Mục đích nghiên cứu: chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân trong một số tác phẩm văn học ở hai giai đoạn 1930 – 1945 và giai đoạn từ 1986 đến nay được thể hiện bằng ngôn từ chủ đề
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
N ƣời ƣớng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn K an PGS TS Trần Thị Hồng Hạnh
Phản biện 1: GS.TS Lê Quang Thiêm
Phản biện 2: S.TS Đỗ Việt Hùng
Phản biện 3: P S.TS Vũ T ị T an ƣơn
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi,
Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÍ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học thế giới, ngôn ngữ học ở Việt Nam trong khoảng hai thập niên lại đây đã chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp.Trong nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp, chủ đề giao tiếp là một nội dung quan trọng bởi Chủ đề giao tiếp được thể hiện bằng các hành động ngôn ngữ (HĐNN) và luôn gắn với vai giao tiếp Là một thực thể đa chức năng, mỗi người có rất nhiều vai từ trong gia đình đến ngoài xã hội Khi tham gia giao tiếp, từ chủ đề giao tiếp, mỗi cá nhân sẽ xác định vai giao tiếp và lựa chọn hành động ngôn ngữ tương ứng
để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả
1.2 Việc xem xét đặc điểm ngôn ngữ của nông dân từ góc độ ngôn ngữ học
xã hội là một nội dung cần thiết trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực ngôn ngữ học mà còn góp phần vào nghiên cứu xã hội Việt Nam nói chung, người nông dân Việt Nam nói riêng gắn với từng giai đoạn lịch sử
1.3 Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về người nông dân từ nhiều góc độ khác nhau như nhân học, văn hóa học, văn học,… đã được công bố Tuy nhiên, từ góc độ ngôn ngữ học hiện chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân
1.4 Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của các nhân vật trong tác phẩm văn học
là cách giúp hiểu giá trị của tác phẩm đồng thời qua đó góp phần khám phá các cách thức giao tiếp của người Việt trong lịch sử
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Đặc điểm ngôn
ngữ của người nông dân (từ tư liệu một số tác phẩm văn học)
2 MỤC ĐÍC N IÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu: chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân trong
một số tác phẩm văn học ở hai giai đoạn 1930 – 1945 và giai đoạn từ 1986 đến
nay được thể hiện bằng ngôn từ (chủ đề giao tiếp thường gặp cùng các HĐNN)
và phi ngôn từ (cụ thể là ngôn ngữ cử chỉ) trong giao tiếp được thể hiện bằng ngôn ngữ miêu tả cử chỉ Kết quả nghiên cứu góp phần vào lí luận của ngôn ngữ học xã hội về sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ; góp phần
nghiên cứu hình ảnh người nông dân Việt Nam từ góc độ ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, trong đó tập trung vào: một là HĐNN, hai là sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ phi ngôn từ
Trang 4- Khảo sát đặc điểm giao tiếp bằng ngôn từ (bằng lời) của người nông dân được thể hiện ở các chủ các chủ đề giao tiếp cùng các HĐNN
- Khảo sát đặc điểm giao tiếp bằng phi ngôn từ (phi lời) của người nông dân được thể hiện ở ngôn ngữ miêu tả các cử chỉ thay ngôn từ và cử chỉ kèm ngôn từ
3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Là đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân trong
giao tiếp (từ tư liệu một số tác phẩm học)
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn
ngữ của người nông dân gồm giao tiếp bằng lời (xét từ chủ đề giao tiếp và HĐNN) cùng đặc điểm phi lời/phi ngôn từ (xét từ ngôn ngữ cử chỉ) của họ trong giao tiếp của các nhân vật xuất hiện trong các tác trong các tác phẩm văn
học ở hai giai đoạn 1930 - 1945 và từ 1986 đến nay
