1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Sự kiện và lễ hội, du lịch và truyền thống những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ trường hợp Tây Ban Nha và FIJI

18 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, những chù hiệu người Trung Quốc và Ân Độ, tuy không ác cảm gì với việc bảo tồn, thì coi trọng hơn số lượng du khách tăng thêm mà họ được khuyến khích tin rằng danh h[r]

Trang 1

s ụ KIỆN VÀ LẺ HỘI, DU LỊCH

VA TRUYỀN THỐNG NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM

TỪ TRƯỜNG HỢP TẨY BAN NHA VÀ FIJI

D avid Harrison*

Tôi xin chân thành cám ơn các nhà tổ chức hội thảo đã tạo điều kiện cho tôi có mặt tại dây Tôi rất vinh hạnh được thay mặt cho các đồng nghiệp ở Đại học South Paciíìc gửi lời chào trân trọng tới toàn thể các quí vị đại biểu

Bài báo cáo của tôi gồm bốn phần Đầu tiên, tôi sẽ trình bày về lễ hội và mối liên hệ của chúng đối với di sản và du lịch Tiếp đến, tôi sẽ nêu ví dụ về hai nỗ lực tương đối khác nhau nhàm tôn vinh và quáng bá

"di sản" Cuối cùng, tôi sẽ thử áp dụng một số bài học rút ra từ hai nghiên cứu đó vào đề xuất của Việt Nam lên UNESCO để hội Gióng của xã Phù Đông (Gióng), huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội dược công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Giới thiêu

Tôn giáo, du lịch và di sản có mối gắn kết rất lâu đời Việc hành hương đều rất phổ biến trong nhiều những tôn giáo lớn của thế giới (và việc hành hưcmg này cũng dễ dàng gắn liền với các hoạt động thế tục)1

Lề hội, dù mang tính chất tôn giáo hay tính chất khác thì đều đã có từ lâu Các Đại hội toàn Hy Lạp của người Hy Lạp cổ đại, đặc biệt các Thế vận hội Olympic, là những ví dụ ban đầu về “các sự kiện nồi bật”,

và chúng kéo dài đến mãi tận thời kỳ La Mã khi những trò giải trí

* GS TS Trườne Ọuán lý Khách sạn và Du lịch, Khoa Kinh tế - Thương mại, Đại học South Paciíìc.

1 Coleman, s and Elsner, J (1995) Pilgrimage: Past and Present in the World Religions (Hành hương: Trong quá khứ và ngày nay’ trong các tôn g iá o cùa thế giới)

London: British Museum Press, tr 196-220.

Trang 2

ngoạn mục ở những nơi như đấu trường La Mã được tạo ra cho cho đông đao người dân thành Rom e1 Vào thời Trung cồ ở khắp châu Âu,

"nhừng ngày của Thánh" (ví dụ đc tương nhớ các vị thánh Cơ đốc uiáo) đã từng được ký niệm tù' rất lâu ngày càng theo chiều hướng thế tục Trên thực tế Giáng sinh, hay lồ ký niệm ngày Chúa ra đời ban đầu dựa trên những lỗ hội từ thời tiền Thiên Chúa, đã bị trộn lẫn với

nhiều đặc điểm "truyền thống” khác, và yếu tố truyền thấm* ve bên

ngoài giờ đây thường bị nlũrna toan tính thương mại và cá nhừníi toan tính khác bao phù

Với sự phát triên cua ngành du lịch, tâm quan trọng cua các lỗ hội cũng được cúng cố và một số lượng lư liệu đáng kể về chúng đã được viết ra (Quinn 2009) Một số người quáng há hay ùng hộ lễ hội coi lỗ hội là phương tiện kỳ thuật dê cơ cấu lại các khu vực thành thị bị bo quên, mang lại "sự phát triền” và thúc đấy sự phục hồi của các khu vực đó; một số người khác chú ý đến những ý nghĩa phi kinh tế cua lễ hội ví

dụ nlur lỗ hội có thể là dấu ấn cho bán sắc cá nhàn hay một nhóm, hay là địa điểm nai các cá nhân riêng lò và những bèn liên quan bị cuốn vào một cuộc đấu tranh giành quyền lực và anh hưởng2

