Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre .... Với thiết kế cắt ngang mô tả thông qua hình thức phát vấn trê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 2
Hà Nội, 2017
Trang 3Tiến sỹ Nguyễn Đức Bằng, người đã bỏ nhiều công sức để giúp tôi định hướng
và có nhiều góp ý, chỉ bảo cho Tôi thực hiện thành công nghiên cứu của mình;
Thạc sỹ Vũ Thị Thanh Mai đã tận tình hướng dẫn Tôi hoàn thiện phương pháp nghiên cứu cho Luận văn của mình;
Xin cảm ơn tất cả bạn bè đã chia sẻ, quan tâm và cùng Tôi chung bước trên quãng đường Cao học trong 18 tháng qua
Và hơn thế nữa là Gia đình tôi đã luôn động viên, đồng hành cùng Tôi đi đến những thành công hôm nay
Một lần nữa Tôi xin gởi lời Cảm ơn tất cả!
Nguyễn Thị Thanh Trúc
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng anh Tiếng việt
AHRQ US Quality and Health Care
Agency
Cơ quan nghiên cứu chất lượng
và chăm sóc sức khoẻ Hoa Kỳ
CA Cronbach's Alpha reliability Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
HSTQBT Coefficient of correlation of total
variables
Hệ số tương quan biến tổng
HSOPSC Questionnaire for safety culture
survey of patients
Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh
NKVM Infection of the incision Nhiễm khuẩn vết mổ
VHATNB Safety culture of patients Văn hóa an toàn người bệnh WHO World Health Organisation Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT II DANH MỤC CÁC BẢNG VI DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VII TÓM TẮT NGHIÊN CỨU VIII
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh viện và một số qui định liên quan đến bệnh viện 4
1.1.1 Khái niệm bệnh viện 4
1.1.2 Nhiệm vụ chung của bệnh viện 4
1.1.3 Phân loại bệnh viện 5
1.2 Khái niệm Văn hóa, An toàn người bệnh và Văn hóa an toàn người bệnh 6
1.2.1 Khái niệm về Văn hóa 6
1.2.2 Các chức năng của Văn hóa 6
1.2.3 An toàn người bệnh 7
1.2.4 Sự cố y khoa và phân loại sự cố y khoa trong an toàn người bệnh 8
1.2.5 Văn hóa An toàn người bệnh 10
1.3 Một số nghiên cứu liên quan 12
1.3.1 Các nghiên cứu về an toàn người bệnh 12
1.3.2 Các nghiên cứu về khảo sát VHATNB sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC 14
1.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 16
KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
Trang 62.1.1 Đối tượng chọn 18
2.1.2 Đối tượng loại trừ 18
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
2.3 Thiết kế nghiên cứu 18
2.4 Cỡ mẫu 18
2.5 Phương pháp chọn mẫu 18
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.7 Biến số nghiên cứu 20
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 20
2.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 20
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 21
2.11 Hạn chế và cách khắc phục 21
2.11.1 Hạn chế 21
2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2017 23
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu 26
3.1.3 Tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót của bệnh viện 34
3.1.4 Đánh giá tổng quát mức độ an toàn người bệnh tại bệnh viện 36
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre 36
3.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến làm việc theo ê kíp trong cùng khoa/phòng 36
3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng 37
3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan điểm và hành động người quản lý, lãnh đạo39 3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của người quản lý, lãnh đạo về ATNB 40
3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sẵn sàng trao đổi thông tin về ATNB của NVYT 42 3.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến bàn giao và chuyển tiếp người bệnh giữa các khoa/ phòng 43
3.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến phản hồi và trao đổi về sự cố/sai sót 43
Trang 73.2.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót 44
3.2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến không trừng phạt khi để xảy ra sai sót 45
3.2.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB chung của nhân viên y tế 46
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 47
4.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2017 47
4.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 47
4.1.2 Văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu 48
4.1.3 Tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót của bệnh viện 55
4.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến làm việc theo ê kíp trong cùng khoa/phòng 56
4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng 56
4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan điểm và hành động người quản lý, lãnh đạo57 3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của người quản lý, lãnh đạo về ATNB 58
3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sẵn sàng trao đổi thông tin về ATNB 58
3.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến bàn giao và chuyển tiếp người bệnh 59
3.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến phản hồi và trao đổi về sự cố/sai sót 59
3.2.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót 60
3.2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến không trừng phạt khi để xảy ra sai sót 60
3.2.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB chung của nhân viên y tế 61
5.1.Thực trạng Văn hóa ATNB tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu 62
5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu 62
CHƯƠNG 6:KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 69
PHỤ LỤC 1:PHIẾU KHẢO SÁT VỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ 69
PHỤ LỤC 2: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 77
PHỤ LỤC 3: BẢNG CƠ CẤU NHÂN LỰC CỦA BỆNH VIỆN THEO KHOA, PHÒNG 83
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bổ đối tượng tham gia nghiên cứu theo khối khoa, phòng 19
Bảng 3.1 Trình độ chuyên môn, chức danh, chức vụ, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh và báo cáo sự cố của nhân viên theo khối khoa, phòng (n = 389) 25
Bảng 3.2 Thông tin làm việc theo ê kíp trong cùng khoa/phòng 26
Bảng 3.3 Thông tin làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng 27
Bảng 3.4 Thông tin về nhân sự làm việc 28
Bảng 3.5 Thông tin về quan điểm tổng quát về ATNB của nhân viên y tế 28
Bảng 3.6 Thông tin quan điểm và hành động của người quản lý, lãnh đạo về ATNB 29 Bảng 3.7 Thông tin về sự hỗ trợ của lãnh đạo cho ATNB ở bệnh viện 29
Bảng 3.8 Thông tin yếu tố sẵn sàng trao đổi thông tin về ATNB 30
Bảng 3.9 Thông tin về hoạt động cải tiến và thực hiện có hệ thống các biện pháp ATNB 30
Bảng 3.10 Thông tin về yếu tố bàn giao và chuyển tiếp người bệnh giữa các khoa phòng 31
Bảng 3.11 Thông tin phản hồi và trao đổi về sự cố/sai sót trong khoa/ phòng 32
Bảng 3.12 Thông tin về tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót của nhân viên 32
Bảng 3.13 Thông tin về trừng phạt cá nhân khi để xảy ra sai sót 33
Bảng 3.14 Lựa chọn cách báo cáo loại sự cố của nhân viên y tế 35
Bảng 3.15 Ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót tại bệnh viện từ 2015 - 2016 35
Bảng 3.16 Kết quả đánh giá mức độ ATNB tại khoa, phòng của nhân viên 36