4 P ƢƠN P ÁP N IÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu như: phương pháp phân t ch diễn ngôn; phương pháp miêu tả Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số thủ pháp như thủ pháp thống kê, phân loại, so sánh
và cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành
4.2 Ngữ liệu nghiên cứu: Nguồn ngữ liệu phục vụ cho luận án là một số tác
phẩm văn học trong hai giai đoạn 1930 - 1945 và từ 1986 đến nay
5 ĐÓN ÓP CỦA LUẬN ÁN
5.1 Về lí thuyết: Bằng việc hệ thống hóa và kế thừa cơ sở lí luận đi trước, vận
dụng lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ (lí thuyết hội thoại, vai giao tiếp, hành động ngôn ngữ, ) luận án chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân qua một
số chủ đề giao tiếp và hành động ngôn ngữ tương ứng cùng với ngôn ngữ cử chỉ trong các tác phẩm văn học giai đoạn 1930 – 1945 và từ 1986 đến nay Qua đặc điểm ngôn ngữ người nông dân ở mỗi giai đoạn văn học chúng ta thấy được sự vận động ngôn ngữ của nhóm đối tượng người nông dân qua các thời
kì nói riêng cũng như của xã hội Việt Nam nói chung
5.2 Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nghiên cứu giao
tiếp tiếng Việt dưới tác động của quan hệ giao tiếp Thông qua việc tìm hiểu ngôn ngữ trong giao tiếp trên các phương diện chủ đề, HĐNN, để thấy được sự biến đổi trong lối ứng xử văn hóa - ngôn ngữ và làm nên đặc điểm ngôn ngữ của nhóm đối tượng (người nông dân)
6 Ý N Ĩ CỦA LUẬN ÁN
6.1 Ý nghĩa lí luận: Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của các người nông dân
trong các tác phẩm văn học Việt Nam xét từ chủ đề giao tiếp và HĐNN cùng với ngôn ngữ cử chỉ, luận án góp phần giải quyết những vấn đề về giao tiếp
Trang 5tiếng Việt nói chung và giao tiếp của một nhóm đối tượng (người nông dân) nói riêng dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội; góp phần vào nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nhóm đối tượng, một hướng nghiên cứu liên ngành của ngôn ngữ học hiện đại
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận án góp phần tìm hiểu văn hóa của người Việt
thông qua giao tiếp, đối chiếu giao tiếp của người Việt trong quá khứ với hiện tại, cũng như góp phần phục vụ công tác học tập, giảng dạy những tác phẩm văn học viết về người nông dân Việt Nam, góp phần nghiên cứu ngôn ngữ nhân
vật trong tác phẩm
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án gồm
3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ bằng lời trong giao tiếp của người nông dân: chủ đề giao tiếp và hành động ngôn ngữ
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ phi lời của người nông dân trong giao tiếp: ngôn ngữ cử chỉ
C ƢƠN 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ
1.1.1.1 Trên thế giới
L thuyết về HĐNN (speech act) được xem là một trong những l thuyết
xương sống của ngữ dụng học Người khởi xướng ch nh là J.L Austin với công trình “How do to thing with word” Kể từ đó đến nay, l thuyết về HĐNN ngày càng được nghiên cứu đầy đủ các vấn đề: các HĐNN; hiệu lực ở lời; phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi; HĐ ở lời trực tiếp và gián tiếp… với
sự đóng góp của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới trong nhiều năm qua
J Austin là người có công đầu trong việc xây dựng l thuyết hành động ngôn từ (HĐNT) với ba bước cơ bản đồng thời khẳng định rằng khi thực hiện mỗi HĐNT là ta thực hiện đồng thời ba hành động: tạo lời (locutionary act), tại lời (illocutionary act), mượn lời (perlocutionary act) J Searle kế thừa và phát triển l thuyết HĐNT của Austin đưa ra 12 quan điểm khác biệt, quy chiếu thành bốn tiêu ch và xác lập được 5 nhóm HĐNT lớn Kế tục công việc phân loại HĐNT của J Austin, J Searle còn có A Wierzbicka, D Wunderlich, F Recanati, K Bach và R.M Hanish, K Allan