Một cách tổng quát hơn khi du lịch trở nên ngày càng quan trọng, nhiều hình thức hoạt động khác nhau, bao gồm cả những hoạt dộng liên quan đến lề hội được xếp dồng hạng thành những hoạt động có sức thu hút “Các sự kiện đặc biệt" bao gồm lề hội và nghi lề, “các sự kiện nôi bật" và thậm chí "các sự kiện có qui mô lớn” ngày nay được gộp chung vào phạm trù “du lịch sự kiện", tức là các sự kiện được lên kẻ hoạch theo cách tiếp cận hội nhập đối với phát triển và tiếp thị” H rn nữa phạm vi của những “hoạt động có sức thu hút” này, bao gồm các hoạt động kỷ niệm văn hóa và chính trị cua nhà nước, nghệ thuật và giải trí

1 Casson, L (1974) Travel in the Ancient World (Du lịch trong thế giới c ổ đại)

Baltimore: The John Hopkins University Press, tr 76-82 136-137.

2 Ọuinn, B (2000) Festivals, Events and Tourism (Lễ hội, sự kiện và du lịch trong T

Jamal và M Robinson, chu biên The Saạe Hcindbook ofTourism Studies (Sách tliani kháo về nghiên cứu du lịch cua Sage) London Sage, tr 485-496.

’ Getz, D (2008) Event Tourism: Definition, Evolution and Research (Du 1 ịch sự kiện: Định nnhTa, sự phát trien và nghiên cứu) Tourism Management (Quan lý du!ịch) 29:,

tr 405.

Trang 3

các sụ kiện thương mại và giáo dục thê thao và trò liêu khiên, và thậm chí cá các sự kiện cá nhàn (như dược nêu ở I lình 1) hây tiiừ lệ thuộc vào cái được gọi nghê tô chức sự kiện Ngành ntĩhề dó tạo ra cô nu việc

và thu nhập và là một nghề kinh doanh lớn

Tại sao lại xay ra lất ca nlùrng điều này? Bơi vì khách du lịch thích đến tham dự nhữnu sự kiện này và bởi vì người dân ờ các diêm đèn hay lì nhất một số nmrời tro nu dó muôn thúc dây du lịch vì nhũng lợi ích kinh tế mà các sự kiện có thê dem lại Và điều này chăng phai là

lý do khiến chúng ta đều có mặt ở dâ\ sao? ít nhất, một lý do đổ tỉm chồ đứng trong danh sách di san thế giới cua UNESCO - hay bất kỳ một danh sách di sản nào - là dê nâng cao vị thế của một nơi chon hoặc một hoạt động cụ thê "Di san" thè hiện danh hiệu cao và do đỏ, nỏ khiến diêm đó có thêm lợi thế Nhiều khách du lịch dồng nghĩa với nhiều thu

nhập hơn Và nếu việc thúc đây một le hội hoặc một sự kiện nào đó cũng có thê cũng dẫn đốn việc bao tồn nó, thì lại cản lĩ tốt hơn.

Hình 1

ức

THI Đ Á U T H Ê T H A O

- N ghiệp dư /chu yèn nghiệp

- Q uan sáưtham dự

GIẢI TRl

- Thẻ th a o /T rò chơ i giải tri

CÁC S Ự K I Ẹ N RIẼNG

- Đ ám cư ỡ i

- T iệc

- C ác sự kiện xã hội

(Niiuồn: Getz, 2008: 404)

I lệ thông loại hình các sự kiện dược tô ch

KINH DOANH VÀ

T H Ư Ơ N G MẠI

- Hội họp

- C ác trién lãm tiêu dùng

và th ư ơ n g mại

- Hội chợ

S ự KIẸN GIÁO

D Ụ C -K H O A HỌC

- Hội thảo

- S e m in ar

- C hữ a bệnh tại chỗ

S Ự K IẸ N VÃN HÓA

- Lễ hội

- Carnival

- Lễ tưởng nhớ

- Sự kiện tôn giáo

S ự KIẸN CHỈNH TRỊ VÀ

NHÀ NƯỚC

- Gặp gỡ thượng đỉnh

- Các sự kiện của hoàng gia

- Sự kiện chính trị

- Viếng thăm của nguyên thủ

S ự KIẸN NGHẸ T H U Ạ T -G IÀ I

TRÍ

- Hòa nhạc

- Lễ trao giải thư ờ ng

Trang 4

Tuy vậy, có một điều cần phái thận trọng Trong khi tất cả những điều này có thể đúng, vẫn còn có vô vàn khó khăn bất ngờ trên con đường đạt được danh hiệu di sản và những bài học kinh nghiệm từ nơi khác Công việc mà chúng ta đang thực hiện không phải là vấn đề kỹ thuật đơn thuần Như tôi đã trình bày: Những tranh luận và bất đồng ý

