Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận án là chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân trong một số tác phẩm văn học ở hai giai đoạn 1930 – 1945 và giai đoạn từ 1986 đến nay được thể
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Khang
PGS.TS Trần Thị Hồng Hạnh
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đƣợc nêu trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Hà Nội, tháng năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho tôi gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo và Ban Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ, Phòng Đào tạo, Học viện Khoa học xã hội, cùng các thầy cô giáo Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Thăng Long đã tận tình giảng dạy, luôn động viên, nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi suốt quá trình học tập
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Khang, PGS TS Trần Thị Hồng Hạnh, những người thầy mẫu mực đã cho tôi tri thức, kinh nghiệm, niềm say mê nghiên cứu để hoàn thành luận án này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã tiếp sức cho tôi, giúp tôi có được kết quả như hôm nay
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội tháng năm 2021
Tác giả
Nguyễn Thị Hoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận án 5
6 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sự phân tầng xã hội với việc sử dụng ngôn ngữ 13
1.1.3 Tình hình nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân 18
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 19
1.2.1 Một số vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ 19
1.2.2 Lý thuyết về hành động ngôn ngữ 36
1.2.3 Lý thuyết về ngôn ngữ cử chỉ 41
1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 48
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BẰNG LỜI TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN: CHỦ ĐỀ GIAO TIẾP VÀ HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ 49
2.1 GIỚI HẠN VẤN ĐỀ 49
2.2 CÁC CHỦ ĐỀ GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG GIAO TIẾP 49
2.2.1 Các chủ đề giao tiếp giai đoạn 1930 - 1945 50
2.2.2 Các chủ đề giao tiếp giai đoạn từ 1986 đến nay 59
2.3 CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ TƯƠNG ỨNG VỚI CHỦ ĐỀ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN 64
2.3.1 Thống kê tần số xuất hiện các nhóm hành động ngôn ngữ của người nông dân 64
Trang 62.3.2 Nghiên cứu trường hợp: Nhóm hành động cầu khiến 70
2.4 NHẬN XÉT CHUNG 96
2.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 99
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ PHI LỜI CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG GIAO TIẾP: NGÔN NGỮ CỬ CHỈ 101
3.1 GIỚI HẠN VẤN ĐỀ 101
3.2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỬ CHỈ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN XÉT THEO CHỨC NĂNG VÀ BỘ PHẬN CƠ THỂ THỰC HIỆN 102
3.2.1 Ngôn ngữ cử chỉ của người nông dân xét theo chức năng 102
3.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ cử chỉ của người nông dân xét theo bộ phận cơ thể thực hiện 110
3.3 Ý NGHĨA THỂ HIỆN VÀ VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ CỬ CHỈ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN 124
3.3.1 Ý nghĩa thể hiện của ngôn ngữ cử chỉ trong giao tiếp của người nông dân 124
3.3.2 Vai trò của của ngôn ngữ cử chỉ trong giao tiếp của người nông dân 137
3.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 140
KẾT LUẬN 143
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
NGUỒN NGỮ LIỆU 153
PHỤ LỤC 154
Trang 7BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
ĐTNV: Đại từ nghi vấn GT: Giao tiếp HĐH: Hành động hỏi HĐHGT: Hành động hỏi gián tiếp HĐHTT: Hành động hỏi trực tiếp HĐNN: Hành động ngôn ngữ HGT: Hỏi gián tiếp
HTT: Hỏi trực tiếp IFIDs: Các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời p: Nội dung mệnh đề
PTNV: Phụ từ nghi vấn SP1: Người nói SP2: Người nghe
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng các nhóm nhân tố xã hội ảnh hưởng đến giao tiếp người Việt 16
Bảng 2.1: Các chủ đề giao tiếp của người nông dân giai đoạn 1930 - 1945 50
Bảng 2.2: Các chủ đề giao tiếp của người nông dân giai đoạn từ 1986 đến nay 59
Bảng 2.3: Các nhóm hành động ngôn ngữ của người nông dân 64
Bảng 2.4: Các nhóm hành động ngôn ngữ của của người nông dân xét theo chủ đề giao tiếp giai đoạn văn học 1930 - 1945 66
Bảng 2.5: Các nhóm hành động ngôn ngữ của của người nông dân xét theo chủ đề giao tiếp giai đoạn văn học từ 1986 đến nay 67
Bảng 2.6: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của người nông dân giai đoạn 1930-1945 72
Bảng 2.7: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của người nông dân từ 1986 đến nay 73
Bảng 2.8: Tổng hợp các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của người nông dân 74
Bảng 3.1: Phân loại ngôn ngữ cử chỉ của tầng lớp nông dân theo chức năng 102
Bảng 3.2: Phân loại ngôn ngữ cử chỉ của người nông dân theo bộ phận cơ thể thực hiện 111
Bảng 3.3: Giá trị thông báo của ngôn ngữ cử chỉ của tay trong giao tiếp của người nông dân 117
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Các chủ đề giao tiếp của người nông dân giai đoạn 1930 – 1945 50 Biểu đồ 2.2: Các chủ đề giao tiếp của người nông dân giai đoạn từ 1986 đến nay 59 Biểu đồ 2.3: Các nhóm hành động ngôn ngữ của người nông dân 64 Biểu đồ 2.4: Các nhóm hành động ngôn ngữ của người nông dân xét theo chủ đề
giao tiếp giai đoạn 1930 - 1945 65 Biểu đồ 2.5: Các nhóm hành động ngôn ngữ của người nông dân xét theo chủ đề
giao tiếp giai đoạn từ 1986 đến nay 65 Biểu đồ 2.6: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của
người nông dân giai đoạn 1930-1945 73 Biểu đồ 2.7: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong giao tiếp của
người nông dân từ 1986 đến nay 74 Biểu đồ 2.8: Tổng hợp các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm cầu khiến trong
giao tiếp của người nông dân 75 Biểu đồ 3.1: Phân loại ngôn ngữ cử chỉ của người nông dân theo chức năng 103 Biểu đồ 3.2: Phân loại ngôn ngữ cử chỉ của tầng lớp nông dân theo bộ phận cơ
thể thực hiện 111
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
1.1 Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học thế giới, ngôn ngữ học ở Việt Nam trong khoảng hai thập niên lại đây đã chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp.Trong nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp, chủ đề giao tiếp
là một nội dung quan trọng Chủ đề giao tiếp được thể hiện bằng các hành động ngôn ngữ và luôn gắn với vai giao tiếp Khi xem xét về vai giao tiếp, các nhà ngôn ngữ học
xã hội cho rằng: vai giao tiếp chỉ thực sự được nhận ra thông qua những hình thức diễn đạt cụ thể Bên cạnh xưng hô là hình thức đánh dấu vai giao tiếp thì hành động ngôn ngữ cũng được coi là một trong những hình thức quan trọng để thiết lập mối tương quan giữa các nhân vật giao tiếp Bởi vậy, là một thực thể đa chức năng, mỗi người có rất nhiều vai từ trong gia đình đến ngoài xã hội Khi tham gia giao tiếp, từ chủ đề giao tiếp, mỗi cá nhân sẽ xác định vai giao tiếp và lựa chọn hành động ngôn ngữ tương ứng
để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả
1.2 Việt Nam là một dân tộc có nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời nền văn minh nông nghiệp ấy đã tạo ra cho xã hội Việt Nam một lực lượng vô cùng lớn mạnh và có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc,
đó là nông dân Vì vậy, việc xem xét đặc điểm ngôn ngữ của nông dân từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, cụ thể là từ lí thuyết phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ là một nội dung cần thiết trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực ngôn ngữ học mà thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ để góp phần vào nghiên cứu xã hội Việt Nam nói chung, người nông dân Việt Nam nói riêng gắn với từng giai đoạn lịch sử của đất nước
1.3 Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về người nông dân từ nhiều góc độ khác nhau như nhân học, văn hóa học, văn học,… đã được công bố Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng tôi, từ góc độ ngôn ngữ học hiện chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân
1.4 Hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con người được thực hiện bởi hai cách thức phổ biến nhất là nói và viết Từ xa xưa, trong lịch sử văn học, tác phẩm văn học luôn là một sáng tạo nghệ thuật hoàn chỉnh, có khả năng thể hiện trọn vẹn tư tưởng, tình cảm của nhà văn đối với cuộc đời mà trước hết là thông qua những hoạt động giao tiếp và mối quan hệ giao tiếp của các nhân vật diễn ra ngay trong chính tác phẩm Có
Trang 11thể nói, mỗi tác phẩm văn học là một cuộc giao tiếp lớn, trong đó có nhiều cuộc giao tiếp nhỏ Do vậy, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của các nhân vật trong tác phẩm văn học là cách giúp hiểu giá trị của tác phẩm đồng thời qua đó góp phần khám phá các cách thức giao tiếp của người Việt trong lịch sử
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ
của người nông dân (từ tư liệu một số tác phẩm văn học)
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân trong một số tác phẩm văn học ở hai giai đoạn 1930 – 1945 và giai đoạn từ 1986 đến nay được thể hiện bằng ngôn từ (chủ đề giao tiếp thường gặp cùng các hành động ngôn
ngữ) và phi ngôn từ (ngôn ngữ cử chỉ) trong giao tiếp được thể hiện bằng ngôn ngữ miêu tả cử chỉ Kết quả nghiên cứu góp phần vào lý luận của ngôn ngữ học xã hội về
sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ; góp phần vào nghiên cứu hình ảnh người nông dân Việt Nam từ góc độ ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ như sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, trong đó tập trung vào một số nội dung chính như: một là hành động ngôn ngữ, hai là sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ phi ngôn từ
- Khảo sát đặc điểm giao tiếp bằng ngôn từ (bằng lời) của người nông dân được thể hiện ở các chủ các chủ đề giao tiếp cùng các hành động ngôn ngữ
- Khảo sát đặc điểm giao tiếp bằng phi ngôn từ (phi lời) của người nông dân được thể hiện ở ngôn ngữ miêu tả các cử chỉ thay ngôn từ và cử chỉ kèm ngôn từ
