bởi lẽ các chức danh thực hiện nghi thức tuyên thệ đều do Quốc hội bầu ra trong số các vị đại biểu Quốc hội, đồng thời việc tuyên thệ được thực hiện tại Kỳ họp của Quốc hội Tuy nhiên, hướng dẫn này vẫn chưa đầy đủ khi thiếu nội dung “người tuyên thệ đặt một tay lên Hiến pháp” hay cách thức đặt tay, giơ tay khi tuyên thệ, đồng thời để bảo đảm việc tuyên thệ sẽ thực hiện thống nhất để thể hiện tính trang trọng cũng như trách nhiệm của người tuyên thệ với lời tuyên thệ của mình thì Nghị quyết số 102/2015/QH13 nên quy định cụ thể lời tuyên thệ của từng chức danh thay vì trao cho các chức danh quyền chủ động, sáng tạo thực hiện “lời tuyên thệ” của mình

2.2 Phân định thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật giữa Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được Hiến pháp năm 2013 trao cho, Chính phủ và TTCP sẽ có quyền ban hành các văn bản pháp luật tương ứng với thẩm quyền của mình

Điều 100 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính phủ, TTCP, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật” Cụ

thể hóa điều này, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định TTCP ban hành quyết định để quy định:

“1 Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính

nhà nước từ trung ương đến địa phương, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ,

chính quyền địa phương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

2 Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” 193

Từ quy định này có thể thấy thẩm quyền quy định “chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chính quyền địa phương” thuộc thẩm quyền của TTCP và nội dung này phải được chuyển tải trong hình thức văn bản là quyết định của TTCP Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề này lại được điều chỉnh trong nghị định của Chính phủ Ví dụ, ngày 01/10/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 138/2016/NĐ-CP để ban hành quy chế làm việc của Chính phủ trong khi đúng ra vấn đề này phải được quy định trong quyết định của TTCP Sự “lấn sân” này là không phù hợp với quy định của pháp luật, vô hình trung còn xóa nhòa ranh giới về phạm vi thẩm quyền trong việc ban hành quyết định quản lý nhà nước của Chính phủ và TTCP194

Do đó, để bảo đảm thẩm quyền của TTCP trong việc ban hành các văn bản pháp luật khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, thiết nghĩ Chính phủ cần trả lại cho TTCP quyền quy định “quy chế làm việc của Chính phủ” bằng văn bản quy phạm pháp luật với hình thức “Quyết định” và bãi bỏ Nghị định số 138/2016/NĐ-CP nói trên bởi lẽ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 không trao cho Chính phủ quyền ban hành Nghị

193 Điều 20 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

194 Cao Vũ Minh, Quyết định quản lý nhà nước của Chính phủ - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, năm 2017, tr 85

Trang 5

định để quy định vấn đề này195, do đó cần phải chấm dứt ngay tình trạng này để bảo đảm tính hợp pháp về mặt nội dung trong văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành

2.3 Thẩm quyền quyết định nhân sự của Thủ tướng Chính phủ

Với tư cách là “người đứng đầu Chính phủ” và “người đứng đầu hệ thống hành

chính”, TTCP có quyền hạn rất lớn trọng việc quyết định các nhân sự của Chính phủ và hệ

thống hành chính nhà nước Cụ thể:

Thứ nhất, đối với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quang ngang Bộ (gọi tắt là Bộ trưởng),

bên cạnh các quyền hạn mang tính truyền thống như trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Bộ trưởng; trong thời gian Quốc hội không họp, trình Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉ công tác của Bộ trưởng thì lần đầu tiên Luật Tổ chức

Chính phủ năm 2015 quy định cho TTCP một quyền hạn mới đó là “Trong thời gian Quốc

hội không họp, quyết định giao quyền Bộ trưởng theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ

trong trường hợp khuyết Bộ trưởng”196 Việc Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định cho TTCP thẩm quyền “giao quyền Bộ trưởng” là một bước đi táo bạo trong việc mở rộng thẩm quyền của TTCP, thậm chí có phần mở rộng hơn so với Hiến pháp năm 2013, song vẫn