kiến về “di sán” diễn ra trong một kịch bàn không ngừng biến đổi, nơi

mà “các thành tựu đạt được’' của một tầng lớp, một tộc người, một quốc gia - dân tộc, một thời đại luôn luôn phải được thỏa thuận và đánh giá lại bởi một tầng lớp/nhóm/quốc gia/và thời đại kế tiếp Lịch

sử sẽ được điều chỉnh, trình bày và trình bày lại đê phù hợp với nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại Người man rợ luôn không được coi trọng, nhưng những người man rợ của ngày hôm nay lại là người có ảnh hưởng tới ngày m ai1

Lễ hội Alarde ở Fuentarribia (Tây Ban Nha)

Fuentarribia (Basque, Hondarribia) là một thị trấn của tộc người Baxco nổi tiếng ở miền Bẳc Tây Ban Nha, giáp biên giới Pháp Giống như thành phố Irun lân cận, tại đây, hàng năm đều diễn ra một lễ hội với hai mươi cuộc diễu hành khác nhau đại diện cho những vùng lân cận và các nhóm nghề nghiệp, kỷ niệm chiến thắng lẫy lừng đánh bại người Pháp vào năm 16382

1 Haưison, D (2005a) Contested narratives in the Domain o f World Heritage (Những

câu chuyện bị tranh cẵi trong lĩnh vực di sàn thế giới) trong D Harrison và M Hitchcock, chú biên, The Poliiìcs o f w orld Herituge: Negotiating Tourism and Conservation (Chính trị của di sản thế giới: Thóa thuận giữa du lịch và bào ton)

Clevedon, Channel View, tr 9

2 Greenvvood, D (1977) Culture by the Pound: An Anthropological Perspective on

Tourism as Cultural Commoditization (Văn hóa như thế cùng: Quan điểm nhân chùng học về du lịch như một sự hàng hóa hóa văn hóa) trong V Smith, chù biên H osts and Guests: The Anthropoiogy ofTourism (Chú và khách: Nhân học du lịch). Philađelpliia, University o f Pennsylvania Press, tr 133.

- Bray, z (2002) Boundaries and Identities in Bidasoa-Txingudi, on the Franco-Spanish Frontier (Ranh giới và bản sắc ở Bidasoa-Txingudi, trên biên giới Pháp - Tây Ban Nha) Luận án tiến sỹ nộp tại Viện Đại học châu Âu (European University Institute): Florence, tr 115-132.

- Bullen, M (2003) Basque Gender Studies (Nghiên cứu về giới ờ Basque). Reno: Trung tâm Nghiên cứu về Basque, Đại học Nevada, tr 252-270.

- Bullen, M and Eoido, J (2004) Tristes espectáculos: las muịeres y los A lardes de Iruny Hondarribia. Bilbao: Universidad del Pais Vasco.

Trang 5

Lễ hội Alarde của Fuentarribia là đối tượng của những nghiên

cứu nối tiếng và sớm nhất về việc thương mại hóa trong du lịch Theo

mô tả của Greenvvood1, cùng với việc khuyến khích du lịch từ phía các quan chức phụ trách du lịch, chính quyền thành phố đã ban hành sắc lệnh rằng lễ hội Alarde cần dược mờ rộng ra cho khách du lịch và nó phải được trình diễn hai lần một ngày Kết quả, như Greenvvood nói là những người dân Fuentarribia không muốn tham gia vào lễ hội đó nữa, đến mức người ta thậm chí xem xét việc trả tiền để họ tham gia Theo Greenvvood, "tác động do hành động của hội đồng thật là gây choáng váng Vì những động cơ tiền bạc dơn thuần, lễ hội Alarde đã được biến

thành cuộc trình diễn mở rộng cho người ngoài - những người mà vì tầm quan trọng kinh tế của họ đối với thị trấn, họ có quyền được xem

lễ hội

Trong vòng hai năm, một nghi lễ cuốn hút và sinh động đã trớ thành một trách nhiệm bị người ta lảng tránh Nghi lễ biến thành buổi biểu diễn vì tiền và ý nghĩa của nó hoàn toàn mất đi"2 (ông nhấn mạnh)