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: chúng tôi sử dụng phương pháp này để tập trung nghiên cứu hội thoại bao gồm:1) Định dạng văn bản (miêu tả diễn ngôn); 2) Phân tích quá trình sản sinh và thực hành diễn ngôn (tìm hiểu diễn ngôn); 3) Phân tích các đặc điểm văn hóa - xã hội tác động ở bề sâu diễn ngôn (giải thích diễn ngôn)
- Phương pháp miêu tả: dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi phân tích, miêu tả các
Trang 12chủ đề, hành động ngôn ngữ cùng các biểu thức ngôn ngữ tương ứng; chú trọng tới các yếu tố ngôn ngữ tăng cường được sử dụng trong các biểu thức ngôn ngữ, xưng hô Cùng với các phương pháp, luận án còn sử dụng một số thủ pháp và hướng nghiên cứu sau:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Khảo sát và thống kê tần suất xuất hiện các chủ
đề giao tiếp của người nông dân và các hành động ngôn ngữ của người nông dân tương ứng với các chủ đề giao tiếp Dựa trên kết quả thống kê, chúng tôi phân loại và hệ thống hóa, mô hình hóa để dựng lên bức tranh toàn cảnh về hoàn cảnh giao tiếp của người nông dân với sự lựa chọn vai giao tiếp; tính tần suất sử dụng các chủ đề giao tiếp, các hành động ngôn ngữ
- Thủ pháp so sánh: để thấy được sự giống và khác nhau về chủ đề giao tiếp, thói quen sử dụng hành động ngôn ngữ, lựa chọn từ ngữ … của các vai giao tiếp trong từng hoàn cảnh giao tiếp qua một số tác phẩm văn học
- Hướng nghiên cứu liên ngành: Đối tượng nghiên cứu và tư liệu khảo sát của luận án là các văn bản nghệ thuật, nên ngoài những tri thức ngôn ngữ học làm nền tảng, chúng tôi sử dụng các tri thức và kỹ năng của các chuyên ngành khác trong quá trình tìm hiểu như: lý luận văn học, phê bình - nghiên cứu văn học, tâm lý học, xã hội học, sử học…
4 Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân trong giao tiếp (từ tư liệu một số tác phẩm học), xét từ các bình diện sau:
1) Chủ đề giao tiếp và các hành động ngôn ngữ trong giao tiếp bằng lời của người của người nông dân
2) Ngôn ngữ miêu tả cử chỉ trong giao tiếp của người nông dân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân xét từ chủ đề giao tiếp và hành động ngôn ngữ (nghiên cứu trường hợp nhóm hành động cầu khiến, khảo sát sâu hành động hỏi) cùng đặc điểm phi ngôn từ (phi lời) của họ trong giao tiếp xét từ góc độ ngôn ngữ cử chỉ trong các tác phẩm văn học qua hai giai đoạn: giai đoạn 1930 - 1945 và từ năm 1986 đến nay Chúng tôi chọn hai giai đoạn này này bởi đây là những giai đoạn mà vấn đề người nông dân được quan tâm và phản ánh một cách rõ nét nhất so với các giai đoạn văn học khác
Trang 134.3 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu phục vụ cho luận án là một số tác phẩm văn học trong hai giai đoạn 1930 - 1945 và 1986 đến nay
Ngôn ngữ học xã hội lấy ngôn ngữ giao tiếp trong đời sống hàng ngày làm đối tượng nghiên cứu Đây là điều kiện nghiên cứu lý tưởng Tuy nhiên, với những giai đoạn lịch sử đã diễn ra trong quá khứ, cách làm này xem ra là điều không thể Với mục đích nghiên cứu, tái hiện đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân trong các giai đoạn lịch sử đã qua của dân tộc, chúng tôi lựa chọn sử dụng ngữ liệu là các văn bản mà ở đây là các tác phẩm văn học Tất nhiên, trong tác phẩm văn học, lời văn bao giờ cũng được gọt giũa và thông qua lăng kính của nhà văn Nhưng dù có sáng tạo như thế nào
đi nữa thì lời văn ấy vẫn phải dựa trên cốt lõi của hiện thực Và nhà văn khi tái hiện ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm của mình phải vận dụng các phương tiện lời nói để tái hiện ngôn ngữ nhân vật trong tính quy định của môi trường, giai cấp, xuất thân, nghề nghiệp, học vấn, tâm lí, lứa tuổi, giới tính Điều đó cũng có nghĩa là ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học góp phần thể hiện đời sống ngôn ngữ của xã hội
“Và như vậy, qua văn học, ta có thể nghe thấy tiếng nói mọi tầng lớp người ở các thời đại khác nhau, các giọng điệu khác nhau Bởi, văn học còn giữ lại những lời nói, từ vựng, ngữ điệu, cách nói gắn liền với văn hóa, phong tục, đời sống, tình cảm, tư tưởng của một thời.”[55, 190]
Hai giai đoạn văn học 1930 - 1945 và từ 1986 đến nay là những giai đoạn quan trọng và có nhiều biến cố trong lịch sử văn học và văn hóa dân tộc Đây cũng là hai giai đoạn có nhiều thành tựu xuất sắc về đề tài nông dân, nông thôn Việt Nam Ở một đất nước với hơn 70% là nông dân và nông thôn, là nơi lưu giữ căn bản những giá trị truyền thống và cả những tập quán lạc hậu; là nơi thử thách các chính sách của nhà nước qua các thể chế; là nơi sẵn sàng nhất cho việc huy động con người tham gia vào các cuộc chiến tranh, chắc chắn đây là nơi nảy sinh nhiều nhất những vấn đề xã hội trong hơn một thế kỷ qua Tuy nhiên, vấn đề về người nông dân ở mỗi giai đoạn lịch
sử khác nhau cũng có sự khác nhau Với giao tiếp ngôn ngữ, những thay đổi về hoàn cảnh lịch sử, vai giao tiếp, chủ đề giao tiếp … của người nông dân trong mỗi giai đoạn tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về đặc điểm ngôn ngữ mà chúng tôi hi vọng sẽ làm rõ trong luận án này
Trang 14Nói cách khác, nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật người nông dân trong một số tác phẩm văn học qua các giai đoạn 1930 - 1945 và từ 1986 đến nay sẽ góp phần nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân Việt Nam qua một số giai đoạn lịch sử
1 Giai đoạn 1930 – 1945
1 Ngô Tất Tố - Tắt đèn (1937)
2 Nguyễn Công Hoan: Bước đường cùng (1938), Đồng hào có ma(1939)
3 Nam Cao: Chí Phèo (1941), Lão Hạc (1943), Một bữa no (1943), Trẻ con
không ăn thịt chó (1942)
4 Vũ Trọng Phụng: Bà lão lòa (1931), Giông tố (1936), Vỡ đê (1936),
5 Tô Hoài: Quê người (1941)
Lý do lựa chọn các tác phẩm này là vì: đây là các tác phẩm viết về người nông
dân của những nhà văn tiêu biểu được đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học 1930 - 1945 Các tác phẩm này phần lớn đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn phổ thông
2 Giai đoạn từ 1986 đến nay
1 Nguyễn Minh Châu: Phiên chợ Giát (1989), Khách ở quê ra (1994)
2 Lê Lựu - Thời xa vắng (1986)
3 Nguyễn Khắc Trường - Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990)
4 Dương Hướng: Bến không chồng (1990)
5 Trịnh Thanh Phong: Ma làng (2001)
6 Đào Thắng: Dòng sông Mía (2004)
Các tác phẩm được lựa chọn ở trên là những tác phẩm nổi tiếng viết về người nông dân trong văn học giai đoạn từ 1986 đến nay Đây cũng là những tác phẩm được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về ý nghĩa lí luận
Vận dụng lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ (lý thuyết hội thoại, vai giao tiếp, hành động ngôn ngữ, ) để khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của các người nông dân trong các tác phẩm văn học Việt Nam qua hai giai đoạn 1930 - 1945 và 1986 đến nay xét từ chủ
đề giao tiếp và hành động ngôn ngữ, luận án góp phần giải quyết những vấn đề về giao tiếp tiếng Việt nói chung và giao tiếp của một nhóm đối tượng (người nông dân) nói riêng dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ
Trang 15(chủ đề, hành động ngôn ngữ trong giao tiếp) của người nông, luận án góp phần vào nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nhóm đối tượng, một hướng nghiên cứu liên ngành của ngôn ngữ học hiện đại
5.2 Về ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần vào việc nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt dưới tác động của quan
hệ giao tiếp Thông qua việc tìm hiểu vai giao tiếp trong giao tiếp trên các phương diện chủ đề, hành động ngôn ngữ, để thấy được sự biến đổi trong lối ứng xử văn hóa - ngôn ngữ và làm nên đặc điểm ngôn ngữ của nhóm đối tượng (người nông dân)
Từ đó luận án cũng sẽ góp phần tìm hiểu văn hóa của người Việt thông qua giao tiếp, đối chiếu giao tiếp của người Việt trong quá khứ với hiện tại, cũng như góp phần phục vụ công tác học tập, giảng dạy những tác phẩm văn học viết về người nông dân Việt Nam, góp phần nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm
6 Cấu trúc của luận án
Luận án, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, được chia làm ba chương như sau:
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này được chia thành hai phần Phần một là Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án Sau khi trình bày tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án trong nước và trên thế giới, điểm qua những vấn đề đã làm và chưa làm được, luận án chỉ ra rằng việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án là cần thiết, góp phần nghiên cứu về ngôn ngữ của một nhóm đối tượng nông dân, theo lý thuyết phân tầng xã hội của ngôn ngữ học Phần hai trình bày cơ sở lý thuyết của luận án về giao tiếp ngôn ngữ, hành động ngôn ngữ… để làm cơ sở cho sự triển khai luận án
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BẰNG LỜI TRONG GIAO TIẾP CỦA
NGƯỜI NÔNG DÂN: CHỦ ĐỀ GIAO TIẾP VÀ HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ
Chương này, thông qua tư liệu khảo sát, đưa ra một bức tranh tổng quát về chủ đề giao tiếp và các hành động ngôn ngữ của người nông dân ở hai thời kì của xã hội Việt Nam; chỉ ra mức độ sử dụng các chủ đề giao tiếp và các hành động ngôn ngữ của người nông dân Sau khi có khảo sát cụ thể sẽ chọn một hành động ngôn ngữ điển hình (tức là xuất hiện ở mức độ cao) để khảo sát: chỉ ra các biểu thức ngôn ngữ và đặc điểm ngôn từ sử dụng của các biểu thức ngôn ngữ đó trong các hành hành động ngôn ngữ của người nông dân
Trang 16Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ PHI LỜI CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG GIAO TIẾP: NGÔN NGỮ CỬ CHỈ
Chương này tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ phi lời của người nông dân trong đó
tập trung vào khảo sát ngôn ngữ miêu tả cử chỉ (dùng ngôn ngữ có lời để miêu tả các
cử chỉ; tuy nhiên, để cho gọn, luận án này gọi là “ ngôn ngữ cử chỉ”) Các ngôn ngữ
cử chỉ này được khảo sát và nghiên cứu theo hướng phân thành hai loại: một là phân loại theo chức năng và hai là phân loại theo bộ phận thực hiện Từ đó, chúng tôi nhóm các phương tiện ngôn ngữ cử chỉ của người nông dân theo các ý nghĩa biểu hiện và chỉ ra vai trò của chúng trong giao tiếp của người nông dân
Trang 17Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ
1.1.1.1 Trên thế giới
Lý thuyết về hành động ngôn ngữ được xem là một trong những lý thuyết xương sống của ngữ dụng học Người khởi xướng cho lý thuyết về hành động ngôn