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Trang 6Khi chuyển sang tiếng Việt, trong quá trình chuyển ngữ, thuật ngữ “Speech
Acts” được gọi theo nhiều cách khác nhau như: hành vi ngôn ngữ, hành vi nói
năng, hành động ngôn từ, hành động nói, v.v Trong luận án này, chúng tôi sử dụng cách gọi “ hành động ngôn ngữ”
Có thể kể đến những tác giả đã dành nhiều tâm huyết cho vấn đề HĐNN như Đỗ Hữu Châu (tác giả dùng thuật ngữ “hành vi ngôn từ”), Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân…Kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trên thế giới về HĐNN, các nhà nghiên cứu ở việt Nam đã tập trung nghiên cứu chủ yếu vào các hướng sau: Thứ nhất, nghiên cứu cấu trúc, ngữ nghĩa và mối quan
hệ của các HĐNN, trong đó có việc thể hiện vai giao tiếp; Thứ hai, nghiên cứu HĐNN gắn với các vai giao tiếp cụ thể trong quan hệ gia đình và xã hội
Nhìn chung, HĐNN là vấn đề được quan tâm nghiên cứu ở nhiều phương diện khác nhau: từ cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa; từ phương diện gia đình và
xã hội đến việc góp phần thể hiện chiều sâu văn hóa dân tộc; từ tư liệu giao tiếp đời thường đến tư liệu trên văn bản; … là nội dung được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu HĐNN của người nông dân Việt Nam từ góc độ vai giao tiếp và chủ đề giao tiếp
1.1.2 Tìn ìn n iên cứu về sự p ân tần xã ội với việc sử dụn n n
n ữ
1.1.2.1 Trên thế giới
Vấn đề phân tầng xã hội trong ngôn ngữ được các nhà xã hội học tiếp cận từ khá sớm, các công trình nghiên cứu đầu tiên là của Fischer (1958), Kucera (1961) và thực sự được đi sâu tìm hiểu vào những năm 60 của thế kỉ XX bởi các nhà ngôn ngữ học xã hội hàng đầu như Labov, Wolfram, Anshen,… Tiếp
đó là O Jersperson, E Sapir đặc biệt là R Lakoff Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả đã chỉ ra sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ theo các giai tầng xã hội và theo giới Có thể thấy rằng, nhân tố xã hội tác động lên giao tiếp ngôn ngữ là rất phong phú, đa dạng Đó là hàng loạt nhân tố gồm các nhân
tố quy gán như tuổi, giới; các nhân tố có được như thu nhập/kinh tế, giáo dục, địa vị, tôn giáo ,v.v Và, mỗi nhân tố, hay tổng hợp các nhân tố đều được đặt trên trục tọa độ để xem xét: sự biến đổi theo diễn tiến của thời gian và sự xác định ở từng địa điểm cụ thể
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu phân tầng xã hội với việc sử dụng ngôn ngữ cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tác giả Nguyễn Văn Khang, từ góc nhìn
sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ của ngôn ngữ học xã hội, đã đưa ra
8 nhân tố tác động đến giao tiếp tiếng Việt của người Việt Ngoài ra, các nhà
Trang 7nghiên cứu ở Việt Nam còn quan tâm nghiên cứu đến sự phân tầng sử dụng ngôn ngữ theo các hướng như: ngôn ngữ và giới, ngôn ngữ và tuổi tác, ngôn ngữ gắn với địa vị xã hội, v.v
1.1.3 Tìn ìn n iên cứu đặc điểm n n n ữ của n ƣời n n dân
Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân cho đến nay thường chú trọng vào nhân vật nông dân trong tác phẩm văn học
Như chúng ta đã biết, nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật trong các tác phẩm văn học là một hướng nghiên cứu thu hút sự chú ý giới Việt ngữ học trong thời gian qua như nghiên cứu các vai giao tiếp, các hành động ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học 1930 - 1945 của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô tất Tố, v.v cũng như một số tác phẩm văn học hiện đại của Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Nguyễn Thị Thu Huệ, trong kịch của Lưu Quang Vũ, Nhìn chung, các tác giả
đã dành sự quan tâm nghiên cứu về giao tiếp nói chung và HĐNN nói riêng của các vai giao tiếp theo phân tầng xã hội Tuy nhiên, ở phạm vi giao tiếp của người nông dân, theo tìm hiểu của chúng tôi, các nghiên cứu về người nông dân
