Nghiên cứu nhằm đánh giá công tác quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn, góp phần giúp cho ban lãnh đạo bệnh viện xây dựng kế hoạch định hướng công tác, xây dựng các b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THANH THẢO
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỪ SƠN, BẮC NINH NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Mã số: 60.72.07.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lã Ngọc Quang
Hà Nội - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THANH THẢO
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm và định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu: 4
1.2 Quản lý TTBYT tại Việt nam 7
1.2.1 Quản lý hiện trạng TTBYT 7
1.2.2 Quản lý công tác mua sắm TTBYT 9
1.2.3 Quản lý bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT 11
1.3 Những nghiên cứu về TTBYT trên thế giới và Việt Nam: 15
1.3.1 Những nghiên cứu về TTBYT trên thế giới 15
1.3.2 Những nghiên cứu về TTBYT tại Việt Nam 18
1.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 22
1.5 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝSỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ PHỤC VỤ CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN 24
Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1.Đối tượng nghiên cứu: 25
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 25
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: 25
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 26
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 26
2.4.1 Mẫu của nghiên cứu định lượng 26
2.4.2 Mẫu của nghiên cứu định tính: 28
2.5 Các biến số nghiên cứu: 28
Trang 42.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu: 28
2.6.1.Thu thập số liệu định lượng: 28
2.6.2 Thu thập số liệu định tính 29
2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá: 31
2.8 Phương pháp phân tích số liệu: 31
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu: 32
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 32
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu 32
2.10.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 32
Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Thực trạng công tác quản lý, sử dụng TTBYT tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn, Bắc Ninh 33
3.2 Đánh giá công tác quản lý sử dụng trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa Từ Sơn, Bắc Ninh năm 2017 47
3.3 Thực trạng kiểm tra về quản lý trang thiết bị y tế tại khoa 52
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế 55
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 58
4.1 Thực trạng công tác quản lý, sử dụng TTBYT tại bệnh viện: 58
4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý TTBYT 64
KẾT LUẬN 68
KHUYẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 73
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện 5
Bảng 1.2 Bảng phân loại TTBYT theo nội dung chuyên môn 6
Bảng 3.1 Số lượng trang thiết bị và số giờ hoạt động trong ngày của TTBYT 33
Bảng 3.2 Phân bố số lượng các TTBYT theo số giờ hoạt động hàng ngày 35
Bảng 3.3 Tình trạng hiện tại của trang thiết bị y tế 35
Bảng 3.4 Phân bố số lượng các TTBYT theo tình trạng hiện tại 37
Bảng 3.5 Phân bố số lượng các TTBYT theo tỷ lệ (%) còn lại 37
Bảng 3.6 Thời gian đưa vào sử dụng và số lần kiểm tra bảo dưỡng định kỳ trong năm của TTBYT 38
Bảng 3.7 Phân bố số lượng các TTBYT theo thời gian đưa vào sử dụng 40
Bảng 3.8 Thời gian máy bị hỏng sau khi đưa vào sử dụng và thời gian sửa chữa của TTBYT 41
Bảng 3.9 Thực trạng công tác quản lý sử dụng, bảo quản TTBYT 42
Bảng 3.10 Thông tin chung của đối tượng nhân viên Y tế tại bệnh viện 42
Bảng 3.11 Quản lý TTBYT tại khoa 44
Bảng 3.12 Sử dụng TTBYT 44
Bảng 3.13 Bảo dưỡng TTBYT tại bệnh viện 45
Bảng 3.14 Thông tin chung cán bộ quản lý 47
Bảng 3.15 Đánh giá ban đầu trước khi mua sắm TTBYT 49
Bảng 3.16 Giám sát và quản lý TTBYT tại khoa 49
Bảng 3.17 Theo dõi sử dụng TTBYT tại khoa 49
Bảng 3.18 Giám sát vận hành, bảo quản TTBYT của lãnh đạo khoa phòng 51
Bảng 3.19 Công tác chuẩn bị mua sắm TTBYT 52
Bảng 3.20.Tình hình bệnh viện đã sử dụng TTBYT 52
Bảng 3.21.Tình hình quản lý TTBYT tại bệnh viện 53
Bảng 3.22 Tỷ lệ bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT 54
Phụ lục 1:Bảng biến số nghiên cứu 73
Phụ lục 2: Hướng dẫn phỏng vấn sâu 77
Trang 6Phụ lục 3:Hướng dẫn phỏng vấn sâu 80
Phụ lục 4:Hướng dẫn phỏng vấn sâu 83
Phụ lục 5:Hướng dẫn thảo luận nhóm 86
Phụ lục 6: Hướng dẫn thảo luận nhóm 89
Phụ lục 7: Phiếu đồng ý tham gia phỏng vấn nghiên cứu 92
Phụ lục 8: Bảng kiểm kiểm tra về quản lý, sử dụng trang thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị tại khoa 94
Phụ lục 9: Bảng kiểm thống kê trang thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị 96
Phụ lục 10: Bảng kiểm thống kê trang thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị 97
Phụ lục 11: Bảng kiểm thống kê trang thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị 98
Trang 7NCV : Nghiên cứu viên
NVYT : Nhân viên y tế
PVS : Phỏng vấn sâu
TDCN : Thăm dò chức năng
TTB : Trang thiết bị
TTBCĐ : Trang thiết bị chẩn đoán
TTBYT : Trang thiết bị y tế
VT-TBYT : Vật tư - Thiết bị y tế
WHO : Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 8TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Bệnh viện đa khoa Từ Sơn – Bắc Ninh là bệnh viện tuyến huyện trực thuộc Sở
Y Tế Bắc Ninh, trong những năm qua số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện ngày càng tăng Thực tế công tác đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng trang thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị chưa được các cơ sở y tế chú ý và đầu tư thích đáng, có ít đề tài đề cập đến vấn đề này ở Việt Nam Hiện tại chưa có đề tài nào về chủ đề này thực hiện tại Bệnh viện đa khoa Từ Sơn – Bắc Ninh Chính vì vậy, mà chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang y tế tại Bệnh viện đa khoa Từ Sơn, Bắc Ninh năm 2017” để làm nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính được thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 06/2017 Đối tượng nghiên cứu định lượng là 24 (TTB) hiện có tại 5 khoa nghiên cứu, được kiểm tra thực tế và được đánh giá bằng bộ bảng kiểm với 45 tiểu mục, 50 (CBYT) đang làm việc tại 5 khoa nghiên cứu, được tham gia phát vấn bộ câu hỏi có cấu trúc Dữ liệu định tính thu được bằng cách tiến hành phỏng vấn sâu 2 nhóm đối tượng, nhóm 1 bao gồm lãnh đạo bệnh viện, nhóm 2 bao gồm lãnh đạo các khoa phòng; thảo luận nhóm bác sĩ và nhân viên đang làm việc tại các khoa, phòng nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng và chủng loại TTB phục vụ chẩn đoán, điều trị còn thiếu so với danh mục chuẩn của Bộ Y tế Các TTB phục vụ chẩn đoán, điều trị được quản lý đầu tư mua sắm, hiện trạng, chất lượng, bảo quản, bảo dưỡng
- sửa chữa theo đúng quy trình (đạt tỷ lệ cao 100%) tuy nhiên vẫn còn thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật bảo dưỡng sửa chữa TTB Một số yếu tố quan trọng được xác định
có ảnh hưởng tích cực đến sử dụng TTBYT tại bệnh viện đó là: Yếu tố Tài chính, Yếu tố Cơ sở vật chất, Yếu tố Hệ thống thông tin Các yếu tố chưa có ảnh hưởng tích cực đó là: Yếu tố Chính sách, Yếu tố nhân lực còn chưa có cán bộ có trình độ quản lý, bảo dưỡng trang thiết bị
Do đó để thực hiện tốt việc sử dụng TTBYT, Bệnh viện đa khoa Từ Sơn- Bắc Ninh cần xây dựng đề án về đầu tư cơ sở vật chất Đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ sử dụng TTB, có chính sách tuyển dụng hợp lý để thu hút cán bộ kỹ thuật chuyên ngành TTBYT đến làm việc tại bệnh viện Bên cạnh đó bệnh viện cần thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý TTB, cung cấp tài liệu kỹ thuật mới về TTBYT
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Trang thiết bị y tế là một trong ba lĩnh vực cấu thành ngành y tế: THẦY THUỐC – THUỐC – TRANG THIẾT BỊ Y TẾ, ba lĩnh vực này gắn kết với nhau nếu thiếu một trong ba yếu tố này thì ngành y tế không hoạt động được Trang thiết
bị y tế là phương tiện tối cần thiết cho người thầy thuốc theo dõi, điều trị bệnh một cách chính xác và hiệu quả Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của nền y học trên thế giới, nhu cầu chẩn đoán sớm, nhanh, chính xác ngày càng cần thiết nên trên thế giới
đã tạo ra những trang thiết bị y tế hiện đại, đa chủng loại, liên tục được cải tiến, hỗ trợ thiết thực cho việc chăm sóc sức khỏe con người[31]
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trong những năm gần đây ngành y tế cũng đã có những bước phát triển nhảy vọt về mặt công nghệ, các cơ sở khám chữa bệnh từ trung ương tới địa phương đã được trang bị các thiết bị hiện đại
và cập nhật với nền ytế trong khu vực Các thiết bị thăm dò chức năng, thiết bị phòng mổ, chẩn đoán hình ảnh và các máy xét nghiệm đã và đang được số hóa với
bộ vi xử lý, chương trình phần mềm tự động hóa góp phần tăng hiệu suất làm việc, nâng cao hiệu quả chấn doán và điều trị[6] Tuy nhiên trang thiết y tế hiện nay của các bệnh viện nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với khu vực Hầu hết các trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư đổi mới Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết các tính năng kỹ thuật
và công suất của trang thiết bị y tế hiện có Năng lực của cán bộ kỹ thuật bảo trì, sửa chữa trang thiết bị y tế chưa theo kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ[12] Bệnh viện đa khoa Từ Sơn là bệnh viện tuyến huyện trực thuộc sở y tế tỉnh Bắc Ninh, với qui mô 200 giường bệnh Số bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh tại bệnh viện ngày càng tăng, trung bình mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận khoảng 700-
800 lượt khám bệnh[14] Với bối cảnh thực tế của bệnh viện ngoài sự nỗ lực rất lớn của đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế của bệnh viện thì rất cần có một hệ thống trang thiết bị y tế kỹ thuật cao đáp ứng được yêu cầu của công tác khám chữa bệnh
để góp phần nâng cao chất lượng của bệnh viện
Trang 10Nghiên cứu đánh giá các công tác quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế là một nội dung không thể thiếu, nhằm tìm ra những mặt tích cực và hạn chế của hệ thống
tổ chức, quản lý trang thiết bị ngày càng hoạt động hiệu quả hơn phục vụ tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Thực tế công tác đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế chưa được các cơ sở y tế chú ý và đầu tư thích đáng, có ít
đề tài đề cập đến vấn đề này ở Việt Nam Hiện tại chưa có đề tài nào về chủ đề này thực hiện tại Bệnh viện đa khoa Từ Sơn – Bắc Ninh
Chính vì vậy, mà chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn, Bắc Ninh năm 2017” Nghiên cứu nhằm đánh giá công tác quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn, góp phần giúp cho ban lãnh đạo bệnh viện xây dựng kế hoạch định hướng công tác, xây dựng các biện pháp can thiệp để cải thiện, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh viện
Trang 12Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm và định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu:
Định nghĩa về trang thiết bị y tế:
Trang thiết bị y tế bao gồm các loại máy, thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân [9].