ngữ (speech act) chính là J.L Austin với công trình “How do to thing with word” Kể
từ đó đến nay, lý thuyết về hành động ngôn ngữ ngày càng được nghiên cứu đầy đủ các vấn đề: các hành động ngôn ngữ; hiệu lực ở lời; phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ
vi, động từ ngữ vi; hành động ở lời trực tiếp và gián tiếp… với sự đóng góp của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới trong nhiều năm qua
J Austin là người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết hành động ngôn từ (HĐNT) với ba bước cơ bản: 1) Phân biệt câu nhận định và câu ngôn hành; 2) Khẳng định mọi câu đều mang tính chất hành động và đưa ra giả thuyết ngôn hành; 3) Công nhận thất bại của giả thuyết ngôn hành, khẳng định rằng khi thực hiện mỗi HĐNT là
ta thực hiện đồng thời ba hành động: tạo lời (locutionary act), tại lời (illocutionary act), mượn lời (perlocutionary act) Lý thuyết này là sự bổ sung căn bản và cần thiết
cho lý luận của một ngành khoa học chân chính mà trước đó chỉ công nhận đối tượng
là ngôn ngữ, chưa nghiên cứu lời nói – sự biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ trong đời
sống hàng ngày – với tư cách một đối tượng đích thực
J Searle là người kế thừa và phát triển lý thuyết HĐNT của Austin Searle đã khắc phục những điểm bất nhất của Austin để đưa ra 12 quan điểm khác biệt, quy chiếu thành bốn tiêu chí và xác lập được năm nhóm hành động ngôn ngữ lớn Với từng nhóm hành động ngôn ngữ, tác giả đã nêu những đặc trưng của nhóm và quy định giữa người nói (Sp1) và người nghe (Sp2) thực hiện một việc nào đó trong tương lai Điều này đã gián tiếp khẳng định sự có mặt của năm nhóm hành động ngôn ngữ đó là sự khẳng định cương vị - vai giao tiếp giữa Sp1 và Sp2 Theo đó, các mức độ của quyền lực và thân hữu trên thang độ quan hệ được thiết lập từ quyền lực tuyệt đối đến thân hữu tuyệt đối Ứng với các mức độ này là các hành động ngôn ngữ khác nhau
Cách phân loại của J.Searle được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ, bởi các nhóm hành động lớn được phân loại rõ ràng dựa trên những căn cứ xác đáng, từ đó, việc xác
Trang 18lập các hành động tránh bị chồng chéo và có thể tiếp tục phân chia hành động ngôn ngữ thành các nhóm nhỏ hơn
Kế tục công việc phân loại hành động ngôn ngữ của J Austin, J Searle còn rất nhiều nhà nghiên cứu như A Wierzbicka, D Wunderlich, F Recanati, K Bach và R.M Hanish, K Allan
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Khi chuyển sang tiếng Việt, trong quá trình chuyển ngữ, thuật ngữ “Speech
Acts” được gọi theo nhiều cách khác nhau như: hành vi ngôn ngữ, hành vi nói năng,
hành động ngôn từ, hành động nói, v.v trong luận án này chúng tôi sử dụng cách gọi
“ hành động ngôn ngữ”
Tác giả Đỗ Hữu Châu là người dành nhiều tâm huyết cho vấn đề hành động ngôn từ (HĐNT) (tác giả dùng thuật ngữ “hành vi ngôn từ”) Theo tác giả Đỗ Hữu
Châu: “Khi chúng ta nói năng là khi chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành
động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người) Sp2 trong ngữ cảnh C” [8, 88]
Sau khi định nghĩa HĐNT, tác giả trình bày khá kỹ lưỡng về “phát ngôn ngữ vi”, “biểu thức ngữ vi”, “động từ ngữ vi”, về biểu thức ngôn hành nguyên cấp và tường minh, về giả thuyết ngôn hành cũng như sự thất bại của giả thuyết này Tác giả cũng đã phân tích khá kỹ lưỡng các dấu hiệu ngôn hành Đặc biệt, khi giới thiệu động
từ ngữ vi – một trong những dấu hiệu quan trọng nhất, tác giả đã chia động từ nói năng thành 3 loại: động từ vừa có thể dùng với chức năng ngôn hành vừa có thể dùng với chức năng miêu tả; động từ chỉ được dùng với chức năng miêu tả và động từ chỉ được dùng trong hiệu lực ngôn hành
Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng: “Các hành động được thực hiện bằng lời là
hành động ngôn từ… Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn.” [19, 337 - 338]
Tác giả Nguyễn Đức Dân, ngoài những nội dung giới thiệu quan điểm của Austin, Searle đã chỉ ra những hiện tượng mơ hồ giữa động từ ngữ vi và động từ trần trần thuật, giữa câu ngữ vi và câu trần thuật từ đó đề xuất một số cách phân biệt hai
loại câu này.Về dấu hiệu ngôn hành, tác giả nhấn mạnh: “ngoài động từ ngữ vi còn có
những dấu hiệu ngữ vi khác nữa Đó là những cấu trúc ngữ pháp và những từ ngữ có
Trang 19quan hệ logic – ngữ nghĩa nhất định”, đồng thời cũng chỉ ra con đường hình thành của
những dấu hiệu này [12, 50]
Tác giả Nguyễn Văn Độ khi nghiên cứu hành động thỉnh cầu ( đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt) đã chỉ ra những thói quen thực hiện hành động và những đặc điểm
cơ bản của các hành động này Những đặc điểm có được thông qua sự đối chiếu giữa các ngôn ngữ chính là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn
ngữ và văn hóa Tác giả khẳng định: “ văn hóa quy định sự phát triển và đồng thời là
cội nguồn của các đặc trưng ngôn ngữ (cả trên hai phương diện: cấu tạo và sử dụng) thông qua hành động thỉnh cầu” [16, 120]
Kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa hành động ngôn từ và vai giao tiếp, các nhà nghiên cứu ở việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu cấu trúc, ngữ nghĩa và mối quan hệ của các hành động
ngôn ngữ, trong đó có việc thể hiện vai giao tiếp Theo hướng này, có thể kể đến các
tác giả với các công trình nghiên cứu như: Chu Thị Thanh Tâm (1995) với “Hành vi
mời và đoạn thoại mời” [76, 47-52] trên cứ liệu tiếng Việt, đã bước đầu nhận diện
đoạn thoại mời và phân loại những đoạn thoại mời đó dựa vào 3 tiêu chí: tiêu chí tình huống giao tiếp, tiêu chí hiệu quả, tiêu chí tổ chức của đoạn thoại mời Nguyễn Thị
Lương với bài viết: Các hình thức cảm ơn trực tiếp của người Việt [54, 14-24] đã giới
thiệu một cách khái quát các hình thức cảm ơn trực tiếp của người Việt về phương diện ngữ pháp - ngữ nghĩa, từ mô hình cấu trúc, cấu tạo, vị trí, chức năng ngữ pháp cho đến ý nghĩa của từng thành phần trong mỗi kiểu cảm ơn Tác giả Đào Thanh Lan
với một loạt các công trình: “Phân tích sắc thái nghĩa cầu khiến của các động từ: ra
lệnh, cấm, cho phép, yêu cầu, đề nghị, khuyên, mời, chúc, xin trong câu tiếng Việt” (2004) [46], “Nhận diện hành động nài nỉ trong tiếng Việt” [48], đặc biệt trong công
trình “Về việc phân loại hành động cầu khiến tiếng Việt” (2011)[50], tác giả khi phân
loại các hành động cầu khiến dựa vào ý nghĩa (lực ngôn trung) Công trình được đánh giá có giá trị khoa học cao khi phân loại được 18 hành động cầu khiến dựa vào lực ngôn trung và hình thức biểu hiện Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huệ đã đưa ra các mô
hình tổng quát của hành vi nịnh trong tiếng Việt [33, 25-29] Nguyễn Thị Thanh Ngân quan tâm đến Vai trò của yếu tố xin trong câu ngôn hành tiếng Việt [62, 65-70]
Ngoài ra còn có: Khuất Thị Lan (2014), “Hành vi hỏi trong giao tiếp vợ chồng
nông dân người Việt giai đoạn 1945 (qua ngữ liệu tác phẩm văn học
Trang 201930-1945); Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2017), Hành động cầu khiến của các vai giao tiếp của người lính Cụ Hồ trong giao tiếp chính thức
Thứ hai, nghiên cứu hành động ngôn từ gắn với các vai giao tiếp cụ thể trong
quan hệ gia đình và xã hội
Bài viết Bước đầu tìm hiểu các hành vi giao tiếp mở đầu tương tác bác sĩ - bệnh
nhân của Thanh Hương [36, 6-13] đã làm sáng tỏ sự chi phối của quan hệ vai đối với
cấu trúc của hội thoại trên cơ sở khảo sát các phương thức biểu hiện và cơ chế sản sinh
của phần mở đầu đối thoại bác sĩ - bệnh nhân Hành vi khen trong hội thoại dạy học
(khảo sát ở bậc THCS) [61, 50 - 61] của Nguyễn Thị Hồng Ngân đề cập đến một hành
vi ứng xử trong mối quan hệ tương tác giữa giáo viên và học sinh Thông qua việc nghiên cứu hành vi khen từ đặc điểm, kiểu loại đến vai trò của nó đối với tâm lí lứa tuổi và quá trình nhận thức của học sinh, tác giả kết luận: “hành vi khen trong hội thoại dạy học ở THCS mang tính đơn chiều, có nghĩa là chỉ có hành vi khen từ vai giao tiếp cao của giáo viên dành cho vai giao tiếp thấp hơn là học sinh Điều đó cho
thấy tính quy thức của giao tiếp sư phạm” Nguyễn Thị Thanh Ngân với Hình thành
thói quen cầu khiến chuẩn mực cho trẻ mẫu giáo [64, 27-32] đã chỉ ra các biện pháp
giúp trẻ hình thành những phát ngôn cầu khiến phù hợp dựa vào một trong năm điều kiện thành công là “cần quan tâm cương vị của người nói trong thế đối sánh với người nghe Cương vị ở đây được xem xét trên các nhân tố như vị thế xã hội (chức tước), nghề nghiệp, quan hệ họ hàng, đặc biệt là tuổi tác…” Đặc biệt, tác giả Lương Thị
Hiền trong công trình “Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong giao tiếp
hành chính tiếng Việt” đã nhận định: “Các hành động ngôn ngữ chỉ xuất hiện trong một quan hệ giao tiếp nhất định, tương quan một chiều (người dưới với người trên; hoặc người trên với người dưới) có thể coi là “hằng số” của trường giao tiếp Nó cho thấy bản chất hay “bản sắc” của những quan hệ bất bình đẳng về quyền lực Trong một số trường hợp khi chủ thể giao tiếp thực hiện hành động ngôn ngữ nào đó là ngay lập tức quyền lực (cả thân hữu) của chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp được xác lập” [28].Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu cụ thể các phương tiện (trong đó có
hành động ngôn ngữ) biểu thị quyền lực ở phạm vi giao tiếp hành chính Các hành động ngôn ngữ được tác giả phân tích khá sâu, thể hiện rõ quan hệ của vai trên - vai dưới Ngoài ra, có thể nhắc đến một số tác giả với công trình liên quan như: Trần Thị
Kim Hằng (2011) [26], “Văn hóa ứng xử của người Việt và người Anh: những cặp
Trang 21thoại phổ biến (khen và hồi đáp khen)”, Nguyễn Thị Thanh Ngân (2011) “Hành động giao và phân công trong tiếng Việt”, Phạm Thị Hà (2013) “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen”; [23]…
Ngoài quan hệ xã hội, nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong quan hệ gia đình cũng là nội dung được quan tâm nghiên cứu Tác giả Bùi Minh Yến đã có một loạt các bài nghiên cứu cụ thể về xưng hô giữa những người thân trong
gia đình như: Xưng hô giữa vợ chồng trong gia đình người Việt, Xưng hô giữa anh chị
và em trong gia đình người Việt, Xưng hô giữa ông bà và cháu trong gia đình người Việt Đặc biệt, với công trình nghiên cứu tổng quát Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt [83], tác giả đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu
cụ thể trước đó Từ các nghiên cứu của mình, tác giả kết luận: “Xưng hô trong gia đình
bị chi phối tuyệt đối bởi nguyên tắc tôn ti, thứ bậc (giữa các thành viên cùng thế hệ và giữa các thành viên khác thế hệ) và các phép ứng xử gắn liền với những phong tục, tập quán gia đình, dòng họ Việt cùng các quy ước chuẩn mực xã hội đối với các thành
viên trong gia đình” [83, 193-194] Lã Thị Thanh Mai [57] đã tìm hiểu Đặc điểm xưng
hô vợ và chồng trong tiếng Hàn (có liên hệ với tiếng Việt) và kết luận: “xưng hô giữa
vợ chồng trong gia đình người Hàn và người Việt có nhiều điểm tương đồng hơn là những điểm khác biệt… Cách xưng hô của người Hàn và người Việt đều bị chi phối bởi những quy định về đạo đức, về chuẩn mực ứng xử xã hội…, bởi cung bậc tình cảm, thái
độ giao tiếp của họ trong từng hoàn cảnh cụ thể”
Bài viết Giá trị văn hóa-quyền lực được đánh dấu qua hành động cầu khiến
trong giao tiếp gia đình người Việt [27,66-74] của tác giả Lương Thị Hiền thông qua
việc xác lập các quan hệ quyền lực trong giao tiếp gia đình, tìm hiểu mối quan hệ giữa hành động cầu khiến và quan hệ quyền lực, cấu trúc mệnh đề chính và quan hệ quyền lực, thành phần điều biến lực ngôn trung và quan hệ quyền lực, đã đi đến kết luận:
“Ngay cả trong giao tiếp gia đình, thiên hướng thân mật, suồng sã lấn át áp lực quyền
lực thì tính chất bất bình đẳng vẫn thể hiện rất rõ ràng…Điểm chủ chốt trong tương quan quyền lực vẫn là tính tôn ti thứ bậc và sự bình đẳng như sự bình đẳng trong quan
hệ vợ chồng thực chất chỉ ở mức quan niệm và lí thuyết” Tác giả cũng khẳng định:
“Quyền lực luôn luôn là những tham biến văn hóa đặc thù và điển hình, tạo nên sự khác
biệt trong việc lựa chọn các thành phần trong cấu trúc lời cầu khiến của các chủ thể giao tiếp ở người Việt” Đây có thể được xem là nghiên cứu sâu sắc về việc sử dụng
Trang 22hành động cầu khiến thể hiện quan hệ của vai trên-vai dưới trong giao tiếp gia đình
người Việt Ngoài ra còn có Khuất Thị Lan (2015) [50], Giao tiếp vợ chồng trong gia
đình người Việt giai đoạn 1930 - 1945 (Qua tư liệu tác phẩm văn học)
Như vậy, có thể thấy, hành động ngôn ngữ là vấn đề được quan tâm nghiên cứu
ở nhiều phương diện khác nhau: từ cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa; từ phương diện gia đình và xã hội đến việc góp phần thể hiện chiều sâu văn hóa dân tộc; từ tư liệu giao tiếp đời thường đến tư liệu trên văn bản; … là nội dung được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của người nông dân Việt Nam, từ góc độ vai giao tiếp và chủ đề giao tiếp
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sự phân tầng xã hội với việc sử dụng ngôn ngữ
Phân tầng được coi là một hiện tượng xã hội của loài người, được thể hiện rất đa dạng ở các quốc gia, khu vực và những nền văn hóa khác nhau “Phân tầng xã hội” là sự phân chia nhỏ xã hội thành các tầng lớp khác nhau về địa vị kinh tế, địa vị chính trị, học vấn, nơi cư trú, cách ứng xử, phong cách sinh hoạt, Khái niệm này dùng để chỉ sự phân chia các cá nhân hay các nhóm xã hội thành các tầng lớp khác nhau Trong mỗi tầng xã hội đó lại bao gồm các cá nhân, các nhóm xã hội có sự giống nhau về địa vị kinh
tế, chính trị, uy tín
Ngôn ngữ học xã hội sử dụng khái niệm phân tầng xã hội vào nghiên cứu việc
sử dụng ngôn ngữ Các nhà ngôn ngữ học xã hội cho rằng: “Ngôn ngữ có vai trò là tấm gương phản chiếu xã hội, là thước đo bản sắc, là chỉ tố về sự ứng xử văn hóa của cộng đồng giao tiếp và của mỗi cá nhân Vì thế, ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp chịu
sự chi phối của phân tầng xã hội Nói cách khác, nếu có sự phân chia con người trong xã hội thành các tầng bậc khác nhau thì kéo theo đó, cũng có những đặc trưng khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các nhóm người thuộc các tầng xã hội riêng biệt”.[41]
1.1.2.1 Trên thế giới
Xuất phát từ phương Tây, ngôn ngữ học xã hội cho rằng, các tầng lớp xã hội khác nhau sẽ có kiểu giao tiếp khác nhau tương ứng với giai tầng của mình, theo đó, con người thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau sẽ có cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau Đồng thời xã hội có bao nhiêu nhóm xã hội thì có bấy nhiêu phương ngữ xã hội Nhóm xã hội lại được phân chia theo tầng lớp xã hội tạo nên sự phân tầng xã hội Ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp chịu sự chi phối của phân tầng xã hội Nghĩa là, nếu
có sự phân chia con người trong xã hội thành các tầng bậc khác nhau thì kéo theo đó,
Trang 23cũng có những đặc trưng khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các nhóm người
thuộc các tầng xã hội riêng biệt Vì thế, "Sự hình thành phương ngữ xã hội có liên quan
chặt chẽ đến thuộc tính xã hội của người giao tiếp Mỗi thành viên trong xã hội sẽ được xếp vào các giai tầng xã hội khác nhau trên cơ sở hàng loạt các tiêu chí như: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, trình độ văn hóa… Các đặc điểm về giai tầng
xã hội có tác động trực tiếp và tạo nên các đặc điểm về ngôn ngữ trong sử dụng” [41,
205] Điều này cho thấy giao tiếp của con người chịu tác động của các nhân tố xã hội có được từ đặc điểm quy gán như tuổi, giới và từ đặc điểm có được nhờ năng lực, sự cố gắng của bản thân như học vấn, địa vị, thu nhập, giáo dục, Tổng hợp lại, đó là sự phân tầng theo tuổi, giới, quyền lực, nghề nghiệp, học vấn, thu nhập, vùng miền, tôn giáo,v.v
Vấn đề phân tầng xã hội trong ngôn ngữ được các nhà xã hội học tiếp cận từ khá sớm, các công trình nghiên cứu đầu tiên là của Fischer (1958), Kucera (1961) và thực
sự được đi sâu tìm hiểu vào những năm 60 của thế kỉ XX bởi các nhà ngôn ngữ học xã hội hàng đầu như Labov, Wolfram,Anshen,…
Trong tác phẩm mang tên “Nghiên cứu ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội” (1972), dẫn theo cuốn “Ngôn ngữ văn hóa và xã hội, một cách tiếp cận liên ngành” [38], Labov đã đưa ra một số kết luận về sự phân tầng xã hội trong cách phát âm của âm vị /th/ trong các
từ “thing, there,…” của người dân thành phố New York thuộc bốn giai tầng kinh tế - xã hội khác nhau: giai tầng thấp, giai tầng công nhân, giai tầng trung lưu thấp và giai tầng trung lưu cao Labov cũng nghiên cứu cách đọc câu và đọc bảng từ theo học vấn và giới tính ở Hillsboro, Bắc California Qua việc đưa ra các kết quả nghiên cứu này, Labov rút ra một số nhận xét thú vị liên quan tới sự chuyển đổi phong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các nhóm xã hội mà ông đã tìm hiểu và rút ra các công thức liên quan tới liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ trong các nhóm xã hội để từ đó thấy được quan điểm chung, điểm mang tính quy luật trong cùng một nhóm người, một cộng đồng người cũng như qua đó thấy sự khác nhau giữa các nhóm, các cộng đồng riêng biệt
Phân nhóm xã hội theo giới cũng là một cách thức quen thuộc khi nghiên cứu các vấn đề xã hội nói chung và ngôn ngữ nói riêng Tác phẩm nghiên cứu chính thức đầu tiên về sử dụng ngôn ngữ giữa nam và nữ có lẽ là nghiên cứu của Sapir với tựa đề
“Male and female forms of speech in Yana” (Phong cách nói của nam và nữ trong tiếng Yana) nghiên cứu sự khác nhau khi dùng một số biến thể âm vị luân phiên trong tiếng Yana giữa nam giới và nữ giới [Dẫn theo 14]
Trang 24Trong công trình nghiên cứu về một số đặc trưng âm vị tiếng Anh của người da trắng ở Mỹ in trong cuốn, Labov đã đưa ra những chứng cứ về mặt số lượng cho thấy
nữ giới có xu hướng dùng âm vị chuẩn mực nhiều hơn nam giới [Dẫn theo 14]
Có thể thấy, một trong những vấn đề của phân tầng ngôn ngữ được ngôn ngữ học xã hội phương Tây đề cập nhiều nhất là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới/giới tính Những công trình nghiên cứu đầu tiên có thể kể đến các nghiên cứu của O Jersperson, E Sapir nhưng phải đến R Lakoff thì vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và giới mới được nghiên cứu một cách hệ thống Bằng cuốn "Language and woman‟s
place" (Ngôn ngữ và vị trí của người phụ nữ), có thể nói, R Lakoff đã có những đóng
góp đáng kể trong những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới Trong nghiên cứu của mình, R.Lakoff muốn hướng đến hai mục tiêu, một là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới; hai là nghiên cứu sự kì thị giới trong ngôn ngữ, từ đó mong muốn góp phần vào phong trào nữ quyền (chống kì thị đối với nữ giới)
Nếu như công trình của Lakoff được coi là nghiên cứu mang tính điển hình về phương ngữ giới ở phương Tây thì ở châu Á, vấn đề phương ngữ giới cũng được nhiều tác giả lưu tâm Năm 2007, Nhà xuất bản Khoa học Trung Quốc ấn hành cuốn sách của
tác giả Lại Canh Sơn (Lai Gengshan) bằng tiếng Anh: "Aprroaching Gender in Chinese
Compliments" (Hán ngữ xưng tán ngữ trung đích tính biệt nghiên cứu"; Nghiên cứu giới
tính trong lời khen ở tiếng Hán) Cuốn sách này được xuất bản trên cơ sở của luận án tiến
sĩ cùng tên của tác giả Sử dụng phương pháp dân tộc học để nghiên cứu giới tính trong lời khen ở tiếng Hán theo cộng đồng (community), tác giả đã chỉ ra được những khác biệt
về sử dụng lời khen của nam giới và nữ giới giữa các cộng đồng khác nhau Ba cộng đồng
mà tác giả chọn để nghiên cứu là trường học, làng xã và công nhân Tuy nhiên, với ba
cộng đồng này, tác giả cũng chỉ nghiên cứu trường hợp (dẫn theo [23])
Có thể thấy rằng, nhân tố xã hội tác động lên giao tiếp ngôn ngữ là rất phong phú, đa dạng Đó là hàng loạt nhân tố gồm các nhân tố quy gán như tuổi, giới; các nhân tố có được như thu nhập/kinh tế, giáo dục, địa vị, tôn giáo ,v.v Và, mỗi nhân tố, hay tổng hợp các nhân tố đều được đặt trên trục tọa độ để xem xét: sự biến đổi theo diễn tiến của thời gian và sự xác định ở từng địa điểm cụ thể
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu phân tầng xã hội với việc sử dụng ngôn ngữ cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Trang 25Tác giả Nguyễn Văn Khang, từ góc nhìn sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ của ngôn ngữ học xã hội, đã xem xét tác động của các nhân tố xã hội, cụ thể
là sự phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay ảnh hưởng thế nào đến giao tiếp của người Việt Dựa vào cách khảo sát của ngôn ngữ học xã hội, nhất là ngôn ngữ học phương Tây và thực tế đời sống của xã hội Việt Nam hiện nay, trong bài viết “Giao tiếp của người Việt hiện nay: Với sự phân tầng xã hội: Một số vấn đề chung và khảo sát thăm dò” [41] tác giả đã đưa ra 8 nhân tố tác động đến giao tiếp tiếng Việt của người Việt
