1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 12

Thi hành các quy định về bầu cử trong Hiến pháp 2013

10 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 390,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tái khẳng định và cụ thể hóa quy định của Điều 21 UDHR, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966) nêu rõ: Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào và không có[r]

Trang 1

THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẦU CỬ

TRONG HIẾN PHÁP 2013

PGS.TS Vũ Công Giao Khoa Luật, ĐHQGHN

1 Khái lược về bầu cử

Có nhiều định nghĩa về bầu cử, song từ góc độ khái quát, có thể hiểu bầu cử là một quy trình chính trị-pháp lý trong đó người dân tự do bỏ phiếu lựa chọn những người vào làm việc trong bộ máy nhà nước để thay mặt mình quản lý xã hội Đây là cách thức dân chủ nhất

để hình thành bộ máy nhà nước của một quốc gia, do đó, bầu cử mang ý nghĩa pháp lý và xã hội đặc biệt quan trọng.280

Từ góc độ chính trị học, bầu cử chính là một phương thức mà qua đó người dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình Thông qua bầu cử, công dân-cử tri đưa ra quyết định lựa chọn những cá nhân đại diện cho mình nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền (mà chủ yếu

là trong cơ quan lập pháp, ở một số nơi còn bao gồm người đứng đầu cơ quan hành pháp)

Như vậy, về bản chất, bầu cử chính là một hình thức ủy quyền, biểu thị sự tín nhiệm của công

dân - cử tri với bộ máy nhà nước

Chức năng của bầu cử là hợp pháp hóa mối quan hệ chính trị phức tạp giữa các chủ thể quyền lực (người dân) và đối tượng thực thi quyền lực (nhà nước), giữa chủ thể quản lý (nhà nước) và đối tượng chịu sự quản lý (người dân) Bầu cử chính là quá trình tìm kiếm sự thừa nhận của xã hội đối với đối tượng thực thi quyền lực, hợp pháp hóa sự ủy quyền của xã hội đối với các cơ quan quyền lực hoặc cá nhân cầm quyền thông qua việc cử tri đi bầu để chọn ra những người xứng đáng thay mặt mình quản lý nhà nước và xã hội Không chỉ vậy,

do tính định kỳ của nó và kèm theo quyền bãi miễn đại biểu dân cử, bầu cử còn là một công

cụ pháp lý quan trọng mà người dân có thể sử dụng để ràng buộc những người nắm quyền phải có trách nhiệm với hành động của họ nếu như muốn nắm quyền đến hết nhiệm kỳ và tiếp tục được nắm quyền trong nhiệm kỳ sau

Bầu cử gắn liền với dân chủ đại diện – một trong hai hình thức chủ yếu thực thi quyền làm chủ của người dân ở các quốc gia Thực tiễn trên thế giới đã cho thấy, dân chủ trực tiếp, tuy có tính đích thực nhưng rất khó áp dụng một cách phổ biến trong thời hiện đại Không chỉ vậy, bản thân dân chủ trực tiếp cũng có những bất cập, hạn chế và cũng có thể bị thao túng

Vì vậy, dân chủ đại diện vẫn là hình thức thực thi quyền làm chủ mang tính phổ biến của người dân ở các quốc gia trên thế giới trong thời điểm hiện nay

Nhắc đến bầu cử là nhắc đến quyền bầu cử, được thực hiện dựa những nguyên tắc cơ bản như: Tự do; Phổ thông đầu phiếu; Bình đẳng; Trực tiếp; Bỏ phiếu kín Các nguyên tắc bầu cử này là những điều kiện được pháp luật quốc gia quy định, ràng buộc nghĩa vụ thực hiện và tuân thủ của các chủ thể liên quan, nhằm bảo đảm tính hợp pháp và tính chính đáng của cuộc bầu cử

Quyền bầu cử là một thành tố rất quan trọng của dân chủ, vì nó bảo đảm quyền lực và

sự tham gia của người dân trong việc thiết lập bộ máy nhà nước và lựa chọn đường lối, chính sách phát triển của đất nước Đây là một quyền chính trị cơ bản theo luật nhân quyền quốc tế, được ghi nhận, bảo vệ trong Hiến pháp và luật của các quốc gia, được bảo đảm thực hiện bằng các cơ chế pháp lý khác nhau, bao gồm cơ chế tư pháp

280 Xem “Tư pháp bầu cử: Sổ tay IDEA quốc tế” Viện Chính sách công và Pháp luật Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015

Trang 2

Xét theo nghĩa rộng, quyền bầu cử bao gồm hai quyền chính là quyền bỏ phiếu (quyền chủ động), và quyền ứng cử (quyền thụ động) Khi nói đến bầu cử như một quyền của công dân tức là đồng thời nhấn mạnh đến các nghĩa vụ pháp lý của nhà nước và các chủ thể liên quan trong việc tôn trọng, bảo vệ và hỗ trợ công dân thực thi các quyền này