Theo nghị định 36/2016/NĐ-CP của Bộ Y Tế Trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất liệu chuẩn in vitro, phần mềm được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y
tế để phục vụ cho con người nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây:
+ Chẩn đoán, phòng ngừa, theo dõi, điều trị và làm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương
+ Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ công tác giải phẫu và quy trình sinh lý
+ Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống
+ Kiểm soát sự thụ thai
+ Khử khuẩn trang thiết bị y tế, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm
+ Vận chuyển chuyên dụng hoặc sử dụng phục vụ cho hoạt động y tế
+ Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người
- Theo Bộ Y Tế
Trang thiết bị y tế bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư y tế, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Được Bộ Y tế chia làm bốn nhóm trang thiết bị sau:
+ Thiết bị y tế: các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực y tế
Trang 13+ Phương tiện vận chuyển chuyên dụng bao gồm: phương tiện chuyển thương (xe ô tô cứu thương, xuồng máy, ghe máy chuyển thương), xe chuyên dụng lưu động cho y tế (X quang lưu động, xét nghiệm lưu động, chuyên chở vắc xin…)
+ Dụng cụ vật tư y tế bao gồm: các loại dụng cụ, vật tư, hóa chất xét nghiệm được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe
+ Các loại vật tư, dụng cụ cấy ghép trong cơ thể gồm: xương nhân tạo, vít cố định xương, van tim, ốc tai điện tử, thủy tinh thể nhân tạo,…
Trang thiết bị y tế nói chung được dùng trong công tác chẩn đoán và điều trị bệnh có cơ cấu phức tạp và đa dạng chủng loại Trang thiết bị y tế là tổng hợp nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật như: tin học, điện tử, cơ khí, quang học,tự động hóa…Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trang thiết bị y tế là một lĩnh vực kỹ thuật chuyên môn của ngành y tế, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh Trang thiết bị y tế là một trong 3 nội dung cấu thành ngành y tế: thầy thuốc, thuốc, trang thiết bị y tế; 3 lĩnh vực này gắn kết với nhau, nếu thiếu một trong 3 lĩnh vực này thì ngành y tế không hoạt động được [9]
Phân loại trang thiết bị y tế
Dựa vào công dụng của TTB, ngày nay người ta có thể phân loại TTBYT bệnh viện ra 10 nhóm TTB chính như sau [16]:
Bảng 1.1 Bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện
1 Nhóm thiết bị chẩn đoán hình ảnh: máy chụp X quang các loại, máy cộng hưởng từ, máy chụp cắt lớp điện toán, máy chụp mạch máu xóa nền, máy chụp cắt lớp Positron (PET/CT), máy siêu âm…
2 Thiết bị chẩn đoán điện tử sinh lý: máy điện tâm đồ, điện não đồ, điện cơ
đồ, máy đo lưu huyết não
3 Thiết bị labo xét nghiệm: sắc ký khí, quang phổ kế, máy đếm tế bào…
4 Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, phòng mổ: máy thở, máy gây mê, máy theo dõi (monitoring), máy sốc tim, máy tạo nhịp tim, dao mổ điện…
5 Thiết bị vật lý trị liệu: máy điện phân, điện giao thoa, điều trị sóng ngắn,
Trang 14STT TÊN NHÓM
tia hồng ngoại, Laser trị liệu…
6 Thiết bị quang điện tử y tế như: Laser CO2, phân tích máu bằng Laser, …
7 Thiết bị đo và điều trị chuyên dùng như: máy đo chức năng hô hấp, máy đo thính giác, máy tán sỏi ngoài cơ thể, gia tốc điều trị ung thư, thiết bị cường nhiệt, máy chạy thận nhân tạo…
8 Các thiết bị điện y tế phương đông như: máy dò huyệt, máy châm cứu, …
9 Nhóm thiết bị y tế thông thường dùng ở gia đình: huyết áp kế, nhiệt kế, …
10 Nhóm các thiết bị thông dụng phục vụ cho hoạt động của bệnh viện: thiết
bị thanh tiệt trùng, máy giặt, xe ô tô cứu thương, …
Phân loại theo chuyên khoa: bao gồm thiết bị Chẩn đoán hình ảnh, Thăm dò chức năng, Hồi sức cấp cứu, Phòng mổ, thiết bị xét nghiệm (Hóa sinh, Huyết học,
Vi sinh), Giải phẫu bệnh, chuyên khoa Mắt, Răng hàm mặt, Tai mũi họng, Sản phụ khoa, Tim mạch…
Phân loại theo nội dung chuyên môn của y học, ngày nay người ta có thể phân loại TTBYT thành 4 loại
Bảng 1.2 Bảng phân loại TTBYT theo nội dung chuyên môn
Phương tiện vận chuyển chuyên dụng bao gồm: phương tiện chuyển
thương (xe cứu thương, xuồng máy, …), xe chuyên dụng lưu động cho y
tế
3
Dụng cụ vật tư y tế bao gồm: các loại dụng cụ, vật tư, hóa chất xét nghiệm được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe
4 Các loại vật tư, dụng cụ cấy ghép trong cơ thể gồm: xương nhân tạo, vít cố định xương, van tim, tai ốc điện tử, thủy tinh thể nhân tạo, …
Trang 151.2 Quản lý TTBYT tại Việt nam
Quy trình quản lý TTBYT tuân theo quy trình chung về quản lý vả sử dụng TTBYT bệnh viện tại Việt Nam
Khái niệm quản lý TTBYT
Theo nghị định 36/2016/NĐ-CP các cơ sở y tế của Nhà Nước phải thực hiện quản
lý TTBYT theo quy định sau:
-TTBYT trong các cơ sở y tế của nhà nước được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng TTBYT
-Thực hiện công khai chế độ quản lý, sử dụng TTBYT
-Thực hiện đầu tư mua sắm TTBYT đảm bảo nguyên tắc
Nguyên tắc quản lý TTBYT
- Việc quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế phải theo đúng mục đích, công năng, chế độ, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả
- Việc kiểm tra bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm định, hiệu chuẩn phải tuân thủ quy định của nhà sản xuất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về kiểm định, kiểm chuẩn
Đối với các TTBYT có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động thì ngoài việc phải tuân thủ các quy định về kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm định, hiệu chuẩn theo quy định còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động
- Phải lập, quản lý, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về TTBYT, thực hiện hạch toán kịp thời, đầy đủ về TTBYT về hiện vật và giá trị theo quy định hiện hành của pháp luật
về kế toán, thống kê về các quy định pháp luật khác có liên quan, bảo đảm kinh phí thực hiện các nhiệm vụ theo quy định pháp luật
- Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý có thẩm quyền về quản lý trang thiết bị y tế[9]
1.2.1 Quản lý hiện trạng TTBYT
Một số nội dung chính trong quản lý hiện trạng TTBYT:Quản lý số đầu máy/địa điểm lắp đặt/đơn vị quản lý; Quản lý tài liệu kỹ thuật liên quan đến thiết bị (tài liệu hướng dẫn sử dụng, tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng sửa chữa[8, 22, 28]
Trang 16Lập hướng dẫn sử dụng:
Nội dung hướng dẫn gồm từng mục, đơn giản, rõ ràng ngắn gọn, dễ hiểu:
a) Kiểm tra trước khi mở máy
b) Trình tự vận hành
c) Tắt máy, vệ sinh[8, 22, 28]
Nhật ký sử dụng máy:
Đối với các TTBYT lớn, hiện đại, đắt tiền, sau mỗi lần sử dụng máy, thiết
bị - người vận hành phải ghi vào nhật ký vận hành những thông tin sau: Ngày, tháng, năm sử dụng/ số giờ sử dụng / đối tượng thăm khám (mẫu đo, bệnh nhân khám) /tình trạng thiết bị/ người sử dụng[8, 22].
