1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

"Tây Mẫu" trong Bốc Từ Ân Khư-Nghiên cứu về nguồn gốc của truyền thuyết thần thoại Tây Vương Mẫu

15 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chữ đề trong ngoặc vuông là những chừ đà bị mất trong nguyên bản bốc từ, chúng tôi tạm dịch bồ sung, hoặc có khi các học giả điền bổ sung thì cũng đề trong ngoặc vuông... Ký hiệ[r]

Trang 1

"TÂY MÃU" TRONG Bốc TỪ ÔN KHƯ - NGHIÊN cứu

vế NGUỒN GỐC củn TRUVấN THUVấ THẦN THOẠI

TÂV VƯƠNG MẪU

Thường Diệu Hoa

Người thời thượng cổ ở Trung Quốc đã có bốn tập tục sùng bái phương thần1 Trong giáp cốt văn Ân Khư đã có một số bốc

từ rằng:

(1) R s í t o (Đông phương viết: Tích, phong viết: Hiệp) (2) J x l 0 r t o (Nam phương viết: Nhân, phong viết Khải) (3) ^ - M S Í I - Tây phương viết: Khiếu, phong viết: Di) (4) (i h ý ĩ B ) ■ÍỀ J*10 M o ([Bắc phương viết: Phục, phong viết:]) Các nhà giáp cốt học đều thống nhất cho rằng, sau các chữ “Đông phương viết”, “Nam phương viết”, “Tây phương viết”, “Bắc phương viết” đều

là tên của các thần ở bốn phương Hay nói cách khác, người xưa cho rằng, bốn phương Đông- Tây- Nam- Bắc đều có thần chủ tể coi.giữ, thần chủ tể phương Đông có tên là Tích, thần chủ tể phương Nam có tên là Nhân, thần chủ tể phương Tây có tên là Khiếu, thần chủ tể phương Bắc có tên là Phục Mỗi chữ

ở sau các chữ “phong viết” là tên của các vị thần gió ở bốn phương2

* TS., Trung tâm Nghiên cứu ngôn ngừ học ứng dụng, Học việc Ngoại ngữ 2, Bắc Kinh (Người địch: Trần Trọng Dương)

1 Phương thần: thần các phương Đông- Tây- Nam- Bắc (ND)

2 “Giáp cốt văn hợp tập” mảnh 14295 cũng có nội dung tương tự Tham khảo thêm Hồ Hậu Tuyên “Giáp cốt vãn tứ phương phong danh khảo chứng” « ¥ 0 ÍTM45 ^iJE» > “Giáp cốt học Thương sử luận tùng sơ

tập” ( ( ^ ® i i è A ị)J#1» » Thạch gia tra n g íí‘^ í £ , H à B ắc giáo dục x u ất bản x ã

Trang 2

Hình: Thần gió bốn phương (Giáp cốt văn hợp tập) 14294.

1 7 0 V a n h ó a th ờ N ữ th ắ n - MẪU ở V lỆ T NAM VÀ CHAU á

Trong giáp cốt văn thì các thần bốn phương không được đề cập rõ ràng lắm, mà chủ yếu các vị thần mẫu phương Đông và phương Tây Thần mẫu phương Đông thì bốc từ có gọi tắt là Đông Mau Cụ thể như sau

jjỊ : Trinh: vu Đông Mầu hựu báo (Đông Kinh đại

học, Đông Dương văn hóa Nghiên cứu sở tàng giáp cốt văn tự) 259 Nghĩa

là “lời bốc1: cúng Đông Mầu”

° (Vương chiếm viết: hữu sùng Bát nhật Canh Tuất hữu các vân tự Đông diện mẫu, trắc (diệc) hữu xuất hồng tự Bắc ẩm vu Hà □ nguyệt) [“Giáp cốt văn hợp tập” 10405, “Giáp cốt văn hợp tập” 10406]

M ^tíỉ[W íl'i)íStì: 2002 tr 265-276 Trần Mộng G iaP/íỈÍÌL “ Ân Khư bốc từ tông thuật” ((!§ỊỀ hSệtẫiỀ )) Bắc Kinh, ih lỹ., Trung Hoa Thư cục

1988, tr.589.