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của mức độ đánh giá ATNB đến làm việc theo ê kíp trong cùng khoa/phòng 36
Bảng 3.18 Ảnh hưởng tình trạng hôn nhân và có tiếp xúc người bệnh của NVYT đến làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng 37
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của chức danh, khối khoa phòng và mức độ đánh giá ATNB của NVYT đến làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng 38
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của chức danh, khối khoa phòng, mức độ đánh giá ATNB và tiếp xúc người bệnh của NVYT đến quan điểm và hành động của người quản lý, lãnh đạo 39
Trang 9Bảng 3.21 Ảnh hưởng của chức danh, hình thức lao động, mức độ đánh giá ATNB và tiếp xúc người bệnh của NVYT với hỗ trợ của người quản lý, lãnh đạo về ATNB 40 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của chức danh, khối khoa phòng và tiếp xúc người bệnh của NVYT đến yếu tố sẵn sàng trao đổi thông tin về ATNB 42 Bảng 3.23 Ảnh hưởng của thâm niên công tác và chức danh của NVYT đến bàn giao
và chuyển tiếp người bệnh 43 Bảng 3.24 Ảnh hưởng của hình thức lao động và mức độ đánh giá ATNB của NVYT đến phản hồi và trao đổi về sự cố/sai sót 43 Bảng 3.25 Ảnh hưởng của chức danh, tình trạng hôn nhân và mức độ đánh giá ATNB của NVYT đến tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót 44 Bảng 3.26 Ảnh hưởng của thâm niên công tác và mức độ đánh giá ATNB của NVYT đến yếu tố không trừng phạt khi để xảy ra sai sót 45 Bảng 3.27 Ảnh hưởng của khối khoa phòng và mức độ đánh giá ATNB đến VHATNB chung của nhân viên y tế 46
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Giới tính và tình trạng hôn nhân của ĐTNC (n = 389) 23 Biểu đồ 3.2 Tham gia khám chữa bệnh ngoài giờ, là người thu nhập chính và loại lao động của nhân viên y tế 24 Biểu đồ 3.3 Số năm công tác tại khoa phòng của ĐTNC 24 Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ đáp ứng với các yếu tố VHATNB của nhân viên y tế 34
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trong những năm gần đây, công tác chăm sóc sức khỏe có nhiều thay đổi tích cực; sự phát triển và đổi mới của trang thiết bị, công nghệ đã đóng góp rất lớn đến việc khám bệnh, chữa bệnh và tăng tuổi thọ con người Tuy nhiên thách thức hiện nay không phải là nắm bắt các quy trình lâm sàng hay thiết bị công nghệ mới, mà thay vào
đó là làm thế nào để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn hơn trong một môi trường điều trị phức tạp, nhiều áp lực và nhiều sự cố y khoa không mong muốn luôn xảy ra
Nhằm hạn chế những sự cố không mong muốn đó và nâng cao văn hóa an toàn
người bệnh tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre, đề tài “Thực trạng và một
số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2017” được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2017 Với
thiết kế cắt ngang mô tả thông qua hình thức phát vấn trên 389 nhân viên y tế của bệnh viện; sử dụng bộ câu hỏi khảo sát ý kiến về Văn hóa an toàn người bệnh của Cơ quan nghiên cứu chất lượng và chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ, đề tài đặt ra hai mục tiêu
là mô tả thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện
Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỉ lệ đáp ứng của từng yếu tố văn hóa an toàn người bệnh dao động từ 34,7% đến 96,4% và tỉ lệ đáp ứng trung bình của 12 yếu tố khảo sát là 72,5% Nhân viên y tế đánh giá mức độ an toàn người bệnh tại bệnh viện là tốt chiếm tỉ lệ 72,2% và tần suất ghi nhận, báo cáo các sai sót ở mức độ thường xuyên
là 59,9% với tỉ lệ nhân viên báo cáo sai sót trong 2 năm qua là 11,8% Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu gồm có: hai yếu tố về nhân khẩu học (là số năm công tác và tình trạng hôn nhân), bốn yếu tố về nghề nghiệp (là hình thức lao động, chức danh, vị trí, khối khoa/phòng công tác) và mức độ đánh giá an toàn người bệnh tại bệnh viện của nhân viên y tế
Từ kết quả đó, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị: Lãnh đạo cần cam kết thực hiện
12 yếu tố văn hóa an toàn người bệnh, đặc biệt là văn hóa “không trừng phạt” và thực hiện tốt các giải pháp về an toàn người bệnh cho nhân viên; xây dựng qui trình ghi nhận, trao đổi thông tin và tự nguyện báo cáo sai sót Khi sai sót xảy ra cần có biện
Trang 11pháp xử lý, tổ chức học tập rút kinh nghiệm và thực hiện tốt văn hóa “phản hồi và trao đổi về sự cố/sai sót”
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
An toàn người bệnh (ATNB) là làm giảm tối đa các sai sót xảy ra có nguy cơ gây tổn hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc tại các cơ sở y tế [18] Trong lĩnh vực y tế, ATNB là việc triển khai đồng loạt các giải pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích bảo đảm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho người bệnh [13], [19] Ngày nay, ATNB đang là một trong những thách thức lớn nhất trong lĩnh vực y tế - chăm sóc sức khỏe con người vì tai biến trong khám chữa bệnh luôn gây ra những hậu quả nghiêm trọng tới sức khỏe và tính mạng của người bệnh,
để lại những di chứng suốt đời hoặc tử vong [4], [13]
Ước tính có khoảng 44.000 đến 98.000 trường hợp người Mỹ chết mỗi năm do các sai sót y khoa, con số này vượt qua con số tử vong do tai nạn giao thông, ung thư
và bệnh AIDS, với tổng tổn thất quốc gia như: mất thu nhập, giảm năng suất lao động, khuyết tật, chi phí y tế… ước tính vào khoảng 37,6 đến 50 tỷ đô-la [25]
Tại Anh cứ mỗi 35 giây lại xảy ra một sự cố y khoa và chỉ có khoảng 5% trong
số đó được báo cáo [30] Tại một số quốc gia phát triển khác, sự cố y khoa xảy ra khoảng 10% số bệnh nhân điều trị nội trú và ước tính khoảng 75% số sự cố có thể phòng tránh được [19], [36], [37]
Tại Việt Nam, tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) trên người bệnh được phẫu thuật tại một số bệnh viện trên toàn quốc chiếm từ 4,1% đến 7,9%, trong đó tỉ lệ NKVM cao ở nhóm người bệnh phẫu thuật ruột non (19,5%), đại tràng (11%) và dạ dày (7,9%) [12], [10]; nhiễm khuẩn tại bệnh viện Bình Định là 4,8% [6], bệnh viện đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp là 14,48% [7]
Khi sự cố y khoa không mong muốn xảy ra, không chỉ có người bệnh và gia đình người bệnh trở thành nạn nhân mà các cán bộ y tế (CBYT) liên quan trực tiếp tới
sự cố y khoa cũng là nạn nhân và cũng cần được hỗ trợ về tâm lý [8], [18] Đã có rất nhiều văn bản được Chính phủ, Bộ Y tế ban hành nhằm cải thiện chất lượng bệnh viện nói chung và chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nói riêng, song vấn đề ATNB vẫn luôn là thách thức lớn của ngành y tế, là mối quan tâm theo dõi của xã hội đối với hệ thống khám chữa bệnh nước ta hiện nay
Trang 13Tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, sau khi Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện của Bộ Y tế được ban hành, ngay từ đầu năm 2014, bệnh viện đã thành lập Tổ quản lý chất lượng bệnh viện; tuy nhiên vì hoạt động ghép trong bộ phận Kế hoạch tổng hợp nên việc thống kê, báo cáo và tìm biện pháp hạn chế sự cố y khoa chưa đi vào nề nếp và chưa đáp ứng nhu cầu, từ đó dẫn đến tình trạng sai sót chuyên môn không được kiểm soát, phòng ngừa và thường hay xảy ra Đến năm 2015, Tổ này tách ra thành Phòng Quản lý chất lượng bệnh viện, từ đó Phòng đi vào hoạt động độc lập, ban hành một số Quy định về quản lý, báo cáo sai sót, sự cố y khoa Trong hai năm 2015, 2016, tại bệnh viện đã có 18 sự cố y khoa được ghi nhận, trong đó có 04 trường hợp tử vong [3]