Lập sổ theo dõi hoạt động của thiết bị hay gọi là lý lịch thiết bị:
Sổ lý lịch dùng cho một thiết bị, có ghi các thông tin:
- Tên thiết bị, ký mã hiệu, model, nước sản xuất, năm sản xuất
- Cấu hình (bao gồm thiết bị chính và những thiết bị ngoại vi)
- Năm nhận thiết bị
- Nguồn kinh phí
- Đơn vị cung cấp thiết bị
- Tên người quản lý trực tiếp
- Vị trí lắp đặt
- Tình trạng thiết bị lúc tiếp nhận như số lần hỏng hóc, ngày dừng máy để sửa chữa, bộ phận đã sửa chữa, chất lượng (các chức năng của máy) sau sửa chữa, biến động của thiết bị(bao gồm cả phần mua sắm nâng cấp, chuyển đơn vị, người sử dụng)[8]
- Hiện nay một số bệnh việnđã triển khai quản lý trang thiết bị theo chương trình phần mềm được cài đặt trên máy vi tính[22].
Biên bản kiểm chuẩn
Biên bản kiểm chuẩn là tài liệu ghi lại các kết quả trong quá trình kiểm chuẩn, đặc biệt là các số liệu và kết quả của việc kiểm đo lường Đây là tài liệu gốc có tính chất pháp lý quan trọng vì nó là cơ sở để đánh giá, phân tích kết quả kiểm chuẩn Người kiểm chuẩn, phương tiện đo phải ghi lại đầy đủ và trung thực các số
Trang 17liệu[28]
Chứng chỉ kiểm chuẩn
Theo định kỳ 6 tháng hoặc 12 tháng (tuỳ theo từng thiết bị) tất cả TTBYT đang
sử dụng tại các cơ sở y tế phải được cơ quan có thẩm quyền đến kiểm định và cấp chứng chỉ[8]
Hiện nay, trong ngành y tế công việc này tiến hành còn rất hạn chế vì nhiều lý do:Pháp lệnh đo lường chưa được chấp hành nghiêm trong hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ; Chưa có hạng mục kinh phí kiểm chuẩn TTBYT; Trang thiết bị
đo chuẩn, trình độ cán bộ c h u y ê n n g à n h của phòng đo chuẩn thuộc Viện TTB
và Công trình y tế chưa đáp ứng được yêu cầu, kiểm chuẩn TTBYT của các cơ sở
y tế cả nước
Tuy nhiên, những năm gần đây Viện TTB-CTYT đã được trang bị một số thiết bị
đo chuẩn, tổ chức nhiều lớp tập huấn và đã được cấp giấy uỷ quyền kiểm chuẩn một
số thiết bị như: đo độ an toàn tia xạ, chất lượng các máy X-quang, CT-Scanner, nhiệt
kế y học, huyết áp kế, thiết bị áp lực trong y tế [3]
1.2.2 Quản lý công tác mua sắm TTBYT
Thực hiện đầu tư mua sắm đảm bảo nguyên tắc:
- Phù hợp với chức năng nhiệm vụ, nhu cầu của đơn vị và theo đúng các quy định hiện hành của pháp luật về đấu thầu
- Khuyến khích sử dụng các TTBYT sản xuất trong nước Đối với TTBYT sản xuất trong nước đã được Bộ Y Tế công bố đáp ứng yêu cầu chất lượng sử dụng và khả năng cung cấp thì trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quy định nhà thầu không được chào trang thiết bị y tế nhập khẩu[10]
Hoạt động mua sắm TTBYT
Thực hiện đấu thầu tập trung tại Sở Y tế, trước khi thực hiện mua bán trang thiết bị y tế thuộc loại B, C, D người đứng đầu cơ sở mua bán trang thiết bị y tế có trách nhiệm gửi hồ sơ công bố đủ điều kiện mua bán theo quy định của phương thức chọn mua TTBYT đến Sở Y tế nơi cơ sở mua bán đặt trụ sở
Khi nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Sở Y Tế cấp cho cơ sở thực hiện việc công
bố Phiếu tiếp nhận hồ sơ công bố đủ điều kiện mua bán theo mẫu được quy định
Trang 18sẵn của nghị định 36/2016/NĐ-CP
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ công bố đủ điều kiện mua bán, Sở Y Tế có trách nhiệm công khai trên cổng thông tin điện tử các thông tin sau: Tên, địa chỉ củ cơ sở mua bán trang thiết bị y tế, hồ sơ công bố
đủ điều kiện mua bán trang thiết bị y tế[9]
Phương thức chọn mua TTBYT
Tiêu chí chọn mua sắm TTBYT:
- Đã có số lưu hành còn hạn hoặc đã được cấp phép nhập khẩu theo phân loại TTBYT
- Có nhãn hoặc có kèm theo nhãn phụ với đầy đủ thông tin
- Có tài liệu kỹ thuật để phục vụ việc sửa chữa, bảo dưỡng TTBYT
- Có thông tin về cơ sở bảo hành, điều kiện và thời gian bảo hành
- Có thông tin về hướng dẫn sử dụng của trang thiết bị y tế bằng tiếng Việt
- Có chứng chỉ đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
- Thiết bị có khả năng ghép nối và nâng cấp
- Đào tạo, hướng dẫn sử dụng và bảo dưỡng thiết bị
- Có khả năng cung cấp vật tư tiêu hao và phụ tùng thay thế giá thấp ít nhất
là 5 năm khi hết thời gian bảo hành
- Thời gian bảo hành 12 tháng,24 tháng [9]
Lập kế hoạch mua sắm vật tư tiêu hao, phụ tùng thay thế và thiết bị, dụng cụ y tế:
Công việc lập kế hoạch mua sắm VTTH, phụ tùng thay thế, dụng cụ và TBYT là một trong những chức năng chủ yếu của phòng vật tư kỹ thuật
Lập kế hoạch mua sắm vật tư tiêu hao, phụ tùng thay thế, dụng cụ và TBYT phải tiến hành theo tháng, quý và năm
Đối với phụ tùng thay thế và dụng cụ như: Các linh kiện thay thế cho máy quang, máy điện tim, điện não v.v và các dụng cụ dùng trong khám, chẩn đoán và điều trị, các dụng cụ phục vụ cho phòng mổ phải tiến hành lập kế hoạch theo quý trên cơ sở nhu cầu của các khoa phòng gửi về phòng hay tổ vật tư của bệnh viện[8, 22].
Trang 19x-1.2.3 Quản lý bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT
Bảo dưỡng TTBYT:
Dựa vào số lượng, chủng loại TTBYT trong phạm vi quản lý, người phụ trách xây dựng lịch bảo dưỡng định kỳ, kiểm định hiệu chuẩn theo hướng dẫn cụ thể của từng loại thiết bị (yêu cầu bảo dưỡng theo ngày, tuần, tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1năm), số giờ và trình độ cán bộ kỹ thuật cần để tiến hành một hoạt động bảo dưỡng để làm cơ sở phân công công việc cho từng người và qua đó tổng hợp yêu cầu
về nhân sự trong phòng[9]
- Số kỹ sư, kỹ thuật viên y sinh học
- Kỹ sư, kỹ thuật viên tin học
- Kỹ sư, công nhân cơ khí
- Các cán bộ kỹ thuật khác
Trên cơ sở lịch công tác và chức năng nhiệm vụ của từng người đã được quy định - từng cán bộ có trách nhiệm thực hiện theo đúng quy định, kết quả công việc, xác nhận trên cơ sở biên bản bảo dưỡng được xác nhận giữa người bảo dưỡng và người quản lý thiết bị[8, 22, 28]
Nếu thực hiện t ố t bảo dưỡng thiết bị theo kế hoạch thì giảm được hỏng hóc của thiết bị, kéo dài tuổi thọ của thiết bị, nâng cao hiệu quả đầu tư[8, 22].