chưa được quan tâm tìm hiểu Đây ch nh là l do luận án lựa chọn đề tài: Đặc
điểm ngôn ngữ của người nông dân (từ tư liệu một số tác phẩm văn học)
1.2 CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.2.1 Một số vấn đề về iao tiếp n n n ữ
1.2.1.1 Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về giao tiếp ngôn ngữ Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi hiểu giao tiếp ngôn ngữ là hình thức trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm giữa người với người trong xã hội Nhờ giao tiếp và qua giao tiếp con người có thể thiết lập được các mối quan hệ xã hội nhất định Thông qua các mối quan hệ xã hội này, con người có thể ứng xử được với nhau Có thể nói, hoạt động giao tiếp là hoạt động thường xuyên, liên tục giữa người với người trong cộng đồng ngôn ngữ Đó là hoạt động mà người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt cho người nghe những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình về một thực tế khách quan nào đó để người nghe có hành
động với thực tế như người nói mong muốn
1.2.1.2 Giao tiếp ngôn từ và giao tiếp phi ngôn từ
Giao tiếp ngôn ngữ từ góc độ ngôn ngữ học hiện đại được nhắc đến gồm hai loại chính là giao tiếp bằng lời/ ngôn từ và giao tiếp phi lời/ phi ngôn từ Giao tiếp bằng lời/ ngôn từ (verbal communication) gồm các yếu tố thuộc
hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm Giao tiếp phi ngôn từ/ phi lời (nonverbal communication) gồm giao tiếp cận ngôn từ (paralanguage) và giao tiếp ngoại ngôn (extralanguage)
Trang 8Cùng với ngôn ngữ vật thể (object language) và ngôn ngữ môi trường
(environmental language), ngôn ngữ cử chỉ (còn gọi là ngôn ngữ cơ thể: body language) là một trong ba tiểu loại của giao tiếp ngoại ngôn gồm các động tác của cơ thể tức là các hoạt động của các bộ phận cơ thể con người như: các động tác của mắt, của miệng, của lưỡi, của tay, của chân, v.v Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về ngôn ngữ cử chỉ Xét theo hướng nghiên cứu của luận án là chỉ ra đặc điểm của ngôn ngữ cử chỉ đã được mô
tả hóa bằng ngôn từ nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương, chúng tôi
lựa chọn cách hiểu ngôn ngữ cử chỉ theo nghĩa hẹp: Ngôn ngữ cử chỉ là một
hệ thống các kí hiệu được thực hiện trên cơ sở cử động của các bộ phận trên cơ thể được ta sử dụng độc lập hoặc đi kèm ngôn từ khi giao tiếp với người khác nhằm nhấn mạnh hay thay thế ngôn từ, kìm nén hay biểu lộ thái
độ tình cảm và nhằm diễn tả suy tư của ta Với cách nhìn này, luận án đi
theo hướng phân loại ngôn ngữ cử chỉ theo các vùng cơ thể thực hiện và phân loại ngôn ngữ cử chỉ theo mối tương quan của nó với ngôn ngữ bằng lời (hay phân loại ngôn ngữ cử chỉ theo chức năng) bao gồm ngôn ngữ cử chỉ có chức năng thay lời và ngôn ngữ cử chỉ có chức năng kèm lời
1.2.1.3 Sự kiện giao tiếp
Sự kiện giao tiếp (speech event) là đơn vị miêu tả cơ bản trong nghiên cứu giao tiếp ngôn ngữ” (Nguyễn Văn Khang, 2012) Tiếp cận theo hướng dân tộc học giao tiếp, theo D Hymes, sự kiện giao tiếp gồm 8 thành tố được viết tắt bằng 8 chữ cái làm thành từ S.P.E.A.K.I.N.G Đó là: chu cảnh/thoại trường (setting and scence, S); người tham dự/tham thể (participants, P); mục đ ch (end, E); chuỗi hành động ngôn từ (acts sequence, A), phương thức (key, K); phương tiện (instrumentalities, I); chuẩn tương tác và chuẩn giải thích (norm of interraction and interpretation N); thể loại (genres; G) (dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2012) Trong các cuộc giao tiếp khác nhau, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể xác định được rõ ràng 8 yếu tố trên trong mọi sự kiện giao tiếp, nhưng chúng luôn tiềm ẩn Điều quan trọng là cần nhận ra được đâu là yếu tố chính, mang tính chi phối và đâu là yếu tố phụ, cũng như là những mối tương liên giữa chúng