Sau đó, ông bo sung: Người dân Puentarribia chỉ thế hiện sự bối rối và lo lắng của mình về lễ hội Alarde; họ biết rằng có điều gì đó không ốn nhưng lại không biết chính xác là điều gì không ổn và cần làm

gi đối với điều đó Đổi với họ, lễ hội Alarde đang chết dần và họ không

có khả năng đảo ngược quá trinh Chính quyền thành phố chỉ mất có vài phút đê biên văn hóa của họ thành một buôi trình diễn công cộng; nhưng cùng với việc làm đó, một nghi lễ 350 tuổi đã bị mất đi3

I lơn thế nữa, lễ hội Alarde đã trở thành “một sự kiện chính trị quan trọng” gắn liền với những dụng độ với cảnh sát4

Bài viết của Greenwood ra đời năm 1977, trong vòng hơn một thập kỷ, đã xác lập một hướng tiếp cận học thuật chính thống đối với ngành du lịch, theo đó, ngành du lịch (bị cho là) đã giải thiêng văn hóa, biến văn hóa thành một cuộc trưng bày, và hoàn toàn đi ngược lại với ý nguyện của người dân địa phương

1 Greenvvood, D (1977), bđd, tr 134-136.

: Greemvood, D (1977), bđd, tr 135.

’ Greenvvood, D (1977), bđd tr 137.

4 Greenvvood, D (1977), bđd, tr 137.

Trang 6

Mặc dù vậy, đàv không phải là phàn kết cua câu chuyén Câu chuyện có hai doạn kết; một đoạn kết trong số đó được ít biết iến và đoạn kết còn lại, theo tôi được biết, dã gần như hoàn toàn bị giới học thuật lờ đi Doạn kết thứ nhất liên quan đến bản thân Greenvvood Trong quá trình chuẩn bị cho tập thứ 2 những bài viết của Smith ông trờ về Fuentarribia và chinh sửa lại phân tích cùa mình vê lễ hội Alard; Thừa nhận ràng bài viết ra đời năm 1977 của mình được trình bày “gióng như

là một sự biểu lộ cảm xúc pha trộn giữa giận giữ và lo lắng"1, ôig ngạc nhiên nhận thấy ràng lề hội Alarde vẫn tiếp tục được diễn ra, dù chỉ như một buối trình diễn cho công chúng Thêm vào đó, nó thấm đầm "ý nghĩa chính trị đương thời, là một phần cua cuộc tranh giành quyên lực chính trị khu vực ở Tây Ban Nha Tóm lại, ý nghĩa của lễ hội Alarde

đã bị thay đổi và (theo như một nhà bình luận sau này) các hcạt động

kỷ niệm ngày càng thế hiện cuộc tranh luận xung quanh vấn đề bản sắc người Baxco3

Điếm lý thú là, mặc dù ở đâu đó có những ý kiến phê phin quan

điểm ban đầu của ông về lễ hội Alarde , Grcenvvood chưa bao ịiờ phân

tích kỹ hơn về lễ hội Alarde cùa Puentarribia (hoặc phan ứng tnh cám

ban đầu và rất thực cùa mình) Người ta chỉ có thế tự hỏi là ôngđã phản

ứng như thế nào đối với những thay dôi cơ bản sau này về cách mà lễ

hội được diễn ra Nhũng diều này, một lần nữa cho thấy mộ1 sự thật hoàn toàn khác về toàn bộ bức tranh

Điều mà Greemvood không làm rõ kê cả ơ bài viêt vào nim 1977

và bài viết có chỉnh sửa vào năm 1989, là trong khi cá nam giá và phụ

nữ đều tham gia vào lễ hội Alarde thì những người trong đám dều hành

lại chu yếu là nam giới, trong vai những người lính, và chỉ có rú ít phụ

1 Greenvvood, D (1989) Culture by the Pound: An Anthropological Persiective on

Tourism as Cultural CommoditÌ 7.ation (Văn hóa như thế cùng: Quan điểmnhân học

về du lịch như một sự hàng hóa hóa văn hóa) trong V Smith, chủ biên, ỉo sts and Guests: The Anthropoỉogy o/Tourism (Chu và khách: Nhãn học du lịch). Phladelphia, Universitv o f Pennsylvania Press, tr 181.