1 Trinh: sách “Thuyết văir’ ghi rằng đây là chữ hội ý gồm bộ bối (K ) và chữ bốc ( h), trò việc bói trên mai rùa Chữ “trinh" nghĩa là “lời bốc, lời bói” (ND).

Trang 3

"T ây Mâu” trong Bốc Từ Ân Khư 171

Nghĩa là “Vua xem rằng: tôn sùng Ngày mùng tám giờ Canh Tuất, có mấy đám mây từ Đông Diện Mầu, chiều nắng xế [lại] có cầu vồng mọc lên từ phương Bắc rồi uống nước ờ sông □ tháng”

ỹĩ : T3RÍ5ÍÍỈ (Trinh: vu Đông Mau hựu ) [“Giáp cốt văn hợp

tập” 14336] Nghĩa là “Lời bốc: tế Đông Mẩu”

£ 1 1 h , s t 0 (Kỷ Dậu bốc, cốc, trinh: liệu vu Đông Mầu cửu kiện) [“Giáp cốt văn hợp tập” 14337] Nghĩa là “ngày Kỷ Dậu bói: tốt Lời bốc: thiêu ba con bò cho Đông Mầu”

r/Ị : 0 (Trinh: liệu vu Đông Mẩu tam ngưu) [“Giáp cốt văn hợp tập” 14338] Nghĩa là “Lời bốc: thiêu ba con bò cho Đông Mẩu”

ửi '■ ° (Trinh: liệu vu Đông Mẩu tam ngưu) [“Giáp cốt văn hợp tập” 14339] Nghĩa là “Lời bốc: thiêu ba con bò cho Đông Mau”

0 '■ ° (Trinh: liệu vu Đông Mầu tam ngưu) [“Giáp cốt văn họp tập” 14340] Nghĩa là “Lời bốc: thiêu ba con chó cho Đông Mầu”

[ S O a1^ H ( liệu vu Đông [Mầu] khẩu khuyển, tam thỉ, tam ) [“Giáp cốt văn hợp tập” 14341] Nghĩa là " thiêu [ba]2 con chó, ba con lợn, và ba con [bò] cho Đông [Mau]

^ CT] [ 4 0 o (Trinh: liệu [vu] Đông Mẩu khẩu hoàng [ngưu]) [“Giáp cốt văn họp tập” 14342] Nghĩa là “Lời bốc: thiêu [ con] bò vàng cho Đông Mẩu

CT] aK S 0 ( [vu] Đông Mầu) [“Giáp cốt văn hợp tập” 14343] Nghĩa là cho Đông Mầu”

jJĩ : 0 <(( trinh: hựu vu Đông Mầu) [“Giáp cốt văn hợp tập” 14761] Nghĩa là « .lời bốc : cúng Đông Mầu »

í ậ h , lữ : í í ĩ ( N h â m Thân bố c, ứ in h : hựu vu Đông Mẩu, Tây Mầu, nhược) [“Giáp cốt văn hợp tập” 14335] Nghĩa là « ngày Nhâm Thân bói, lời bốc : cúng Đông Mau, Tây Mẩu vậy »

ỊỊ : ^ f í S S : , s (T rin h : hựu vu Tây Mẩu, 0 khuyển, liệu tam dương, tam thỉ, mão tam ngưu) [«Hợp tập »

1 Trong nguyên văn bốc từ, các chữ Hán hình vuông trỏ các chừ đã mất (ND)

2 Các chữ đề trong ngoặc vuông là những chừ đà bị mất trong nguyên bản bốc từ, chúng tôi tạm dịch bồ sung, hoặc có khi các học giả điền bổ sung thì cũng đề trong ngoặc vuông (ND)

Trang 4

14344] Nghĩa là « lời bốc : cúng Tây Mau, [ ]' chó, thiêu ba con cê, ba

con lợn, [ ] ba con bò »

