1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Sự chuyển dịch theo xu hướng phân quyền trong quản trị đại học và thực trạng tự chủ của các cơ sở GDĐH Việt Nam hiện nay

16 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 484,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lĩnh vực tổ chức đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của quản trị đại học, bởi tổ chức vừa là đối tượng vừa là thể chế, công cụ, phương tiện và chủ thể của quản trị đại học. Khi[r]

Trang 1

CỦa CáC CƠ SỞ gdđh viỆt nam hiỆn nay

GS.TS Nguyễn Quý Thanh ThS-NCS Vũ Thị Mai Anh 1

Tóm tắt: Báo cáo này mô tả tóm tắt sự chuyển đổi trong quản trị nhà nước ảnh

hưởng tới sự chuyển đổi trong quản trị đại học ở Việt Nam thể hiện ở phân quyền

từ quản trị tập trung sang giao quyền tự chủ cho các trường đại học và thực trạng quyền tự chủ của năm nhóm trường đại học hiện nay Dựa trên dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn tại các trường đại học được lựa chọn thuộc năm nhóm trường và các phân tích khung pháp lý, chính sách về quản trị đại học, sự phân quyền cho các trường đại học thể hiện ở quyền tự chủ của các trường đại học trong các lĩnh vực quản trị, tổ chức, nhân sự, học thuật (tập trung vào đào tạo)

và tài chính của 5 nhóm cơ sở giáo dục đại học tiêu biểu được mô hình hóa và trình bày trong Báo cáo Những phát hiện của nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ

sự chuyển đổi trong quản trị đại học ở Việt Nam, từ tập trung hóa trong giai đoạn trước, tới sự phân quyền cho các trường đại học được thực hiện từng bước trong hai thập kỷ qua.

Từ khóa: Quản trị đại học, Phân quyền, Tự chủ đại học.

1 Đặt vấn đề

Xu thế phi tập trung hóa (de-centralization) trong quản trị là một chiến lược quản trị của chính phủ trong các lĩnh vực khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới

Đó là sự chuyển đổi trách nhiệm và quyền hạn của chính phủ sang các cấp thấp hơn Xu hướng này được ghi nhận ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, và ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực, trong đó

có giáo dục đại học Cải cách quản trị đại học ở Việt Nam cũng được diễn ra theo

xu hướng phi tập trung hóa, việc phân cấp, chuyển giao quyền quyết định, trách nhiệm và nhiệm vụ từ cấp cao hơn xuống cấp tổ chức, đã được áp dụng như một chính sách quản trị trong Giáo dục đại học (GDĐH) tại Việt Nam Theo đó, Nhà

1 Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN

Trang 2

nước, các cơ quan quản lý nhà nước giảm bớt quyền lực đối với các cơ sở GDĐH nhưng tăng cường giám sát, quản lý, đồng thời tập trung vào việc hoạch định chính sách, xây dựng các quy chuẩn Các trường đại học được trao nhiều quyền tự chủ trong các lĩnh vực hoạt động và thực hiện trách nhiệm giải trình và nghĩa vụ đối với

xã hội Tuy nhiên, sự chuyển dịch này không đồng đều trong các nhóm trường đại học khác nhau

Báo cáo này tóm tắt quá trình cải cách quản trị đại học Việt Nam gắn với sự chuyển đổi trong quyền lực của Nhà nước thông qua các cơ quan quản lý Nhà nước tới các cơ sở giáo dục đại học Sự chuyển đổi được khảo sát dựa vào sự biểu hiện trong mối quan hệ giữa cơ sở GDĐH với cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan chủ quản trong việc ra các quyết định của nhà trường, từ mức trường được toàn quyền quyết định, trường phải báo cáo hoặc xin phép trước khi quyết định, trường quyết định sau đó báo cáo, trường được quyết định nhưng phải tuân theo các khung pháp

lý của nhà nước và việc quyết định là do cơ quan quản lý nhà nước hoặc Nhà nước quyết định Kết quả của khảo sát được thể hiện trong các mô hình quản trị đại học ở các lĩnh vực quản trị, tổ chức, nhân sự, học thuật (tập trung vào đào tạo) và tài chính của 5 nhóm cơ sở giáo dục đại học tiêu biểu được mô hình hóa qua khảo sát thực tế được trình bày trong Báo cáo