Quyền bầu cử được nhiều văn kiện quốc tế về quyền con ngưởi bảo vệ như một quyền chính trị căn bản Tuy nhiên, theo luật nhân quyền quốc tế, quyền bầu cử chỉ dành cho công dân; khác với hầu hết quyền con người khác có chủ thể quyền bao gồm cả công dân và người nước ngoài (ví dụ: quyền sống, tự do và an ninh cá nhân )

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR, 1948) khẳng định tầm quan trọng của bầu cử, đồng thời nêu một số tiêu chí của một nền dân chủ và một số yêu cầu đối với bầu

cử dân chủ Điều 21 UDHR quy định: Mọi người đều có quyền tham gia vào chính quyền của nước mình, một cách trực tiếp hay thông qua những đại diện được tự do lựa chọn… Ý chí của nhân dân là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền; ý chí đó được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ, chân thực, được tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và

bỏ phiếu kín hoặc bằng những thủ tục bỏ phiếu tự do tương tự” Quy định này tiếp thu tư

tưởng dân chủ tiến bộ về sự cần phải có chấp thuận, đồng thuận của người dân (“consent of

the governed”) đối với chính quyền đã được John Locke (1632 – 1704) và các tác giả của

Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ 1776 nêu ra trước đây

Tái khẳng định và cụ thể hóa quy định của Điều 21 UDHR, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966) nêu rõ: Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào và không có bất kỳ sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để: a) Tham gia điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện do họ tự do lựa chọn; b) Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín, nhằm đảm bảo cho cử tri được tự do bày tỏ ý nguyện của mình; c) Được tham gia các chức vụ công ở đất nước mình trên cơ sở bình đẳng (Điều 25)

Tuyên ngôn Phổ quát về Dân chủ do Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) thông qua năm 1997 cũng nhấn mạnh: “Yếu tố mấu chốt trong thực hành dân chủ là việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng theo những khoảng thời gian cách quãng nhất định để giúp cho người dân thể hiện ý chí của mình Các cuộc bầu cử này phải được tổ chức trên cơ sở phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín để tất cả các cử tri có thể lựa chọn các đại diện của họ trong điều kiện bình đẳng, công khai, minh bạch, giúp khuyến khích cạnh tranh về chính trị Nhằm mục đích đó, các quyền dân sự và chính trị là rất căn bản, và đặc biệt trong số đó là quyền bầu cử và ứng cử, các quyền tự do ngôn luận và hội họp, tiếp cận thông tin, quyền tổ chức đảng phái chính trị và thực hiện các hoạt động chính trị Việc tổ chức, các hoạt động, tài chính, các nguồn tài trợ, đạo đức của đảng phải được quy định phù hợp một cách chí công vô

tư nhằm đảm bảo sự liêm chính của các tiến trình dân chủ.””281

Ở các quốc gia, pháp luật bầu cử thường bao gồm nhiều nguồn khác nhau như hiến pháp, luật do Quốc hội ban hành, án lệ của tòa án về các vụ việc liên quan đến bầu cử Một

số quốc gia có đạo luật riêng về bầu cử, số khác gộp chung bầu cử với một số vấn đề khác trong một đạo luật (như ở Anh có Luật về đảng chính trị, bầu cử và trưng cầu ý dân năm 2000) Dù vậy, pháp luật các quốc gia điều chỉnh về vấn đề bầu cử thường có các nội dung sau đây: cơ quan quản lý bầu cử (Ủy ban, Hội đồng bầu cử), đăng ký cử tri, điều kiện, thủ tục ứng cử, tài trợ bầu cử, vận động tranh cử, truyền thông, bỏ phiếu, kiểm phiếu, giải quyết tranh chấp, v.v…282

281 Nguồn: http://archive.ipu.org/cnl-e/161-dem.htm Truy cập ngày 20/5/2018

282 Xem: Lã Khánh Tùng (2016), ABC về bầu cử, Nhà xuất bản Hồng Đức, trang 38

Trang 3

Quy định về bầu cử là nội dung không thể thiếu trong một bản Hiến pháp hiện đại Điều này liên quan đến việc thiết lập và kiểm soát quyền lực nhà nước Các nghiên cứu cho thấy đa số hiến pháp trên thế giới có quy định quyền bầu cử, ứng cử và các nguyên tắc bầu cử

- những quy định mang tính “truyền thống” của Hiến pháp Bên cạnh đó, ngày càng nhiều hiến pháp quy định về các cơ quan phụ trách và giám sát bầu cử Ngoài ra, hiến pháp của một

số quốc gia còn đề cập đến một số vấn đề khác của bầu cử, ví dụ như các đảng chính trị, gây quỹ vận động trong bầu cử, bỏ phiếu bắt buộc và cả về trình tự, thủ tục bầu cử