(1) (Trinh : vu Tây Mau, sam đế) N gha là :

«lời bốc : cho Tây Mầu và [Sam]2 Đế »

(2) (Dụng) [«Hợp tập » 14345]

1 7 2 V a n h ó a th ờ N ữ th ẳ n - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á

Hình: Giảp cốt văn hợp tập, 14335 Hình: Giáp cốt văn hợp tậpl4345

Tây Mau, Đông Mau xuất hiện trong các bốc từ trên là loại thần linh nào? Nhà nghiên cứu Trần Mộng gia đã giải thích:

“Đông Mầu và Tây Mẩu ở đây có lẽ là trỏ thần mặt trời và thần mặt trăng Sách “Tế nghi” viết: ‘tế mặt trời ở phía Đông, tế mặt trăng ờ phía Tây’

Sách “Phong thần thư”, Hán Khoát Thư bàn rằng:

‘tế mặt trời bằng bò, tế mặt trăng bằng dê, lọn, trâu đực’

0 l ì HÉỀIÍt í ) • Bốc từ tể Đông Mầu phần đa là dùng bò làm vật tể Sách “Triệu thế gia sách ẩn” dẫn lại lời Chiếu Chu rằng: ‘Ta thường

1 Ký hiệu này biểu thị chữ quá cồ, các từ điển chưa ghi nhận, hoặc chưa biết nghĩa.

2 Chừ này chưa tra được, tạm phiêm âm theo thanh phù.

Trang 5

"T ây Mẫu” trong Bốc Từ Ân Khư 173

nghe: tục ờ đời, lấy việc mặt trăng mọc ở phương Đông rồi lặn ở phương Tây mà truy nguyên nguồn gốc của thần, cho nên gọi là Vương Phụ Mầu’1 Đời Hán làm gương đồng, vì hình tròn như mặt trời mặt trăng, nên lời minh khắc trên đó thường là “như nhật nguyệt chẳng mòn, thọ như Đông Vương Công và Tây Vương Mầu’2 Nước Đại là hậu duệ mang họ Tử của nhà Ân, sách “Triệu thế gia” ghi: ‘định đánh hai nước ở đất Địch, đều là họ Tử vậy’

S"3“S I sách “Chính nghĩa” ghi: ‘ý nói nước Đại và họ Trí vậy’ (ìiỊf^ĩỉ.̧ lR tỀ ) Nước Đại là hậu duệ của nhà Ân, cho nên, phong tục của nước Đại là tế lúc mặt trời mặt trăng mọc và lặn, và gọi là Vương Phụ Mầu, có quan hệ với việc tế Đông- Tây Mầu bằng cách thiêu con vật hiến sinh trong lời bốc từ; chi khác ở chỗ: tục nước Đại coi nhật nguyệt là Phụ Mầu, còn bốc từ thì Đông- Tây đều gọi là Mau cả Nước Phù Dư ở Triều Tiên và nhà Ân đều có thần thoại huyền điểu giáng sinh thủy tổ, thủy

tổ của hai nhà này (mẹ Chu Minh, gồm Chu Mông và Đông Minh), vốn là con gái của Hà Bá, vì cảm với ánh nắng mặt trời mà có thai, cho nên mới nói rằng: ‘ta là con của mặt trời, là cháu ngoại của Hà Bá’ ( S ằ ễ B " ? I /RHâ^hĩd')- Khảo về Chu Minh thì thấy, sách “Quảng nhã” thiên “Thích thiên” ghi ‘cùng với Đông Quân mà thuận theo mặt trời’