1.2.1.4 Sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp
Giao tiếp được coi là quá trình vận dụng ngôn ngữ: “Sự vận dụng ngôn ngữ
thực tế là một quá trình lựa chọn ngôn ngữ (language choice) Nói cách khác, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, người sử dụng không ngừng lựa chọn, vì thế, lựa chọn được coi là một trong những bản chất của việc sử dụng và lí giải ngôn ngữ’’ (Nguyễn Văn Khang, 2012) Sự lựa chọn này được tiến hành ở tất cả tầng
bậc của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, và theo hai cách: có ý thức
Trang 9theo ý chủ quan của người giao tiếp; vô thức, ngoài ý định chủ quan của người giao tiếp Theo đó, có hai quá trình lựa chọn Đó là: lựa chọn không đánh dấu (sự lựa chọn mang tính ngữ cảnh) và lựa chọn đánh dấu (sự lựa chọn mang tính chiến lược) Trên thực tế, sử dụng ngôn ngữ còn có thể có những sự lựa chọn khác Vì thế, có thể nói sự chọn lựa không phải là nhất thành bất biến mà nó luôn có sự biến đổi linh hoạt với mục đ ch cuối cùng là đảm bảo t nh "đúng đắn
và hợp lí" cho giao tiếp
1.2.1.5 Chủ đề giao tiếp
Trong một cuộc giao tiếp, chủ đề được coi là nội dung, hiện thực mà nhân vật đem ra trao đổi, bàn bạc Tùy vào hoàn cảnh, mục đ ch, đối tượng mà nhân vật lựa chọn chủ đề Chủ đề trong giao tiếp đa dạng, phong phú và dễ thay đổi bởi tác động của các nhân tố xã hội như: thời đại, nghề nghiệp, giới t nh, tuổi tác, địa vị xã hội… Theo Holmes (2013), chủ đề là một trong số những nhân tố
xã hội ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngôn ngữ Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học ghi nhận rất nhiều công trình khác nhau tìm hiểu về chủ đề mà phát ngôn nêu ra Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về các chủ đề trong giao tiếp của người nông dân trong một số tác phẩm văn học Dựa vào đối tượng và mục
đ ch giao tiếp của người nông dân, chúng tôi cho rằng các biến số về chủ đề cũng một nhân tố để nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp của người nông dân
1.2.1.6 Lí thuyết hội thoại
Trong giao tiếp ngôn ngữ, hội thoại được xem là hình thức giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định
mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một mục đ ch nhất định.” (Đỗ Thị Kim Liên, 1999) Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu (2007), các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như: thời gian, nơi chốn, số lượng người tham gia, về cương vị với tư cách người tham gia cuộc thoại, về tính chất cuộc thoại,
về vị thế giao tiếp, về t nh có đ ch hay không có đ ch, t nh hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời…Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết với nhau, tạo thành một khối lượng thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đ ch cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định
1.2.2 Lí thuyết về àn động ngôn ngữ
1.2.2.1 Khái quát về hành động ngôn ngữ
Trang 10Theo J Austin: HĐNN là hành động mà người ta thực hiện ngay khi nói năng, trong lúc nói năng Austin cho rằng, có ba loại hành động xảy ra khi thực hiện một phát ngôn: tạo lời, mượn lời và ở lời Vì vậy, nắm được ngôn ngữ không chỉ là nắm được âm, từ ngữ, câu mà còn nắm được những quy tắc điều khiển các hành vi ngôn trung trong ngôn ngữ đó Kế thừa và phát triển lí thuyết HĐNT của Austin, J Searle nhận định: thực hiện một HĐNT là thực hiện đồng
thời ba hành động: phát ngôn (utterance act), mệnh đề (propositional act), tại
lời (illocutionary act) Theo đó, ông cũng xác lập năm nhóm HĐNT lớn: tái