Có những khác biệt nhất định trong quy định về quyền bầu cử trong hiến pháp và pháp luật của các quốc gia, liên quan đến tư cách công dân, độ tuổi, thời gian cư trú, công

dân ở nước ngoài và quyền của một số nhóm đặc biệt (như quân nhân, tù nhân) Về tư cách

công dân, đa số các nước quy định chủ thể được hưởng quyền bầu cử chỉ giới hạn ở công dân Người nước ngoài, người nhập cư không có quyền bỏ phiếu hoặc ứng cử, cho dù họ có nghĩa vụ đóng thuế và tuân thủ pháp luật quốc gia Tại một số nước khác, quyền bầu cử được trao cho cả những người không phải là công dân, nhưng thường kèm theo một số điều kiện,

ví dụ như việc cư trú của người nước ngoài tại quốc gia sở tại đã đủ một thời hạn nhất định, hoặc họ phải là người thường trú Về độ tuổi, đa số quốc gia quy định độ tuổi tối thiểu được

bỏ phiếu là 18, song có những nước quy định độ tuổi cao hơn, ví dụ: Hàn Quốc (20 tuổi), Malaysia, Singapore (đều 21 tuổi) 283 Độ tuổi tối thiểu để ứng cử thường cao hơn độ tuổi tuổi tối thiểu được bỏ phiếu

Liên quan đến năng lực nhận thức, hầu hết các quốc gia đều không trao quyền bầu cử cho những người có khiếm khuyết về năng lực hành vi, hoặc có những giới hạn nhất định đối với nhóm này, tuy nhiên, có một số nước (Canada, Ireland, Ý, Thụy Điển) không đặt ra bất

kỳ giới hạn nào về năng lực hành vi đối với cử tri Về thời hạn cư trú, một số quốc gia đặt điều kiện chỉ những người đã cư trú tại khu vực bầu cử được một thời hạn nhất định mới có quyền bỏ phiếu, song có những nước không đặt ra điều kiện này, thậm chí công dân đang cư trú ở nước ngoài cũng có quyền bỏ phiếu theo pháp luật của nhiều nước

Với quan niệm quân đội cần giữ vị trí trung lập, đứng ngoài chính trị đảng phái, quân nhân tại nhiều quốc gia không có quyền bỏ phiếu Tuy nhiên, một số nước khác không giới hạn quyền bầu cử của quân nhân tại ngũ Tại nhiều quốc gia, tù nhân không có quyền bỏ phiếu Tuy nhiên, tại một số nước khác, ví dụ như Nam Phi, tù nhân vẫn có quyền bỏ phiếu, chỉ không có quyền ứng cử.284

2 Khái quát lịch sử chế định bầu cử ở Việt Nam

Bầu cử dân chủ tại Việt Nam lần đầu tiên được thực hiện năm 1946, ngay sau khi đất nước giành độc lập (1945) Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 03/9/1945, một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong những nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện ngay là “tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra Quốc hội Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 là cuộc bầu cử đầu tiên tại Việt Nam, diễn

ra chỉ sau hơn 4 tháng nước nhà được độc lập Kể từ đó đến nay, đã có 13 cuộc bầu cử Quốc Hội được tổ chức ở Việt Nam, cụ thể như sau285:

283 Andre Blais, Louis Massicotte, Antoine Yoshinaka, Deciding who has the right to vote: A Comparative analysis

of election laws, Atlanta, 1999

284 Alexander Tuzin, The Right to Vote: A Basic Human Rights in Need of Protection, Human Rights Advocates, USFCA

285 Không tính các cuộc bầu cử Quốc Hội được tổ chức bởi chính quyền Việt Nam Cộng hoà trong giai đoạn 1955-1975

Trang 4

Stt Nhiệm kỳ bầu cử Ngày bầu cử Số lượng đại biểu

được bầu

biểu khóa I của Miền Nam được lưu nhiệm)

biểu khóa I của Miền Nam được lưu nhiệm)

Qua các giai đoạn, bầu cử tại Việt Nam có những đặc trưng như sau:

Giai đoạn 1946-1954

Tổng tuyển cử năm 1946 là duy nhất, vì điều kiện kháng chiến không cho phép Quốc Hội họp nên không có bầu cử theo định kỳ tiếp theo

Hoàn cảnh lịch sử khiến cho Hiến pháp 1946 thực tế không được thi hành, tuy nhiên bản Hiến pháp này có các điều quan trọng về chế độ bầu cử, bãi miễn, phúc quyết Đây là những nguyên tắc và quy định nền tảng rất tiến bộ về bầu cử dân chủ, được kế thừa trong các hiến pháp sau này

Hiến pháp 1946 xác định mục đích bầu cử là xây dựng “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”, thực hiện “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo”, “Đảm bảo các quyền tự do dân chủ của nhân dân” và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ Vì thế, việc bầu cử được xác định là để toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức ra gánh vác công việc nước nhà và để đảm bảo tính hợp pháp, tính chính thống của bộ máy nhà nước

Cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử với việc thực hiện các nguyên tắc bầu cử tự do, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều thứ 17), đặc biệt là nguyên tắc bầu

cử tự do Trong thực tế, tất cả công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt về giai cấp, tôn giáo, sắc tộc, giàu nghèo, nam nữ, học vấn, số ứng cử viên cao hơn hai lần số đại biểu cần chọn, cử tri không phải chịu bất cứ một áp lực chính trị, kinh

tế, quân sự trong quá trình lựa chọn đại biểu, ứng cử viên tự do vận động tranh cử

Trang 5

Giai đoạn 1959-1980

Cơ sở pháp lý cho bầu cử giai đoạn này là Hiến pháp 1959 qui định các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu (Điều 5); Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959; và Pháp lệnh bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1961 Đặc điểm của giai đoạn này là các quy định về bầu cử đã được luật hóa (mang tính toàn diện, ổn định hơn), nguyên tắc bầu cử tự do bị xóa bỏ nhưng bổ sung thêm nguyên tắc bầu cử bình đẳng

Giai đoạn 1980-1992

Cơ sở pháp lý cho bầu cử giai đoạn này là Hiến pháp 1980 quy định các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều 7); Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1980; Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983 (sửa đổi năm 1989) Đặc điểm của giai đoạn này là lần đầu tiên có quy định hiệp thương bầu cử và quy định bãi miễn đại biểu trong các Luật bầu cử

Giai đoạn 1992-2013

Cơ sở pháp lý cho bầu cử giai đoạn này là Hiến pháp 1992 quy định các nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều 7); Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm

1992 (sửa đổi năm 1997 và 2001); Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1994 (sửa đổi 2003) Đặc điểm của giai đoạn này là việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với bầu cử

Hiến pháp 2013 kế thừa các quy định về bầu cử đã được ghi nhận trong Hiến pháp

1992, bao gồm các quy định về độ tuổi bầu cử, ứng cử, về quyền bầu cử, về các nguyên tắc bầu cử Điểm mới nổi bật trong chế định bầu cử của Hiến pháp năm 2013 chỉ là quy định về Hội đồng Bầu cử quốc gia (Điều 117) Cùng với Kiểm toán Nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia là hai thiết chế mới trong Hiến pháp năm 2013 Theo Điều 117 Hiến pháp 2013, Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp Hội đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia và số lượng thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia do luật định

Việc hiến định thiết chế Hội đồng bầu cử quốc gia trong Hiến pháp 2013 là để thể chế hoá quan điểm chỉ đạo về hoàn thiện chế định bầu cử của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm khoá XI Nó phản ánh ý tưởng của các nhà lập hiến về cải tổ chế độ bầu cử theo hướng chuyên nghiệp hoá, trong đó Hội đồng bầu cử quốc gia sẽ là cơ quan nòng cốt, có tính độc lập, chuyên nghiệp, có thể bảo đảm được tính hiệu quả và khách quan trong hoạt động bầu cử, khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực này ở nước ta hiện nay

3 Thực trạng và những vấn đề đặt ra với việc thi hành chế định bầu cử trong Hiến pháp 2013

Để thi hành chế định bầu cử trong Hiến pháp 2013, việc đầu tiên là cần thể chế, cụ thể hoá chế định đó trong luật bầu cử Công việc này đến nay đã được thực hiện khá nhanh chóng với việc Quốc hội thông qua Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2015 (thay thế cho hai đạo luật bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu HĐND các cấp trước đây)

Tuy nhiên, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2015 giữ nguyên phần lớn các nội dung của các luật bầu cử trước đó, chỉ sửa đổi, bổ sung một số quy định, cụ thể như sau:

Về ứng cử viên, Luật mới không kế thừa các quy định của hai luật cũ về tiêu chuẩn của

ứng cử viên, vì tiêu chuẩn của người ứng cử ĐBQH đã được quy định tại Luật tổ chức Quốc hội, còn tiêu chuẩn đại biểu HĐND đã được quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương Thêm vào đó, so với luật cũ, luật mới quy định hồ sơ ứng cử ĐBQH và đại biểu

Trang 6

HĐND có bổ sung thêm bản kê khai tài sản, nhằm minh bạch về tài sản, thu nhập của ứng cử viên; phục vụ cho công tác quản lý cán bộ, công chức; góp phần phòng ngừa và ngăn chặn hành vi tham nhũng và có cơ sở để giải thích với cử tri khi có yêu cầu286 Bên cạnh đó, quy định

về những trường hợp không được ứng cử đã có sửa đổi, bổ sung theo Luật xử lý vi phạm hành chính, bao gồm cả người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 37)

Về thành phần và cơ cấu đại biểu: Luật mới quy định rõ về thành phần và cơ cấu đại

biểu Cụ thể, đối với ĐBQH, UBTV Quốc hội dự kiến và phân bổ số lượng ĐBQH được bầu

ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất ba đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương; số lượng đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương Trong đó, điều đáng lưu ý là phải bảo đảm

có ít nhất 18% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH là người dân tộc thiểu số; có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH là phụ nữ Đối với đại biểu HĐND các cấp, phải bảo đảm có ít nhất 35% tổng

số người trong danh sách chính thức những người ứng cử là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương287 Trong hai đạo luật cũ về bầu cử không có quy định về những tỷ lệ cụ thể đã nêu Việc quy định theo luật mới sẽ có ý nghĩa thúc đẩy tỷ lệ ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp là phụ nữ

và người dân tộc thiểu số

Về việc vận động bầu cử của ứng cử viên: Luật mới bổ sung nguyên tắc người ứng cử

ĐBQH, ứng cử đại biểu HĐND ở đơn vị bầu cử nào thực hiện quyền vận động bầu cử ở đơn

vị bầu cử đó (Điều 63) và quy định về việc vận động bầu cử qua phương tiện thông tin đại chúng (Điều 65)

Về danh sách ứng cử viên: Luật mới bổ sung quy định số người trong danh sách ứng

cử ĐBQH ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn

vị bầu cử đó ít nhất là hai người; trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định (Điều 57)

Về cử tri: Luật mới mở rộng đối tượng cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người

đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 29)

Về hoạt động bầu cử: Luật mới chuyển một số quyền trước đây thuộc về UBTV Quốc

Hội sang cho Quốc Hội để phù hợp với chế định về Hội đồng Bầu cử quốc gia trong Điều 117 Hiến pháp 2013, cụ thể là các quyền quyết định ngày bầu cử toàn quốc đối với cuộc bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp; quyết định việc bầu cử bổ sung ĐBQH trong thời gian giữa nhiệm kỳ; quyết định thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia Ngày bầu cử quy định trong Luật mới là ngày chủ nhật và phải được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử (theo luật cũ là 105 ngày) Việc tăng thêm 10 ngày nhằm tạo điều kiện về thời gian để chuẩn

bị và tiến hành các trình tự bầu cử được thuận lợi hơn, nhất là bảo đảm các bước trong quy trình hiệp thương được tốt hơn288 Bên cạnh đó, Luật cũng quy định về thời gian bầu cử là:

“Việc bỏ phiếu bắt đầu từ 7 giờ đến 19 giờ cùng ngày Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử

có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước 5 giờ hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 21 giờ cùng ngày”.Quy định này nhằm bảo đảm cho

cử tri có thể sắp xếp thời gian tham gia bầu cử, tránh tình trạng bầu hộ, bầu thay289

286 Đinh Xuân Thảo – Nguyễn Thị Dung, Điểm mới của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 và Kết quả cuộc bầu cử ĐBQH khoá XIV và đại biểu HNĐN các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, tại

http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/NhaNuocVaPhapLuat/View_Detail.aspx?ItemID=269

287 Đinh Xuân Thảo – Nguyễn Thị Dung, tài liệu đã dẫn

288 Đinh Xuân Thảo – Nguyễn Thị Dung, tài liệu đã dẫn

289 Đinh Xuân Thảo – Nguyễn Thị Dung, tài liệu đã dẫn

Trang 7

Ngoài các quy định trên, Luật Bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND năm 2015 còn

có một mục riêng cụ thể hoá Điều 117 Hiến pháp 2013 về Hội đồng Bầu cử quốc gia (Mục I Chương III, các Điều từ 12-20) Mục này đã quy định về các vấn đề như: Cơ cấu, tổ chức, nguyên tắc hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn chung; nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia trong việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu HĐND Bên cạnh đó, Mục này cũng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia; về mối quan hệ công tác của Hội đồng bầu cử quốc gia với UBTV Quốc hội, UBTW MTTQ Việt Nam, Chính phủ và các tổ chức phụ trách bầu cử trong

cả nước trong quá trình tổ chức bầu cử Ngoài ra, Mục này còn có quy định về bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia; thời điểm kết thúc nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Những quy định sửa đổi, bổ sung nêu trên của Luật bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 đã khắc phục một số bất cập, hạn chế trong các luật bầu cử cũ, tạo cơ sở thực hiện những các quy định về bầu cử trong Hiến pháp 2013, bao gồm các quy định mới so với Hiến pháp 1992

Mặc dù vậy, vẫn còn khá nhiều vấn đề tồn tại về bầu cử ở nước ta vẫn chưa được giải quyết trong Luật bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 cũng như trong thực tế tổ chức các cuộc bầu cử

Thứ nhất, mặc dù quyền bầu cử đã được cả Hiến pháp và Luật bầu cử quy định, song

trong thực tế việc thực hiện mang nặng tính hình thức, đặc biệt là quyền ứng cử Bầu cử ở nước ta hiện nay về bản chất vẫn là “Đảng cử dân bầu”, hầu như chưa thực hiện quyền ứng

cử Cơ chế “Đảng cử dân bầu” có đặc trưng là “cử” được coi trọng hơn “bầu”, khiến cho nhân dân và cử tri thì đa số thờ ơ với bầu cử, xem việc đi bỏ phiếu là “để cho xong việc” chứ không phải là để chọn người tài đức ra quản lý đất nước