(-ỉ§&g|s|ÌJIIB), sách “Ân bản kỷ” ghi ‘theo lại cùng ánh sáng’ (Bq So sánh với thần thoại cổ, thì mặt trời mặt trăng đều là nữ thần cả Ví dụ như sách “Sơn hải kinh” phần “Đại hoang Nam kinh” ghi ‘vợ của đế Tuấn sinh ra mười mặt trời’, phần “Đại hoang Tây kinh” ghi: ‘Vợ Đế Tuấn là Thường Hy sinh ra mười hai mặt trăng’ Đế Tuấn trong sách “Sơn hải kinh” là thiên đế, mà sách “Ngũ đế bản kỷ”, “Sách ẩn” dẫn Hoàng Phủ Mật, sách “Sơ học ký” chín lần dẫn “Đế vương thế kỷ” nói rằng: ‘Đế Cốc tên là Đế Tuấn’ Sách “Te pháp” ghi: ‘người nhà Ân là Đế Cốc’ (!SÁ?Ì?$Ér), Đế Cốc có khi còn viết là cùng với Thiếu Hạo

I ) đều trỏ thượng đế “Hạo” có nghĩa là “trẳng”

Nước Đại ở phía Bắc Trung Quốc, những loại truyền thuyết này cũng thấy có một số ghi chép liên quan được tìm thấy trong “Sơn hải kinh” Phần

“Đại hoang Đông kinh” của sách này ghi: ‘có nước chỉ có con gái và Nguyệt Mau, ở nước ấy có người tên là Âu, gió bay đến thì gọi là Diệm, phía cực Đông của nước ấy là nơi dừng của mặt trời và mặt trăng, hai vầng thay nhau

1 Nguyên văn chữ Hán:

2 Nguiyên văn chữ Hán: , i P in ă G E ih S 3 E S

Trang 6

174 V a n h ó a th ờ N ữ th ắ n - MẪU ở V lỆ T NAM VÀ CHẢU Á

đắp đổi không ngừng, lúc vắn lúc đài [tùy thời]’1 Nguyệt Mau và Đông Mầu hẳn có mối liên hệ với nhau

Trên đây là thuật lại những truyền thuyết thần thoại về mặt trời, mặt trăng và thiên đế, có thể nghĩ đến khả năng rằng, đế hay thượng đế của nhà

Ân, hoặc trỏ Hạo Thiên, Đông Mầu, Tây Mẩu, hoặc cũng có thể là trỏ thần mặt trời, thần mặt trăng- là hai vị thần phối ngẫu với Thiên Để”2

Học giả Nhật Bản Xích Trùng Trung cũng có kết luận tương tự như nhà nghiên cứu họ Trần, ông này cho rằng Đông Mẩu và Tây Mầu có khả năng là nữ thần trông coi mặt trời mọc lặn3 Nhà nghiên cứu Tống Trấn Hào thỉ không ủng hộ việc coi Đông Mầu và Tây Mầu như là nữ thần chủ quản mặt trời, ông nói:

“Thần tính trong thần mặt ứời được ghi chép trong giáp cốt văn, thì những yếu tố nhân hóa cũng rất khó nhận thấy, nói rằng Đông Mẩu, Tây Mâu là thần mặt trời, thần mặt trăng, hay thần cai quản mặt trời, thì cũng chưa thực thuyết phục” Giáp cốt văn còn có câu “ngày kỷ tỵ bốc, vương trinh: hô cương cộng sinh vu đồn” ( B B h > ĩE iíĩ: [“Kinh nhân” 3155, tức “Hợp tập” 20637], là ý nói rằng vái cầu sinh mệnh ở phương Đông Dựa vào chứng cứ này, có thể cho rằng Đông Mầu và Tây Mầu là vị thần trông coi chuyện sinh tử ừong con mắt, trong quan niệm của người nhà Thương, hai vị thần này chia nhau hai cõi Đông- Tây mà nắm giữ sinh tử của nhân gian Giáp cốt văn tế Đông Mầu nhiều hơn là tế Tây Mầu,

vì đời nhà Thương thì tục táng quỳ hồn phần đa là hướng đầu về phía Đông, hướng về phía Tây cũng ít hơn, vì phương Đông chủ về sinh, tượng trưng cho sinh mệnh và sự tái sinh, còn phương Tây chủ về tử, tượng trưng cho chết chóc, có thể nói, Đông Mẩu là thần sinh mệnh, Tây Mầu là thần chết Đốt đuốc tế Đông Mau, Tây Mâu là hành vi cầu cúng mong thần phù hộ, chở

1 Nguyên văn chữ Hán:

m ít HE , fê?5fêiệ]íti)£ , p M K

2 Trần Mộng G ia ỉề & S l “Ân Khư bốc từ tông thuật” iW ớ ầ h ííịỆ ìầ ) ) , Bắc

Kinh4bM» Trung Hoa thư cục+ ^ 4 5 ^ » 1988, tr 574.