cùng với việc sử dụng phương pháp tính toán Thang vi phân ngữ nghĩa (Semantic
differential scales), đã cho ra bảng kết quả sau:
1.7 2.05 2.2 2.71 2.73 2.94
3.79 4.07
Bảng 1.1: Bảng các nhóm nhân tố xã hội ảnh hưởng đến giao tiếp người Việt
(Dẫn theo Nguyễn Văn Khang [43, 30 - 43])
Có thể tổng hợp thành các nhân tố tác động đến giao tiếp của người Việt từ mạnh đến yếu như sau:
Nhóm 1 là nhóm các nhân tố tác động mạnh nhất đến giao tiếp của người Việt gồm: tuổi (1.7), địa vị (2.05) và giới (2.2)
Nhóm 2 là nhóm nhân tố tác động vừa phải đến giao tiếp của người Việt gồm: nghề nghiệp (2.71), vùng miền (2.73), học vấn (2.94)
Nhóm 3 là nhóm nhân tố tác động ít đến giao tiếp của người Việt là: thu nhập (3.79) và tôn giáo (4.07)
Theo hướng này, ở Việt Nam, còn có các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ và giới như: Vũ Thị Thanh Hương, Lương Văn Hy, Nguyễn Thị Thanh Bình
Đáng chú ý là hai luận án tiến sĩ: Nguyễn Quang (1999) về “Một số khác biệt giao tiếp lời
Trang 26về “Văn hóa ứng xử của người Việt và người Anh: những cặp thoại phổ biến (khen và
hồi đáp khen)” [26] Điểm giống nhau của hai công trình này là coi giới là một trong các
biến xã hội tác động đến hành vi khen và đặt giới trong mối quan hệ với các biến khác như tuổi, nghề nghiệp, địa vị xã hội, … để khảo sát Tuy nhiên, do chỉ là một nội dung nhỏ trong nhiều nội dung lớn, nhất là lại nhằm đối chiếu với tiếng Anh nên các nhận xét đưa ra mới chỉ dừng lại ở nhận định chung chung nghiêng về xã hội học như giữa nam và
nữ thì giới nào khen nhiều hơn nhận, các giới thường khen người cùng giới hoặc khác giới
về điều gì (chủ đề khen)
Theo hướng tuổi, có thể nhắc đến tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình với các bài viết
như: Vài nhận xét về ngôn ngữ trẻ em 2-3 tuổi dưới ảnh hưởng của yếu tố xã hội [5],
Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giới và sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ
em, t/c Ngôn ngữ, số 2 [7]
Theo hướng địa vị, tác giả Lương Thị Hiền trong công trình “Các phương tiện
ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong giao tiếp hành chính tiếng Việt đã nhận định: “Các hành động ngôn ngữ chỉ xuất hiện trong một quan hệ giao tiếp nhất định, tương quan một chiều (người dưới vai với người trên; hoặc người trên với người dưới) có thể coi
là “hằng số” của trường giao tiếp Nó cho thấy bản chất hay “bản sắc” của những quan hệ bất bình đẳng về quyền lực Trong một số trường hợp khi chủ thể giao tiếp thực hiện hành động ngôn ngữ nào đó là ngay lập tức quyền lực (cả thân hữu) của chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp được xác lập”[28] Có thể nói, đây là công trình
nghiên cứu cụ thể các phương tiện (trong đó có hành động ngôn ngữ) biểu thị quyền lực ở phạm vi giao tiếp hành chính Các hành động ngôn ngữ được tác giả phân tích khá sâu, thể hiện rõ quan hệ của vai trên - vai dưới
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng phân tầng xã hội là vấn đề
đã được không ít các nhà khoa học đề cập tới Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá
“động” bởi sự phân tầng xã hội phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hóa xã hội, mà, xã hội
và văn hóa cũng là những yếu tố có sự chuyển mình không ngừng theo thời gian Do
đó, nghiên cứu ngôn ngữ theo theo định hướng phân tầng xã hội là một con đường luôn mới mẻ, hứa hẹn nhiều thú vị và có ý nghĩa đối với lí luận ngôn ngữ nói chung
và ứng dụng ngôn ngữ nói riêng
Trang 271.1.3 Tình hình nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân
Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân cho đến nay thường chú trọng vào nhân vật nông dân trong tác phẩm văn học
Như chúng ta đã biết, nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật trong các tác phẩm văn học là một hướng nghiên cứu thu hút sự chú ý giới Việt ngữ học trong thời gian qua như nghiên cứu các vai giao tiếp, các hành động ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học
1930 - 1945 của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô tất Tố, v.v cũng như một số tác phẩm văn học hiện đại của Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Nguyễn Thị Thu Huệ, trong kịch của Lưu Quang Vũ,
Có thể kể đến một vài bài viết và luận văn như: Xưng hô trong lời chửi của
nhân vật truyện ngắn Việt Nam của Trần Thị Hoàng Yến [84, 47-54], Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (chọn lọc) của Lê
Ngọc Hòa [32] đã cho thấy những kết quả nghiên cứu xưng hô trong tác phẩm văn học tương tự như xưng hô trong đời thường Tác giả Trần Thị Hoàng Yến khẳng định: xưng hô cũng là hành động ngôn ngữ nhưng là hành động ngôn ngữ đặc biệt, tuy không thể hiện nội dung mệnh đề nhưng góp phần thể hiện rõ nét quan hệ liên nhân giữa những người giao tiếp [84].Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu như chưa đề cập đến ngôn ngữ nhân vật là nông dân, nếu có chăng cũng là rất ít
Hay: Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu
Lai của Cao Xuân Hải [24], Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai
của Nguyễn Thị Thái [78],Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trong
truyện ngắn Hồ Anh Thái của Phạm Thị Hồng Nhung [69]…
Đáng chú ý nhất có liên quan phần đến đề tài này là luận án của Khuất Thị Lan trong nghiên cứu đặc điểm giao tiếp ngôn ngữ vợ chồng qua các tác phẩm văn học thời kì 1930-1945 [50] Trong luận án này, tác giả đã nghiên cứu, khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp của các cặp vợ chồng là nông dân như vợ chồng anh Dậu
trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, vợ chồng ông Đoàn trong “Ông lão hàng
xóm” của Kim Lân, vợ chồng nông dân trong “Gói đồ nữ trang” của Nguyễn Công
Hoan… Luận án đã chỉ ra đặc điểm xưng hô trong giao tiếp vợ chồng nông dân, các chủ đề giao tiếp và các hành động ngôn ngữ tương ứng của vợ chồng nông dân: “vợ
chồng nông dân người Việt ưa dùng lối nói trống không hoặc mẹ đĩ, bố cu, thầy, u, bố
thằng cu, u nó, mẹ hĩm… và tự xưng: tôi, người ta, thậm chí tao…những cách xưng hô
Trang 28đó không làm họ thấy ngượng ngùng, xa lạ mà trái lại họ cảm thấy thoải mái, tự tin” Tuy nhiên do giới hạn trong giao tiếp vợ chồng và phần này chỉ là một nội dung nhỏ của luận án và ở một giai đoạn cụ thể nên tác giả chưa có điều kiện khảo sát sâu đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân
Nhận xét: điểm qua các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, các tác giả
đã dành sự quan tâm nghiên cứu về giao tiếp nói chung và hành động ngôn ngữ nói riêng của các vai giao tiếp theo phân tầng xã hội Nhìn chung, các tác giả đã tập trung làm rõ các vấn đề về hành động ngôn ngữ, các quan hệ vai quyền lực và vai thân hữu trên các phương diện: từ cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa; từ phạm vi gia đình đến xã hội; từ nhân tố xã hội tác động đến các quan hệ đến các đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa;
… Tuy nhiên, ở phạm vi giao tiếp của người nông dân, theo tìm hiểu của chúng tôi, các nghiên cứu về người nông dân chưa được quan tâm tìm hiểu Đây chính là lí do
luận án lựa chọn đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân (từ tư liệu một số tác
phẩm văn học)
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.2.1 Một số vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ
1.2.1.1 Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp ngôn ngữ là tâm điểm của mọi đường hướng nghiên cứu ngôn ngữ học từ thời kỳ đầu cho tới nay Nó được coi là “một hành vi quan trọng bậc nhất của con người” Ngôn ngữ trong sử dụng là kết quả của sự lựa chọn xuất phát từ những nhân tố ngôn ngữ và xã hội Đó là sự lựa chọn mang tính chức năng (M Bednarek)
Do đó, giao tiếp được nhìn nhận là một vấn đề rất phức tạp và sự vận hành của ngôn ngữ đã được xem xét, lí giải theo nhiều cách khác nhau
Những tác giả đầu tiên nghiên cứu về giao tiếp bằng ngôn ngữ là các nhà tu từ học
La Mã và Hi Lạp cổ đại với mục đích giúp cho quá trình đào tạo các nhà hùng biện Dựa trên các kết quả nghiên cứu, Aristotle đã khái quát mô hình giao tiếp bằng ngôn ngữ với
ba nhân tố: người phát, thông điệp và người nhận Đây được xem là mô hình đầu tiên phác họa về giao tiếp bằng ngôn ngữ Cũng từ mô hình cơ bản này, những nghiên cứu
về giao tiếp được mở rộng, bổ sung các nhân tố mới với nhiều cách tiếp cận khác nhau
Có thể kể đến mô hình lí thuyết thông tin (Information theory) trong Lí thuyết
toán học về thông tin (The mathematicaltheory of communication) của Shannon C.E
and Warren Weaver (1964) [dẫn theo 42] Đây được xem là mô hình cơ sở, tối giản
Trang 29của mô hình giao tiếp ngôn ngữ Trong mô hình này có 4 yếu tố giao tiếp: nguồn phát, nguồn nhận, kênh và nhiễu Giao tiếp ngôn ngữ của con người nhìn về tổng thể có thể quy về mô hình này, trong đó nguồn phát là người nói, nguồn nhận là người nghe, thông qua kênh (nói hoặc viết) và sự cản trở đối với giao tiếp là nhiễu Đây được xem
là mô hình “cơ sở”, “tối giản” bởi đối với thông tin, nhất là trong sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thông tin như hiện nay thì mô hình không dừng lại ở mức đơn giản như vậy Trong giao tiếp ngôn ngữ với tư cách là một hành vi mà chủ thể của hành vi này là con người có những đặc điểm và mối quan hệ xã hội phức tạp, đa chiều cùng hàng loạt các nhân tố tác động đến giao tiếp thì lại càng không đơn giản là như vậy
Điều này cũng đã được không ít các công trình nghiên cứu, khảo sát, mà đáng chú ý là các mô hình giao tiếp của R Jakobson, J Lyons, M.A.K Halliday
Khi nghiên cứu về quá trình tạo lập văn bản, R Jakobson trong công trình
“Linguistics and Poetics” đã đưa ra sơ đồ giao tiếp bằng ngôn ngữ gồm 6 nhân tố, gồm:
3 nhân tố cơ bản của Aristotle (người phát, thông điệp và người nhận) và thêm 3 nhân tố
có tính chất trung gian (ngữ cảnh, tiếp xúc và mã) [dẫn theo 42] Việc Jakobson mở
rộng các thành tố đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong giao tiếp ngôn ngữ Tuy nhiên, tác giả mới chỉ xem xét các nhân tố tác động một chiều
Xem xét giao tiếp bằng ngôn ngữ gắn với sự truyền tin, J Lyons đưa ra lược đồ
với sự xuất hiện “vật nhận” đóng vai trò như nhân vật giao tiếp trung gian Có thể nói,
lược đồ đã lấy sự trao đổi lời làm trung tâm Tuy nhiên, cũng như các mô hình và sơ