Cơ chế “Đảng cử dân bầu” còn dẫn tới hậu quả là làm cho mối liên hệ giữa đại biểu dân cử với cử tri và nhân dân rất mờ nhạt, đại biểu thiếu gắn bó và thiếu trách nhiệm với cử tri, với nhân dân, còn cử tri và nhân dân cũng thiếu niềm tin và thiếu khả năng kiểm tra, giám sát, gây áp lực với các đại biểu dân cử một cách hiệu quả Đây là xu hướng đi ngược với nguyên tắc nền tảng của dân chủ đại diện

Thứ hai, gắn với cơ chế “Đảng cử dân bầu”, ở nhiều nơi hiệp thương được áp dụng để

sàng lọc các đại biểu tự ứng cử và hợp thức hóa các đại biểu Đảng cử

Cách thức tổ chức hiệp thương như vậy cho thấy quy định về hiệp thương trong bầu

cử đã và đang bị hiểu và vận dụng sai lệch so với mục đích ban đầu của nó Quan trọng hơn,

tổ chức hiệp thương như vậy còn đi ngược với quy định về quyền ứng cử của công dân được bảo vệ trong Hiến pháp 2013 và Luật bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015

Thứ ba, việc pháp luật chưa thừa nhận tranh cử mà chỉ có vận động bầu cử dẫn tới các

ứng viên thường không có các chương trình hành động cụ thể, hoặc chỉ có chương trình hành động sơ sài, khiến cho cử tri rất khó nắm bắt thông tin về ứng cử viên Quan trọng hơn, việc không thực hiện chế độ tranh cử khiến cho các ứng viên không thể bộc lộ trình độ, khả năng

và cam kết của bản thân, dẫn tới cử tri khó đưa ra những lựa chọn xác đáng về những đại biểu

sẽ đại diện cho mình

Không vận động tranh cử còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc “bỏ lọt” một số đại biểu không xứng đáng hoặc không đủ điều kiện như đã xảy ra trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc Hội khoá 14 năm 2016 vừa qua Điều này là bởi vận động bầu cử không đủ không gian và thời gian để cử tri và nhân dân phát hiện những vấn đề mà các ứng cử viên giấu giếm

Trang 8

Thứ tư, quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử đã được ghi nhận trong Hiến pháp và luật

nhưng chưa được thực hiện trong thực tế vì chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể Điều này cũng là một nguyên nhân khiến cho mối quan hệ và trách nhiệm của đại biểu dân cử và

cử tri còn hạn chế Nó cũng cho thấy sự lỏng lẻo và hình thức của cơ chế ràng buộc trách nhiệm của các ứng cử viên với cử tri ở nước ta hiện nay

Thứ năm, luật bầu cử hiện chưa có quy định về việc bỏ phiếu từ nước ngoài Trong

thực tế chưa tổ chức bầu cử cho công dân ở nước ngoài, ngoại trừ cho một số rất ít cán bộ và người Việt Nam đang công tác, làm việc cạnh cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở một vài nước Điều này có thể coi là sự hạn chế quyền hiến định về bầu cử của hàng triệu cử tri là công dân Việt Nam đang học tập, lao động, công tác tại nước ngoài

Thứ sáu, quy định về các tổ chức phụ trách bầu cử chưa bảo đảm nguyên tắc độc lập,

khách quan, thể hiện ở việc theo Luật bầu cử hiện hành, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân không được làm thành viên Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị mình ứng cử, nhưng Luật lại không qui định người ứng cử không được làm thành viên Ủy ban bầu cử ở địa phương mình ứng cử, hoặc không được là thành viên của Hội đồng Bầu cử quốc gia Rộng hơn, Luật cũng không có quy định nào cấm hay hạn chế sự tham gia của những người ứng cử vào hoạt động tổ chức bầu cử của UBTV Quốc hội, Chính phủ, UBTW MTTQ Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan khác