J Greemvood, D (1989), bđd, tr 181.

Young, troníí Soííeld T (2003) Empcnverment for Sustainable Tovrism Development (Trau quyền đẽ củ một sự phát triên du lịch bén vững. Oxĩord: Elsevievv Science Ltd tr 19.

4 Sotìcld, T (2003) sđd tr 18-19.

Trang 7

nữ đi cùng họ trong vai hầu gái Chính là tnrờng họp này, rõ ràng đã được thánh hóa theo thời gian, đến năm 1993 bị một bộ phận người Baxco ủng hộ thuyết nam nữ bình quyền ờ Fuentarribia chống đối lại, khởi đầu cho một cuộc tranh cãi phức tạp và kéo dài1 Không còn thỏa mãn với vai trò hầu gái, những người phụ nữ muốn tham gia với tư cách

là thành viên của quân đội Và khi đó, điều rắc rối đâ xảy ra Họ bị buộc tội là đã đi quá xa truyền thống, xuyên tạc lịch sử và thiếu tôn trọng tổ tiên2, và người ta đã phải mở một phiên tòa mở rộng với nhiều tranh cãi Cuối cùng, vào năm 1997, những người phụ nữ đã giành được quyền được diễu binh với nam giới Tuy nhiên, mãi đến tận năm 2003 mới có cuộc diễu binh nam nữ đầu tiên được bắt đầu vào buổi sáng sớm, sớm hon thời gian “hành lễ truyền thống của lễ hội Alarde, và diễu hành dưới sự hảo vệ của cảnh sát Cuộc diễu hành tiếp tục gặp phải sự phản đối công khai rộng rãi, gồm cả bị lăng mạ và người ta còn mở ô đen để ngăn không cho khách tham dự nhìn thấy những người phụ nữ khi họ diễu hành qua Trên thực tế, vào cuối năm 2009, những người phụ nữ tham gia diễu hành và người ủng hộ họ đã bị tấn công và cô lập khi họ

cố gắng tham gia các hoạt động kỷ niệm (Fuchs, 2009)

Ngoài việc phát triển thái độ hoài nghi dối với những lời công bố chính thức có tính nhân học, chúng ta có thể học hỏi được gì từ nghiên círu này? Đó là

] Những gì chúng ta hiểu về lễ hội và sự kiện được xác định một cách chủ quan và được đóng khung trong thời gian và không gian;

2 Những ỷ nghĩa mà người tham gia ghi nhận có vẻ là khác biệt

qua thời gian và không gian;

3 Lễ hội có thể là nơi xuất phát của những tranh cãi thù địch không ngừng và là nơi đấu tranh quyền lực giữa những bên liên quan, điều mà ít nhất cũng phản ánh một phần điều kiện và tình hình chính trị bên ngoài

4 Những gì mà người cầm quyền muốn có thể không được phản

ánh trong hành động của những bên liên quan

1 Bray, z (2002), tlđd, tr 115-132.

- Bulllen và Egido, 2004.

2 Bullen, M (2003), sđd, tr 252-270.

Trang 8

“Di sản" Levuka, Fiji

Trong khi lề hội Alarde ở Fuentarribia là một ví dụ về một di sản phi vật thể “truyền thống” cho đến tận bây giờ vẫn đang tiếp tục thay đổi và gây tranh cãi, thành phố nhỏ Luvuka Fiji (rõ ràng) là một ví dụ

về di sản phi vật thể dưới hình thức địa danh

Như đã được mô tả chi tiết trong các bài viết khác (Harrison, 2004

và 2005b), Levuka nằm trên hòn đảo nhỏ Ovalau ở Fiji Ban đầu ơ đây chỉ có những người bị “sóng đánh dạt vào bờ biển” (beachcombers) từ châu Âu, chủ yếu là New South Wales, New Zealand và Bắc Mỹ Năm