đồ của các tác giả Aristotle và Jakobson, lược đồ của Lyons vẫn chỉ coi X (nguồn phát
tin) và Y (nguồn nhận tin) – những nhân vật trực tiếp trong giao tiếp có tính một chiều,
tức là: X chủ động phát tin còn Y thụ động tiếp nhận
Mô hình giao tiếp của M.A.K Halliday với khái niệm ngữ vực, tác giả chú trọng tới ba bình diện gồm: 1/Hiện trường/toàn cảnh (sự kiện phát sinh hành vi ngôn ngữ và mục đích giao tiếp); 2/Phương thức (phương tiện và kênh truyền giao tiếp); 3/ Người giao tiếp (các vai trong hoạt động xã hội của người tham gia giao tiếp)
Có thể nhận thấy, dù xuất phát điểm nghiên cứu của các tác giả là khác nhau nhưng nhìn chung, theo các tác giả, một cuộc giao tiếp gồm 4 yếu tố then chốt: 1) Người tham gia giao tiếp; 2) Thông điệp truyền đi; 3) Cách thức/kênh truyền thông điệp; 4) Môi trường truyền thông điệp
Trang 30Ở Việt Nam, giao tiếp ngôn ngữ cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu Căn cứ vào Từ điển “The Encyclopedia of Language and Linguistics”
(1994), tác giả Diệp Quang Ban đã lí giải các cách hiểu về giao tiếp và đưa ra các hiểu giao tiếp bằng ngôn ngữ như sau:
a Một cách đơn giản nhất và chung nhất, giao tiếp được hiểu là quá trình thông tin diễn ra giữa ít nhất hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định
Trong định nghĩa này có ba yếu tố cần chú ý: Thứ nhất, giao tiếp là “quá trình
thông tin diễn ra giữa hai người giao tiếp (communicators) trao đổi với nhau” Như
vậy, nhân vật giao tiếp ở đây không nhất thiết phải là hai con người tách biệt mà có thể
là một người “phân thân” tự trao đổi với bản thân mình Thứ hai, “hai người giao tiếp
trao đổi với nhau”, tức là họ có sự đồng thuận tương tác Nếu không có sự đồng thuận
thì giao tiếp không thể diễn ra Thứ ba, cuộc giao tiếp giữa các nhân vật phải có một ngữ cảnh và một tình huống cụ thể
b Trong ngôn ngữ học, “giao tiếp được nhìn nhận như là những cái vốn có trong
thông điệp ngôn ngữ: qua bình diện nội dung và bình diện biểu hiện (hình thức của thông điệp bằng ngôn ngữ, người ta có thể hiểu tình huống, ngữ cảnh, và bản thân những người trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình” [4, 18-19]
Cách định nghĩa giao tiếp này được coi là cách định nghĩa có tính chất trung hòa,
có quan tâm đến những truyền thống khác nhau trong ngôn ngữ học
Trong “Từ điển Khái niệm Ngôn ngữ học” Nguyễn Thiện Giáp cho rằng “Giao
tiếp (communication) là sự trao đổi tư tưởng, thông tin… giữa hai hoặc hơn hai người Trong mỗi hành động giao tiếp thường có ít nhất một người nói hoặc người gửi, một thông điệp được truyền đạt và một người hoặc những người tiếp nhận” [22, 179]
Tác giả Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa trong cuốn: “Phân tích phong
cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học” định nghĩa: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
là sự tiếp xúc giữa con người với con người nhằm truyền đạt hay thông báo một số nội dung trong tư duy [34, 12] Khuất Thị Lan trong công trình: “Giao tiếp vợ chồng trong gia đình người Việt giai đoạn 1930-1945 (Qua tư liệu tác phẩm văn học)” nhận định giao
tiếp ngôn ngữ là: “hoạt động mà người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt cho người nghe
những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình về một thực tế khách quan nào đó
để người nghe có hành động với thực tế như người nói mong muốn” [50, 13]
Trang 31Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi hiểu giao tiếp ngôn ngữ là hình thức trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm giữa người với người trong xã hội Nhờ giao tiếp và qua giao tiếp con người có thể thiết lập được các mối quan hệ xã hội nhất định Thông qua các mối quan hệ xã hội này, con người có thể ứng xử được với nhau Có thể nói, hoạt động giao tiếp là hoạt động thường xuyên, liên tục giữa người với người trong cộng đồng ngôn ngữ Đó là hoạt động mà người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt cho người nghe những thông tin, những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình về một thực tế khách quan nào đó để người nghe có hành động với thực tế như người nói
mong muốn
1.2.1.2 Giao tiếp ngôn từ và giao tiếp phi ngôn từ
Giao tiếp ngôn ngữ, với cách hiểu hiện nay là một khái niệm rất rộng Với nghĩa rộng, giao tiếp ngôn ngữ để chỉ một hệ thống kí hiệu bất kì dùng để diễn đạt, thông báo một nội dung nào đó, cho nên mới có giao tiếp âm nhạc, giao tiếp hình họa, giao tiếp điện tử, v.v Tuy nhiên, giao tiếp ngôn ngữ từ góc độ ngôn ngữ học hiện đại được nhắc đến gồm hai loại chính là giao tiếp bằng lời/ ngôn từ (verbal communication) và giao tiếp phi lời/ phi ngôn từ (nonverbal communication)
Nếu như giao tiếp ngôn từ sử dụng các yếu tố thuộc hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm thì giao tiếp phi ngôn từ gồm hai loại là cận ngôn (paralanguage) và ngoại ngôn (extralanguage)
Cận ngôn gồm các thành tố như: các đặc tính ngôn thanh, các yếu tố xen ngôn
thanh và sự im lặng : các đặc tính ngôn thanh gồm tốc độ (độ nhanh chậm của chuỗi lời nói), cao độ (độ cao thấp của chuỗi lời nói), phẩm chất ngôn thanh (khàn, trong, rè, the thé, ồm ồm) ; các yếu tố xen ngôn thanh như ậm ừ, à, ờ, v.v ; im lặng cũng được
coi là một hình thức giao tiếp
Ngoại ngôn gồm ba loại: ngôn ngữ cử chỉ (body language; ngôn ngữ cơ thể),
ngôn ngữ vật thể (object language) và ngôn ngữ môi trường
Ngôn ngữ cử chỉ (body language; ngôn ngữ cơ thể) bao gồm các động tác của
cơ thể tức là các hoạt động của các bộ phận cơ thể con người như động tác của mắt, của miệng, của lưỡi, của tay, của chân,… Ví dụ: bậm môi thường thể hiện thái độ âm tính như tức giận, thất vọng, mất tinh thần; mím môi thể hiện đang phải suy nghĩ cân nhắc để lựa chọn; động tác hai môi run lên có thể đang rơi vào trạng thái bất ngờ, có thể là lo sợ hoặc cảm động
Trang 32Ngôn ngữ vật thể (object language) gồm các vật thể sở hữu trên người : trang phục (quần áo, giày dép, nơ, cà vạt, dây lưng, ); trang sức (nhẫn, hoa tai,…); phụ kiện (đồng
hồ, túi xách, kính, ); phương tiện (ô tô, xe máy, xe đạp ); trang điểm (màu mắt, màu môi, đậm nhạt,…); mùi nhân tạo (nước hoa, dầu gội tóc,…), v.v
Ngôn ngữ môi trường ( environmental language) gồm môi trường giao tiếp như địa điểm giao tiếp, thời gian diễn ra giao tiếp, khoảng cách giữa các đối tượng tham gia giao tiếp (gần hay xa), v.v
Khi giao tiếp, người ta có thể: hoặc chỉ dùng ngôn từ, hoặc chỉ dùng phi ngôn từ hoặc kết hợp cả hai Điều đáng lưu ý là, xét trong mối tương quan giữa lời và phi lời thì yếu tố phi lời đóng vai trò quan trọng hơn nhiều so với ngôn từ Chẳng hạn, theo Hall (1959) 60% giao tiếp của con người thuộc về phi ngôn từ; Harison (1965) cho rằng, trong giao tiếp trực diện, chỉ có 35% ý nghĩa xã hội là được truyền tải bằng ngôn từ; Mehrabien và Wiener thì cho rằng, yếu tố lời chiếm 35%, còn phi lời chiếm tới 65% và 93% ý nghĩa xã hội gắn kết với phi ngôn từ
Như vậy, có thể hình dung giao tiếp ngôn ngữ bằng lời và phi lời là như sau:
Giao tiếp phi
ngôn từ/ phi lời
(nonverbal
communication)
Giao tiếp cận ngôn từ
(paralanguage)
Các đặc tính ngôn thanh
tốc độ (độ nhanh chậm của chuỗi lời nói), cao độ (độ cao thấp của chuỗi lời nói), phẩm chất ngôn thanh (khàn, trong, rè, the thé, ồm ồm)
Các yếu tố xen ngôn thanh
ậm ừ, à, ờ, v.v
Im lặng
giao tiếp
Ngôn ngữ cử chỉ / cơ thể
(body language)
các động tác của cơ thể tức là các hoạt động của các bộ phận cơ thể con người như: động tác của mắt, của miệng, của lưỡi, của tay, của chân, v.v
Ngôn ngữ vật gồm các vật thể sở hữu trên người :
Trang 33Ngôn ngữ môi trường
(environmental
language)
môi trường giao tiếp như địa điểm giao tiếp, thời gian diễn ra giao tiếp, khoảng cách giữa các đối tượng tham gia giao tiếp (gần hay xa), v.v
1.2.1.3 Sự kiện giao tiếp
Giao tiếp trong xã hội có khuynh hướng được phân loại theo sự kiện (events) hơn là một chuỗi diễn ngôn, với ít hay nhiều những ranh giới được xác định giữa chúng và những quy ước hành vi khác nhau phù hợp cho mỗi loại sự kiện Các ranh giới xác định sự kiện giao tiếp phổ biến nhất là khi có sự thay đổi chủ đề, thành viên,
mục đích giao tiếp, hay biến thể giao tiếp Nói như tác giả Nguyễn Văn Khang:“Sự
kiện giao tiếp (speech event) là đơn vị miêu tả cơ bản trong nghiên cứu giao tiếp ngôn ngữ” [41, 353].Trong bất kì tình huống giao tiếp nào, các hoạt động tương tác được thể
hiện trong sự kiện giao tiếp phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định Vì vậy, người tham gia giao tiếp phải có năng lực nhận diện sự kiện giao tiếp hay nói khác đi là nhận diện được sự tham gia và chi phối của các nhân tố giao tiếp Có nhiều quan điểm về sự kiện giao tiếp, song từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, quan điểm của D Hymes được
xem là điển hình hơn cả
Để giúp các nhà nghiên cứu về giao tiếp lập khung các sự kiện giao tiếp và
những gì diễn ra trong đó, D Hymes đã đề nghị một cấu trúc dân tộc học liên quan đến giao tiếp ngôn ngữ và được chấp nhận rộng rãi trong giới nghiên cứu, bao gồm 8 thành
tố được viết tắt bằng 8 chữ cái làm thành từ S.P.E.A.K.I.N.G Đó là:chu cảnh/thoại trường (setting and scence, S); người tham dự/tham thể (participants, P); mục đích (end, E); chuỗi hành động ngôn từ (acts sequence, A), phương thức (key, K); phương tiện (instrumentalities, I); chuẩn tương tác và chuẩn giải thích (norm of interraction and interpretation N); thể loại (genres; G) (dẫn theo Nguyễn Văn Khang [41, 353])
Trang 341) Chu cảnh (Setting and Scence: S): Là nhân tố gồm hai tiểu nhân tố là: khung
cảnh và hiện trường Khung cảnh chỉ thời gian và địa điểm diễn ra giao tiếp tức chu
cảnh vật lí cụ thể (physical cirumstances) Hiện trường chỉ hoàn cảnh tâm lí hoặc giới
hạn về mặt văn hóa của hoạt động giao tiếp (như trường hợp chính thức - phi chính thức, quy thức - phi quy thức) Trong một khung cảnh nhất định người giao tiếp có thể
tự do thay đổi hiện trường Ví dụ:
[1] Người đàn bà làm thuê rên lên một tràng thật dài, đau đớn như một lời tự
thú, quỳ phục xuống vừa nói vừa khóc nức lên:
- Lạy ông cháu có tội Cháu cắn rơm cắn cỏ van ông ông tha cháu Ông đừng đuổi cháu! Vì muốn được ở lại hầu hạ ông, nên cháu mới dại dột nghĩ ra thế! Vì mấy hôm nay cô Đào muốn đuổi cháu đi, lúc nào cũng lườm cũng nguýt cháu, nên cháu mới phải đội lốt ma, đội lốt bà nhà để gia đình đừng đuổi cháu!