2 Khái niệm về phân quyền

Phân quyền hay phi tập trung hóa (decentralization) thường được sử dụng để chỉ sự chuyển đổi quyền và trách nhiệm từ chính phủ xuống các cơ quan/tổ chức cấp dưới Theo Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) phân quyền đề cập đến tái cấu trúc hoặc tổ chức lại chính quyền để có hệ thống đồng trách nhiệm giữa các tổ chức quản trị ở cấp trung ương, khu vực và địa phương theo nguyên tắc của công ty con (UNDP 1999, p 2)

Theo Hanson (1998) phân quyền là sự chuyển giao quyền quyết định, trách nhiệm và nhiệm vụ từ cấp cao hơn đến cấp tổ chức thấp hơn hoặc bên trong của một tổ chức Hanson đề cập rõ hơn sự chuyển giao quyền lực gắn liền với sự phân phối lại chức năng của các tổ chức ở cấp dưới Tuy nhiên, Bray & Mukundan (2004)

và Bray (2007) đề cập đến phân quyền nhưng tập trung và chức năng, đó là sự thay đổi trong phân phối quyền lực giữa một số cơ quan ngang hàng Loại thứ hai trong phân quyền là sự chuyển giao quyền lực từ cấp cao xuống các tổ chức cấp thấp hơn (Hanson, 1998; McGinn và Welsh 1999, theo Trần Thị Tuyết, 2014; Lee & Gopinathan, 2004,) Trong quản trị đại học, sự phân quyền không chỉ đơn giản là về

sự dịch chuyển quyền lực và thẩm quyền, mà còn đồng thời với việc có trách nhiệm lớn hơn để đạt được kết quả mong muốn và giá trị cao nhất Một sự chuyển đổi từ

Trang 3

tập trung hóa sang phân quyền hóa có nghĩa là các trường đại học được giảm bớt những hạn chế trong việc đạt được sứ mệnh và mục tiêu (Lee&Gopinathan, 2004) Như vậy, sự phân quyền trong các khái niệm trên đều có điểm thống nhất là

sự chuyển giao quyền lực, quyền quyết định và trách nhiệm trong mối quan hệ cấp trên và cấp dưới Khi nghiên cứu sự dịch chuyển trong quản trị GDĐH Việt Nam, Báo cáo này vận dụng điểm chung trong các khái niệm này và tập trung vào sự dịch chuyển trong quyền ra quyết định của các trường đại học trong các lĩnh vực quản trị đại học bao gồm quản trị tổ chức, nhân sự, học thuật và tài chính

3 Sự chuyển đổi trong quản trị đại học ở Việt Nam

a) Quản trị tập trung trước thời kỳ Đổi mới

Trước Đổi mới và ngay cả trong những năm đầu của Đổi mới, nền kinh tế của Việt Nam được quản trị theo cơ chế tập trung hành chính mệnh lệnh quan liêu bao cấp Nhiều tác giả đã mô tả mô hình quản trị kinh tế theo kiểu “nhà nước trị”, nhà nước trực tiếp ra quyết định và điều hành tất cả các hành vi, hoạt động kinh tế của tất cả các chủ thể kinh tế từ cá thể đến hộ gia đình, tổ hợp tác đến các tập thể lao động như hợp tác xã, nhà máy xí nghiệp và các bộ ngành kinh tế của đất nước Mô hình quản trị kinh tế kiểu nhà nước này đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc huy động

và tập trung các nguồn lực cần thiết để thực hiện những mục tiêu quốc gia cấp bách trong thời kỳ chiến tranh nhưng lại tỏ ra lạc hậu trong thời kỳ hòa bình, xây dựng đất nước Trong bối cảnh đó, GDĐH cũng được quản trị theo mô hình dựa vào nhà nước một cách tuyệt đối, tập trung cao độ, từ trên xuống (top-down governance) trong đó nhà nước đứng ở trên tầm cao chỉ huy xuống dưới thông qua vai trò của các bộ (Lê Ngọc Hùng, 2019)