Sửa chữa TTBYT
Có hai hình thức tiến hành sửa chữa TTBYT được áp dụng: tự sửa chữa và thuê sửa chữa
Tự sửa chữa
Công tác sửa chữa phải được tiến hành đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa phòng VT-TBYT với các khoa phòng sử dụng Khi có thiết bị y tế bị hư hỏng, các khoa phòng viết phiếu yêu cầu gửi về phòng VT -TBYT để cử người đến kiểm tra
và xử lý Phần lớn các thiết bị sẽ được sửa chữa tại chỗ Tuy nhiên tùy theo năng lực của cán bộ kỹ thuật, tài liệu sửa chữa không đầy đủ nên một số trường hợp các kỹ sư
và công nhân kỹ thuật của phòng VT- TBYT không thể đáp ứng ngay được mà phải mang về phòng để nghiên cứu và sửa chữa Trong trường hợp đó cần phải có biên bản giao nhận máy ghi rõ tình trạng của máy, các phụ kiện đi theo máy và phải ký tên
Trang 20ghi rõ họ tên người nhận máy Trong trường hợp máy bị hỏng nặng, không có phụ tùng thay thế ngay, phòng VT- TBYT phải có trả lời để khoa phòng sử dụng biết lý
do máy chưa sửa được (phải chờ mua phụ tùng ở nước ngoài hay phải chờ kinh phí ) Đối với các máy đắt tiền, lãnh đạo khoa phòng sử dụng và lãnh đạo phòng VT- TBYT có trách nhiệm báo cáo ban giám đốc để có hướng xử lý
Thuê sửa chữa
Thực hiện các hợp đồng kinh tế với đơn vị sửa chữa TTB, bao gồm các nhóm: Hợp đồng ký cho việc sửa chữa 1 lần hỏng hóc của một thiết bị cụ thể; Hợp đồng ký cho việc bảo dưỡng sửa chữa cho một thiết bị trong một năm; Hợp đồng ký cho việc bảo dưỡng sửa chữa cho tất cả các loại TTBYT của đơn vị trong 1 năm[8, 22]
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế tại Việt Nam
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế mà các nhà quản lý bệnh viện phải tính đến Về cơ bản, đây là nhóm các yếu tố mà các
tổ chức, đơn vị có thể vận dụng thực hiện hoặc xây dựng các chiến lược để điều chỉnh, kiểm soát đó là nhóm các yếu tố:
Yếu tố chính sách
Tất cả các đơn vị đều phải thực hiện theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước Tùy theo đặc trưng của từng đơn vị mà các đơn vị phải thể chế hóa các chủ trương, chính sách vào hoạt động của đơn vị mình Chỉ có làm như vậy thì định hướng tổ chức quản lý KCB tại các đơn vị y tế mới được thực hiện đúng Tổ chức quản lý KCB trong đơn
vị y tế được duy trì, phát triển hay mở rộng phụ thuộc rất lớn vào đường lối chính sách của Đảng và nhà nước Thực tế trong những năm qua đã có nhiều quyết định, nghị định tạo ra nhiều hướng đi mới cho các bệnh viện chủ động về đầu tư TTBYT chứ không còn chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước[3, 5]
Hệ thống giá dịch vụ và chính sách bảo hiểm y tế chưa phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường đã có ảnh hưởng đến công tác quản lý TTBYT Hiện nay, bảo hiểm y tế đang là nguồn tài chính ngày một lớn đối với nguồn thu của các bệnh viện (chiếm trên 50%) do tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đang ngày một tăng lên
Trang 21Tuy nhiên, viện phí hiện nay chưa được đổi mới và nhiều bệnh viện cho rằng chưa đáp ứng được chi phí Do bảo hiểm y tế thanh toán cho các bệnh viện dựa trên viện phí quy định nên các bệnh viện gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động và thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị y tế[22]
Yếu tố tài chính
Tài chính là yếu tố vô cùng quan trọng và có tính chất ảnh hưởng đến đảm bảo nhu cầu TTBYT Muốn sử dụng tối ưu được nguồn vốn, ta phải xây dựng được các kế hoạch đầu tư bao gồm: kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn.Kinh phí đầu tư cho TTBYT của bệnh viện còn hạn chế nên chi tiêu phải hợp lý và tiết kiệm Quản lý kế hoạch phát triển TTBYT ngắn hạn, trung hạn, dài hạn yêu cầu các nhà lãnh đạo bệnh viện phải có tầm nhìn, biết hoạch định chiến lược phát triển bệnh viện và quyết tâm thực hiện bằng được Nhìn chung mối quan
hệ giữa chất lượng khám chữa bệnh và TTBYT thay đổi theo những đặc điểm kinh
tế - kỹ thuật của bệnh viện và thay đổi theo những phát triển của xã hội Vì vậy để
có được kế hoạch tổ chức quản lý TTBYT hợp lý và hiệu quả, mỗi đơn vị cần xác định mức độ ảnh hưởng của TTBYT đối với đơn vị mình để có những chiến lược phát triển phù hợp theo từng giai đoạn.Người cán bộ quản lý TTBYT cần phải cân nhắc trước khi ra quyết định nhất là quyết định mua sắm TTBYT mới sao cho phù hợp, trước hết đảm bảo kinh phí mua vật tư tiêu hao để TTBYT vận hành được bình thường, phải có khoản kinh phí nhất định mua sắm phụ tùng, linh kiện phục vụ cho bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị nhằm kéo dài tuổi thọ của máy[22]
Yếu tố nguồn nhân lực
Một bệnh viện dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn vật tư phong phú, hệ thống máy móc thiết bị hiện đại đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không có nguồn tài nguyên nhân lực Điều đó cho thấy nhân lực được xem là một trong những yếu
tố ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của bệnh viện mà trong đó có Công tác quản lý,
sử dụng TTBYT
Vì vậy trước khi thiết bị được đầu tư, lãnh đạo phải có kế hoạch đào tạo người sử dụng máy để họ có kiến thức cơ bản về nguyên lý máy, khai thác hết tính năng sử dụng máy, có kỹ năng vận hành thành thạo theo đúng quy trình, có kỹ năng
Trang 22làm những công việc kiểm tra, bảo dưỡng trước và sau khi kết thúc công việc hàng ngày phù hợp theo yêu cầu của từng loại máy
Phải đào tạo kỹ thuật cho người sửa chữa thiết bị để những công việc bảo dưỡng định kỳ theo quy định của từng máy, những hư hỏng thông thường người sửa chữa phải có kiến thức và kỹ năng giải quyết và những hư hỏng lớn phải tham mưu cho lãnh đạo phương án xử lý[4]
Yếu tố cơ sở hạ tầng
Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật bệnh viện có tốt mới phục vụ có hiệu quả cho công tác khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, CSSK cộng đồng, vận hành trang thiết bị ngày một tốt hơn Và ngược lại chất lượng KCB không những phụ thuộc vào năng lực phẩm chất của đội ngũ cán bộ chuyên môn, chất lượng và hiệu suất của đơn vị cung ứng dịch vụ mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng một nguồn lực lớn là Dược cũng như trang thiết bị, công nghệ và cơ sở vật chất, hạ tầng y tế.Điều đó cho thấy cơ sở vật chất, hạ tầng bệnh viện có tầm quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến công tác khám và chữa bệnh mà trong đó có sự quản lý, sử dụng TTBYT Hiện naycơ sở vật chất, hạ tầng y tế nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu chăm sóc y tế Nhiều nơi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được các yêu cầu về lắp đặt các trang thiết bị
y tế, an ninh, thông khí Chất lượng các công trình xây dựng thường kém, nhanh xuống cấp và không hợp lý khi sử dụng Hệ thống nhà xưởng để lưu trữ, bảo quản TTBYT vẫn chưa đạt tiêu chuẩn
Người quản lý bệnh viện cần phải kiểm tra nắm vững thực trạng công trình, cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng hiện có trước khi lên kế hoạch đầu tư mua sắm TTBYT Ngoài việc cân nhắc kỹ: nhu cầu sử dụng của đơn vị, khả năng tải chính, cấu hình
kỹ thuật thích hợp thì đòi hỏi phải tìm hiểu, nghiên cứu tính khả thivề CSVC như: điện, nước, môi trường, hệ thống xử lý chất thải, an toàn bức xạ…có bảo đảm điều kiện lắp đặt TTB Đối với cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật: điện, cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc, thoát nước, xử lý chất thải… phải giao nhiệm vụ cho nhân viên kỹ thuật kiểm tra thường xuyên, lập báo cáo định kỳ để bảo đảm cho TTB hoạt động an toàn[28]
Trang 23 Yếu tố hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin bao gồm con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho những người soạn thảo các quyết định trong đơn vị Việc xây dựng hệ thống thông tin trong đơn vị sẽ giúp cung cấp giải pháp tối ưu nhất cho nhà quản lý, có khả năng tích hợp dễ dàng, có hiệu quả cao[26] Hiên nay một số bệnh viện chưa xây dựng được hệ thống thông tin gặp nhiều khó khăn của công tác quản lý TTBYT theo cách truyền thống: có nhiều loại trang thiết bị được sử dụng trong bệnh viện tại các khoa phòng nên phải ghi chép trên nhiều sổ sách, khó khăn trong việc quản lý; việc tra cứu và tìm kiếm thông tin về trang thiết bị mất nhiều thi gian; tốn nhân lực và dễ sai sót trong việc tổng hợp báo cáo; không kiểm soát được chính xác tình hình sử dụng trang thiết bị tại bệnh viện[27] Vì vậy hệ thống thông tin cũng được xem là yếu tố ảnh hưởng hoạt động của bệnh viện mà trong đó có công tác quản lý, sử dụng TTBYT Hệ thống thông tin quản lý là những dữ liệu được xử lý và sẵn sàng phục
vụ công tác quản lý của tổ chức Đó là thông tin sử dụng cho chính sách dài hạn của đơn vị, chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lý cao cấp khi dự đoán tương lai Là thông tin sử dụng cho chính sách ngắn hạn, chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lý phòng ban trong đơn vị và là thông tin sử dụng cho công tác điều hành tổ chức hàng ngày và chủ yếu phục vụ cho người giám sát hoạt động của đơn vị[26]
Vì vậy xây dựng hệ thống thông tin trong quản lý, sử dụng TTBYT sẽ tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo bệnh viện có được tầm nhìn tổng quan về TTBYT hiện
có tại bệnh viện mình để từ đó có những định hướng chiến lược phát triển TTBYT phù hợp với từng giai đoạn phát triển bệnh viện
1.3 Những nghiên cứu về TTBYT trên thế giới và Việt Nam:
1.3.1 Những nghiên cứu về TTBYT trên thế giới
Theo khảo sát đánh giá của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2009, có khoảng 10.500 loại TTBYT khác nhau trên thị trường toàn cầu, từ những thiết bị chẩn đoán và điều trị công nghệ cao, đắt tiền đến những dụng cụ y tế cơ bản khác, hàng ngày giúp thầy thuốc và y tá chăm sóc sức khỏe con người Hiện có trên 140 nước sử dụng các loại TTBYT nhưng còn có quá nhiều người nghèo hiện vẫn
Trang 24không được hưởng lợi từ đó Lợi nhuận thu được từ việc bán TTBYT trên toàn thế giới ước tính khoảng 210 tỉ USD vào năm 2008 trong đó, 4/5 nguồn lợi này có ở các nước Âu Mỹ Nghiên cứu này cho thấy khả năng tiếp cận với CT scanners trung bình là 1/64.000 người ở những nước có thu nhập cao nhưng chỉ là 1/3.5 triệu người ở những nước có thu nhập thấp Ngoài ra 10 nước thậm chí còn chưa có cơ
sở xạ trị cho khoảng 100 triệu người bệnh ung thư[28].