ở trong giới hạn được phép Việc “giao quyền Bộ trưởng” chủ yếu nhằm khắc phục khoảng trống tình thế, dẫu hy hữu nhưng không phải là không thể xảy ra trong thực tiễn Có trong tay nhiệm vụ, quyền hạn này, TTCP có thể hành động nhanh chóng, phản ứng kịp thời, chủ động ứng phó với tình hình để khắc phục sự khuyết thiếu người đứng mũi chịu sào của một ngành, lĩnh vực nào đó, bảo đảm tính liên tục của hoạt động điều hành, quản lý197

Triển khai thực hiện quy định mới của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, trong bối cảnh Bộ Thông tin và Truyền thông bị khuyết chức danh Bộ trưởng do ông Trương Minh Tuấn bị tạm đình chỉ công tác198, TTCP Nguyễn Xuân Phúc đã ban hành Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 25/7/2018 để giao quyền Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đối với đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng Mặc dù việc “giao quyền Bộ trưởng” chỉ mang tính chất tạm thời nhưng lại hết sức cần thiết để kịp thời lãnh đạo công tác của Bộ Thông tin và Truyền thông trong thời gian khuyết Bộ trưởng Để TTCP quyết định giao quyền Bộ trưởng, thiết nghĩ là một sự mạnh dạn (bởi chưa từng có tiền lệ ở nước ta) nhưng cần thiết TTCP vẫn không có quyền bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan của Chính phủ, phê chuẩn Bộ trưởng mới vẫn là thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Song cho phép TTCP chọn ra một người xứng đáng để kịp thời gánh vác trọng trách của Bộ trưởng, thay vì buộc TTCP phải chờ đợi Quốc hội một cách thụ động là đặt niềm tin vào người lãnh đạo, điều hành hệ thống hành chính nhà nước, tạo điều kiện cho họ thể hiện sự năng động, linh hoạt vốn là bản chất của hành pháp, buộc họ phải dám chịu trách nhiệm với sự lựa chọn của mình Vả lại, bằng việc giao quyền Bộ trưởng trong trường hợp khuyết Bộ trưởng, TTCP

có được một khoảng thời gian cần thiết để thử thách và khẳng định nhân tài, từ đó đề nghị Quốc hội phê chuẩn nhân sự Bộ trưởng mới một cách chính xác hơn199 Tuy nhiên, quy định

về việc “giao quyền Bộ trưởng” của TTCP vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần hoàn thiện để việc thực hiện thẩm quyền “đặc biệt” này đạt được mục đích như mong đợi

195 Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định về nội dung Nghị định của Chính phủ thì không có quy định về việc “quy định quy chế làm việc của Chính phủ”

196 Khoản 5 Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

197 Trần Thị Thu Hà (2016), “Bàn về nhiệm vụ, quyền hạn của TTCP theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04

198 Ngày 23/7/2018, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã ban hành Quyết định số 1261/QĐ-CTN về việc tạm đình chỉ công tác Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đối với ông Trương Minh Tuấn do có vi phạm khuyết điểm

và Bộ Chính trị đã có thi hành kỷ luật về Đảng tại Quyết định số 806-QĐNS/TW ngày 16/7/2018

199 Trần Thị Thu Hà (2016), “Bàn về nhiệm vụ, quyền hạn của TTCP theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04

Trang 6

Về mặt quy định pháp luật, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 chưa làm rõ mối quan

hệ cũng như sự khác biệt về địa vị pháp lý giữa “Quyền Bộ trưởng” và “Bộ trưởng” Mặc dù thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn như Bộ trưởng tuy nhiên Quyền Bộ trưởng chỉ là chức danh

“tạm quyền” và chưa được Quốc hội phê chuẩn, do đó, địa vị pháp lý của “Quyền Bộ trưởng” có thể sánh bằng với các Bộ trưởng khác khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn hay không là một câu hỏi còn bỏ ngõ Bởi song hành với nhiệm vụ, quyền hạn là trách nhiệm Giao “quyền Bộ trưởng” không nhằm giản đơn lấp đi một khoảng trống về “chiếc ghế quyền lực” mà chính là sự bổ sung kịp thời chủ thể lãnh đạo, điều hành và chịu trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu của quản lý hành chính nhà nước200