Người đàn bà quệt nước mắt, rồi sán đàn ôm lấy chân ông Hàm, càng nức nở:
- Xin ông làm phúc làm đức đừng đuổi cháu Cháu xin làm con tôi con đòi hầu
hạ ông suốt đời!
- Thôi chị cứ ớ đây! Mọi việc ở nhà này là tôi quyết định Tôi thấy chị cũng biết làm ăn Ông Hàm vừa nói vừa cúi xuống gỡ tay người đàn bà
- Giời ơi thế thì cháu đội ơn ông! Em đội ơn ông! Em sẽ phục dịch ông suốt đời!
- Nước mắt chị ta rơi lã chã xuống đầu gối ông Hàm
- Em thương ông! Em sẽ hầu hạ ông? - Người đàn bà vừa nói vừa khóc, vừa thở hào hển, rồi chị rên lên như mê sảng
(Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường, tr.217)
Trong khung cảnh giao tiếp tại nhà (buồng ngủ) và đêm tối, nhân vật chị Bé (người giúp việc) đã tiến hành một hoạt động giao tiếp với ông Hàm (ông chủ) Hoạt động giao tiếp này, có đích là chị Bé muốn xin ông chủ tha thứ những việc làm sai trái của mình Để thực hiện mục đích ấy chị Bé đã dùng một hành động ngôn ngữ cầu khẩn,
van xin: “Cháu cắn rơm cắn cỏ van ông ông tha cháu”, “Xin ông làm phúc làm đức
đừng đuổi cháu ” Sau lượt lời có vẻ nhẹ nhàng của ông chủ, chị Bé nhận ra được tâm
lí của ông chủ và đã lập tức thay đổi hiện trường giao tiếp (chuyển từ van xin, có sự phân biệt khoảng cách, vị thế sang gần gũi, thân mật) Ta nhận ra điều này qua hành
động ngôn ngữ hứa hẹn, thề thốt: “Em đội ơn ông! Em sẽ phục dịch ông suốt đời! Em
thương ông! Em sẽ hầu hạ ông.” Sở dĩ có sự chuyển đổi này là do nhân vật giao tiếp
(chị Bé) đã ý thức rất rõ về hiện trường giao tiếp Chị ta hiểu rằng ông Hàm đang do
Trang 35dự và có thể bị chị ta thuyết phục nên chị ta thay đổi cách xưng hô để đạt được đích giao tiếp Đây cũng là việc thường thấy ở những nhân vật giao tiếp có sự nhạy cảm
Nói cách khác, chu cảnh chính là hoàn cảnh giao tiếp Đó là những điều kiện về mặt không gian, thời gian xã hội diễn ra cuộc giao tiếp Đây cũng là một nhân tố phức tạp ảnh hưởng rất đến cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm hai loại là hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp
2) Người tham dự (Participants:P): Các câu hỏi cơ bản để mô tả về người tham
dự là: ai đang tham gia vào sự kiện giao tiếp? Họ được tổ chức như thế nào? Người
tham dự giữ bốn vai là: người nói (addressor), người nghe (listener), người phát ngôn (speaker), người thụ ngôn (addressee) Trong giao tiếp, những người giao tiếp có thể phối hợp vai một cách linh hoạt speaker – listener; addressor – addressee; sender –
receiver Trong trường hợp giao tiếp là cặp đôi thì sự kết hợp vai một bên là người nói,
một bên là người nghe (addressor – listener) Trong các buổi diễn thuyết thì người
diễn thuyết là người phát ngôn, còn đối tượng của diễn thuyết là khán thính giả chính
là người thụ ngôn(speaker – addressee) Người nói và người nghe là những người nắm
được các quy tắc giao tiếp, cụ thể là các quy tắc về mặt phát ngôn và nhận ngôn Ví
dụ: [2] - Lạy cậu, cậu tha cho Có gì tôi không biết xin cậu cứ bảo
- Thế sao tao bảo có gì không, mày lại cậy có giấy của ông nghị mày Ông nghị mày oai lắm thế à?
- Vâng, quả thật tôi không biết
- Quả cái thằng bố mày Thế mày tưởng mày lờ bố mày mà mày lọt quan à?
(Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan, tr.59)
Đây là giao tiếp giữa anh Pha và tên lính canh cửa quan Trong giao tiếp này, các nhân vật tham gia ý thức được vị trí của mình nên đã có những cách thức giao tiếp phù hợp Vì ý thức được mình là vai dưới nên nhân vật Pha đã có cách xưng hô nhún nhường, hạ mình xuống, còn tên lính canh cửa thì có cách xưng hô của kẻ trên
Có thể nói, người tham dự chính là nhân tố nhân vật giao tiếp, bao gồm: người nói và người nghe Người nói (vai nói) là người phát tin, người nghe (vai nghe) là người nhận tin Quá trình người nói nói ra gọi là quá trình phát tin Trong hoạt động giao tiếp người nói chỉ là một, còn người nghe có thể là một hoặc là nhiều Vai nói và vai nghe
có thể thay đổi nhau trong một cuộc giao tiếp Tất cả những đặc điểm của người nói và người nghe đều có ảnh hưởng và sự chi phối nhất định đến quá trình giao tiếp
Trang 36Nếu coi xã hội là cơ cấu tổ chức thì con người là một thực thể đa chức năng với nhiều vai xã hội trong cơ cấu tổ chức đó Tuy nhiên, con người với năng lực ngôn ngữ của mình khi tham gia giao tiếp không phải bao giờ cũng mang toàn bộ vai xã hội vào thành vai giao tiếp
Người tham gia giao tiếp gồm người nói và người nghe luân chuyển cho nhau, được gọi là vai giao tiếp Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có sự phân
vai cho nhau: “Vai phát diễn ngôn, tức là vai nói (viết), kí hiện Sp1 (speaker 1) và vai
tiếp nhận diễn ngôn, tức nghe (đọc), kí hiệu Sp2 (speaker 2) Trong cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai vai nói, nghe thường luân chuyển, Sp1 sau khi nói xong chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại.” [9, 15]
Ngoài ra, khi tham gia giao tiếp, các nhân vật giao tiếp không chỉ đơn thuần là sự cố định vai người nói và vai người nghe mà sự định vai của các nhân vật giao tiếp chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ như: quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế, Trên thực tế, con người luôn luôn có nhiều mối quan hệ giao tiếp đa dạng với nhiều lớp người, loại người khác nhau Vì vậy, mỗi cá nhân bao giờ cũng có một bộ vai xã hội phản ánh quan hệ ứng
xử của cá nhân đó Nói như Nguyễn Thiện Giáp: “một số nhân tố đã được thiết lập trước
đối với giao tiếp và đó là những nhân tố khách quan bên ngoài Chúng gồm vị trí tương đối của các tham thoại Vị thế đó dựa vào những giá trị xã hội liên quan đến tuổi tác, giới tính và cương vị xã hội Các nhà ngôn ngữ học đã dùng thuật ngữ vai giao tiếp để biểu hiện vị thế xã hội của nhân vật hội thoại Có thể nói, vai giao tiếp là cơ sở mà các nhân vật hội thoại dựa vào để tổ chức và biểu hiện vị thế xã hội của mình trong giao tiếp” [20,
405]
Tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng “Là một thực thể đa chức năng, mỗi một
người có rất nhiều vai từ ở trong gia đình đến ra ngoài xã hội… Tất cả những quan hệ đan xen ấy làm nên một mạng các quan hệ với rất nhiều vai khác nhau” [41, 357-371]
Trong mỗi cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp căn cứ vào sự kiện giao tiếp để lựa chọn cho mình một vai giao tiếp phù hợp và tiến hành cuộc giao tiếp Quá trình giao tiếp, mỗi nhân vật phải tự duy trì và điều chỉnh hành vi giao tiếp để cuộc giao tiếp thành công – hay đó chính là năng lực ứng xử của các vai trong giao tiếp
Trong các cuộc giao tiếp, nhân vật giao tiếp là những người tham gia, sử dụng ngôn ngữ và dùng ngôn ngữ để tạo ra các diễn ngôn nhằm truyền đạt thông tin hiệu quả Khi tương tác với nhau, giữa các nhân vật tạo ra các mối quan hệ Các quan hệ được tạo ra là:
Trang 37quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên nhân Quan hệ vai giao tiếp định ra giữa các nhân vật
có sự phân định vai phát/ vai nói (viết) và vai nhận/ vai nghe (đọc) Quan hệ liên nhân thể hiện: vị thế xã hội/ quyền uy, mức độ thân cận/ khoảng cách và tình cảm giữa các vai giao tiếp trong quá trình giao tiếp
3) Mục đích (End: E): chỉ kết quả đạt được theo sự mong đợi định sẵn của hoạt
động giao tiếp và mục đích cá nhân của người tham dự Nói cách khác, nó là đích mà các nhân vật giao tiếp hướng tới trong một cuộc giao tiếp Giao tiếp hướng tới nhiều đích khác nhau nhưng đích truyền cảm, đích hành động và đích thuyết phục là ba đích thường được hướng đến Tuy tồn tại song song nhưng mức độ của ba đích này không đồng đều Có những giao tiếp tác động đến nhận thức là chủ yếu, nhưng có những giao tiếp tác động đến hành động là chủ yếu
4) Chuỗi hành động ngôn từ (Act sequence; A): chỉ hình thức và nội dung của
cuộc giao tiếp Chẳng hạn, dùng từ ngữ gì, mối quan hệ gì, lời định nói và cách biểu đạt như thế nào với thoại đề, v.v Ví dụ, chuỗi hành động của hội đàm khác với nói chuyện phiếm, khác với trò chuyện trong tiệc rượu Lí do là, phong cách giữa chúng khác nhau
và nội dung trao đổi, nói chuyện cũng khác nhau Khi miêu tả chuỗi, các hành động giao tiếp thường được xác định thông qua chức năng của chúng, nêu ra cùng với ví dụ đại diện về hình thức và nội dung thông điệp