Trước thực trạng an toàn cho người bệnh điều trị nội trú cũng như an toàn cho nhân viên y tế (NVYT) luôn có nguy cơ xảy ra, gây ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người dân trong tỉnh và chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện Câu hỏi được đặt ra ở đây là: thực trạng văn hóa ATNB tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến văn hóa ATNB tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu? Để tìm hiểu về các vấn đề nêu trên, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn
người bệnh tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2017”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2017
2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân
viên y tế Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh viện và một số qui định liên quan đến bệnh viện
1.1.1 Khái niệm bệnh viện
Bệnh viện là một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị; đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện, phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh viện là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho người dân được chăm sóc toàn diện về y tế kể cả khám bệnh, chữa bệnh và phòng bệnh Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu y sinh học, xã hội
Theo Bộ Y tế: Bệnh viện là hệ thống mở, là tập hợp các bộ phận như khoa, phòng có liên hệ lẫn nhau, phụ thuộc nhau, tương tác cả bên trong lẫn bên ngoài để hình thành hoàn chỉnh một xã hội có tổ chức [1], [2], [4]
1.1.2 Nhiệm vụ chung của bệnh viện
Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh và có các nhiệm vụ sau [1], [2]:
Nghiên cứu khoa học
Bệnh viện là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người
bệnh
Trang 16Theo đúng các quy định của Nhà nước
Quản lý kinh tế trong bệnh viện
Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện từng bước tổ chức thực hiện việc hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh trong bệnh viện
1.1.3 Phân loại bệnh viện
Theo Quy chế của Bộ Y tế [1], Bệnh viện đa khoa được chia làm 4 hạng:
Bệnh viện hạng đặc biệt
Là cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, với các chuyên khoa đầu ngành được trang bị các thiết bị y tế và các máy móc hiện đại, với đội ngũ cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng I
Bệnh viện hạng I
Là cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế hoặc Ủy ban nhân dântỉnh, thành phố và các ngành có trách nhiệm khám và chữa bệnh cho nhân dân một số tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Bệnh viện có đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao, được trang bị hiện đại, có các chuyên khoa sâu cơ sở hạ tầng phù hợp đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng II
Trang 17Bệnh viện hạng III
Là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố và các Ngành có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một huyện hoặc một số huyện, quận trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Ngành Bệnh viện có đội ngũ cán bộ chuyên môn, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phù hợp
1.2 Khái niệm Văn hóa, An toàn người bệnh và Văn hóa an toàn người bệnh 1.2.1 Khái niệm về Văn hóa
Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú và phức tạp, với nhiều
đặc trưng, trong đó nổi lên bốn đặc trưng cơ bản nhất là tính nhân sinh, tính giá trị,
tính hệ thống và tính lịch sử
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [16]
Cách định nghĩa này không những có khả năng bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn có thể cho phép ta nhận diện được một hiện tượng văn hóa và phân biệt nó với những hiện tượng khác không phải là văn hóa, xuất hiện từ những hiện tượng phi giá trị, những giá trị tự nhiên thiên tạo, cho đến những giá trị nhân tạo chưa có tính lịch sử…
1.2.2 Các chức năng của Văn hóa
Chức năng tổ chức
Văn hóa chi phối xã hội loài người, xã hội loài người được tổ chức theo những cách thức đặc biệt thành những bộ tộc, làng xã, đô thị, quốc gia… là nhờ văn hóa Mỗi dân tộc có mỗi kiểu tổ chức khác nhau và chính văn hóa là cơ sở cho chức năng này
Chức năng điều chỉnh
Mọi sinh vật đều có khả năng thích nghi với môi trường xung quanh bằng cách
tự biến đổi mình sao cho phù hợp với tự nhiên qua cơ chế di truyền và chọn lọc tự nhiên Con người thì hành xử theo một cách thức hoàn toàn khác hẳn: dùng văn hóa để biến đổi tự nhiên bằng cách tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần khác để phục vụ cho mình Đó là cơ sở cho chức năng điều chỉnh của văn hóa Nhờ có chức năng điều
chỉnh, văn hóa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển trong xã hội loài
người
Trang 18Chức năng giao tiếp
Văn hóa tạo ra những điều kiện và phương tiện (như ngôn ngữ và các hệ thống
ký hiệu) cho sự giao tiếp, là môi trường giao tiếp của con người Tính nhân sinh là cơ
sở cho chức năng giao tiếp của văn hóa
Chức năng giáo dục
Văn hóa thực hiện được chức năng giáo dục trước hết là do nó có năng
lực thông tin hoàn hảo Nhờ văn hóa, thông tin được mã hóa bằng những hệ thống ký
hiệu tạo thành những sản phẩm nằm ngoài cá nhân con người, do vậy mà nó được khách quan hóa, được tích luỹ, được nhân bản và tăng lên nhanh chóng từ thế hệ này sang thế hệ khác Sự tích lũy và chuyển giao thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội trong cộng đồng người qua không gian, thời gian và được cố định tạo nên truyền thống văn hóa và trở thành chức năng giáo dục của văn hóa Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành và tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ
đó, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, tạo
nên nền tảng tinh thần của xã hội
Ngoài bốn chức năng cơ bản trên, còn có thể kể đến các chức năng khác của văn hóa như chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí…, song chúng đều là những chức năng bộ phận hoặc phát sinh từ bốn chức năng trên [16]
1.2.3 An toàn người bệnh
An toàn người bệnh là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố
và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố [5], [30], bởi vì nguy cơ của các sự cố y khoa luôn thường trực và có thể xảy ra bất cứ lúc nào ATNB là sự làm giảm hết mức có thể các sai sót xảy ra có nguy cơ gây tổn hại không cần thiết cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc [18], [39]
Trang 191.2.4 Sự cố y khoa và phân loại sự cố y khoa trong an toàn người bệnh
1.2.4.1 Khái niệm sự cố y khoa
Sự cố y khoa là những tổn thương làm cho người bệnh mất khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn, gây kéo dài ngày nằm viện hoặc chết, có nguyên nhân do công tác quản lý khám chữa bệnh hơn là do biến chứng bệnh của người bệnh [3], [18], [39]
1.2.4.1 Phân loại sự cố y khoa
Phân loại sự cố y khoa theo tính chất chuyên môn [3], [14]
Hiệp hội ATNB thế giới phân loại sự cố y khoa theo 6 nhóm gồm:
- Sự cố y khoa liên do nhầm tên người bệnh
- Sự cố y khoa do thông tin bàn giao của NVYT không đầy đủ