Kết quả đặt ra những vấn đề thách thức cho các cấp quản lý:Đầu tư mua sắm
là một trong những vấn đề nan giải về kinh phí Chi phí hàng năm của chính phủ cho y tế từ 7000USD/ người đến không quá 10 USD Điều này dẫn đến đầu tư không đầy đủ các loại TTBYT Tại một số nước, sự thiếu hụt những y cụ cơ bản như kim, bơm tiêm và các thiết bị tiệt trùng dẫn đến hơn 40% tiêm chích không an toàn
- Hầu hết TTBYT sử dụng không đồng bộ được nhâp khẩu hoặc là quà tặng
từ những nước kỹ nghệ cao, nhiều cái hoạt động chập chờn
- Nguồn lực thiếu thốn: TTBYT không được sử dụng hiệu quả do thiếu nguồn điện, chất lượng nước kém, thiếu nhân lực y tế, hạn chế trong năng lực đào tạo, khó tìm bộ phận thay thế, bảo dưỡng kém hoặc không đầy đủ
- Không có hệ thống tên riêng, quá trình điều tiết hài hòa và các TTBYT đạt chuẩn quốc tế do thiếu năng lực quản lý hữu hiệu ở các cấp chính quyền và cơ sở y tế
Sự liên hệ và hợp tác tích cực giữa người sử dụng và nhà sản xuất góp phần hoàn thiện các sản phẩm nâng có tính năng hoạt động tốt hơn, cho kết quả chính xác hơn và tiện lợi cho việc sử dụng, thao tác trên máy Sự đa dạng, phức tạp và số lượng rất lớn TTBYT tại các cơ sở y tế, bệnh viện… đã tạo ra những nhiều khó khăn cho công tác quản lý, thống kê, bảo dưỡng TTBYT theo kế hoạch[28].
Việc quản lý theo cách truyền thống: có nhiều loại trang thiết bị được sử dụng trong bệnh viện tại các khoa phòng nên phải ghi chép trên nhiều sổ sách, việc tra cứu và tìm kiếm thông tin về trang thiết bị mất nhiều thời gian, tốn nhân lực và
dễ sai sót trong việc tổng hợp báo cáo theo ngày, tháng hay kỳ báo cáo, không kiểm soát được chính xác tình hình sử dụng trang thiết bị tại bệnh viện…
Sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin với những phần mềm quản lý
Trang 25TTBYT tại bệnh viện là một giải pháp đúng đắn và hiệu quả cho những khó khăn trên
Bên cạnh đầu tư lớn cho trang bị máy móc đáp ứng nhu cầu chuyên môn, chi phí cho công tác bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa cũng không nhỏ Quản lý tốt, bảo dưỡng định kỳ theo kế hoạch với nhân lực kỹ thuật chuyên môn cao, cập nhật thường xuyên kiến thức và nâng cao ý thức của người sử dụng sẽ góp phần làm giảm rõ chi phí cho sửa chữa và kéo dài tuổi thọ của TTBYT[27]
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về thực trạng quản lý trang thiết bị y
tế trong bệnh viện
Về đầu tư mua sắm TTBYT, theo như Quy Định về thiết bị y tế: Tổng quan toàn cầu và nguyên tắc hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới Geneva năm 2006 thì thị trường trang thiết bị y tế khá tập trung Năm 2003, tổng thị trường TTB y tế lên tới
148 tỷ đô la Mỹ, tăng đến 2006 khoảng 246 tỷ đô la Mỹ và tăng trưởng mỗi năm chừng 5,56% Thống kê cho thấy thị phần của 10 nhóm TTB lớn nhất chiếm tới gần 84% trong đó Mỹ là thị trường lớn nhất ( chiếm 1 nửa thị phần ) và tăng trưởng mỗi năm chứng 7% Số liệu trên thế giới cũng cho thầy khi thu nhập bình quân tăng lên thì thị trường TTB y tế cũng tăng lên Tuy vậy, nhiều quốc gia vẫn đương đầu với thiếu tiếp cận với các TTBYT chất lượng cao phù hợp với mô hình dịch tễ bệnh tật của mình[37]
Cũng ở lĩnh vực đầu tư TTBYT trong báo cáo thường niên của công ty quản
lý Quỹ VFM (2006) cho thấy: Ontario - Canada có hơn 150 bệnh viện công, mỗi đơn vị chịu trách nhiệm để xác định các ưu tiên riêng của mình để giải quyết các nhu cầu của bệnh nhân trong cộng đồng mà họ phục vụ Bệnh viện hoạt động với một lượng lớn các thiết bị y tế cần thiết để đáp ứng bệnh nhân nhu cầu tất cả mọi thứ từ trang thiết bị y tế tương đối rẻ tiền đến phức tạp như cộng hưởng từ (MRI) máy giá hàng triệu đô Trong khi chi phí tổng thể của các bệnh viện tại Ontario là không có sẵn, nhưng họ đã dành tổng cộng 20 triệu USD để mua trang thiết bị y tế trong năm 2005 Tuy nhiên bệnh viện đã không xem xét các tiêu chí nhất định có liên quan trong việc đánh giá các đề xuất mua sắm trang thiết bị y tế Ví dụ, một
Trang 26bệnh viện mua thiết bị thí nghiệm với $ 534.000 mà không có một đánh giá tài liệu
hỗ trợ cần thiết cho các thiết bị này
Về bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT trong báo cáo thường niên của công ty quản lý Quỹ VFM (2006) qua khảo sát 3 bệnh viện tại Ontario - Canada cho thấy: tất cả ba bệnh viện dựa vào các nhà cung cấp thiết bị để duy trì hoạt động máy MRI và CT scan của họ Tuy nhiên nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ bảo trì khác nhau, và ít thường xuyên hơn so với các tiêu chuẩn được thiết lập bởi Trường Cao đẳng và Bác sĩ phẫu thuật Ontario dành cho các máy MRI và CT scan nằm trong các cơ sở y tế công lập Thiết bị y tế thường không được duy trì thường xuyên theo yêu cầu của hướng dẫn sử dụng dịch vụ hoặc các kế hoạch bệnh viện Ví dụ, 75% máy khử rung tim tại một bệnh viện không nhận được bảo trì theo lịch trình trong năm 2005[29]
Trang thiết bị sau thời gian đưa vào sử dụng sẽ xảy ra những hư hỏng, trục trặc cần phải có hệ thống bảo dưỡng, sửa chữa để khắc phục những hư hỏng đó Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Pradip Shahi Thakuri và Ramila Joshi về tình hình quản lý trang thiết bị y sinh trong bệnh viện của Nepal, kết quả cho thấy: bệnh viện không có một đội ngũ bảo trì thích hợp hoặc sổ sách ghi chép đúng để đánh giá các chi phí/lợi ích của các dịch vụ trong tổ chức Sửa chữa và bảo trì thường do dịch vụ bên ngoài thực hiện do bệnh viện thiếu năng lực Ngay cả các sửa chữa nhỏ cũng phụ thuộc đơn vị bên ngoài là nguyên nhân làm cho chi phí bệnh viện cao hơn cần thiết Theo thông tin có sẵn trong tài liệu "Chính sách Công nghệ Chăm sóc y tế, Bộ
Y tế và Dân số Nepal, năm 2006”, tình trạng của thiết bị được mô tả: chỉ có 30% các thiết bị đang hoạt động bình thường Hơn 50% các thiết bị đòi hỏi phải bảo trì khẩn cấp, 10% cần sửa chữa và 10% cần phải được loại bỏ Với tình hình như vậy thực sự là một vấn đề nghiêm trọng cần quan tâm Thiếu phụ tùng thay thế, và đòi hỏi phải có bộ phận nhân viên bảo trì thiết bị có chất lượng ở nhiều bệnh viện[34] 1.3.2 Những nghiên cứu về TTBYT tại Việt Nam
Những năm gần đây, với sự nỗ lực đầu tư tăng dần ngân sách hàng năm cho y
tế cùng với giai đoạn mở cửa thị trường, TTBYT tại Việt nam đã góp phần đem đến những thành tựu to lớn trong chẩn đoán, nghiên cứu điều trị thành công những ca
Trang 27bệnh khó, gây tiếng vang trên thế giới
Theo Research and Market, năm 2009 Việt Nam đầu tư cho TTBYT với 289 triệu USD, đến 2014 con số này lên đến 385 triệu USD Đa phần TTBYT đều được nhập khẩu, trong nước có khoảng 15 nhà sản xuất với 560 loại TBYT
TTBYT của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực Hầu hết trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các
cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua VTTH Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết tính năng và công suất của trang thiết bị hiện có Năng lực của CBKT sửa chữa TTBYT chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ Chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực chuyên sâu về kỹ thuật thiết bị y tế còn thấp so với yêu cầu
Theo nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy: thực tế tại BVĐK Long