Về mặt tổ chức thực hiện, Quyết định giao quyền Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền

thông đối với đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng có thể coi là ví dụ điển hình đầu tiên về việc thực hiện thẩm quyền “giao quyền Bộ trưởng” của TTCP, thế nhưng ngay trong lần đầu thực hiện thì Quyết định này vẫn còn tồn tại những sai sót cần phải khắc phục Cụ thể ở phần căn cứ ban hành, Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 25/7/2018 căn cứ vào ý kiến của Bộ Chính trị tại Văn bản số 7175-CV/VPTW ngày 16/7/2018 và căn cứ quyết nghị của Ban cán sự Đảng Chính phủ tại phiên họp ngày 16/7/2018 là không phù hợp với căn cứ ban hành một Quyết định áp dụng pháp luật bởi đây là văn bản của Đảng Bên cạnh đó, Quyết

định này còn được ban hành dựa trên việc xét đề nghị của Bộ Nội vụ tại Tờ trình số

273/TTr-BNV ngày 18/7/2018 là chưa phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015,

bởi quyền đề nghị TTCP quyết định giao quyền Bộ trưởng thuộc về Bộ trưởng Bộ Nội vụ chứ không phải theo đề nghị của Bộ Nội vụ Ngoài ra, Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày

25/7/2018 còn tồn tại những thiếu sót khác về mặt kỹ thuật soạn thảo khi chức danh Bộ trưởng là do Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước bổ nhiệm mà trong phần “Nơi nhận” lại không thấy gửi cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước

Do đó, để việc “giao quyền Bộ trưởng” có thể thực hiện với đầy đủ ý nghĩa của nó, thiết nghĩ các văn bản triển khai thi hành Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, đặc biệt là quy chế làm việc của Chính phủ cần bổ sung quy định “quyền Bộ trưởng” có đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của một Bộ trưởng trong thời gian được giao quyền Đồng thời, để việc ban hành quyết định giao quyền đúng văn phong, thể thức của một quyết định hành chính đòi hỏi Chính phủ cần phải xem xét ban hành biểu mẫu về quyết định giao quyền để bảo đảm tính thống nhất và chính xác khi TTCP thực hiện việc giao quyền Bộ trưởng trong tương lai

Thứ hai, về quyền quyết định nhân sự đối với Chủ tịch UBND cấp tỉnh Với tư cách là

“người đứng đầu hệ thống hành chính”, Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Chính phủ năm

2015 đã trao cho TTCP quyền phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch UBND cấp tỉnh201 Ngoài ra, trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, TTCP có quyền quyết định giao quyền Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong trường hợp khuyết Chủ tịch UBND cấp tỉnh Đây cũng là quy định mới về thẩm quyền của TTCP đối với việc quyết định nhân sự Chủ tịch UBND cấp tỉnh, tuy nhiên so với việc “giao quyền Bộ trưởng” thì việc “giao quyền Chủ tịch UBND cấp tỉnh” không mang tính đột phá Nếu như TTCP không có toàn quyền để quyết định nhân sự Bộ trưởng mà phải phụ thuộc vào ý chí của Quốc hội và Chủ tịch nước thì việc quyết định nhân sự Chủ tịch UBND cấp tỉnh gần như nằm hoàn toàn trong tay của TTCP khi có quyền phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, đình chỉ công tác, thậm chí là cách chức Vì thế việc TTCP có thể giao quyền Chủ tịch UBND là điều dễ chấp nhận Tuy nhiên, vấn đề cần bàn luận ở đây về mặt thẩm quyền của TTCP đối với Chủ tịch UBND cấp tỉnh thể hiện ở quyền lập ra chức danh này Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ

200 Trần Thị Thu Hà (2016), “Bàn về nhiệm vụ, quyền hạn của TTCP theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04