3 Xích Trủng Trung^ÌL® “Trung Quốc cồ đại đích tông giáo hòa văn hóa- Ân vương triều

xuyên thư đ iế m 0 ^ ^ M ^ J Ỉ |4 ^ /£ » 1977, Chuyển dẫn theo Tống Trấn H à o ^ t t S

-st í í § # » , Thượng Hải_hỳỆ, Thượng Hải Văn nghệ xuất bản x ã h ỉ t t Ằ ^ L t iịí 2001,

tr 641.

Trang 7

"T ây Mẫu” trong Bốc Từ Ân Khư 1 7 5

che cho con cháu nhà Thương được đông đúc và thịnh vượng”1 Tác giả Thường Ngọc Chi cho rằng “Tống tiên sinh cho rằng Đông Mầu là thần sinh mệnh, Tây Mầu là thần chết, là cũng có cơ sở” Bà chi ra rằng những tư liệu văn hiến mà Trần tiên sinh dẫn ra không thể tương thích với những ghi chép trong bốc từ Thứ nhất, trong bốc từ chưa từng có tư liệu nào nói đến chuyện

tế mặt trăng Thứ hai, Đông Mầu và Tây Mau trong bốc từ là nữ thần chứ không phào là nam thần mà gọi là “phụ”, về điểm này, Trần tiên sinh cũng

đã tự nói: “điểm không giống nhau ấy là tục nước Đại thì coi mặt trời, mặt trăng là cha mẹ, còn bốc từ thì Đông- Tây đều gọi là mẹ cả” Cách giải thích như vậy của ông e rằng chưa được thuyết phục Thường tiên sinh thông qua phân tích bối cảnh sùng bái của người nhà Thương đối với thần tứ phương

và thần mặt trời, đã cho rằng Đông Mầu và Tây Mầu nên chăng phải phân biệt thành thần phương Đông và thần phương Tây, hai vị thần phương vị này chi có chức năng là trông coi việc lặn mọc của mặt trời Thế nhưng, Thường tiên sinh cũng không phủ nhận rằng Đông Mau và Tây Mầu trong giáp cốt văn đều có yếu tố nhân hóa, đồng thời cũng cho rằng Đông Mầu và Tây Mẩu

là nữ thần phương Đông giữ chức trông coi mặt trời lặn mọc, rồi sau đó mới diễn biến trở thành vị thần trông coi việc sinh tử của con người3

Việc lược thuật lại ý kiến các nhà nghiên cứu trên đây, mặc dù những kết luận cũng có khác nhau, nhưng không phải là không có điểm đã được cùng nhất trí Trước tiên, Đông Mầu và Tây Mầu đều là thần Tiếp theo, hai

vị thần này đều có quan hệ với các thần phương Đông và thần phương Tây Ngoài Tống tiên sinh, những nhà nghiên cứu khác đều chủ trương Đông Mẩu và Tây Mau không chi có yếu tố nhân hóa mà còn còn là thần có tính

nữ Đồng thời, cũng tán đồng quan điểm: Đông Mầu và Tây Mau là nữ thần,

lý do rất đơn giản, là đều có chữ “mẫu” trong tên các vị thần này Chữ

“mẫu” ấy đã thể hiện tính nữ của thần, và cũng biểu thị một cách rõ ràng yếu

tố nhân hóa của vị thần này

Điểm thú vị nhất ở đây là, ông Trần Mộng Gia đã liên hệ Tây Mau trong giáp cốt văn với Tây Vương Mẩu được ghi nhận trong tư liệu văn hiến

1 Tống Trấn Hào5fcHlE “Trung Quốc phong tục thông sử- Hạ Thương quyền” ( (^ S R Í S ìỖ itd - X íữ j * » , Thượng Hải.h.ỳặ, Thượng Hài Văn nghệ xuất bản

x ẽL h ỉộ íS cèH iM tt 2001, tr.641-642.