- Sự cố y khoa do sai sót dùng thuốc: xảy ra trong tất cả các công đoạn từ khi
kê đơn thuốc, cấp phát thuốc, pha chế thuốc, sử dụng thuốc và theo dõi sau dùng
thuốc
- Sự cố y khoa do nhầm lẫn liên quan tới phẫu thuật (nhầm vị trí, nhầm phương pháp, nhầm người bệnh)
- Sự cố y khoa do nhiễm khuẩn bệnh viện
- Sự cố y khoa do người bệnh bị té ngã trong khi đang điều trị tại các cơ sở y tế
Phân loại sự cố y khoa theo lỗi cá nhân và hệ thống [3], [14]
Các lỗi do cá nhân người hành nghề hay còn gọi là lỗi hoạt động (active errors)
Người hành nghề ở lớp hàng rào phòng ngự cuối cùng trực tiếp với người bệnh nên khi sự cố xảy ra họ dễ bị gán lỗi Trên thực tế có nhiều lỗi cá nhân do hệ thống gây ra Quy chụp trách nhiệm cho cá nhân sẽ dẫn đến văn hóa giấu diếm sự thật sẽ ít hiệu quả trong việc mang lại những kết quả dài hạn
Các lỗi do hệ thống (latent factors) liên quan tới các sai sót, sự cố y khoa có thể là: Các chính sách không phù hợp, các quy định chuyên môn chưa lấy người bệnh làm trung tâm, thiếu nhân lực, ca kíp kéo dài, thiếu phương tiện phục vụ người bệnh, cơ chế tự chủ… Những yếu tố này thường ít được chú ý xem xét liên quan khi phân tích nguyên nhân sự cố y khoa Do vậy nếu chỉ tập trung vào lỗi cá nhân thì nguyên nhân gốc gây ra sự cố vẫn chưa được giải quyết và lỗi tương tự sẽ tiếp tục xảy ra
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra Hội chứng hệ thống suy yếu của tổ chức Hội chứng này có ba nhóm triệu chứng chính là:
Trang 20- Đổ lỗi cho cá nhân trực tiếp (bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh…)
- Phủ nhận sự tồn tại các điểm yếu của lỗi hệ thống
- Theo đuổi lợi nhuận dẫn đến lạm dụng các chỉ định chuyên môn, xa rời mục tiêu lấy người bệnh làm trung tâm
Phân loại sự cố y khoa theo các yếu tố liên quan đến sự cố y khoa [3], [14]
+ Do mệt mỏi, ốm đau, tâm lý… tại lúc đó của người hành nghề
+ Do kiến thức, kinh nghiệm của người hành nghề
- Sai sót do cố ý:
+ Cắt xén hoặc làm tắt các quy trình chuyên môn: vệ sinh tay, mang găng tay… + Vi phạm đạo đức nghề nghiệp, lợi ích của người bệnh không được đặt lên hàng đầu dẫn đến lạm dụng thuốc, lạm dụng kỹ thuật cao và các thiết bị y tế can thiệp trên người bệnh không bảo đảm chất lượng
b, Yếu tố chuyên môn
- Y học mang tính xác suất và bất định cao Người bệnh trong các cơ sở y tế phải trải qua nhiều can thiệp thủ thuật, phẫu thuật, đưa thuốc, hóa chất vào cơ thể dễ gây phản ứng dẫn đến rủi ro bất khả kháng Vì vậy, cần nhận thức không phải sự cố y khoa nào cũng do thầy thuốc thiếu trách nhiệm và thiếu y đức
- Dây chuyền khám chữa bệnh phức tạp Nhiều đầu mối, ngắt quãng, nhiều cá nhân tham gia trong khi hợp tác chưa tốt, thông tin chưa đầy đủ và chưa kịp thời
c, Yếu tố môi trường chăm sóc y tế
Môi trường chăm sóc y tế có nhiều áp lực do quá tải, ca kíp trái với sinh lý bình thường (trong khi mọi người ngủ thì cán bộ y tế phải trực) Nơi làm việc chật chội
Trang 21nhiều tiếng ồn, cán bộ y tế nhiều khoa/bệnh viện phải làm việc với cường độ rất cao
và áp lực tâm lý luôn căng thẳng
d, Yếu tố chính sách, quản lý và điều hành
- Một số chính sách, những quy định cần nghiên cứu điều chỉnh để khắc phục những mặt trái tác động tới sự an toàn người bệnh như: cho thuốc 2-3 ngày; đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu dẫn đến giữ người bệnh ở tuyến dưới; thu viện phí theo dịch vụ dẫn đến lạm dụng xét nghiệm, thuốc, kỹ thuật cao v.v
- Cơ chế bệnh viện tự chủ cũng mang theo những rủi ro tiềm ẩn cần kiểm soát như: Giảm chi phí đầu vào đặc biệt là giảm nhân lực điều dưỡng chăm sóc người bệnh, giảm sử dụng vật tư, hàng tiêu hao y tế, thầy thuốc trước khi chỉ định thuốc, xét nghiệm cho người bệnh phải xem xét khả năng chi trả của người bệnh, v.v
Ngoài ra, sự cố y khoa xảy ra do việc tổ chức cung cấp dịch vụ chưa thực sự hợp lý như: hoạt động bệnh viện tập trung nhiều vào buổi sáng; ca-kíp kéo dài; nhân lực trực đêm và ngày nghỉ, ngày lễ chưa thực hiện được nguyên tắc “Bệnh viện hoạt động 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần" Nhiều bệnh viện tuyến huyện bố trí 1 bác sĩ trực theo khối dẫn đến bác sĩ không đáp ứng tốt được yêu cầu chuyên môn của chuyên khoa [5], [18]
1.2.5 Văn hóa An toàn người bệnh
1.2.5.1 Khái niệm
Văn hóa an toàn người bệnh là tập hợp những giá trị, thái độ, niềm tin, nhận thức và những qui tắc qui phạm về an toàn của mọi nhân viên trong một bệnh viện [19] Văn hóa an toàn người bệnh thể hiện năm thuộc tính văn hóa mà nhân viên y tế cần nỗ lực đưa vào thao tác thông qua việc triển khai thực hiện các hệ thống quản lý
an toàn người bệnh mạnh mẽ, năm thuộc tính đó là [18], [39]:
(1) Văn hóa trong đó mọi nhân viên y tế (gồm những người trực tiếp điều trị cho người bệnh và cán bộ quản lý điều hành) đứng ra chịu trách nhiệm về an toàn của bản thân, của đồng nghiệp, bệnh nhân và khách đến thăm;
(2) Văn hóa ưu tiên đặt an toàn lên trước mục tiêu về tài chính và hoạt động; (3) Văn hóa khuyến khích và khen thưởng nỗ lực phát hiện, thông báo và giải quyết các vấn đề an toàn;
(4) Văn hóa trong đó tổ chức có cơ hội rút kinh nghiệm từ sự cố;
Trang 22(5) Văn hóa cung cấp nguồn lực, cơ cấu và trách nhiệm giải trình phù hợp để duy trì hiệu quả các hệ thống đảm bảo an toàn
Một tổ chức được xem là có văn hoá an toàn khi mỗi thành viên của tổ chức đó, bất chấp ở cương vị nào, đều thể hiện vai trò chủ động trong phòng ngừa sai sót, và vai trò của từng cá nhân nhân này được sự hỗ trợ của tổ chức
1.2.5.2 Thang đo nghiên cứu Văn hóa An toàn người bệnh
Thang đo khảo sát văn hóa an toàn người bệnh dùng trong nghiên cứu này là
Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh (HSOPSC) do Cơ quan nghiên cứu chất lượng và chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) xây dựng, đã được dịch thành 16 thứ tiếng và triển khai nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới: tại Pháp năm 2013 [26], [29]; tại Brazil năm 2013 [23]; tại Croatia năm 2014 [20]… Tại Việt Nam, thang
đo này đã được một số tác giả sử dụng trong các nghiên cứu về thực trạng ATNB và
đề xuất giải pháp hạn chế tại một số bệnh viện rất có giá trị [17], [11], [15] Đây là một trong những công cụ được sử dụng phổ biến nhằm khảo sát văn hóa an toàn người bệnh không chỉ ở phạm vi bệnh viện mà cả ở phạm vi từng khoa trong bệnh viện với mong muốn định hướng và thống nhất phương thức quản lý bệnh viện trong tạo dựng văn hoá an toàn người bệnh của ngành y tế
Bộ thang đo khảo sát VHATNB gồm 39 câu hỏi chia thành 12 yếu tố:
(1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một Khoa/phòng
(2) Làm việc theo ê kíp giữa các Khoa/phòng
(3) Nhân sự
(4) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh của nhân viên y tế
(5) Quan điểm và hành động của người quản lý về an toàn người bệnh (6) Hỗ trợ về an toàn người bệnh của người quản lý
(7) Sẵn sàng trao đổi thông tin về an toàn người bệnh
(8) Hoạt động cải tiến và thực hiện có hệ thống các biện pháp ATNB
(9) Bàn giao và chuyển tiếp người bệnh giữa các Khoa/ phòng
(10) Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi trong Khoa/ phòng
(11) Tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót của nhân viên y tế