201 Khoản 3 Điều 98 Hiến pháp năm 2013, khoản 7 Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

Trang 7

năm 2015 và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 không trao cho TTCP quyền trực tiếp lập ra chức danh Chủ tịch UBND cấp tỉnh mà chỉ trao một cách hạn chế qua việc quy định quyền phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch UBND cấp tỉnh của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Mặc dù có những tác động nhất định đến việc lập ra chức danh Chủ tịch UBND cấp tỉnh thế nhưng quyền hạn của TTCP bị hạn chế bởi sự lựa chọn của HĐND cấp tỉnh, việc phê chuẩn đã đặt TTCP vào thế “đã rồi” nhiều hơn là quyền “quyết định” nhân sự, vì thế chưa thể hiện một cách trọn vẹn tư cách “người đứng đầu hệ thống hành chính” của TTCP

Tư tưởng về việc trao quyền mạnh dạn cho TTCP đã được đề cập trong các văn bản của Đảng, cụ thể Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý của bộ máy nhà nước có quy định “Trường hợp cần thay đổi Chủ tịch UBND mà nhân sự

là người phải điều động từ nơi khác đến thì sau khi trao đổi với cấp ủy cùng cấp và được cấp

có thẩm quyền quản lý cán bộ đồng ý, TTCP bổ nhiệm Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch

UBND cấp trên bổ nhiệm Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp” Tiếc rằng, Hiến pháp năm

2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm

2015 chưa mạnh dạn để luật hóa nội dung này Theo tác giả, việc trao cho TTCP quyền “bổ nhiệm” Chủ tịch UBND cấp tỉnh là việc làm hết sức cần thiết bởi lẽ quy định hiện hành không bảo đảm tính logic của vấn đề khi TTCP có toàn quyền trong việc sử dụng nhân sự Chủ tịch UBND cấp tỉnh qua quyền điều động, đình chỉ công tác, thậm chí có quyền xóa bỏ chức danh Chủ tịch UBND cấp tỉnh qua quyền cách chức nhưng lại không được trực tiếp quyết định việc hình thành chức danh Chủ tịch UBND cấp tỉnh qua quyền bổ nhiệm Do đó,

để thật sự xứng tầm với tư cách là “người đứng đầu hệ thống hành chính”, thiết nghĩ cần sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để trao cho TTCP quyền bổ nhiệm Chủ tịch UBND cấp tỉnh thay vì quyền phê chuẩn việc bầu như quy định hiện hành

2.4 Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong xử phạt vi phạm hành chính

Xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật về xử phạt VPHC202 Hình thức của việc xử phạt thể hiện bằng quyết định xử phạt VPHC được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền Xử phạt VPHC là một hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật cụ thể, tức là một hoạt động thực thi quyền lực nhà nước Với đặc thù là một biện pháp cưỡng chế hành chính, xử phạt VPHC có khả năng gây ra thiệt hại nhất định cho các đối tượng bị áp dụng Do đó, quá trình xử phạt và ban hành quyết định xử phạt VPHC phải tuân thủ chính xác và đầy đủ các yêu cầu của pháp luật thì mới bảo đảm được tính hợp pháp của việc xử phạt VPHC

Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC năm 2012) quy

định về thời hạn ban hành quyết định xử phạt VPHC như sau: “Người có thẩm quyền xử phạt

VPHC phải ra quyết định xử phạt VPHC trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản VPHC Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều

61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản” Quy định về thời hạn xử phạt VPHC như trên là cần thiết và hợp lý vì từ khi lập biên

bản VPHC không phải lúc nào các chủ thể có thẩm quyền cũng ra quyết định xử phạt ngay được, trong những trường hợp nhất định, họ cần thời gian để chuẩn bị, xác minh, thu thập tài liệu… nhằm đưa ra được quyết định xử phạt VPHC phù hợp với tính chất, mức độ nguy

hiểm của hành vi vi phạm Điều khoản này còn quy định: “Trường hợp vụ việc đặc biệt

nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu

202 Khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012

Trang 8

thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng

trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn

gia hạn không được quá 30 ngày” Thế nhưng, Luật XLVPHC năm 2012 lại không quy định

rõ ràng “thủ trưởng trực tiếp” ở đây là thủ trưởng quản lý trực tiếp hay thủ trưởng có thẩm quyền xử phạt

Khắc phục thiếu sót này, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC đã bổ sung quy định giải thích “thủ trưởng trực tiếp” tại khoản 13 Điều 1 Theo đó, điều khoản này bổ sung