An, hàng năm, phòng HCQT đều lập kế hoạch mua sắm dựa vào phiếu đề nghị của các khoa, sau đó tổng hợp trình Ban giám đốc bệnh viện xem xét và tham mưu cho Ban giám đốc bệnh viện nhu cầu cần thiết cũng như cơ sở vật chất, an toàn điện…để chọn ra thiết bị nào ưu tiên mua sắm[4]
Về thực trạng TTBYT tại Việt Nam, nghiên cứu đánh giá tính đa dạng về chủng loại, mức độ hiện đại, tính thích hợp cho đơn vị thụ hưởng, quy trình khai thác: tính khoa học, nhu cầu xã hội, sự ràng buộc khoa học trong mối tương quan giữa các loại TTBYT, những bất cập trong mua sắm TTBYT trong cơ chế thị trường, sự yếu kém về quản lý dẫn đến lãng phí
Theo nghiên cứu của Lê Đăng Trung về đánh giá thực trạng quản lý sử dụng và bảo dưỡng một số trang thiết bị y tế tại Bệnhviện đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2012 cho thấy: đối với các nội dung như sổ quản lý TTB, tài liệu
kỹ thuật và tài liệu hướng dẫn sử dụng của máy, quy định sử dụng TTBYT, quy trình vận hành, bảo trì và an toàn sử dụng TTB các khoa/ phòng đều thực hiện theo đúng quy định[13]
Còn nghiên cứu của Bùi Việt Hùng về thực trạng công tác quản lý TTBYT tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2009 cho thấy: 47% số khoa có đủ lý lịch
Trang 28máy, 45% số khoa có sổ nhưng không đầy đủ và 8% số khoa không có sổ lý lịch; Phòng Vật tư quản lý tốt số đầu máy/địa điểm lắp đặt/đơn vị quản lý (đạt 100%)[1]
Trong khi đó ở nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy: mỗi TTBCĐ đều có sổ lý lịch và có ghi đầy đủ thông tin có liên quan đến TTB như: tên TTB, khoa phòng đang sử dụng, hãng sản suất, năm sản suất, năm vận hành, sau mỗi ca trực hoặc sau khi sử dụng TTBCĐ thì khoa có làm tốt việc bàn giao cụ thể, sau mỗi lần bảo dưỡng có ghi tình trạng hoạt động hiện tạicủa TTB[4]
Muốn cho việc sử dụng TTBYT tại các khoa đạt hiệu quả, cần thiết phải có
sự giám sát sử dụng TTBYT Nghiên cứu của Bùi Việt Hùng cho thấy công tác quản lý, giám sát sử dụng TTBYT của phòng Vật tư là tương đối tốt, tuy nhiên công tác quản lý TTBYT của lãnh đạo các khoa, phòng là chưa tốt, tần số giám sát ít, chưa phân công cụ thể cá nhân phụ trách TTBYT[4]
Ở nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy có đến 61,6% CBYT đánh giá quản lý chưa tốt công tác bảo dưỡng sửa chữa do số lượng và trình độ của cán bộ bảo dưỡng, sửa chữa TTBCĐ hiện tại chưa đáp ứng với nhu cầu của khoa Công tác quản lý TTBYT chỉ có 07 cán bộ làm công tác bảo dưỡng và sửa chữa cho khoảng
500 TBYT trong toàn bệnh viện, trong đó có 124 TTBCĐ Với nhân lực như vậy nên dễ dàng nhận thấy là công tác quản lý TTB ở đây còn yếu về mảng bảo dưỡng, sửa chữa máy móc TTB Khi TTB có sự cố, tổ TTB chỉ đáp ứng sửa chữa những hư hỏng nhỏ còn những hư hỏng lớn, Bệnh viện vẫn phải nhờ chủ yếu vào việc bảo hành hay hợp đồng sửa chữa với các hãng bên ngoài[5]
Đến thời điểm này, hầu hết các tỉnh, thành cũng đã có máy CT scan, máy siêu âm màu, máy sinh hóa, huyết học hiện đại Đặc biệt là tại trung tâm y tế chuyên sâu đã có thể ứng dụng công nghệ sinh học trong chẩn đoán và điều trị theo quy trình hiện đại Nhờ được đầu tư thêm nhiều trang thiêt bị hiện đại, có nhiều loại bệnh trước đây phải gửi ra nước ngoài thì nay đã có thể chẩn đoán tại Việt Nam
Hiện tại Việt Nam cũng đã bắt đầu sản xuất được một số trang thiết bị như máy tán sỏi, máy laze… Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ tham gia sản xuất trang thiết bị còn thiếu và yếu, trong khi việc sản xuất đặc biệt là trang thiết bị y tế hiện đại lại
Trang 29đòi hỏi tính an toàn tuyệt đối và phải dựa trên nền tảng có một nền công nghiệp hiện đại
Hiện nay, Chính phủ đã có những bước điều chỉnh các quy định, luật lệ và chính sách kinh tế vĩ mô cho phù hợp với các quy định quốc tế, tạo ra môi trường đầu tư và kinh doanh ngày càng thuận lợi, thông thoáng và minh bạch hơn cho tất
cả các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất trang thiết bị y tế Công tác rà soát, ban hành các quy định, văn bản pháp quy và hoạch định chính sách trong quản lý nhà nước về lĩnh vực TTBYT cũng đang được thực hiện để phù hợp với các quy định của WTO
Trong năm 2007, ngành Y tế TP HCM đã tập trung phát triển các phương pháp điều trị kỹ thuật cao chuyên sâu nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Đặc biệt các kỹ thuật như ghép tạng và tế bào gốc, ứng dụng điều trị bằng tia như tia laser, tia phóng xạ, sóng siêu âm Một trung tâm ghép tạng được thành lập tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 dành cho trẻ em và tại Bệnh viện Nhân Dân 115 dành cho người lớn Kỹ thuật ghép sẽ đi đôi với việc nghiên cứu tế bào gốc
Theo tổng hợp của 30 bệnh viện tỉnh, thành phố trên cả nước, hiện nay số cán bộ trang thiết bị y tế có trình độ kỹ sư chỉ có 22 người; số cán bộ kỹ thuật viên
có 189 người và số cán bộ kiêm nhiệm gồm 118 người (bao gồm bác sỹ, dược sỹ,
cử nhân, y sỹ ) Qua thống kê trên cho thấy, tỷ lệ 6% kỹ sư trên tổng số cán bộ làm
về công tác trang thiết bị y tế là quá ít để đáp ứng yêu cầu (chưa được 1 kỹ sư cho một bệnh viện tuyến tỉnh) Để nâng cao hiệu quả quản lý trang thiết bị y tế, đội ngũ cán bộ kỹ thuật phải luôn được cập nhật kiến thức chuyên môn về trang thiết bị y tế
và các qui định của pháp luật Đồng thời, phải nêu cao ý thức trách nhiệm, vai trò của phòng vật tư- thiết bị y tế tại các bệnh viện, sở y tế hoặc bộ phận chuyên trách theo dõi về vấn đề này trong công tác tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo đơn vị về công tác đầu tư, qui trình mua sắm, quản lý khai thác sử dụng có hiệu quả vật tư, trang thiết bị y tế
Trước mắt, Bộ Y tế đề xuất cần xây dựng mô hình hệ thống tổ chức quản lý trang thiết bị y tế, xây dựng chức danh, mã ngạch, hoàn thiện, bổ sung chính sách
Trang 30đãi ngộ, thu hút cán bộ, xây dựng mạng lưới cơ sở đào tạo và tăng cường hợp tác quốctế
1.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Thị xã Từ Sơn là nơi tập trung nhiều làng nghề thủ công, có nhiều khu công nghiệp tập trung lớn, đi kèm với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế là tình trạng ô nhiễm về môi trường Mặt khác, số lượng người lao động ở khắp các nơi khác về cư trú tại địa phương, số lượng người lao động tăng với tốc độ cao, vì vây mô hình bệnh tật của người dân đa dạng, các bệnh mãn tính tăng cao như: tiểu đường, tăng huyết áp, tim mạch
Người dân thị xã Từ Sơn và các huyện lân cận nơi có đời sống văn hóa, kinh
tế phát triển, giao thông thuận lợi đi Hà Nội, thành phố Bắc Ninh chính vì vậy nhu cầu đòi hỏi được đáp ứng các dịch vụ khám, chữa bệnh rất cao Trong khi đó cơ sở vật chất của Bệnh viện được xây dựng từ năm 2003, đến nay nhiều hạng mục đang
bị xuống cấp, thiết kế phòng làm việc, buồng bệnh chặt hẹn rất khó khăn cho việc triển khai phát triển chuyên môn, máy móc trang thiết bị thiếu và không đồng bộ, chất lượng kém
Bệnh viện đa khoa Từ Sơn là bệnh viện tuyến huyện trực thuộc sở y tế tỉnh Bắc Ninh Năm 2014 Bệnh viện đã được UBND tỉnh Bắc Ninh ra quyết định phê duyệt nânghạng bệnh viện từ hạng III lên hạng II (Quyết định số: 390/ QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Ninh ngày 29/4/2014)
Trong những năm qua, bệnh viện đa khoa thị xã Từ sơn đã phát triển không ngừng cả về quy mô bệnh viện lẫn chuyên môn Về quy mô phát triển, từ bệnh viện hạng III, chỉ có 100 giường bệnh vào năm 2012, đến nay bệnh viên đã trở thành bệnh viện hạng II, với chỉ tiêu giường bệnh được giao: Năm 2015:150GB; Năm 2016:180 GB; dự kiến năm 2018 là: 220 GB