2 Thường Ngọc C h i v ^ s s “Thương đại tông giáo sử” » Bắc Kinh

Trung Quốc Xã hội Khoa học xuát bàn x ã ^ Ị H t t é í ^ t i í l í S t t 2010 tr 1303Ĩ.

3 Thường Ngọc C h i f ; 5 2 Sdd tr.132.

Trang 8

176 Van h ó a t h ờ Nữ t h á n - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á

đời sau Ông đã đưa ra cứ liệu chứng minh rằng nước Đại, nước Phù Dư (Triều Tiên) và nhà Ân đều c ó tục sùng bái mặt trời và mặt trăng Những tập tục này khá tương hợp với những ghi chép trong “ Sơn hải kinh” Trần tiên sinh tuy chưa nói một cách hiển minh rằng Đông Mầu và Tây Mầu trong giáp cốt văn chính là Đông Vương Công và Tây Vương Mau trong gương đời Hán, nhưng đây là những gợi ý hết sức quan trọng cho người đi sau triển khai theo hướng này

Như vậy, việc đem Đông Mầu và Tây Mầu trong giáp cốt văn đặt cạnh Đông Vương Công và Tây Vương Mầu trong gương đồng đời Hán là có thích đáng hay không? Chúng tôi e rằng ở đây cũng nên châm chước một việc Tất cả các nhà nghiên cứu trước đây đều đem tục sùng bái Tây Vương Mầu truy nguyên đến tận “Sơn hải kinh” “Sơn hải kinh” phần “Tây sơn kinh” lại có ghi chép như sau: “ lại về phía Tây quãng ba trăm năm mươi dặm là Ngọc Sơn, là nơi ở của Tây Vương Mầu Tây Vương Mau hình trạng như người, đuôi báo, răng hổ, mà giỏi kêu, tóc bồng gài trâm, là thần trông coi dịch lệ và chết chóc”1

Qua đoạn văn trên, có thể đi đến một số nhận thức như sau: (1) Nơi

của Tây Vương Mẩu núi Ngọc Sơn ờ phía Tây (2) “Tây Vương Mầu hình trạng như người” ý nói rằng nhân vật này không phải là người (3) Tây Vương Mau có hình dáng kỳ lạ, giống như người nhưng mà lại có “đuôi báo, răng hổ” (4) Tây Vương Mau hóa trang cũng rất kỳ quái, tóc rơi như cỏ bồng nhưng lại đeo ừâm ngọc2 (5) Bản lĩnh của Tây Vương Mẩu là giỏi kêu (6) Chức vị của Tây Vương Mầu là thần trông coi dịch lệ và chết chóc

“Dịch lệ” nghĩa cũng chưa được rõ ràng, thường trỏ những nghĩa sau: 1/ tai họa, họa hoạn; 2/ bệnh hoạn, ôn dịch; 3/ nhiễm bệnh mà chết; 4/ ác qủy; 5/ quỷ không được cúng tế Như vậy, có thể thấy, Tây Vương Mầu là thần, cụ thể hơn là nữ thần

Nếu như đem Tây Vương Mầu trong “Sơn hải kinh” mà so sánh với Tây Mầu trong giáp cốt văn thì sẽ cũng không khó mà thấy rằng hai hình

£ » ủ § r f õ # D S , M % M & , m * l ỉ e a G S H ạ a “Sơn hài kinh” i ì h m m , Thấm

Dương ỉ t l t l , Liêu Ninh giáo dục xuất bản x ã i X Í I Í Í [ iilíS ĩi» 1997, tr 10.