Tuy nhiên, mô hình quản trị từ trên xuống dưới này có hai đặc trưng khác hẳn tất cả các biến thể của mô hình quản trị đại học dựa vào nhà nước ở các nước phát triển tư bản chủ nghĩa Đó là, thứ nhất, với quyền lực tuyệt đối của nhà nước tất

cả các trường đại học đều là trường đại học công lập, đều là của nhà nước và đều trực thuộc những bộ ngành nhất định đóng vai trò là “bộ chủ quản” trực tiếp quản

lý nhà nước đối với các trường đại học Thứ hai, mối quan hệ phụ thuộc theo kiểu

“trực thuộc – chủ quản” đã biến bộ chủ quản và các trường đại học công lập bị chủ quản thành một trường đại học khổng lồ Trong đó bộ chủ quản đóng vai trò là “bộ máy quản trị” hành chính của nhà trường và các trường đại học là các khoa, các bộ môn và các đơn vị trực thuộc thực hiện các quyết định của “bộ máy quản trị” Trong trường đại học khổng lồ này, nhà nước thông qua các bộ ngành chủ quản trực tiếp ban hành các quyết định, trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn tất cả các hoạt động của từng trường đại học bao gồm cấp phát ngân sách, tuyển sinh, tổ chức cán bộ nhân sự,

Trang 4

đào tạo, nghiên cứu khoa học, quan hệ hợp tác, tốt nghiệp, cơ sở vật chất (Lê Ngọc Hùng, 2019)

Như vậy, trước Đổi mới, trong thời kỳ quản lý toàn xã hội theo cơ chế tập trung hành chính mệnh lệnh, quan liêu bao cấp trước năm 1986 và ngay cả những năm đầu 1990, hầu như không có sự tham gia của thị trường và trở thành trục quản trị

từ trên xuống dưới và tạo thành mô hình trường “đại học khổng lồ” Trong mô hình quản trị đại học khổng lồ này, Bộ GD&ĐT lúc đó là Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp hoạt động như một bộ máy quản trị của một nhà trường trong đó các trường đại học Cơ quan Bộ trực tiếp xác định mục tiêu, lập kế hoạch, phân bổ và cấp phát các nguồn lực gồm cả ngân sách và chỉ đạo, điều hành trực tiếp các hoạt động của từng trường đại học

b) Sự chuyển đổi sau Đổi mới - xu hướng phân cấp, phân quyền và tản quyền

Việt Nam chính thức đổi mới kinh tế - xã hội năm 1986 và cả nước bước vào thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trải qua thời kỳ quá độ kép: vừa quá độ từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vừa quá độ

từ trình độ “chậm phát triển” sang “đang phát triển” với biểu hiện rõ nhất là quá

độ để thoát trình trạng nghèo đói Quyền lực quản lý nhà nước được phân công cho các bộ ngành, các cơ quan chính quyền địa phương và các tổ chức chuyên môn thực hiện và phối hợp tham gia thực hiện một cách đồng bộ

Trong môi trường đổi mới, quá độ hệ thống GDĐH và quản trị đại học cũng phải biến đổi theo để đáp ứng ba yêu cầu chức năng cấp thiết từ nhà nước và xã hội Lĩnh vực GDĐH Việt Nam cũng đã mở rộng nhanh chóng và nó đã chuyển từ tinh hoa sang GDĐH đại chúng, điều này dẫn tới sự bùng nổ các trường đại học Nếu như năm 1987, chỉ có 101 trường cao đẳng và đại học trong cả nước, thì tới năm

2012, số trường đại học và cao đẳng lên tới 419 trường Năm 2016, tổng số trường đại học được thành lập hoặc cho phép thành lập đã vượt 10 trường(234/224), so với quy hoạch 37/2013/QĐ-TTg ngày 26/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ1 (Bộ GD&ĐT, 2016) Sự phát triển về số lượng các trường đại học còn kéo theo sự phong phú,

đa dạng của các chiến lược, chính sách, mô hình, cách thức quản trị đại học ở cấp trường Sự phát triển số lượng các trường luôn chứa đựng nguy cơ phân tán các nguồn lực đầu tư, khó có thể tập trung được sức mạnh để thay đổi về chất trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, khó thoát khỏi “bẫy giáo dục trung bình” (Lê Ngọc Hùng) Sự bùng nổ các trường đại học đã gây áp lực đáng kể tới ngân sách của Chính phủ cho giáo dục đại học Hàng năm kể từ sau Đổi mới, Chính phủ đã