Bệnh viện đa khoa thị xã Từ Sơn là đơn vị sự nghiệp y tế, trực thuộc Sở Y tế Bắc Ninh được giao quyền tự chủ về tài chính, bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên được quyền tự chủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo phân cấp quản lý của Sở Y tế Bắc Ninh, chịu trách nhiệm trước Sở Y
tế Bắc Ninh và trước pháp luật về hoạt động của mình Hoạt động của Bệnh viện
Trang 31mang tính chất cung cấp dịch vụ công, nguồn thu tài chính hoạt động của Bệnh viện chủ yếu từ thu BHYT , sử dụng viên chức theo quy định của pháp luật về quản lý viên chức
Bệnh viện đa Từ Sơn xây dựng đưa vào hoạt động tháng 12 năm 2005 Gồm 9 đơn nguyên:
- Nhà Khám bệnh - Hành chính
- Nhà Nội – Nhi – truyền nhiễm
- Nhà Khoa Ngoại – Sản – Chuyên khoa
- Nhà kỹ thuật: Cận lâm sàng – Phòng mổ
- Nhà Khoa truyền nhiễm
- Nhà Đông y – PHCN
- Nhà Hấp xấy – Giặt là (Mới xây dựng)
- Nhà Xét nghiệm (Mới xây dựng)
Cho đến nay cơ sở đã xuống cấp, nhiều bộ phận đã phải cải tạo lại cho phù hợp, mới đảm bảo điều kiện phục vụ chuyên môn
Theo kế hoạch của UBND tỉnh Bắc Ninh, bệnh viên sẽ được xây dựng cơ sở mới với mô hình bệnh viện có quy mô 350 giường bệnh (Theo Đề án BOT) vào năm 2020.Biên chế bệnh viện hiện có: 138 công chức, viên chức và người lao động
Trang 321.5 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN
Bảo dưỡng, sửa chữa
Quản lý hiện trạng
Quản lý TTBYT
Cung cấp dịch vụ
Trang 33- Nhóm CBKT trực tiếp tham gia bảo dưỡng, sửa chữa
- Nhóm NVYT trực tiếp sử dụng, bảo quản TTBYT tại các khoa: Bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên
- Các TTBYT tại bệnh viện
*Tiêu chuẩn chọn lựa:
- Người được phát vấn về sử dụng, bảo quản TTBYT là các CBYT trực tiếp
sử dụng các TTBYT trong diện điều tra, có thâm niên công tác từ 1 năm trở lên, tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Người được phỏng vấnvề công tác quản lý TTBYT tại bệnh viện: là CBYT đang công tác tại bệnh viện, gồm đại diện Ban giám đốc, các trưởng, phó khoa, phòng có liên quan đến công tác TTBYT tại bệnh viện, tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Với thời gian, phạm vi nghiên cứu hạn hẹp trong vòng 06 tháng tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn, Bắc Ninh và hạn chế về nhân lực điều tra viên là nghiên cứu viên cho nên chỉ chọn lọc trọng tâm nghiên cứu là các TTBYT có nguyên giá trên 100 triệu đồng và có thời gian sử dụng trên 1 năm, có tần suất sử dụng tối thiểu 1 lần/ngày
*Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những người từ chối không tham gia nghiên cứu
- Những người có thời gian công tác tại bệnh viện dưới 1 năm
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn, tại các khoa:
- Khoa khám bệnh
- Khoa Hồi sức cấp cứu và gây mê phẫu thuật
Trang 34- Khoa Ngoại – Chuyên khoa (Răng hàm mặt, tai mũi họng, mắt)
- Khoa Phụ Sản
- Khoa Chẩn đoán hình ảnh – Xét nghiệm – Thăm dò chức năng
Bệnh viện có tất cả 13 khoa tuy nhiên những TTBYT đủ điều kiện nghiên cứu chỉ tập trung tại 05 khoa trên cho nên chỉ thực hiện nghiên cứu tại các khoa đáp ứng yêu cầu
2.2.2 Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2016 đến tháng 6/2017
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
2.4.1 Mẫu của nghiên cứu định lượng
- Áp dụng phương pháp mẫu toàn bộ, với cán bộ làm việc liên quan tới bảo trì, sử dụng trang thiết bị y tế Theo số liệu nhân lực của bệnh viện, số bác
sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên tại các khoa lựa chọn nghiên cứu là 40 người,số lãnh đạo các khoa phòng là 10 người Tổng số cán bộ tham gia nghiên cứu là 50 người
- Các TTBYT có nguyên giá trên 100 triệu đồng và có thời gan sử dụng trên 1 năm, có tần suất sử dụng tối thiểu 1 lần/ngày: tổng số 24 thiết bị
Trang 35Danh mục các TTBYT tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn, Bắc Ninh Khoa Chẩn đoán hình ảnh – Xét nghiệm – Thăm dò chức năng
1 Máy siêu âm LOGIQ 2000
2 Máy siêu âm mầu 3D 2014 (sonix Touch)
3 Máy siêu âm Toshiba
4 Máy siêu âm màu 2016
5 Máy XQ Shimazu
6 Máy đo loãng xương sử dụng tia X-Quang
7 Máy điện giải đồ
Khoa Ngoại – Liên chuyên khoa: Răng hàm mặt, Tai mũi họng , Mắt
8 Máy gây mê kèm thở
9 ghế răng + phụ kiện 2006
10 Máy nội soi tai mũi họng
11 Kính sinh hiển vi (đèn khe khám mắt)
12 Dao mổ điện lưỡng cực ITC400D
13 Máy gây mê
14 Máy Monitor 5 thông số (BM7) 2014
19 Máy đo chức năng hô hấp
Khoa Hồi sức cấp cứu và gây mê phẫu thuật
20 Máy Monitor
21 Máy đo chức năng hô hấp 2014 (SPIROLAP III)
22 Máy tạo nén oxy SX:2004
23 Máy thở 2016
Khoa Phụ Sản
24 Lồng ấm trẻ sơ sinh kèm đèn chiếu vàng da
Trang 362.4.2 Mẫu của nghiên cứu định tính:
Phỏng vấn sâu, chọn mẫu chủ đích bao gồm 2 nhóm đối tượng:
Lãnh đạo bệnh viện: Giám đốc
Nhóm cán bộ quản lý: 05 Trưởng/phó khoa của 05 khoa: Khoa khám bệnh, Khoa hồi sức cấp cứu, Khoa chẩn đoán hình ảnh xét nghiệm, khoa Ngoại- chuyên khoa, Khoa phụ sản
Tổng cộng là 06 cuộc phỏng vấn sâu
Thảo luận nhóm, chọn mẫu chủ đích bao gồm 2 nhóm đối tượng:
Nhân viên trực tiếp sử dụng trang thiết bị y tế của 05 khoa nghiên cứu, đối tượng là Bác sĩ
Nhân viên trực tiếp sử dụng trang thiết bị y tế của 05 khoa nghiên cứu, đối tượng là Kỹ thuật viên
2.5 Các biến số nghiên cứu:
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng quản lý trang thiết bị y tế phục vụ y tế tại bệnh viện Với mục tiêu này nhóm biến số về loại TTB bao gồm: thực trạng số lượng, tần suất sử dụng TTBYT, tình trạng hiện tại của TTBYT và đánh giá thực trạng quản lý TTBYT tại các khoa nghiên cứu từ nguồn số liệu thứ cấp, quan sát trực tiếp và phát vấn
Mục tiêu 2: Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến quản lý TTBYT tại bệnh viện Các chủ đề, biến số của mục tiêu này bao gồm một số yếu tố ảnh hưởng đến quản
lý, sử dụng TTB tại các khoa thuộc bệnh viện như: yếu tố chính sách của nhà nước,
cơ sở vật chất của bệnh viện, nhân lực quản lý trang thiết bị của bệnh viện
(Chi tiết bảng biến số được trình bày trong phụ lục 1)
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu:
2.6.1.Thu thập số liệu định lượng:
* Điều tra viên là nghiên cứu viên
* Tổ chức thu thập số liệu:
+ Đối với các số liệu thứ cấp: người nghiên cứu chính trực tiếp thu thập gồm:
- Danh mục TTBYT Bộ Y tế quy định đối với các bệnh viện theo phân hạng
- Danh mục các TTBYT hiện có tại bệnh viện
Trang 37- Bảng kê kinh phí dành cho mua sắm, sửa chữa TTBYT
- Sổ theo dõi hoạt động, lý lịch và sử dụng máy
+ Đối với thông tin phương pháp phát vấn theo bộ câu hỏi đã chuẩn bị trước, thu thập tại các khoa nội, ngoại, phòng mổ và khoa cân lâm sàng của bệnh viện Phát phiếu tự điền cho tất cả nhân viên tại các khoa nghiên cứu: Nghiên cứu viên thu thập thông tin nghiên cứu cho các nhân viên và quản lý khoa cùng phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu Với những nhân viên đồng ý tham gia nghiên cứu, NCV phát phiếu phát vấn cho từng người
Tất cả các cán bộ tại các khoa nghiên cứu trả lời câu hỏi bằng hình thức tự điền vào phiếu điều tra, sau khi đối tượng nghiên cứu trả lời xong, NCV xin thu lại, kiểm tra những thông tin ghi trên phiếu có hợp lệ, đầy đủ Với những thông tin trên phiếu còn thiếu thì xin lại cho đủ Với những phiếu đã hợp lệ, đầy đủ thông tin, thu lại và cảm ơn sự phối hợp của cán bộ đó