hiện, cầu khiến, cam kết, biểu cảm, tuyên bố
Kế thừa các nhà nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam, tác giả Đỗ Hữu Châu, sau khi định nghĩa HĐNT, đã trình bày khá kỹ lưỡng về “phát ngôn ngữ vi”,
“biểu thức ngữ vi”, “động từ ngữ vi”, về biểu thức ngôn hành nguyên cấp và tường minh, về giả thuyết ngôn hành cũng như sự thất bại của giả thuyết này Tác giả cũng đã phân t ch khá kỹ lưỡng các dấu hiệu ngôn hành
1.2.2.2 Hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp
HĐNN trực tiếp là những hành động được thực hiện đúng với đ ch ở lời, đúng với điều kiện sử dụng chúng - nghĩa là đ ch ở lời được nói thẳng, công khai, trực tiếp HĐNN gián tiếp là HĐNN sử dụng bề mặt của hành động ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả ở một hành động ở lời khác Muốn nhận biết HĐNN trực tiếp hay HĐNN gián tiếp phải căn cứ vào ngữ cảnh và những hoạt động suy ý
1.3 TIỂU KẾT C ƢƠN 1
Chương 1 tập trung giới thiệu những vấn đề l luận cơ bản như vấn đề giao tiếp ngôn ngữ từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, vấn đề vai giao tiếp và hành động ngôn ngữ tương ứng trong giao tiếp ngôn ngữ… Đặc biệt luận án cũng xác lập những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ cử chỉ Đây đều
là những vấn đề lý luận liên quan đến luận án, là cơ sở nền tảng l thuyết để
triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu cho đề tài của luận án
C ƢƠN 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BẰNG LỜI
TRONG GIAO TIẾP CỦ N ƢỜI NÔNG DÂN: CHỦ ĐỀ
GIAO TIẾP VÀ ÀN ĐỘNG NGÔN NGỮ
2.1 GIỚI HẠN VẤN ĐỀ
1/ Qua khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy: chủ đề giao tiếp, hành động ngôn ngữ là một trong những biểu hiện thể hiện cụ thể đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân Vì vậy, chúng tôi chọn: chủ đề giao tiếp và theo đó là hành động ngôn ngữ của người nông dân làm đối tượng để nghiên cứu
Trang 112/ Khảo sát 760 cuộc hội thoại trong 18 tác phẩm văn học ở hai giai đoạn văn học 1930 - 1945 và từ 1986 đến nay, chúng tôi tiến hành thống kê các chủ đề và các HĐNN của người nông dân trong giao tiếp Có thể thấy, do những biến đổi của thời đại, hoàn cảnh lịch sử xã hội mà ở hai giai đoạn này ngôn ngữ của người nông dân có một số điểm khác biệt
2.2 CÁC CHỦ ĐỀ CỦ N ƢỜI NÔNG DÂN TRONG GIAO TIẾP 2.2.1 Các chủ đề giao tiếp iai đoạn 1930 – 1945
Trong giao tiếp của người nông dân giai đoạn 1930 - 1945, nghiên cứu 380 cuộc thoại chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1 Các chủ đề giao tiếp của người nông dân giai đoạn 1930-1945
TT Chủ đề giao tiếp
Tổng
Số lượng
Tỉ lệ (%)
1 Cuộc sống sinh hoạt đời thường 152 40
3 Sưu thuế, phu phen, tạp dịch 70 18,5
5 Tình cảm gia đình vợ chồng con cái 12 3,2
Khảo sát 380 cuộc thoại cho thấy, trong giao tiếp, người nông dân tập
trung vào 6 chủ đề và giữa các chủ đề có sự chênh lệch nhau về tần suất xuất hiện Các chủ đề về sinh hoạt đời thường, cơm áo gạo tiền, xuất hiện với tần suất cao tương ứng là: 40%, 24,4%; các chủ đề sưu thuế phu phen tạp dịch và kiện cáo công đường có tần suất trung bình tương tứng là 18,5%
và 11,3%; các chủ đề về tình cảm gia đình, tình hàng xóm láng giềng xuất hiện t tương ứng (3,2% và 2,6%)
Sở dĩ có sự chênh lệch tần suất xuất hiện của các chủ đề như vậy là vì:
Thứ nhất là do t nh đặc thù của tầng lớp nông dân cùng với môi trường sinh
hoạt làng xóm thôn quê nên các chủ đề mà người nông dân thường quan tâm
ch nh là đời sống sinh hoạt hằng ngày, là đời sống gia đình, làng xóm của
nông thôn bình dị sau lũy tre làng Thứ hai là do nhu cầu bức thiết của cuộc
sống: Người nông dân trong xã hội Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là những người có cuộc sống khó khăn đến cùng cực bởi gánh nặng cơm áo gạo tiền