(12) Trừng phạt cá nhân khi để xảy ra sự cố/sai sót
Trang 23Qua tham khảo tài liệu, chúng tôi xem 12 yếu tố trên là những yếu tố chính để thực hiện khảo sát VHATNB tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu trong nghiên cứu này
1.3 Một số nghiên cứu liên quan
1.3.1 Các nghiên cứu về an toàn người bệnh
Tổ chức Y tế Thế giới và các nước tiên phong đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp quan trọng như thành lập Hiệp hội ATNB toàn cầu, thành lập các Ủy ban ATNB Quốc gia, các Viện nghiên cứu ATNB và ban hành các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, cũng như thiết lập các hệ thống báo cáo sự cố y khoa bắt buộc và tự nguyện để nâng cao nhận thức và đưa ra các giải pháp làm giảm thiểu sai sót, sự cố y khoa trong các cơ sở khám chữa bệnh [34], [37]
Nghiên cứu hồi cứu của tác giả R.M Wilson và cộng sự năm 2012 về an toàn người bệnh và một số yếu tố gây nguy hại cho bệnh nhân trong bệnh viện tại các nước đang phát triển thực hiện trên 15.548 hồ sơ của 26 bệnh viện thuộc 8 nước Châu Phi (Egypt, Jordan, Kenya, Morocco, Tunisia, Sudan, South Africa và Yemen) cho thấy tỉ
lệ tai biến trong điều trị dao động từ 2,5 đến 18,4% trên tổng số bệnh nhân nhập viện Trong đó, 83% các tai biến thuộc nhóm có thể phòng ngừa được, trong khi có đến 30% tai biến dẫn đến tử vong và có 34% tai biến do sai sót điều trị trong hoàn cảnh lâm sàng không phức tạp Nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân chính của tình trạng này
là thiếu sự huấn luyện và sự giám sát hoặc không tuân thủ phác đồ và các qui định của bệnh viện [32]
Nghiên cứu hồi cứu về an toàn người bệnh của tác giả Rebecca J Baines và cộng sự thực hiện năm 2013 trên 11.883 bệnh án tại 20 bệnh viện của Hà Lan, trong
đó có 7.787 bệnh án (thực hiện năm 2004) và 3.966 bệnh án (thực hiện năm 2008) cho thấy tỷ lệ sự cố y khoa tăng từ 4,1% (2004) lên 6,2% (2008), sự cố y khoa đối với người bệnh ngoại khoa tăng lên và chiếm tỷ lệ > 50% các sự cố [31] Điều này nói lên rằng bệnh viện không còn là nơi an toàn cho người bệnh như mong muốn, ngày càng
có nhiều hơn sự cố y khoa xảy ra Nếu cần thiết có thể vận động người bệnh cùng tham gia vào quá trình làm giảm sự cố y khoa [34], [40]
Nghiên cứu cách cải thiện sự cố y khoa của tác giả Kaveh G Shojania đăng trên British Medical Journal năm 2013 cho thấy, nghiên cứu trên 780 bệnh án ngẫu nhiên của người bệnh trong tháng 10/2008 đã công bố 13,5% người bệnh nhập viện
Trang 24gặp sự cố y khoa (cứ 7 người bệnh ra viện thì có 1 người gặp sự cố y khoa thỏa mãn ít nhất 1 tiêu chuẩn xác định sự cố y khoa); 51% không thể phòng ngừa, 44% sự cố y khoa hầu như có thể phòng ngừa và 5% không xác định [24]
Hiện nay tại các nước đang phát triển chưa có số liệu công bố chính thức về tai biến trong điều trị như các nước đã phát triển do chưa thiết lập hệ thống báo cáo sự cố
tự nguyện Tuy nhiên theo WHO, tỉ lệ tai biến trong điều trị tại các nước này chắc chắn sẽ cao hơn nhiều do những khó khăn về hạ tầng, về trang thiết bị, nhân lực, chất lượng thuốc,… Riêng nhiễm khuẩn bệnh viện, WHO ước tính tại các nước đang phát triển cao gấp 20 lần so với các nước đã phát triển [15], [28]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Ngọc Trường về nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) từ tháng 11/2009 đến 02/2010 trên 4.431 người bệnh được phẩu thuật tại khoa Ngoại; khoa Chấn thương; khoa Gây mê hồi sức và khoa Phụ sản của 3 bệnh viện tuyến Trung ương là: bệnh viện Bạch Mai; bệnh viện Trung ương Huế, bệnh viện đa khoa Cần Thơ và 4 bệnh viện tuyến tỉnh là: bệnh viện Ninh Bình, bệnh viện Hưng Yên, bệnh viện Phố Nối-Hưng Yên và bệnh viện Yên Bái cho thấy có 241 người bệnh trên 4.413 người bệnh có phẫu thuật bị NKVM (chiếm tỉ lệ 5,5%); NKVM trung bình tại bệnh viện tuyến trung ương
là 4,4%, tuyến tỉnh là 7% (p < 0,05), trong đó thấp nhất là 4,1% tại bệnh viện Bạch Mai và cao nhất là 7,9% tại bệnh viện Hưng Yên Bị NKVM cao ở nhóm người bệnh phẩu thuật ruột non (19,5%), đại tràng (11%) và dạ dày (7,9%) [12]
Nghiên cứu cắt ngang mô tả của tác giả Đoàn Phước Thuộc về nhiễm khuẩn bệnh viện, thực hiện trên 711 người bệnh đang điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa Bình Định vào năm 2010 cho kết quả: tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại bệnh viện Bình Định là 4,8%, có xu hướng giảm so với năm 2008 (5,8%) và 2009 (7,8%), trong đó NKVM là cao nhất (29,9%), đến nhiễm khuẩn da và mô mềm (23,5%), nhiễm khuẩn hô hấp (20,6%) [6]
Mặc dù chưa có nhiều công trình nghiên cứu về an toàn người bệnh tại Việt Nam nhưng qua các nghiên cứu ở trên cho thấy tình hình tai biến trong điều trị đang
có xu hướng ngày càng tăng và không nằm ngoài tình hình chung như các quốc gia trên thế giới Tai biến trong điều trị đã và đang trở thành một trong những áp lực xã hội đối với bệnh viện, và là thách thức đối với những nhà quản lý bệnh viện Điều này
Trang 25đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp can thiệp hữu hiệu nhằm hạn chế tai biến điều trị ở mức thấp nhất
1.3.2 Các nghiên cứu về khảo sát VHATNB sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC
Nghiên cứu của tác giả Andrej Robida tại 3 bệnh viện ở Slovenia năm 2010 với 1.745 phiếu HSOPSC được phát ra và thu về 1.048 phiếu đạt chất lượng phân tích cho thấy hai nhóm yếu tố VHATNB được đánh giá đáp ứng cao là: làm việc theo nhóm trong khoa phòng và sự hỗ trợ của lãnh đạo trong cải tiến chất lượng ATNB; trong khi
đó hai yếu tố: nhân sự và văn hóa không trừng phạt được đánh giá có tỉ lệ đáp ứng (TLĐƯ) thấp [33]
Nghiên cứu của tác giả Annemie Vlayen về VHATNB nhằm thiết lập các ưu tiên cho một kế hoạch đảm bảo an toàn người bệnh trong 5 năm (từ 2007 đến 2012) trên 180 bệnh viện tại Bỉ, kết quả cho thấy phần nội dung thấp điểm (< 40%) thuộc về các nhóm yếu tố: Sự hỗ trợ của lãnh đạo; Văn hóa không trừng phạt; Bàn giao - chuyển bệnh trong tổ chức và Làm việc nhóm giữa các khoa, phòng [35]
Nghiên cứu của tác giả Yanli Nie năm 2013 tại 32 bệnh viện ở 15 thành phố của Trung Quốc trên 1.160 NVYT cho thấy TLĐƯ ở các yếu tố khảo sát dao động từ 36% đến 89%, trong đó ba yếu tố là: làm việc nhóm trong khoa phòng; cải tiến liên tục/học tập một cách hệ thống và văn hóa không trừng phạt có TLĐƯ cao hơn so với các dữ liệu của AHRQ công bố [27]
Tại Việt Nam năm 2012, tác giả Tăng Chí Thượng đầu tiên sử dụng Bộ câu hỏi khảo sát văn hoá an toàn người bệnh (HSOPSC) tại bệnh viện Nhi đồng 1, thành phố
Hồ Chí Minh với mẫu nghiên cứu là toàn bộ bác sĩ và điều dưỡng/kỹ thuật viên ở các khoa có khám và điều trị người bệnh theo 12 yếu tố liên quan đến chăm sóc người bệnh cho thấy: Tỉ lệ đáp ứng chung ở 12 nhóm yếu tố là 69%, trong đó đáp ứng cao tập trung ở các yếu tố: làm việc nhóm trong khoa, phòng; sự hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện trong khuyến khích ATNB; phản hồi, trao đổi về sai sót/lỗi và cải tiến liên tục/học tập một cách hệ thống (82% - 90%) Ngược lại, có 7 yếu tố có tỉ lệ trả lời đồng ý thấp hơn hẳn so với các yếu tố còn lại là: nhận thức về ATNB (67%); tần suất báo cáo sự cố (64%); làm việc nhóm giữa các khoa, phòng (61%); bàn giao - chuyển tiếp người bệnh (57%); trao đổi cởi mở (55%); nhân sự (52%) và văn hóa không buộc tội khi có sai sót (51%) [16]