Thứ bảy, việc thành lập Hội đồng Bầu cử quốc gia là một bước tiến quan trọng trong

việc cải cách chế độ bầu cử, song mức độ cải cách còn hạn chế Hội đồng Bẩu cử quốc gia thay thế Hội đồng bầu cử cấp trung ương ở các giai đoạn trước, có vị thế tương đối độc lập nhưng chưa phải là thiết chế độc lập hoàn toàn Nhiều công việc vẫn chưa được UBTV Quốc Hội chuyển giao cho Hội đồng Bẩu cử quốc gia (ví dụ như việc ấn định và công bố ngày bầu

cử đại biểu Quốc hội và ngày bầu cử đại biểu HĐND; dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội; giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm) Ngoại trừ nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức phụ trách bầu cử trong cả nước về công tác bầu cử, các nhiệm vụ khác của Hội đồng Bầu cử quốc gia đều thực hiện thông qua hoạt động của các

cơ quan khác, cụ thể: (i) giám sát, kiểm tra công tác bầu cử (phối hợp với UBTV Quốc Hội); (ii) hiệp thương, giới thiệu người ứng cử (phối hợp với UBTW MTTQ Việt Nam); (iii) bảo đảm kinh phí, an ninh, an toàn, các điều kiện cần thiết khác cho công tác bầu cử (phối hợp với Chính phủ) Xét tổng thể, Hội đồng Bầu cử quốc gia của nước ta về bản chất vẫn là lâm thời

và phụ thuộc, chưa thể hiện được tầm quan trọng, vai trò, vị trí của một cơ quan mà có tác động lớn đến mục tiêu tìm ra những người thực sự là đại diện của nhân dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân trong việc điều hành, làm chủ và định hướng tương lai của đất nước thông qua các cuộc bầu cử

Ngoài những vấn đề nêu trên, pháp luật về bầu cử ở nước ta còn có một số điểm chưa hợp lý khác, cụ thể như: Quy định về đơn vị bầu cử, về số lượng đại biểu được bầu trong một đơn vị bầu cử, việc phân bổ ứng cử viên ở trung ương về ứng cử ở các địa phương, về số dư, kết quả bầu cử, về việc lấy ý kiến cử tri và việc công khai tài sản của ứng cử viên…Những tồn tại này cũng cần được nghiên cứu để sửa đổi

Bên cạnh việc sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bầu cử, quá trình tổ chức bầu

cử tại Việt Nam cũng cần khắc phục những hạn chế đã được nhắc đến nhiều trong thời gian qua nhằm thi hành hiệu quả và đầy đủ các quy định về bầu cử trong Hiến pháp 2013, cụ thể:

• Hoạt động bầu cử cần được tổ chức dân chủ, công bằng, đúng pháp luật Yếu tố quan trọng nhất của công tác bầu cử là chất lượng đại biểu, do đó, công tác hiệp thương cần

có những sửa đổi phù hợp để nâng cao chất lượng đại biểu đầu vào, cụ thể là để đảm bảo lựa chọn được những đại biểu xứng đáng nhất, phát huy được tính tích cực, chủ

Trang 9

động của người dân Thành phần hội nghị hiệp thương cần có sự bình đẳng giữa đại diện một số tổ chức, cơ quan tham gia và các tổ chức, cơ quan không được tham gia Cần chấm dứt tình trạng xem hiệp thương như là quá trình “tiền bỏ phiếu”, “quyết định đến 70%, cử tri chỉ còn 30%” – điều mà trái với nguyên tắc bầu cử t quy định trong Hiến pháp;

• Cần cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến các ứng cử viên tại đơn

vị bầu cử của mình, để cử tri có khả năng quyết định bầu cho những người mà tin tưởng

và thấy xứng đáng là đại diện cho họ Việc vận động bầu cử và chương trình hành động của các ứng cử viên cần phải là căn cứ đề cử tri quyết định lựa chọn đại biểu

• Cần nâng cao tính cạnh tranh giữa các ứng cử viên trong danh sách chính thức, tăng

số dư để cử tri có sự lựa chọn tương thích và phù hợp Quy định về số dư người ứng

cử cần giống nhau để hạn chế tình trạng thiếu sự bình đẳng về khả năng trúng cử giữa các ứng cử viên, giữa ứng cử viên đại biểu ở các đơn vị bầu cử có số lượng đại biểu được bầu khác nhau;

• Cần sửa đổi các quy định liên quan đến các ứng viên tự ứng cử Các thủ tục đối với những công dân tự ứng cử phải thực sự công bằng và bình đẳng, có như vậy mới khắc phục được tình trạng có rất ít người tài đức tự ứng cử;

• Cần bổ sung quy định về điều kiện ứng cử của người Việt Nam ở nước ngoài, nỗ lực

tổ chức bầu cử cho những công dân Việt Nam ở nước ngoài Bên cạnh đó, cần có biện pháp đảm bảo quyền bầu cử và ứng cử của các nhóm dễ bị tổn thương, chẳng hạn, thiết kế loại phiếu riêng cho những người khiếm thị, người không biết chữ.290

Kết luận

Bầu cử là một trong những hoạt động thiết yếu của các nền dân chủ hiện đại, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển ổn định của các quốc gia Sẽ là một trở ngại lớn cho tiến trình dân chủ của một quốc gia nếu quá trình bầu cử không được thực hiện dựa trên các nguyên tắc tự do, phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, cũng như không bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình

Bầu cử là sản phẩm tuyệt vời nhất của nền dân chủ khi nó huy động được toàn bộ nguồn lực của xã hội để cùng nhau xây dựng một mô hình vận hành cho quốc gia.291 Tuy nhiên, bầu cử chỉ là cách thực hiện dân chủ đúng nghĩa khi nào mọi công dân được đóng góp bình đẳng vào tiến trình ấy, 292 vì vậy, việc bảo đảm thực thi đầy đủ và đúng đắn các quyền bầu cử và ứng cử của công dân có ý nghĩa hết sức quan trọng

Ỏ Việt Nam, bầu cử dân chủ đã được thực hiện từ năm 1946 Hệ thống pháp luật về bầu

cử đã được xây dựng và hoàn thiện liên tục từ đó đến nay với các quy định về bầu cử trong Hiến pháp và các luật, pháp lệnh và văn bản pháp quy cụ thể hoá các điều khoản hiến định về bầu cử Hiến pháp hiện hành năm 2013 của Việt Nam có một số quy định mới về bầu cử, trong

đó đặc biệt là về Hội đồng Bầu cử quốc gia Dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp 2013, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp năm 2015 đã cụ thể hoá chế độ bầu cử với một

số sửa đổi, bổ sung theo hướng hoàn thiện hơn so với hai luật bầu cử trước đây

290 Vũ Thị Loan, Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, trang 160 – 162; Trần Văn Tân, Một số bất cập của pháp luật về bầu cử cần phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện nay, 7/2011, trang tin Văn phòng đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Quảng Nam

291 Xem: Vì một cuộc bầu cử công bằng, dân chủ

http://www.nhandan.com.vn/hanoi/tin-moi-nhan/item/29079902-vi-mot-cuoc-bau-cu-cong-bang-dan-chu.html

292 Xem: Văn bản hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia http://quochoi.vn/hdbc/Pages/van-ban-chi-dao-cua-hdbcqg.aspx?ItemID=31122

Trang 10

Trong khi các quy định của Hiến pháp 2013 là phù hợp với các nguyên tắc cơ bản được cộng đồng quốc tế thừa nhận thì các quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp năm 2015 vẫn còn những hạn chế nhất định Nhiều hạn chế đã tồn tại từ lâu nhưng vẫn chưa được giải quyết

Những hạn chế, yếu kém của chế độ bầu cử không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng hoạt động của các cơ quan dân cử (Quốc hội và HĐND các cấp), mà còn ảnh hưởng đến những vấn đề rộng lớn, vĩ mô hơn, như một chuyên gia đã từng nhận xét: “Chế độ bầu

cử Việt Nam đôi lúc có tác dụng như những chiếc phanh hãm tốc cỗ xe “Nhà nước Việt Nam” trên con đường tiến tới “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”.293 Do đó, việc tiếp tục sửa đổi, cải cách pháp luật và cơ chế bầu cử hiện vẫn là một yêu cầu cấp thiết ở Việt Nam

Tài liệu tham khảo

1 Andre Blais, Louis Massicotte, Antoine Yoshinaka (1999), Deciding who has the right to

vote: A Comparative analysis of election laws, Atlanta

2 Alexander Tuzin, The Right to Vote: A Basic Human Rights in Need of Protection,

Human Rights Advocates, USFCA

3 Báo Nhân dân, Vì một cuộc bầu cử công bằng, dân chủ,

http://www.nhandan.com.vn/hanoi/tin-moi-nhan/item/29079902-vi-mot-cuoc-bau-cu-cong-bang-dan-chu.html

4 IDEA International, “Tư pháp bầu cử: Sổ tay IDEA quốc tế” Bản dịch của Viện Chính

sách công và Pháp luật Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015

5 Vũ Thị Loan, Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở

Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 2010;

6 Vũ Văn Nhiêm (2013), Giáo trình Bầu cử trong nhà nước pháp quyền, NXB TP.HCM

7 Trần Văn Tân (2011), Một số bất cập của pháp luật về bầu cử cần phải sửa đổi, bổ sung

để phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện nay, trang tin Văn phòng đoàn ĐBQH và HĐND

tỉnh Quảng Nam

8 Lã Khánh Tùng (2016), ABC về bầu cử, Nhà xuất bản Hồng Đức

9 Đinh Xuân Thảo – Nguyễn Thị Dung (2017), Điểm mới của Luật Bầu cử ĐBQH và đại

biểu HĐND năm 2015 và Kết quả cuộc bầu cử ĐBQH khoá XIV và đại biểu HNĐN các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, tại

http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/NhaNuocVaPhapLuat/View_Detail.aspx?ItemID=269

10 Văn bản hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia http://quochoi.vn/hdbc/Pages/van-ban-chi-dao-cua-hdbcqg.aspx?ItemID=31122

293 Xem Vũ Văn Nhiêm, Giáo trình Bầu cử trong nhà nước pháp quyền, NXB TP.HCM, 2013

Ngày đăng: 04/02/2021, 20:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w