* Quá trình quan sát, kiểm tra để đánh giá thực trạng quản lý TTBYT
Để đánh giá thực trạng sử dụng TTB, nghiên cứu viên đã đi kiểm tra số lượng thực tế và quan sát tình trạng TTB cũng như xét tất cả hồ sơ liên quan đến: lý lịch máy, nội quy hướng dẫn sử dụng, sổ nhật ký vận hành máy tại 05 khoa nghiên cứu Tổng thời gian quan sát là 5 ngày làm việc / 5 khoa
Để giám sát tần suất sử dụng TTB mà cụ thể là số giờ hoạt động trong ngày, nghiên cứu viên đã đến lần lượt các khoa quan sát trực tiếp tất cả các TTB đang hoạt động và điền số liệu cụ thể vào bảng kiểm Mỗi ngày quan sát một khoa, tổng thời gian quan sát là 5 ngày làm việc
2.6.2 Thu thập số liệu định tính
2.6.2.1.Phỏng vấn sâu: Nghiên cứu viên phỏng vấn sâu cán bộ lãnh đạo bệnh viện; cán bộ quản lý các khoa, phòng về các nội dung chính phục vụ cho việc phân tích mối ảnh hưởng của các yếu tố (đã được đề cập ở phần tổng quan tài liệu) với công tác sử dụng trang thiết bị:
- Yếu tố Chính sách
- Yếu tố Tài chính
- Yếu tố Nhân lực
Trang 38- Yếu tố Cơ sở vật chất
- Yếu tố Hệ thống thông tin
Ngoài những nội dung trên trong phỏng vấn sâu còn đề cập thêm một số nội dung: việc đầu tư mua sắm, sửa chữa, duy tu bảo dưỡng TTB trong những năm gần đây; công tác tập huấn/đào tạo cho cán bộ sử dụng, bảo quản, sửa chữa TTB; những khó khăn, thuận lợi trong công tác sử dụng, bảo trì, sửa chữa TTB
Về tổ chức thu thập dữ liệu, đầu tiên nghiên cứu viên đã đến gặp trực tiếp 06 cán bộ đang công tác tại bệnh viện, đã chọn chủ đích trong nghiên cứu để trình bày
lý do nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và xin phép được phỏng vấn sâu Đồng thời gửi họ trang thông tin nghiên cứu, phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu, những câu hỏi gợi ý cho phỏng vấn Sau khi cán bộ đồng ý tham gia nghiên cứu và ký vào phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu thì nghiên cứu viên đã xin lịch hẹn để tiến hành phỏng vấn sâu
Sau khi tiếp xúc trực tiếp với các cán bộ được phỏng vấn, nghiên cứu viên đọc trang thông tin giới thiệu nghiên cứu và để tránh tình trạng bỏ sót thông tin, nghiên cứu viên đã ghi âm, kết hợp ghi chép chi tiết trong suốt quá trình phỏng vấn Thời gian của mỗi cuộc phỏng vấn sâu (PVS) kéo dài 10 phút
Bộ công cụ thu thập thông tin định tính (hướng dẫn, gợi ý PVS) dựa trên bộ câu hỏi có cấu trúc nhằm làm rõ các mục tiêu nghiên cứu được thiết kế phù hợp với từng đối tượng
2.6.2.2.Thảo luận nhóm: Nghiên cứu viên tổ chức thảo luận nhóm cho nhóm đối tượng là Bác sĩ, Kỹ thuật viên, Kỹ sư (2 nhóm trực tiếp sử dụng TTB và 1 nhóm trực tiếp sửa chữa TTB) để thảo luận nhóm, tập trung đi sâu các nội dung liên quan đến công tác sử dụng TTB:
- Yếu tố Chính sách: các chính sách lương, đãi ngộ, thu hút nguồn nhân lực
- Yếu tố Nhân lực: số lượng và trình độ CBYT
- Yếu tố Cơ sở vật chất
- Yếu tố Hệ thống thông tin
- Công tác sử dụng, bảo quản TTB
Trang 39- Công tác tập huấn/đào tạo cho cán bộ sử dụng, bảo quản, sửa chữa TTB tại bệnh viện
Về tổ chức thu thập dữ liệu, NCV đã đến gặp trực tiếp cán bộ/nhân viên đang công tác tại 05 khoa, phòng tham gia nghiên cứu để trình bày phương pháp nghiên cứu và xin phép được tổ chức thảo luận nhóm Đồng thời gửi họ trang thông tin nghiên cứu, phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu, những câu hỏi gợi ý cho thảo luận nhóm Sau khi cán bộ đồng ý tham gia nghiên cứu và ký vào phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu thì NCV xin lịch hẹn để tiến hành thảo luận
Khi tiến hành thảo luận để tránh tình trạng bỏ sót thông tin, nghiên cứu viên
đã xin ghi âm, kết hợp ghi chép chi tiết trong suốt quá trình thảo luận Thời gian của mỗi cuộc thảo luận kéo dài khoảng 20 phút
Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi thảo luận nhóm có cấu trúc và nội dung buổi thảo luận được ghi lại bằng băng ghi âm và bằng biên bản thảo luận Mỗi cuộc thảo luận đều có biên bản riêng và được lưu giữ làm tài liệu thu thập
Nội dung các cuộc phỏng vấn, thảo luận được gỡ băng và chuyển sang file Word, sau đó được nhập và mã hóa phân tích và trích dẫn theo từng mục tiêu nghiên cứu Trong quá trình gỡ băng toàn bộ những câu nói của đối tượng được phỏng vấn, thảo luận đều được tôn trọng và giữ nguyên
2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá:
*Tiêu chuẩn đánh giá:
- Đánh giá số lượng TTBYT của bệnh viện đạt yêu cầu hay không dựa theo danh mục trang thiết bị y tế cho bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh-huyện, phòng khám
đa khoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản do Bộ y tế qui định
- Đánh giá ngân sách của bệnh viện năm 2017 chi cho công tác mua mới, sửa chữa- bảo dưỡng TTBYT có đạt theo yêu cầu dựa theo chỉ thị 01/2003/CT–BYT về tăng cường công tác quản lý TTBYT do BYT ban hành
2.8 Phương pháp phân tích số liệu:
Số liệu sau khi làm sạch được nhập vào máy tính với phần mềm EpiData3.1
và được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 Áp dụng các thuật toán thống kê
mô tả và phân tích với mức ý nghĩa thống kê p<0,05
Trang 402.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu:
Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc của Hội đồng Đạo đức nghiên cứu Y Sinh học - Trường đại học Y tế công cộng Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức phê duyệt triển khai
Kết quả nghiên cứu được phản hồi về Ban giám đốc, đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên bệnh viện khi kết thúc nghiên cứu Các khuyến nghị của đề tài chỉ nhằm đóng góp ý kiến để nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng TTBYT
Các đối tượng nghiên cứu đều được giải thích đầy đủ về mục đích, nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự đồng ý tham gia của đối tượng nghiên cứu Thông tin cá nhân của các đối tượng nghiên cứu được đảm bảo bí mật
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành trong vòng 06 tháng tại bệnh viện đa khoa huyện
Từ Sơn, Bắc Ninh nên chưa phản ánh được toàn diện về các mặt hoạt động cũng như tính đại diện của nghiên cứu
2.10.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Nghiên cứu về thực trạng quản lý và sử dụng TTB phục vụ chẩn đoán, điều trị tại bệnh viện là một vấn đề nhạy cảm, tỷ lệ người tham gia nghiên cứu có thể đạt thấp hoặc ít nhiệt tình, ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Để khắc phục vấn đề này, điều tra viên giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu, động viên
sự tự nguyện tham gia và giải thích các thông tin của họ được bảo mật
Để khắc phục sai số, bộ câu hỏi được thiết kế phù hợp, có tham khảo ý kiến của các chuyên gia, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và gần gũi với đối tượng nghiện cứu Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi đưa vào thu thập thông tin chính thức để đưa ra những câu hỏi phù hợp với đối tượng nghiện cứu
Nghiên cứu viên kiểm tra và làm sạch bộ câu hỏi phát vấn sau khi điều tra Tiến hành nhập số liệu bằng phần mềm EpiData 3.1 và cộng tác viên trong nhóm điều tra kiểm tra 10% số phiếu đã nhập để kiểm tra tính chính xác trong nhập số liệu