1 Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg ngày 26/6/2013 về việc Điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020

Trang 5

tăng ngân sách cho GDĐH nhưng cũng vẫn không đáp ứng nhu cầu của sự bùng nổ này Việc quản lý hệ thống khổng lồ như vậy cũng là một gánh nặng, là nhiệm vụ khó khả thi cho Bộ GD&ĐT đã có những biểu hiện về sự yếu kém trong việc quản

lý toàn bộ hệ thống Chính phủ đã nhận thấy mô hình quản trị tập trung không còn phù hợp và mong muốn phân cấp trách nhiệm giải quyết việc ra quyết định cho các

cơ sở GDĐH với mục đích đạt hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng các nguồn lực (Hayden và Lâm Quang Thiệp, 2007)

Việc thành lập hai ĐHQG (năm 1993) với mô hình đặc biệt, theo cơ chế đặc biệt với quyền tự chủ cao là biểu hiện đầu tiên của Chính phủ về việc phân quyền cho

cơ sở giáo dục đại học Hơn một thập kỷ sau, sự phân cấp mới được thực hiện trong toàn bộ hệ thống GDĐH thông qua Luật Giáo dục năm 2005, trong đó nêu rõ Chính phủ quyết định thực hiện phân cấp quản lý giáo dục; tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm của các tổ chức giáo dục (Điều 14) Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới toàn diện và toàn diện GDĐH của Việt Nam trong giai đoạn

2006 – 2020, là nỗ lực thể hiện sự chuyển đổi trong quản trị đại học ở cấp độ tổ chức, nêu rõ về việc chuyển đổi cơ chế quản lý “Chuyển các cơ sở GDĐH công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền tự chủ và chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, nhân sự và tài chính” (HERA 2005)

Sự phân quyền cho các đơn vị sự nghiệp công lập tiếp tục được thể hiện trong đổi mới về cơ chế tài chính, thể hiện bằng việc ban hành Nghị định số

43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có các cơ sở GDĐH công lập Nghị định 16/2015/NĐ-CP (ngày 14/2/2015) ra đời thay thế Nghị định số 43, đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị đồng bộ cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tiếp tục chỉ rõ “giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học”

và “tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở GDĐH” Thực hiện chủ trương tiếp tục đổi mới theo xu hướng phân quyền, ngày 24/10/2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP (gọi tắt là Nghị quyết 77) thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014 – 2017, thực chất đây là chủ trương thí điểm trao quyền tự chủ toàn diện cho các trường đại học công lập Chính vì vậy, trong giai đoạn trước, tự chủ của các trường đại học được đánh giá là rất hạn chế (Nguyễn Đông Phong & Nguyễn Hữu Huy Nhựt, 2013) và việc tự chủ trong nhiều nội dung nội hàm của tự chủ là đòi hỏi của các trường đại học (Bùi

Trang 6

Loan Thùy, 2013), thì tới nay, có các trường đại học đã được trao nhiều quyền tự chủ, ví dụ: tự chủ về tuyển sinh, tự chủ về nội dung dạy học - Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý Khung chương trình, tự chủ mở ngành (đối với nhóm trường theo Nghị quyết 77, hai ĐHQG) Kết quả của sự chuyển đổi, phân quyền trong quản trị đại học

ở Việt Nam thể hiện ở việc Bộ GD&ĐT đã không còn nắm giữ và can thiệp trực tiếp vào nhiều vấn đề của các trường đại học mà đã giao cho các trường tự quyết định nhiều hơn trong khuôn khổ pháp lý, quy định, quy chuẩn

4 Tự chủ đại học ở các trường đại học hiện nay

a) Chọn mẫu khảo sát

Nghiên cứu các mô hình quản trị đại học ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn tại 20 trường đại học thuộc năm nhóm cơ sở GDĐH chủ yếu

ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: (i) Đại học Quốc gia (ĐHQG); (ii) Đại học vùng; (iii) Các trường đại học công lập khác; (iv) Trường đại học tự chủ theo Nghị quyết 77; (v) Trường đại học ngoài công lập Các trường đại học thuộc các nhóm này khác nhau

về loại hình trường, về cơ quan chủ quản, về chủ sở hữu, quy định về mức độ tự chủ Trong đó, ĐHQGvà đại học vùng là các đại học hai cấp; nhóm trường đại học công lập gồm các trường đại học công lập thuộc Bộ GD&ĐT và các bộ/ngành khác; trường đại học tự chủ theo NQ 77