2 Đới Thẳng$£ttt, Quách P h á c llỉS (chú): “thắng: đeo ngọc” “t ì , Hác Ý Hạnh'®^.ÍTtiên sớ rằng: “Quách Phác nói: là 'đeo ngọc’, đại khái nghĩa là dùng ngọc mà kết thành dây hoa đeo” (115 5

Trang 9

"Tây Mau” trong Bốc Từ Ân Khư 177

tượng này có gì đó giống nhau, hoặc có liên quan đến nhau ở ba điểm sau: (1) đều có liên quan đến phương Tây (2) đều là thần chứ không phải là người (3) Đều là thần nữ Cũng có thế nói, hình tượng Tây Vương Mẩu trong “Sơn hải kinh” có khả năng là có mối quan hệ kế thừa từ Tây Mầu trong giáp cốt văn

“Sơn hải kinh” tuy rằng được gọi là kinh, nhưng trong đó lại ghi chép nhiều việc kỳ lạ, quái đản, thường bị người đời coi là việc hoang đường, không đáng tin, và không được coi trọng lắm Đến như Tư Mã Thiên, tuy đã dám bung phá những trói buộc của sách “Thượng thư”, đem lịch sử thời thượng cổ của Trung Quốc đẩy lên đến tận thời hai vị Viêm đế, Hoàng để, thế mà khi đọc “Sơn hải kinh” ông cũng đã phải thốt lên rằng: “đến “Vũ bản kỷ” và “Sơn hải kinh” ghi chép những quái vật thì ta thực không dám bàn luận gì” Thể nhưng ngày nay, ai cũng biết rằng, “Sơn hải kinh” là một bộ sách vô cùng kỳ lạ, bộ sách này là cội nguồn của thần thoại Trung Quốc, đồng thời là một kho tàng quý báu về nghiên cứu cổ sử Kể từ sau những công trình khảo chứng về danh nhân trong bốc từ của Vương Quốc Duy, người ta mới biết rằng, rất nhiều tư liệu trong bộ sách này nhìn thì có vẻ là

kỳ cục, cổ quái, nhưng thực ra lại chứa đựng trong đó những sự thực lịch sử Trước đây, chúng tôi từng đề cập đến những luận điểm khá thuyết phục trong bài “Giáp cốt văn tứ phương phong danh khảo chứng” (khảo cứu về các tên gọi về gió ở bốn phương trong tư liệu giáp cốt văn) của ông Hồ Hậu Tuyên, những tư liệu trong “Sơn hài kinh” được đem so sánh đối chiếu với các ghi chép trong các hiện vật khảo cổ giáp cốt văn có niên đại hơn ba ngàn năm trước tỏ ra khá lô gic Hồ tiên sinh cũng đã cảm thán rằng: “ôi, sách

“Sơn hài kinh”, từ xưa đến nay, đã có rất nhiều học giả coi lằ những lời hoang đường kỳ quái, mà người đời nay lại coi “Đại hoang kinh” là tác phẩm của thời Đông Hán Ông Vương Quốc Duy tuy rằng đã phát hiện ra tên người “Vương Hợi” trong “Đại hoang Đông kinh”, rồi ấn chứng với bốc

từ, đó là một đóng góp khoa học, nhưng có người bàn luận cho rằng việc ấy ngẫu nhiên mà như vậy, cho nên cũng chưa dám tin là trong sách ấy còn có những sử liệu xác thực Thiên “Nghiêu điển” người ta cho là sách về lịch sử đời Tần- Hán, thậm chí có người cho rằng sách ấy xuất hiện vào thời Hán

Vũ Đế, nhưng cũng khó nghĩ rằng sách ấy lại có sử liệu ở trong đó, nữa là những tư liệu sớm lên đến tận Vũ Đinh đời nhà Ân Nay dựa vào những văn

tự trên giáp cốt tảo kỳ, thì mới biết rằng ba loại sử liệu ghi chép về tên gió bốn phương, thực là có liên hệ chặt chẽ với nhau, há đó chẳng phải là một