Do vậy, những chủ đề xoay quanh cuộc sống sinh hoạt hàng ngày là chủ đề được nhắc đến thường xuyên trong giao tiếp của người nông dân Ngoài ra,
họ còn là những người bị tầng lớp thống trị áp bức bằng sưu cao, thuế nặng Đặc điểm này đã tác động đến chủ đề giao tiếp của người nông dân thời đó
Trang 12Vì thế, dù là những người giàu tình yêu thương nhưng trong giai đoạn này các chủ đề về tình cảm xuất hiện với tần suất thấp, thay vào đó là các chủ đề đồng tiền, bát gạo, sưu thuế, phu phen, tạp dịch, v.v
2.2.2 Các chủ đề giao tiếp iai đoạn từ 1986 đến nay
Trong giao tiếp của người nông dân giai đoạn từ 1986 đến nay, nghiên cứu 380 cuộc thoại chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.Các chủ đề giao tiếp của người nông dân giai đoạn 1986- nay
Số lượng Ti lệ (%)
1 Sinh hoạt đời thường 165 43,4
2 Lao động sản xuất mới 58 15,3
tố … xuất hiện với tần suất thấp (7,6% và 5,3%)
Sự dĩ có sự chênh lệch giữa các chủ đề như vậy là do nhiều lí do chi phối, trong đó đáng chú ý là: Thứ nhất, do t nh đặc thù của tầng lớp nông dân cùng với môi trường đồng ruộng; Thứ hai, do bối cảnh xã hội Việt Nam từ 1986 đã
có nhiều thay đổi lớn lao và sự thay đổi này tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chủ đề giao tiếp
2.2.3 Nhận xét chung
Như vậy là chủ đề giao tiếp của người nông dân qua hai giai đoạn văn học đã
có sự thay đổi lớn Điều này là bởi bối cảnh lịch sử xã hội đã thay đổi vì thế vấn
đề mà người nông dân quan tâm cũng biến đổi theo Nội dung giao tiếp thay
Trang 13đổi cùng với những thay đổi của vai giao tiếp ảnh hưởng đến HĐNN của người nông dân
2.3 CÁC ÀN ĐỘNG NGÔN NGỮ TƯƠN ỨNG VỚI CHỦ ĐỀ TRONG GIAO TIẾP CỦ N ƯỜI NÔNG DÂN
2.3.1 Thống kê tần số xuất hiện các n óm ĐNN của n ười nông dân
Nghiên cứu HĐNN của người nông dân trong giao tiếp, khảo sát 760 cuộc thoại theo các chủ đề trên chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 3 Các nhóm HĐNN người nông dân thực hiện trong giao tiếp
hiện
Biểu cảm
Cầu khiến
Cam kết
Trong giao tiếp, người nông dân sử dụng 5 nhóm HĐNN với mức độ sử
dụng có sự chênh lệch Nhóm HĐ Cầu khiến cao nhất với gần 63%, tiếp đến là nhóm HĐ Biểu cảm và Tái hiện 19% và 16,3 % Nhóm Cam kết có tần suất thấp: chiếm 1,9 % và đặc biệt nhóm Tuyên bố chiếm 0,1% Cụ thể ở từng giai
đoạn, các nhóm HĐNN này được xuất hiện theo các chủ đề với tần suất như sau:
Trong giai đoạn 1930 - 1945, với chủ đề sinh hoạt đời thường, nhóm hành động cầu khiến có tỉ lệ sử dụng cao nhất với 16,9%, tiếp đến là nhóm hành động tái hiện với 7,1%, nhóm biểu cảm 6%; thấp nhất là nhóm hành động cam kết với 0,4% Chủ đề cơm áo gạo tiền cũng sử dụng nhóm hành động cao nhất
là cầu khiến với 13,6%, tái hiện 6,2%, biểu cảm 4,9%, cam kết 0,3% Chủ đề sưu thuế phu phen tạp dịch sử dụng các hành động ngôn ngữ có tỉ lệ lần lượt: cầu khiến 11,9%, tái hiện 4%, biểu cảm 3,2%, cam kết 0,3% Chủ đề kiện cáo công đường: nhóm cầu khiến 7,3%, tái hiện 2,2%, biểu cảm 1,8% và cam kết là 0,1% Là những chủ đề có tần xuất xuất hiện thấp vì thế các nhóm HĐNN trong các chủ đề tình cảm vợ chồng con cái, tình cảm đôi lứa, tình làng nghĩa xóm cũng rất thấp Tương ứng là, với chủ đề tình cảm vợ chồng con cái, nhóm cầu khiến là 2,6%, tái hiện: 2%, biểu cảm 2,3% và cam kết là 0,2% Còn trong chủ
đề tình cảm đôi lứa, tình làng nghĩa xóm, nhóm cầu khiến có tần suất 3,4%, tái hiện: 1,8% và biểu cảm là 1,1%
Giai đoạn từ 1986 đến nay, các nhóm hành động ngôn ngữ cũng được người nông dân sử dụng với tần suất khác nhau theo từng chủ đề giao tiếp Trong chủ
đề sinh hoạt đời thường, nhóm hành động cầu khiến chiếm ưu thế với 25%, tiếp theo là biểu cảm với 6,6%, tái hiện 5,1%, thấp nhất là các nhóm cam kết 0,2%
và tuyên bố 0,05% Với chủ đề lao động sản xuất mới: nhóm cầu khiến vẫn