1874, khi người Anh chiếm Levuka làm thuộc địa, họ biến nó thành thủ phủ đâu tiên của mình và trong vòng một vài năm sau đó nó dã phát triên rất thịnh vượng, lấy làm kiêu hãnh vì có tờ báo Fiji đầu tiên, nhiều khách sạn, nhà nghỉ Masonic, trường học, nhà thờ, một ngân hàng và rất nhiều cửa hiệu Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực nhằm cải tạo cơ sở hạ tầng, ở đây không có điều kiện để mở mang và kết quả là năm 1882, thủ phú bị chuyển tới Suva ở Viti Levu Từ đó, ngoại trừ việc mở thêm một nhà máy chế biến cá, Levuka không có thay đổi đáng chú ý nào Thành phô không có lực lượng lao động lành nghề, không có nền tảng kinh tế vũng vàng, thuế thu nhập không đủ để duy trì cơ sở hạ tầng hiện có, còn để tài trợ cho công việc bảo tồn và trùng tu thì phải cần hơn thế nhiều Vì the, nơi đây là một di tích mê hoặc lòng người của một thời kỳ đã qua, trong khi người dân bản xứ kiên định tìm kiếm nguồn tài trợ từ các nơi khác

Mãi đến những năm 1970, một vài cư dân bản xứ (chủ yếu là những người có nguồn gốc châu Âu) và ngành công nghiệp du lịch, đáng chú ý là các nhà tư vấn du lịch và Hiệp hội Du dịch châu Á Thái Bình Dương (PATA) mới bắt đầu nghiêm túc xem xét thành phố này dưới góc độ của một điểm đến du lịch hấp dẫn Người ta cảm thấy rằng, với tư cách là “chiếc nôi của Fiji hiện đại”, Levuka có thể hấp dẫn được

du khách quốc tế và chỉ ra cho người dân thấy thành phố được đánh giá cao Thành phố có khả năng để tập trung sự chú ý của tất cả các nhóm cộng đồng khác nhau trên khu vực đảo Fiji vào một bản sắc dân tộc thống nhất, bàng cách đó nhấn mạnh đến di sản chung của họ và thúc đẩy ý thức và tinh thần dân tộc1

1 Paciííc Area Travel Association (PATA) (1985) Levuka and Ovalau: Tourism Development through Communiív Restoration (Levuka và Ovalau: Phủi triẽn du lịch thông qua việc phục hồi cộng đòng). Sydney: PATA, tr 136.

Trang 9

Năm 1987, chính phủ đưa thị trấn Luveka vào danh sách Thành phố di sản quốc gia (National Heritage Town) và đồng thời đặt tên nó là Thành phố lịch sử (Historic Town) đầu tiên của F iji\ Trong những năm tiếp theo, một loạt các cơ quan chính quyền và các nhóm cộng đồng hoạt động đơn lẻ ở Levuka tiếp tục thúc đẩy việc bảo tồn thành phố, bỏ qua lời cảnh báo từ các nhà tư vấn bên ngoài, gây áp lực với chính quvền Fiji nhàm tìm cách đưa Levuka vào danh sách Địa danh Di sản Thế giới của UNESCO2 Để thực hiện mục đích này, chính quyền địa phương nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ các viên chức UNESCO, nhừng người nóng lòng hướng đến các vùng kém phát triển, đặc biệt là các nước đảo Thái Bình Dương, nơi có rất ít đại diện trong Danh sách

Di sản Thế giới3 Kết quả của tất cả những nồ lực đó là vào năm 1999, Levuka và Ovalau (cả thành phố và đảo), cùng với ba địa danh khác (Sigatoka Sand Dunes, Sovi Basin và Khu bảo tồn Kỳ giông có mào Yaduataba) được xếp vào Danh sách đề cử của UNESCO

Từ khi những địa danh dó được đưa vào Danh sách đề cử, có rất ít bước tiến triển trong việc xây dựng các điều kiện hành chính và pháp lý