5) Phương thức (Key; K): là yếu tố chỉ ngữ điệu, cách thức, tinh thần chứa đựng
trong thông tin đó Chẳng hạn ta có các phương thức: trêu chọc hay nghiêm túc, chân thành hay châm biếm, thân thiện hay thù địch, thông cảm hay đe dọa, chiếu lệ hay cẩn thận Cùng một nội dung giao tiếp, nhưng sử dụng các phương thức truyền đạt khác nhau thì hàm ý truyền đạt có thể khác nhau
6) Phương tiện (Instrumentalities; I):
Phương tiện chỉ kênh giao tiếp (channel) như nói, viết, điện báo, v.v hoặc hình thức giao tiếp (form of speech), đó là việc vận dụng ngôn ngữ, phương ngữ, phong cách
7) Chuẩn tương tác và Chuẩn giải thích (Norm of interaction and Norm of
Trang 38tới Đó là thông tin nền tảng về cộng đồng giao tiếp và văn hóa cần có để hiểu được sự kiện giao tiếp
8) Thể loại (Genres; G): Thể loại ở đây là loại hình của sự kiện giao tiếp như độc
thoại, kể chuyện, hội thoại, ngâm thơ, bài giảng, chào hỏi,… Mỗi thể loại sẽ thích hợp với từng trường hợp giao tiếp cụ thể
Trên đây là tám nhân tố được D Hymes đề cập đến khi nghiên cứu về sự kiện giao tiếp Tuy nhiên, hoạt động giao tiếp của con người vốn dĩ hết sức phức tạp Trong các cuộc giao tiếp khác nhau, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể xác định được rõ ràng 8 yếu tố trên trong mọi sự kiện giao tiếp, nhưng chúng luôn tiềm ẩn Điều quan trọng là cần nhận ra được đâu là yếu tố chính, mang tính chi phối và đâu là yếu tố phụ, cũng như là những mối tương liên giữa chúng Thông thường khi sự kiện giao tiếp diễn ra, người tham gia giao tiếp có cùng các thuộc tính văn hóa-xã hội có thể khó nhận ra được tính đặc thù của một số yếu tố Nhưng ở bối cảnh liên văn hóa, những yếu tố khác biệt sẽ trở nên rõ ràng hơn, nhất là những khác biệt trong trình tự hành động ngôn từ và chuẩn giải thích
1.2.1.4 Sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp
Nói như tác giả Nguyễn Văn Khang, giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, và suy cho cùng, ngôn ngữ sinh ra chẳng để làm gì ngoài thực hiện chức năng giao tiếp Giao tiếp được xem như là một quá trình vận dụng và lựa chọn ngôn
ngữ Từ đó tác giả đã đưa ra quan niệm về sự lựa chọn ngôn ngữ như sau: “Sự vận
dụng ngôn ngữ thực tế là một quá trình lựa chọn ngôn ngữ (language choice) Nói cách khác, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, người sử dụng không ngừng lựa chọn, vì thế, lựa chọn được coi là một trong những bản chất của việc sử dụng và lí giải ngôn ngữ‟‟ [41, 372]
Sự lựa chọn được tiến hành ở tất cả tầng bậc của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, Tùy vào sự chi phối của các nhân tố giao tiếp mà sự lựa chọn được diễn ra ở tầng diện nào Và bất luận ở tầng diện nào thì mỗi sự lựa chọn cũng đều tạo
ra một sự biến đổi nhất định Không thể phủ nhận, sự biến đổi dù nhỏ ở bất kì một tầng
diện nào đều tạo nên một ý nghĩa dụng học sâu sắc
Sự lựa chọn ngôn ngữ được diễn ra theo hai cách: cách có ý thức theo ý chủ quan của người giao tiếp và cách vô thức, ngoài ý định chủ quan của người giao tiếp Theo đó, có hai quá trình lựa chọn: lựa chọn không đánh dấu (sự lựa chọn mang tính ngữ cảnh) và lựa chọn đánh dấu (sự lựa chọn mang tính chiến lược) Tuy nhiên, thực
Trang 39tế sử dụng ngôn ngữ còn có thể có những sự lựa chọn khác Vì thế, có thể nói sự chọn lựa ngôn ngữ luôn có sự biến đổi linh hoạt để đạt được mục đích cuối cùng là đảm bảo
tính "đúng đắn và hợp lí" cho giao tiếp
Biến thể và sự lựa chọn biến thể trong giao tiếp ngôn ngữ: Ngôn ngữ học xã
hội, với đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ giao tiếp trong đời sống hàng ngày đã phá vỡ cái khung lấy lời nói chuẩn mực để làm tư liệu nghiên cứu của ngôn ngữ học truyền thống Theo quan điểm của Ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ được nghiên cứu là một mạng hệ thống đa nguyên bao gồm một loạt các nhân tố đan xen như: tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, địa vị, học vấn để hình thành nên các biến thể giao tiếp khác nhau Và ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp là ngôn ngữ được sử dụng ở hình thức biến thể Khái
niệm biến thể được hiểu như sau: “Với tư cách là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ học xã
hội, biến thể ngôn ngữ (variety) có thể được hiểu là các hình thức tồn tại và biến đổi của ngôn ngữ Nói cách khác đó là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ biến
trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với các đặc trưng xã hội giống nhau‟‟ [41, 37]
Các biến thể ngôn ngữ có kết cấu và tên gọi độc lập cũng như được sử dụng khá
ổn định và có sự phân công về mặt chức năng Tác giả Ferguson đã sử dụng hai thuật
ngữ biến thể cao (High, kí hiệu là H) và biến thể thấp (Low, kí hiệu là L) để chỉ hai
hướng sử dụng khác nhau giữa các biến thể Biến thể cao (H) được dùng trong khung cảnh mang tính nghi thức, công cộng còn biến thể thấp (L) được dùng trong bối cảnh giao tiếp không chính thức, có tính riêng tư Có thể hình dung bằng bảng dưới đây:
1 Giảng đạo trong nhà thờ Thiên chúa giáo hay đền thờ Hồi giáo x
2 Ra lệnh cho đầy tớ, người hầu, người làm công, thư kí x
4 Diễn thuyết ở Quốc hội, diễn văn chính trị x
6 Nói chuyện trong gia đình, với bố mẹ, đồng nghiệp x
9 Xã luận báo chí, tin tức, chú thích tranh x
10 Chú thích trong biếm hoạ chính trị x
Nguồn: Feguson, 1972, Sự phân bố sử dụng giữa H và L
(dẫn theo Nguyễn Văn Khang [41, 125])
Trang 40Đối chiếu với bảng trên đây ta thấy giao tiếp của người nông dân nằm trong cả hai khung biến thể cao và biến thể thấp Đây cũng là một trong những nhân tố góp phần chi phối việc lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp của người nông dân
Có thể nói, theo hướng tiếp cận xã hội học thì sự lựa chọn ngôn ngữ theo ngữ
cảnh gọi là lĩnh vực giao tiếp (domain) Lĩnh vực giao tiếp được hiểu là thói quen có
sự nhất quán với phạm vi hoạt động của các thành viên trong cộng đồng giao tiếp cũng như thói quen vận dụng ngôn ngữ theo chuẩn tắc văn hóa, xã hội Theo Fishnan (1968), từ rất nhiều tình huống giao tiếp phù hợp, có thể khái quát thành các lĩnh vực ngôn ngữ như: gia đình, giáo dục, tôn giáo… Tùy vào từng lĩnh vực giao tiếp cụ thể, chúng ta có sự lựa chọn biến thể sao cho phù hợp
Như vậy, với năng lực giao tiếp của riêng mình, mỗi cá nhân bước vào giao tiếp theo cách lựa chọn sử dụng biến thể ngôn ngữ thích hợp với bối cảnh giao tiếp Bởi vậy, giao tiếp được coi là quá trình vận dụng ngôn ngữ Sự vận dụng này thực tế là một quá trình lựa chọn ngôn ngữ
1.2.1.5 Chủ đề giao tiếp
Trong một giao tiếp ngôn ngữ, ngoài những vấn đề như vai giao tiếp, sự kiện giao tiếp thì cái được chúng ta quan tâm là giao tiếp đó hướng về nội dung nào, chủ đề gì? Trong một cuộc giao tiếp, chủ đề được coi là nội dung, hiện thực mà nhân vật đem ra trao đổi, bàn bạc Tùy vào hoàn cảnh, mục đích, đối tượng mà nhân vật lựa chọn chủ đề Chủ đề trong giao tiếp đa dạng, phong phú và dễ thay đổi bởi tác động của các nhân tố xã
hội như: thời đại, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội… Chủ đề giống như tấm
gương phản chiếu thói quen, quan điểm, giá trị văn hóa-xã hội của một cộng đồng giao tiếp Theo Holmes (2013), chủ đề là một trong số những nhân tố xã hội ảnh hưởng đến
sự lựa chọn ngôn ngữ Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học ghi nhận rất nhiều công trình khác nhau tìm hiểu về chủ đề mà phát ngôn nêu ra, như chủ đề của lời khen, phê phán, phàn nàn,… Phạm vi chủ đề được đưa vào nghiên cứu cũng rất rộng rãi, từ những thuộc
tính của chủ thể tiếp nhận lời khen (cá tính, khả năng, vẻ bề ngoài,…) đến những khía
cạnh cuộc sống của chủ thể bị phê phán, phàn nàn,… (công việc, thói quen, sự kiện, con người,…) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về các chủ đề trong giao tiếp của người nông dân trong một số tác phẩm văn học Dựa vào đối tượng và mục đích giao tiếp của người nông dân, chúng tôi cho rằng các biến số về chủ đề cũng một nhân tố để
nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp của người nông dân