Các mô hình quản trị của 5 nhóm trường tập trung vào mức độ các trường được ra quyết định trong các lĩnh vực quản trị bao gồm tổ chức, nhân sự, học thuật

và tài chính Đối với từng lĩnh vực quản trị, các tiêu chí được xác định lựa chọn để

có thể đánh giá mức độ được ra quyết định của nhà trường Cụ thể:

Về tổ chức, 7 tiêu chí được lựa chọn đưa vào khảo sát bao gồm: Thành lập Hội

đồng đại học/trường; Thành lập Hội đồng Khoa học và Đào tạo; Thành lập đơn vị trực thuộc trường (cấp 2) Khoa/Phòng/Trung tâm; Thành lập đơn vị pháp nhân trực thuộc trường Trung tâm/Viện/Công ty (có con dấu, tài khoản riêng); Phê duyệt chiến lược phát triển; Bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng trường; Ban hành Qui định về tổ chức hoạt động

Về nhân sự, 8 tiêu chí được lựa chọn đưa vào khảo sát, bao gồm: Phê duyệt

đề án vị trí việc làm; Xác định tiêu chuẩn giảng viên; Tuyển dụng giảng viên; Bổ nhiệm/miễn nhiệm Hiệu trưởng; Bổ nhiệm các chức danh nghề nghiệp của giảng viên (hạng); Bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư; Quyết định định mức công việc của giảng viên; Quyết định định mức công việc cho chuyên viên

Về học thuật, 5 tiêu chí được lựa chọn đưa vào khảo sát, bao gồm: Mở ngành đào

tạo trong Danh mục đào tạo Nhà nước; Mở ngành đào tạo chưa có trong danh mục

Trang 7

đào tạo Nhà nước; Điều chỉnh chương trình đạo tạo (> 20%); Tiêu chí tuyển sinh (bao gồm cả điểm sàn); Chỉ tiêu tuyển sinh của đơn vị

Về tài chính, 7 tiêu chí được lựa chọn đưa vào khảo sát, bao gồm: Mức thu học

phí bậc đại học; Mức lương (theo ngạch, bậc); Mức thưởng; Thu nhập tăng thêm; Chi tiêu dưới 100 triệu; Chi tiêu trên 100 triệu; Trích lập các Quỹ (Quỹ phát triển sự nghiệp, Quỹ học bổng, Quỹ khen thưởng; Quỹ phúc lợi; Quỹ dự phòng,…) từ kết quả hoạt động tài chính của Trường (mức trích quỹ, tỉ lệ các quỹ)

b) Trục của các mức độ tự chủ

Mức độ tự chủ của các nhóm trường đại học được được thể hiện bằng một trục với hai chiều, trường không được quyết định - do bên ngoài (Nhà nước, cơ quan quản lý) quyết định cao nhất là mức 1; và trường được hoàn toàn quyết định, cao nhất là mức 6

Nhà nước/cơ

quan quản lý

quyết định

Trường quyết định theo khung pháp lý

Trường xin phép – Quyết định

Trường quyết định - Báo cáo

Trường báo cáo - Quyết định

Trường quyết định

Trường hoàn

toàn không

quyết định

Trường hoàn toàn quyết

định

c) Các mô hình quản trị đại học trong lĩnh vực tổ chức

Lĩnh vực tổ chức đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của quản trị đại học, bởi tổ chức vừa là đối tượng vừa là thể chế, công cụ, phương tiện và chủ thể của quản trị đại học Khi được chủ động trong việc quyết định bộ máy tổ chức của mình thì nhà trường mới có thể quyết định được các cấu trúc quản trị phù hợp với phương thức quản trị Qua khảo sát có thể thấy các cơ sở GDĐH ở cả 5 nhóm đều chưa được hoàn toàn tự chủ trong việc ra các quyết định về tổ chức của đơn vị, trong