Điều 6e vào sau Điều 6đ của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP như sau: “Thủ trưởng trực tiếp

của người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc theo quy định tại các Điều 66, 77, 125 và

128 Luật XLVPHC là cấp trên trực tiếp trong quan hệ hành chính đối với người đang giải

quyết vụ việc” Mặc dù đã có quy định để “chữa cháy” như trên nhưng trong trường hợp Chủ

tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh xin gia hạn thì cũng rất khó xác định chủ thể có thẩm quyền gia hạn thời hạn xử phạt VPHC

Theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, TTCP là người có quyền quyết định điều động, đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch UBND cấp tỉnh203 Do đó, có thể

xem TTCP là “thủ trưởng trực tiếp” của Chủ tịch UBND cấp tỉnh vì TTCP chính là “cấp trên

trực tiếp trong quan hệ hành chính” của Chủ tịch UBND cấp tỉnh Tuy nhiên, quy định pháp

luật về thẩm quyền của TTCP204 lại không trao cho chủ thể này thẩm quyền gia hạn thời hạn

ra quyết định xử phạt VPHC Theo Luật XLVPHC năm 2012 thì TTCP cũng không có quyền

xử phạt VPHC Do đó, câu hỏi đặt ra là TTCP có quyền gia hạn thời hạn xử phạt VPHC của cấp dưới trực tiếp hay không Câu hỏi này đã không được trả lời rõ ràng trong Luật XLVPHC năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành dẫn đến nhiều khó khăn khi thực hiện trong thực tế205

Do đó, để khắc phục thiếu sót của Luật XLVPHC năm 2012 về chủ thể có thẩm quyền gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt VPHC, tác giả đề xuất cần bổ sung quy định cụ

thể TTCP là “thủ trưởng trực tiếp” của Chủ tịch UBND cấp tỉnh làm cơ sở cho việc xác định

chủ thể có thẩm quyền gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt VPHC Đây là vấn đề rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận và còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn nhằm áp dụng pháp luật thống nhất khi xử phạt VPHC206

2.5 Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong giải quyết khiếu nại

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức trước tác động của các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các chủ thể quản lý nhà nước, pháp

luật đã quy định về quyền khiếu nại Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Khiếu nại là việc

công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”207 Để bảo đảm tính khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời của việc giải quyết khiếu nại, Luật

203 Khoản 7 Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

204 Điều 98 Hiến pháp năm 2013 và Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 không quy định quyền gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt VPHC của TTCP

205 Cao Vũ Minh (2018), “Hạn chế của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhìn từ góc độ kỹ thuật lập pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 03 + 04

206 Cao Vũ Minh (2017), “Bất cập và hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6

207 Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011

Trang 9

Khiếu nại năm 2011 quy định chủ thể thực hiện khiếu nại có quyền khiếu nại hai lần Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã

ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu208

Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến

Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực209 Cụ thể hóa nội dung này, khoản 3 Điều 23 Luật Khiếu

nại năm 2011 quy định Bộ trưởng (ở đây bao gồm cả Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ) có

quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ, ngành đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết

Theo tác giả, quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai của Bộ trưởng đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh vừa không phù hợp với quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, vừa không bảo đảm tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn Về mặt pháp lý, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất210, UBND cấp tỉnh là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ211 Chủ tịch UBND cấp tỉnh là người đứng đầu UBND cấp tỉnh212 chịu trách nhiệm trước TTCP Theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 thì TTCP có quyền phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch UBND cấp tỉnh213 Trong khi đó, Bộ trưởng hoàn toàn không có những quyền hạn này Như vậy, xét

về thứ bậc hành chính thì TTCP mới là thủ trưởng cấp trên trực tiếp của Chủ tịch UBND cấp

tỉnh chứ không phải là Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực Do đó, quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai của Bộ trưởng đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính

của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là không phù hợp với nguyên tắc “thẩm quyền giải quyết khiếu

nại lần hai thuộc về thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu

nại lần đầu” được nêu tại khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 vì TTCP mới là “thủ trưởng cấp trên trực tiếp” của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, do đó thẩm quyền giải quyết khiếu

nại lần hai này phải được quy định cho TTCP

Tuy nhiên, đáng tiếc rằng Luật Khiếu nại năm 2011 đã không quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại cho TTCP Bất cập này đã phần nào hạn chế quyền khiếu nại của người khiếu nại và là nguyên nhân chính dẫn đến những những hạn chế về mặt pháp luật cũng như thực tiễn giải quyết khiếu nại liên quan đến phân cấp thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh Quy định

Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại như đã phân tích vừa không phù hợp với nguyên tắc thứ bậc hành chính, vừa không bảo đảm

hiệu quả giải quyết khiếu nại Bởi lẽ như đã phân tích, TTCP mới là “thủ trưởng cấp trên

208 Khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011

209 Khoản 3 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011

210 Điều 1 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

211 Điều 8 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

212 Điều 22 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015

213 Khoản 7 Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

Trang 10

trực tiếp” của Chủ tịch UBND cấp tỉnh Do đó, TTCP sẽ không bị vướng tâm lý e ngại và sẽ

quyết đoán hơn trong việc giải quyết khiếu nại lần hai Chính vì thế, các quyết định giải quyết khiếu nại của TTCP có hiệu lực thi hành cao, bảo đảm công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại214

Để khắc phục bất cập trên, Luật Khiếu nại năm 2011 cần bãi bỏ quy định Bộ trưởng giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại bởi Bộ trưởng không phải là cấp trên trực tiếp của Chủ tịch UBND cấp tỉnh Đồng thời, Luật Khiếu nại năm 2011 cần bổ sung thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai cho TTCP đối với các khiếu nại đã được Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Bộ trưởng giải quyết lần đầu mà còn khiếu nại Trên cơ sở sửa đổi Luật Khiếu nại năm 2011, Quốc hội cần tiến hành sửa đổi quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong các đạo luật chuyên ngành nhằm bảo đảm tính thống nhất về thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong các lĩnh vực tương ứng Quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại cho TTCP không chỉ tạo niềm tin cho người khiếu nại mà còn bảo đảm chất lượng, hiệu quả trong việc giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại phức tạp, kéo dài

3 Kết luận

Thiết chế TTCP được quy định trong Hiến pháp năm 2013 là một thiết chế “thực chất”

và “thực quyền” qua việc trao cho TTCP hai cương vị “người đứng đầu Chính phủ” và “người đứng đầu hệ thống hành chính” Cùng với việc củng cố và mở rộng các nhiệm vụ, quyền hạn cho TTCP, Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan đã trao cho TTCP những công cụ cần thiết để thực sự trở thành “tổng tư lệnh” của Chính phủ và của hệ thống hành chính, hướng đến việc xây dựng một Chính phủ mạnh với vai trò thực hiện quyền hành pháp cũng như bảo đảm tính thông suốt trong hoạt động của nền hành chính quốc gia Bên cạnh những điểm tích cực đã đạt được, thiết chế TTCP vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để TTCP có thể đảm trách một cách hiệu quả nhất vị trí của mình, trong đó việc làm trước tiên cần phải thực hiện là hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh về chủ thể này./

Tài liệu tham khảo

1 Trần Thị Thu Hà (2016), “Bàn về nhiệm vụ, quyền hạn của TTCP theo Luật Tổ

chức Chính phủ năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04

2 Cao Vũ Minh, Quyết định quản lý nhà nước của Chính phủ - Lý luận và thực tiễn,

Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, năm 2017

3 Cao Vũ Minh (2018), “Hạn chế của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

nhìn từ góc độ kỹ thuật lập pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 03 + 04

4 Cao Vũ Minh (2017), “Bất cập và hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về xử

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường”, Tạp chí Khoa học pháp lý,

số 6

5 Cao Vũ Minh (2018), “Hoàn thiện các quy định pháp luật về thẩm quyền giải

quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát

triển kinh tế, số 01

214 Cao Vũ Minh (2018), “Hoàn thiện các quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế, số 01

Ngày đăng: 04/02/2021, 20:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w