Trang 26Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Cẩm Hằng năm 2012 đã thực hiện khảo sát VHATNB trên 400 NVYT từ 37 khoa, phòng tại bệnh viện Đồng Tháp cho thấy tỉ lệ đáp ứng VHATNB cao (≥ 75%) ở hai yếu tố là: sự hỗ trợ của lãnh đạo và sự cải tiến liên tục/học tập một cách hệ thống; hai yếu tố có tỉ lệ đáp ứng VHATNB thấp là: báo cáo sự cố/sai sót và giao tiếp cởi mở lần lượt là 30% và 29% [11]
Nghiên cứu của tác giả Trần Nguyễn Như Anh về VHATNB tại bệnh viện Từ
Dũ, thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 trên 2.118 NVYT cho thấy 70% nhân viên nhận định bệnh viện Từ Dũ làm rất tốt công tác ATNB, TLĐƯ cao ở các yếu tố: nhân viên trong khoa sẵn sàng hỗ trợ nhau (chiếm tỉ lệ 95,4%); làm việc nhóm trong khoa phòng (91,7%); lãnh đạo luôn động viên, khen ngợi (91,3%) và sự cải tiến liên tục/học tập một cách hệ thống (86,5%) Các yếu tố có TLĐƯ thấp là: thoải mái góp ý lãnh đạo (51,7%); bị thành kiến, ghi nhận hồ sơ (64,6%) và bàn giao - chuyển tiếp người bệnh (32,2%) [17]
Nghiên cứu của tác giả Lê Thanh Chiến và cộng sự năm 2016 trên 768 NVYT
đã làm việc trên 1 năm tại bệnh viện Trưng Vương, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: bác sỹ có ý kiến trả lời đồng ý thấp hơn điều dưỡng trong 4 yếu tố: cải tiến liên tục/học tập một cách hệ thống; quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh; nhân sự và bàn giao - chuyển tiếp người bệnh Về đáp ứng VHATNB cho thấy TLĐƯ cao tập trung ở các yếu tố: làm việc nhóm trong khoa, phòng; lãnh đạo động viên, khuyến khích ATNB, cải tiến liên tục/học tập một cách hệ thống và sự hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện Các yếu tố có TLĐƯ thấp là: trao đổi cởi mở; văn hóa không buộc tội; bàn giao - chuyển tiếp người bệnh; nhân sự; tần suất báo cáo sự cố; quan điểm tổng quát
về an toàn người bệnh và làm việc nhóm giữa các khoa phòng [9]
Tóm lại, các nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện dựa trên bảng câu hỏi sẵn có của AHRQ ở nước ta vẫn còn mới, chưa nhiều, khó tránh khỏi sự chưa hoàn hảo trong thu thập, phân tích và kết luận Ngoài ra, vì là thăm dò ý kiến cá nhân nên không thể đòi hỏi toàn bộ các câu trả lời đều khách quan Tuy nhiên, những nghiên cứu này có thể là số liệu nền góp phần cho các bệnh viện có những điều chỉnh
và giải pháp thích hợp trong việc tổ chức, triển khai xây dựng VHATNB tại bệnh viện nhằm hạn chế những tai biến không mong muốn xảy ra trong điều trị
Trang 271.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.360 km2, dân số khoảng 1,255 triệu người chia thành 9 đơn vị hành chính: 8 huyện và 01 thành phố loại II trực thuộc tỉnh Hệ thống bệnh viện của tỉnh gồm: bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu và 03 bệnh viện chuyên khoa: Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Y học cổ truyền; tại 8 huyện đều có bệnh viện
đa khoa tuyến huyện Toàn tỉnh được phân bổ 3.240 giường bệnh với 907 bác sĩ; tỉ lệ giường bệnh và bác sỹ trên dân số lần lượt là 25,6 giường bệnh/ 10.000 dân và 7,16 bác sĩ/10.000 dân
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu là bệnh viện đa khoa hạng II nằm tại trung tâm thành phố Bến Tre, rất thuận tiện cho việc đi lại, khám chữa bệnh của người dân trong tỉnh Bệnh viện có số giường bệnh theo kế hoạch là 1.080 giường nhưng thực kê là
1.215 giường Tổng số cán bộ viên chức kể cả hợp đồng là 1.093 người (phụ lục 3)
Tùy thuộc vào đặc thù công việc, chức năng, nhiệm vụ của từng khoa/phòng, hệ thống bệnh viện chia làm 3 khối chính: khối các phòng chức năng, khối lâm sàng, và khối cận lâm sàng
Khối phòng chức năng bao gồm Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Tổ chức cán
bộ , Phòng Tài chính Kế toán, Phòng Hành chánh Quản trị, Phòng Điều dưỡng, Phòng Vật tư – Trang thiết bị y tế, Phòng Công tác xã hội, quản lý chất lượng bệnh viện
Khối lâm sàng gồm 21 khoa có giường bệnh, chịu trách nhiệm khám, cấp cứu, chăm sóc, điều trị cho người bệnh – khách hàng
Khối cận lâm sàng gồm các khoa: khoa Dược cung ứng, bảo quản và sử dụng thuốc, hoá chất và sinh phẩm trong bệnh viện; các khoa Hóa sinh vi sinh, Huyết học truyền máu, Thăm dò chức năng và nội soi, Giải phẩu bệnh có trách nhiệm thực hiện các xét nghiệm, thăm dò chức năng hỗ trợ chẩn đoán; khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn hướng dẫn việc thực hiện quy chế phòng chống nhiễm khuẩn trong toàn bệnh viện; Khoa Dinh dưỡng thực hiện công tác phục vụ ăn uống cho người bệnh nội/ngoại trú,
và có trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho nhân viên bệnh viện
Trang 28KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nguồn tham khảo và xây dựng: Mô hình 7S Mc Kinsey - 1982
12 YẾU TỐ VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THEO AHRQ
(1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một Khoa/phòng
(2) Làm việc theo ê kíp giữa các Khoa/phòng
(3) Nhân sự
(4) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh của nhân viên y tế (5) Quan điểm và hành động của người quản lý về an toàn người bệnh (6) Hỗ trợ về an toàn người bệnh của người quản lý
(7) Sẵn sàng trao đổi thông tin về an toàn người bệnh
(8) Hoạt động cải tiến và thực hiện có hệ thống các biện pháp ATNB (9) Bàn giao và chuyển tiếp người bệnh giữa các Khoa/ phòng
(10) Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi trong Khoa/ phòng
(11) Tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót của nhân viên y tế
(12) Trừng phạt cá nhân khi để xảy ra sự cố/sai sót
CẢI TIẾN AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP
DỊCH VỤ
MARKETING BỆNH VIỆN
Trang 29CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng chọn
Nhân viên y tế hiện đang công tác tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tại thời điểm nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng loại trừ
- Mới tuyển dụng hoặc hợp đồng lao động có thời gian làm việc dưới 12 tháng tính đến tháng 3 năm 2017
- Đang đi học hoặc đi công tác;
- Hiện đang nghỉ ốm đau, thai sản;
- Những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 8 năm 2017
Địa điểm nghiên cứu: Tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.4 Cỡ mẫu
Áp dụng công thức ước tính một tỉ lệ
Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Z2 1-α/2 : Hệ số tin cậy mức 95%, tương ứng là 1,96
p = 0,5 (tỉ lệ đáp ứng chung về VHATNB của nhân viên y tế, p được chọn 50% nhằm cho cỡ mẫu lớn nhất)
d = 0,05 (độ chính xác mong muốn giữa tỉ lệ thu được từ mẫu và quần thể nghiên cứu)
Tính toán ta được cỡ mẫu n tối thiểu là 384
Dự phòng 10% mẫu thu về không đủ tiêu chuẩn phân tích nên số mẫu phát ra lấy tròn là 420
)1
(
d
p p
Z
Trang 30Dựa vào danh sách NVYT theo 3 khối phòng chức năng: hành chính, lâm sàng
và cận lâm sàng do phòng TCCB bệnh viện cung cấp Tại thời điểm nghiên cứu, bệnh viện có tất cả 1.093 nhân viên đang công tác đều đủ tiêu chuẩn tham gia vào nghiên cứu Từ danh sách đó chúng tôi tiến hành chọn đối tượng theo từng khối phòng chức năng và phân công điều tra viên tiến hành phát vấn Tổng số phiếu phát ra là 420, thu
về kiểm tra được 389 phiếu đạt tiêu chuẩn phân tích (bảng 2.1.)