đó vẫn có một số vấn đề do Nhà nước hoặc cơ quan chủ quản quyết định, phân biệt được năm loại mô hình quản trị đại học trong lĩnh vực tổ chức Nhóm trường đại học ngoài công lập được tự chủ hơn trong việc quyết định cơ cấu tổ chức, thậm chí

bổ nhiệm Hiệu trưởng, song vẫn phải tuân theo các quy định trong khung pháp lý

là Luật GDĐH và Điều lệ trường đại học Ví dụ trường hợp ĐHQG, quy chế tổ chức

và hoạt động của ĐHQG do Thủ tướng ban hành (Quyết định số 26/2014/QĐ-TTg ngày 26/3/2014) ĐHQG được quy định trong Luật GDĐH (Luật 2012) là “có quyền chủ động cao”, tuy nhiên, về cơ cấu tổ chức, “Thành lập Hội đồng đại học/trường”,

Trang 8

“Thành lập Hội đồng Khoa học và Đào tạo” phải tuân theo các quy định trong Điều

lệ trường đại học về số lượng, thành phần của hội đồng “Thành lập các đơn vị cấp 2…” “Thành lập các đơn vị cấp 2…”, “Thành lập các đơn vị pháp nhân trực thuộc”, ĐHQG được chủ động nhưng tuân theo cơ cấu quy định tại Luật Giáo dục đại học ĐHQG chủ động xây dựng “Chiến lược phát triển” Tuy nhiên, sau khi ban hành ĐHQG phải báo cáo Thủ tướng

Biểu đồ 1 Mức tự chủ trong lĩnh vực tổ chức của một số nhóm trường đại học

Về nhân sự, trong số các nội dung được chọn khảo sát, Giám đốc ĐHQG và Chủ tịch hội đồng ĐHQG do Thủ tướng bổ nhiệm Tương tự như ĐHQG, Giám đốc Đại học Vùng và Chủ tịch hội đồng Đại học Vùng do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT bổ nhiệm; Quy chế tổ chức và hoạt động do Bộ GD&ĐT ban hành (QĐ số 08/2014/TT-BGDĐT ngày 20/03/2014) Đại học Vùng chủ động “Thành lập Hội đồng Khoa học

và Đào tạo” nhưng tuân theo các quy định trong Điều lệ trường đại học về số lượng, thành phần của hội đồng “Thành lập các đơn vị cấp 2…” “Thành lập các đơn vị

Trang 9

pháp nhân trực thuộc”, tuân theo cơ cấu quy định tại Luật Giáo dục đại học, đồng thời xin phép Bộ GD&ĐT trước khi quyết định Đại học vùng chủ động xây dựng

“Chiến lược phát triển” và báo cáo Bộ GD&ĐT

Về bổ nhiệm “Chủ tịch Hội đồng trường/quản trị” và “Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động” ở tất cả các nhóm cơ sở GDĐH đều do Nhà nước hoặc cơ quan quản lý quyết định, trừ trường hợp trường đại học ngoài công lập được bổ nhiệm Chủ tịch hội đồng quản trị nhưng phải được UBND tỉnh/TP ra quyết định công nhận Các quy chế tổ chức và hoạt động của các nhóm cơ sở GDĐH đều Thủ tướng hoặc Bộ GD&ĐT ra quyết định ban hành1

Về “Thành lập Hội đồng đại học/trường”, “Thành lập Hội đồng Khoa học và Đào tạo” các nhóm trường đều phải tuân theo các quy định trong Điều lệ trường đại học về số lượng, thành phần của hội đồng Về “Thành lập các đơn vị cấp 2…”, các nhóm trường đều được tự quyết định thành lập, nhưng sau đó phải báo cáo cơ quan quản lý/chủ quản, trừ nhóm trường ngoài công lập được tự quyết định hoàn toàn

Về “Thành lập các đơn vị pháp nhân trực thuộc”, nhóm ĐHQG, Đại học Vùng và các trường đại học công lập phải xin phép trước khi ra quyết định, trừ nhóm trường ngoài công lập được tự chủ hoàn toàn Về “Chiến lược phát triển”, trừ nhóm trường ngoài công lập được tự chủ, các nhóm trường còn lại phải báo cáo cơ quan quản lý Nhà nước hoặc cơ quan chủ quản