Trang 10

178 Van h ó a t h ờ Nữ t h ả n - MẴU ở VlỆT NAM VÀ CHÂU Á

phát hiện phù hợp với cổ sử hay sao!”1

Chúng tôi cho rằng, Tây Mau trong giáp cốt văn có khả năng có liên hệ với hình tượng Tây Vương Mầu trong sách “Sơn hải kinh”, nhận định này không chỉ dựa trên ba luận điểm đã nêu ở trên Văn hóa nhà Thương và văn hóa nhà Chu tuy rằng có những diện mạo riêng, nhưng như KHổng Phu Tử từng nói: “nhà Ân dựa trên lễ nhà Hạ, rồi thêm hay bớt [cho phù họp Những chỗ thêm bớt ấy] ta đều biết rõ cả ; nhà Chu dựa ừên lễ nhà Ân, rồi bớt hay thêm [cho phù hợp Những chỗ thêm bớt ấy] ta đều biết rõ cả”2 Như vậy cũng có thể nói rằng, văn hóa Ân Chu là có sự kế thừa lẫn nhau, đó !à một sự thực lịch sử Sự kế thừa văn hóa không chi giới hạn ở trong phạm vi của

“lễ” mà còn bao quát trong đó cả “phong tục” nữa Cư dân cổ đòi Ân Chu đều sùng bái Tây Mầu, đều này cũng là dễ hiểu Người thời Ân thì gọi là Tây Mầu, người thời Chu thì gọi là Tây Vương Mau, chỉ khác nhau tí chút Chữ

“Tây Vương Mau” cũng được người đời sau gọi tắt thành “Tây Mầu”, những

ví dụ dưới đây có thể chứng minh cho nhận định này Trong “Chính đô phú” của Phó Huyền đời Tấn có câu: “Đông Phụ che lọng xanh mà ngóng xa, Tây Mẩu sai chim thiêng ba chân” ( ^ 5 £ S I # l l ĩ ỉ n ỉ § I I >

Bài “Mã thi” của nhà thơ Lý Hạ đời Đường có câu như sau: “Tây Mẩu rượu sắp tàn, Đông Vương thức đã làm xong” > ^ 5 E t S E “F) Bài

“Hảo tương cận” của Trương Nguyên Can đời Tống có câu: “Tây Mẩu khi say cười mim, trông tiệc bàn đào mới tàn” Quê tôi thường gọi “Táo vương da” thành “lão táo da”, tức là bót chữ “vương”, gọi “táo vương bà bà” là “lão táo bà bà”, cũng là theo kiểu gọi tắt như vậy

Phong tục sùng bái Tây Mầu đời Thương Chu cũng không ít những tư liệu văn hiến làm chứng cứ Sách “Sơn hải kinh” của Quách Phác đời Tấn chú rằng: “vua nhà Ân là Thái Mậu sai Vương Mãnh đến hái thuốc chỗ Tây Vương Mẩu”, các chữ “Tây Vương Mầu” ở đây dường như còn có thể hiểu như là địa danh, hoặc tên nước Tuy nhiên, hãy xem thêm tư liệu dưới đây:

“vào thời Ân Thụ, Tây Vương Mau dâng bút quản ngọc Chiêu Hoa Nhưng

1 Hồ Hậu TuyêniVỉi^ỂL “Giáp cốt vàn tứ phương phong danh khảo chứng”

iE» “Giáp cốt học Thương sử luận tùng sơ tập” ( ( ÌÌè/ ẢỶẲl í í c Thạch

2 Nguyên văn chữ Hán: S S Í M Í L , BriHỉẳộHaH&i

[“Luận ngữ -V i chính” ((ièip • ;%jí&» “Thập tam kinh chú sớ” ỉ - ^ E L ịí tí ỉ Ề Ì Bắc

Kinh^bM Trung Hoa thư c ụ c + ^ 4 5 ^ 1980 tr.2463].

Ngày đăng: 04/02/2021, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w