Bảng 2.1 Phân bổ đối tượng tham gia nghiên cứu theo khối khoa, phòng
Khối phòng Số đối tượng Hệ số k Mẫu phát ra Mẫu đạt tiêu chuẩn
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Bộ câu hỏi sử dụng được tham khảo từ bộ câu hỏi “Khảo sát ý kiến về an toàn người bệnh” trong nghiên cứu “Khảo sát văn hoá an toàn người bệnh tại bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2012" do tác giả Tăng Chí Thượng và cộng sự thực hiện [15], có chỉnh sửa một số cấu trúc cho phù hợp mục tiêu nghiên cứu và đặc thù thực tế của
nghiên cứu (phụ lục 1) Số liệu được thu thập bằng hình thức tự điền thông qua phát
vấn đến đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Sau khi chuyển bộ câu hỏi đến ĐTNC, điều tra viên hướng dẫn cách điền phiếu, giao cho đối tượng tự điền và hẹn sau 3 ngày làm việc quay lại thu phiếu
* Nghiên cứu viên liên hệ trước với lãnh đạo bệnh viện nói rõ mục đích, nội dung của nghiên cứu, hẹn thời gian sẽ tiến hành điều tra
* Nhóm điều tra viên 03 người: Nghiên cứu viên chính và 02 cán bộ phòng Điều dưỡng hỗ trợ thu thập số liệu điều tra sau khi đã được tập huấn, hướng dẫn
* Tổ chức thu thập số liệu theo từng khoa, phòng Điều tra viên có mặt tại điểm thu thập thông tin giải thích các thắc mắc của đối tượng khi tham gia nghiên cứu, thực hiện phát phiếu điều tra đến từng đối tượng Hẹn quay lại thu phiếu sau 3 ngày làm
Trang 31việc Phiếu mang về được kiểm tra tất cả các thông tin và làm sạch trước khi nhập liệu
* Khi gặp trường hợp đối tượng được chọn vắng mặt hoặc không muốn tham gia tại thời điểm phát vấn, điều tra viên chọn người kế tiếp trong danh sách được cung cấp để thay thế nhằm đảm bảo đủ lượng mẫu cần thiết cho nghiên cứu
2.7 Biến số nghiên cứu
Ngoài các biến số thông tin chung về nhân khẩu, xã hội học và nghề nghiệp của ĐTNC; nghiên cứu bao gồm các biến số về ATNB của khoa phòng (17 câu), của bệnh viện (10 câu); về mức độ quan tâm và xử trí các sự cố ATNB của lãnh đạo bệnh viện (04 câu), đánh giá mức độ ATNB (01 câu); về trao đổi thông tin trong khoa phòng (06 câu); về số lượt báo cáo sự cố trong 2 năm 2015, 2016 (01 câu) và tần suất báo cáo các
sự cố (3 câu) tại các khoa, phòng (chi tiết được trình bày trong phụ lục 2)
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá
Tại mỗi yếu tố văn hóa ATNB chúng tôi lưu ý đến các giá trị trung bình, mode,
tỉ lệ đáp ứng, tương quan biến tổng (HSTQBT) và hệ số Cronbach’s Alpha (CA) của các quan điểm khảo sát trong yếu tố đó; mỗi yếu tố được tính tỉ lệ đáp ứng chung và chia thành 2 nhóm: nhóm nhân viên “đáp ứng” và “chưa đáp ứng” Số điểm được tính cho các đáp án chọn như sau:
Rất không đồng ý Không đồng ý Không biết Đồng ý Rất đồng ý
2.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi làm sạch được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 gồm: Mô tả các thông tin về nhân khẩu học, nghề nghiệp
và xã hội học của nhân viên y tế tham gia vào nghiên cứu; Từ thang đo Likert 5 mức
độ của 42 quan điểm khảo sát thuộc 12 yếu tố Văn hóa ATNB, chúng tôi đánh giá độ tin cậy thang đo bằng kiểm định Cronbach’s Alpha với tiêu chí chỉ khi alpha ≥ 0,6 và
hệ số tương quan biến tổng của mỗi nhân tố (item – rest correlation) ≥ 0,3 thì các nhân
tố đó đạt yêu cầu và chứng minh thang đo thu được là tốt, có giá trị và độ tin cậy Dùng kiểm định Khi bình phương tìm các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB
Trang 322.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức - Trường Đại học Y tế công cộng, được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y tế công cộng chấp thuận tại văn bản số 005/2017/TTCC-HD3 ngày 06/02/2017 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức nghiên cứu y sinh học
- Nội dung nghiên cứu phù hợp và được sự ủng hộ của Lãnh đạo Ngành Y tế và Ban giám đốc bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre
- Nhân viên y tế tham gia vào nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu trước khi tham gia và chỉ tiến hành khi được sự đồng ý của họ Nếu từ chối tham gia hoặc rút lui ở bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu đều được đối xử bình đẳng như các đối tượng khác
- Các thông tin thu thập được chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu và được giữ bí mật chỉ nghiên cứu viên mới được phép tiếp cận
Kết quả nghiên cứu sau khi Hội đồng bảo vệ Luận văn thông qua sẽ được phản hồi tới Lãnh đạo, Phòng Tổ chức Cán bộ Sở Y tế tỉnh Bến Tre và Ban giám đốc bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
2.11 Hạn chế và cách khắc phục
2.11.1 Hạn chế
- Cỡ mẫu nghiên cứu thu được là 389 mẫu, so với các nghiên cứu tương đồng là thấp hơn, mặt khác trên một bệnh viện hạng II của tuyến tỉnh với 1.080 giường bệnh nên khó kỳ vọng đạt được yêu cầu từ mục tiêu đặt ra; tỉ lệ đáp ứng văn hóa ATNB chưa tương xứng với tỉ lệ sự cố sai sót xảy ra trong bệnh viện
- Chủ đề nghiên cứu khá là mới và chưa được Bộ Y tế chuẩn hóa, đồng thời tác giả chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tế nghiên cứu, cộng với nguồn lực của nghiên cứu viên có hạn, tài liệu tham khảo phiên bản tiếng Việt về VHATNB chưa nhiều nên kết quả bàn luận và đề xuất giải pháp có thể còn nhiều hạn chế; tuy nhiên kết quả đạt được có thể xem là một bộ số liệu nền cho các nghiên cứu tương đồng tiếp theo
2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục
Sai số do thu thập thông tin (các thông tin được thu thập không đầy đủ, điều tra viên giải đáp, gợi ý câu trả lời…), sai số do nhập liệu
Trang 33Biện pháp khắc phục:
+ Thử nghiệm trước 10 bộ công cụ để chuẩn hóa các nội dung
+ Tập huấn kỹ cho điều tra viên; trình bày rõ mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu, động viện NVYT tự nguyện tham gia và có trách nhiệm vì đây là những khái niệm khá là mới và nhạy cảm
+ Làm sạch và mã hóa số liệu trước khi nhập vào phần mềm
+ Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 Quá trình nhập liệu được tiến hành bởi hai người hỗ trợ lẫn nhau nhằm kiểm tra thông tin nhập chính xác với bộ câu hỏi Sau khi nhập liệu xong lấy ngẫu nhiên 10% phiếu nhập lại để kiểm tra, đảm bảo tính chính xác của thông tin
Trang 34CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2017
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Tổng số phiếu khảo sát thu về đạt tiêu chuẩn phân tích là 389 trong 420 phiếu phát ra cho 420 nhân viên y tế được chọn từ danh sách 1.093 nhân viên đang công tác tại bệnh viện (chiếm 35,6%) Tuổi thấp nhất là 22 tuổi, cao nhất là 59 tuổi và trung
bình là 35 tuổi
Biểu đồ 3.1 Giới tính và tình trạng hôn nhân của ĐTNC (n = 389)