Nhóm trường đại học tự chủ theo Nghị quyết 77 được quyền quyết định về

tổ chức và nhân sự, lựa chọn trong nghiên cứu này, tương đương với ĐHQG, song vẫn phải theo khung pháp lý, hoặc xin phép hoặc báo cáo cơ quan chủ quản Nhóm trường đại học ngoài công lập được tự chủ cao nhất về tổ chức, nhân sự, trừ việc Thành lập hội đồng quản trị phải theo khung pháp lý và Bổ nhiệm Chủ tịch hội đồng quản trị do UBND tỉnh/thành phố ra quyết định công nhận

d) Các mô hình quản trị đại học trong lĩnh vực nhân sự

Trước Đổi mới, việc tuyển dụng nhân sự do cơ quan quản lý nhà nước “chủ quản” quyết định và chỉ đạo, trường đại học chỉ việc thực hiện, tiếp nhận, bố trí công việc và kiểm tra, giám sát Trong thời kỳ đổi mới, công tác nhân sự trong nội

bộ trường đã được trao lại cho các trường, trừ nhân sự cao nhất Điều này là phù hợp vì các trường đại học phải có chiến lược, kế hoạch tìm kiếm, thu hút, tuyển dụng nhân tài căn cứ nhu cầu, yêu cầu thực tế của nhà trường Tuy nhiên, Nhà nước vẫn

1 Quyết định số 26/2014/QĐ-TTg ngày 26/3/2014 của Thủ tướng ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của ĐHQG và các cơ sở giáo dục thành viên; QĐ số 08/2014/TT-BGDĐT ngày 20/03/2014 của Bộ GD&ĐT quyết định Quy chế tổ chức và hoạt động của đại học vùng và các cơ sở GDĐH thành viên của Đại học vùng; Quyết định 61/2009/QĐ-TTG, ngày 17/04/2009 của Thủ tướng ban hành Quy chế

tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục.

Trang 10

kiểm soát trong lĩnh vực này thông qua các tiêu chuẩn nhân sự do Bộ Nội vụ và Bộ GD&ĐT tạo để làm đề án gửi bộ chủ quản phê duyệt đề án và sau đó trường thực hiện đề án tuyển dụng nhân sự Tùy thuộc vào cơ quan chủ quản, hình thức sở hữu

mà mức độ tự quyết định của các trường đại học về nhân sự của mình có sự khác nhau Trong biểu đồ, đường biểu diễn mức độ tự chủ của trường đại học ngoài công lập nằm chủ yếu ở mức 6, phía bên tay phải của Biểu đồ, trong khi các nhóm cơ sở GDĐH khác nghiêng về phía trái của Biểu đồ nhiều hơn, tức là việc ra các quyết định bị ràng buộc hoặc hạn chế bởi Khung pháp lý hoặc các quy định của cơ quan quản lý, cơ quan chủ quản

Về Phê duyệt đề án vị trí việc làm, Xác định tiêu chuẩn giảng viên, Tuyển dụng giảng viên, Quyết định định mức công việc của giảng viên, Quyết định định mức công việc, các cơ sở GDĐH công lập phải tuân theo các luật có liên quan hoặc của

Bộ Nội vụ đối với công chức viên chức, thì trường đại học ngoài công lập được hoàn toàn tự quyết định đối với đội ngũ nhân sự của mình Các trường đại học công lập chưa được tự chủ trong bổ nhiệm lãnh đạo cao nhất, thì trường đại học ngoài công lập được tự quyết định Hiệu trưởng của mình, tuy nhiên, tiêu chuẩn Hiệu trưởng của một trường đại học vẫn phải tuân theo quy định của Nhà nước (Điều lệ trường đại học và Luật Giáo dục đại học)

4 nhóm cơ sở GDĐH công lập được tự chủ nhiều trong tuyển dụng, lựa chọn giảng viên, thậm chí bổ nhiệm các chức danh nghề nghiệp của giảng viên (hạng) và

bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, nhưng tất cả các hành động quản trị trong lĩnh vực nhân sự này phải tuân theo Luật Giáo dục đại học, Điều lệ trường đại học và Luật Công chức, Viên chức và nhiều văn bản quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ và của Bộ GD&ĐT Nhóm cơ sở GDĐH ngoài công lập không được bổ nhiệm giảng viên vào các chức danh nghề nghiệp do Bộ Nội vụ quản lý

Ngày đăng: 04/02/2021, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w