đế đạt được danh hiệu Di sản Thế giới, hoặc để cho thấy nhận thức của người dân địa phương về những tiêu chuẩn đánh giá đó được nâng lên nhiều Điều này một phần được giải thích bởi thực tế rằng từ khi được công nhận vào danh sách đề cử, Fiji trải qua những bất ổn chính trị nghiêm trọng với đảo chính vào năm 2000 và 2006 Và nắm quyền tại Fiji từ tháng 4-2009 đến nay là một chính phủ quân đội trái hiến pháp không qua bầu cử Theo tuyên bo của chính phủ hiện thời, các cuộc tuyển cử sẽ không được tiến hành cho tới năm 2014, do vậy, không có

vẻ là tình trạng chậm trễ này sẽ nhanh chóng được cải thiện

Tuy nhiên, cũng còn những yếu tố khác đưa lại những bài học bổ ích đối với bất cứ ai đang nghĩ đến chuyện nhận được danh hiệu di sản thế giới:

1 Fisher, D (2000) The Socio-economic Consequences o f Tourism in Levuka, Fiji

(Những hệ quả kinh tế - xã hội của du lịch tại Levuka, Fiji) Luận án Tiến sỹ, Đại học Lincoln: Christchurch.

2 Harrison, D (2005b) Levuka, Fiji: Contested Heritage? [Levuka, Fiji: Di sản bị

tranh cãi] trong D Harrison và M Hitchcock, chù biên, The Politics o f w orld Herilage: Negotiating Tourism and Conservation (Chính trị của di sàn thế giới: Thoa thuận giữa du lịch và báo ton). Clevedon, Channel View, tr 74.

3 Harrison, D (2005b), bđd, tr 76-78.

Trang 10

1 Fiji không phải là một xã hội thuần nhất Ngược lại, đó là n ọt

xã hội đa tộc, trong dỏ các nhóm sắc tộc khác nhau “trộn lẫn nhưng không kết hợp” 1

2 Levuka thì rõ ràng và dễ nhận thấy là một thành phố châu Ấu,

cả về kiến trúc và thành phần dân tộc Như Fisher nhận xét, người Fiji bản địa và cư dân gốc châu Âu có những nhận thức về “di sản” khác nhau rõ rệt: đổi với người Fiji bản xứ “các công trình kiến trúc và đồ tạo tác có ít giá trị hơn so với đất đai” Trong khi đó, đổi với người châu Âu,

“cả người đang sống tại Fiji và cả du khách, các công trình kiến trúc

là điều căn bản, không có nó, ý nghĩa trở nên khó hiểu, mơ hồ”2

3 Quan điểm của người dân thành phố Levuka và khả nãng bảo tồn nó có xu hướng đi theo nhóm sắc tộc Đối với người Fiji bản xứ,

thành phố đó phi Fiji, đôi khi còn bị coi là “một xã hội con lai” Những

người gốc Âu và mang một phần gốc châu Âu (“những người khác”) có

xu hướng đề cao công việc bào tồn thành phố, với điều kiện họ nhận

được sự hồ trợ về tài chính đú để đáp ứng các chi phí tăng thêm mà việc bảo tồn đòi hỏi Trong khi đó, những chù hiệu người Trung Quốc và Ân

Độ, tuy không ác cảm gì với việc bảo tồn, thì coi trọng hơn số lượng du khách tăng thêm mà họ được khuyến khích tin rằng danh hiệu di sản thế giới có thê dưa lại

4 về phía chính phủ Fiji và UNESCO, đưa cả thành phố tự trị Levuka và đảo Ovalau thành một đơn vị trong Danh sách đề cử là né

tránh một cách có chủ đích vấn đề di sản của ai sẽ được bảo tồn.

Cho đến thời điểm này, tôi đã tập trung vào những vấn đề xuất hiện từ hai trường hợp điển cứu khác biệt, một lễ hội ở Tây Ban Nha và Fiji và sơ bộ vạch ra điều mà tôi tin là cơ sở của hội Gióng Phù Đổng Trước hết, từ những thảo luận về Alarđe ở Fuentarribia, chúng ta nhận thấy rằng ý nghĩa cá nhân và tập thể của lễ hội là hết sức mang tính chủ quan, được đóng khung (và ihay đổi theo) thời gian và không gian, và rằng lễ hội có thể là địa điểm cho những tranh cãi thù địch liên tuc và cạnh tranh quyền lực giữa các bên liên quan, phản ánh những điều kiện

1 Harrison, D (2005b), bđd, tr 66.

2 Fisher, D (2000), tlđd, tr 135.

Ngày đăng: 04/02/2021, 20:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w