Biểu đồ 3.1 cho thấy nhân viên nữ chiếm đa số (282 người, chiếm 72,5%), nam là 107 người, chiếm 27,5% Về tình trạng hôn nhân có ba nhóm: hiện đã kết hôn sống cùng gia đình là 255 người (chiếm 65,6%), chưa lập gia đình là 120 (chiếm 30,8%) và ly dị, góa là 14 (chiếm 3,6%)
Tham gia khám chữa bệnh ngoài giờ, là người thu nhập chính và loại hình lao động của nhân viên y tế (n = 389)
Trong biểu đồ 3.2 ta thấy có 40 nhân viên y tế có tham gia khám, chữa bệnh ngoài giờ, chiếm 10,3%; có 262 nhân viên là người thu nhập chính trong gia đình, chiếm 67,3% Về loại hình lao động: biên chế có 360 nhân viên, chiếm 92,5%; lao
động hợp đồng là 29 nhân viên, chiếm 7,5%
Trang 35Biểu đồ 3.2 Tham gia khám chữa bệnh ngoài giờ, là người thu nhập chính và loại
lao động của nhân viên y tế
Biểu đồ 3.3 Số năm công tác tại khoa phòng của ĐTNC
Biểu đồ 3.3 cho thấy nhóm nhân viên y tế có số năm công tác từ 1 đến <5 năm chiếm cao nhất (120 người, 30,8%), tiếp đến nhóm từ 5 đến <10 năm (117 người, chiếm 30,1%) Số nhân viên có thâm niên từ 10 – 20 năm là 93 người, chiếm 23,9%
và trên 20 năm là 59 người, chiếm 15,2%
Trang 36Bảng 3.1 Trình độ chuyên môn, chức danh, chức vụ, tiếp xúc trực tiếp với người
bệnh và báo cáo sự cố của nhân viên theo khối khoa, phòng (n = 389)
TT Đặc điểm Khối hành
chính
Khối lâm sàng
Cận lâm sàng Tổng
Chức danh chuyên môn chia thành 3 nhóm: điều dưỡng là nhiều nhất (218 người, chiếm 56,1%), trong đó khối lâm sàng là cao nhất (204 người, chiếm 93,6%
Trang 37Chức danh là bác sĩ có 51 người (chiếm 13,1%), tập trung nhiều ở khối lâm sàng (47 người, chiếm 92,2%) Các chức danh khác tập trung nhiều ở bộ phận hành chính (50 người, 41,7%), trong đó có 53,2% là nhân viên có chức danh ngoài chuyên môn y tế
Chức vụ cấp trưởng, phó bệnh viện và khoa/phòng là 30 người (chiếm 7,7%), trong đó khối hành chính có 10 người, chiếm 33,3%, lâm sàng có 14 người, chiếm 46,7% và cận lâm sàng là 4 người, chiếm 20% Nhân viên là 359 người (chiếm 92,3%) được phân bố đa số ở khối lâm sàng ( 262 người, chiếm 73%), cận lâm sàng là 49 người (chiếm 13,6%) và khối hành chính là 48 người (chiếm 13,4%)
Số ĐTNC trực tiếp tiếp xúc với người bệnh là 328 người (chiếm 84,3%), trong
đó khối lâm sàng là cao nhất: 273 người (chiếm 83,2%) Có 61 nhân viên không trực tiếp tiếp xúc người bệnh (15,7%), tập trung chủ yếu ở khối hành chính (55,7%) và cận lâm sàng 39,3% Kết quả thu thập cho thấy trong 2 năm qua có 46 nhân viên y tế (chiếm 11,8%) có thực hiện báo cáo sự cố/sai sót trong bệnh viện và số nhân viên này tập trung chủ yếu ở khối lâm sàng (31 người, chiếm 67,4%)
3.1.2 Văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
3.1.2.1 Văn hóa an toàn người bệnh theo từng yếu tố khảo sát
Bảng 3.2 Thông tin làm việc theo ê kíp trong cùng khoa/phòng
Cronbach ’s alpha
Mọi người trong khoa luôn hỗ trợ lẫn
Tỉ lệ đáp ứng chung: 94,1%; Hệ số Cronbach ’s alpha = 0,74
Trang 38Thang đo yếu tố làm việc theo ê kíp trong cùng khoa/phòng của nhân viên y tế được phân tích trên 4 quan điểm Kết quả phân tích cho thấy thang đo ở đây có giá trị,
độ tin cậy đánh giá (CA = 0,74); hệ số tương quan biến tổng (HSTQBT) đều > 0,3
Mức độ được chọn cả 4 quan điểm đa số là đồng ý (mức 4), trong đó tỉ lệ đồng
ý cao nhất là quan điểm nhân viên trong khoa luôn hỗ trợ lẫn nhau (96,4%), các quan điểm khác cũng cho tỉ lệ đồng ý trên 92% Có 94,1% nhân viên được hỏi trả lời đồng ý/rất đồng ý ở yếu tố này, và đây là TLĐƯ chung của nhân viên y tế với yếu tố làm việc theo ê kíp trong cùng khoa/phòng
Bảng 3.3 Thông tin làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng
Cronbach ’s alpha
Các khoa phòng trong bệnh viện luôn có
sự phối hợp tốt với nhau 3,90 4 92,0 0,65 Hoạt động giữa các khoa/phòng cho thấy
ATNB là ưu tiên hàng đầu 4,06 4 88,7 0,68 Các khoa hợp tác tốt với nhau để đảm
bảo CSNB tốt nhất 4,02 4 92,5 0,61
Tỉ lệ đáp ứng chung: 91,1%; Hệ số Cronbach ’s alpha = 0,69
Thang đo yếu tố làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng của bệnh viện được phân tích trên 3 quan điểm, thang đo có giá trị và đạt độ tin cậy đánh giá (CA = 0,69; HSTQBT đều > 0,4) Mức độ được chọn đa số là đồng ý (mức 4), trong đó tỉ lệ đồng ý/rất đồng ý cao ở hai quan điểm: các khoa luôn có sự phối hợp tốt với nhau (92%) và các khoa hợp tác tốt với nhau để đảm bảo chăm sóc người bệnh tốt nhất (92,5%) TLĐƯ chung ở yếu tố này là 91,1%
Trang 39Bảng 3.4 Thông tin về nhân sự làm việc
Nhân sự làm việc Điểm
TB Mode
Tỉ lệ đáp ứng
Cronbach ’s alpha
Khoa có đủ nhân sự để làm việc 3,69 4 39,3 0,35
Nhân viên phải làm việc nhiều thời gian
hơn qui định để có thể chăm sóc người
số CA < 0,6 và HSTQBT < 0,2) Mức độ được chọn trả lời đa số là đồng ý (mức 4), tuy nhiên có sự phân tán cao ở cả 5 mức độ TLĐƯ chung đạt 57,5%
Bảng 3.5 Thông tin về quan điểm tổng quát về ATNB của nhân viên y tế
Quan điểm tổng quát về ATNB
của nhân viên
Điểm
TB Mode
Tỉ lệ đáp ứng
Cronbach ’s alpha
Sai sót nghiêm trọng ở khoa không xảy
ra là do may mắn 2,18 2 76,6 0,23 Không bao giờ “hy sinh” ATNB để đổi
lấy làm được nhiều việc hơn 3,37 3 61,2 0,36 Khoa có một số vấn đề không đảm bảo
có tỉ lệ không đồng ý cao nhất (76,6%) TLĐƯ chung đạt 67,9%
Trang 40Bảng 3.6 Thông tin quan điểm và hành động của người quản lý, lãnh đạo về ATNB
Quan điểm và hành động của người
quản lý, lãnh đạo về ATNB
Điểm
TB Mode
Tỉ lệ đáp ứng
Cronbach ’s alpha
Lãnh đạo luôn muốn NV làm việc nhanh
hơn, cả khi không tuân thủ qui trình 2,12 2 86,7 0,64 Lãnh đạo bỏ qua các vấn đề ATNB dù
biết các lỗi cứ lập đi lập lại 1,94 2 91,8 0,66 Lãnh đạo chỉ quan tâm đến ATNB khi có
sự cố nghiêm trọng xảy ra 2,38 2 74,0 0,68 Thay đổi ca trực là một vấn đề đáng lo
đối với người bệnh ở bệnh viện này 2,39 2 69,4 0,68
Tỉ lệ đáp ứng chung: 80,5%; Hệ số Cronbach ’s alpha = 0,72 Thang đo quan điểm và hành động về ATNB của người quản lý, lãnh đạo được phân tích dựa trên 4 quan điểm, thang đo có giá trị và đạt độ tin cậy đánh giá (CA = 0,73; HSTQBT đều > 0,5) Đây là những quan điểm mang ý nghĩa tiêu cực nên mức
độ được chọn đa số là không đồng ý (mức 2), trong đó tỉ lệ chọn không đồng ý cao ở 3 quan điểm và hành động về ATNB của lãnh đạo (đều > 70%), tỉ lệ không đồng ý thấp nhất là quan điểm thay đổi ca trực là một vấn đề đáng lo đối với người bệnh ở bệnh viện (69,4%) TLĐƯ chung ở yếu tố này là: 80,5%
Bảng 3.7 Thông tin về sự hỗ trợ của lãnh đạo cho ATNB ở bệnh viện
Hỗ trợ của lãnh đạo cho ATNB Điểm
TB Mode
Tỉ lệ đáp ứng
Cronbach ’s alpha
Lãnh đạo tạo bầu không khí làm việc
Lãnh đạo luôn động viên khi NV tuân thủ
các qui trình đảm bảo ATNB 4,06 4 96,9 0,69 Lãnh đạo luôn xem xét nghiêm túc đề
xuất của NV trong việc cải tiến ATNB 4,07 4 97,2 0,65
Tỉ lệ đáp ứng chung: 96,4%; Hệ số Cronbach ’s alpha = 0,69