1. Trang chủ
  2. » Toán

Thi hành quy định pháp luật bảo vệ môi trường nước nhằm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo tinh thần Hiến pháp 2013

10 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 421,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn cung các quy định pháp luật của chúng ta hiện chủ yếu tập trung quy định các hành vi bị cấm, các chế tài xử phạt hay các quy định liên quan đến công tác quản lý nh[r]

Trang 1

THI HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG

TRONG LÀNH THEO TINH THẦN HIẾP PHÁP 2013

ThS Đỗ Thị Hường 413

[

1 Mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường nước với việc đảm bảo quyền được sống

trong môi trường trong lành

Năm 1972, Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường con người diễn ra tại Stockholm

khẳng định: “con người có quyền được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép

cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm bảo vệ, cải thiện cho thế hệ

hôm nay và mai sau”414 Cho đến nay quyền được sống trong môi trường trong lành đã trở

thành quyền cơ bản của con người được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong nhiều văn kiện,

công ước quốc tế, như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948; Nghị quyết của Đại

hội đồng Liệp hợp quốc năm 1962 về sự phát triển kinh tế và bảo vệ thiên nhiên, Công ước

quốc tế về các quyền dân sự, chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và xã

hội năm 1966

Cũng giống như các quyền con người khác, quyền được sống trong môi trường trong

lành đề cập đến nhu cầu của con người về môi trường cũng như các biện pháp để đảm bảo

những nhu cầu đó Theo Bùi Đức Hiển, (2016), tiêu chí để đánh giá quyền được sống trong

môi trường trong lành dựa trên sự đáp ứng được nhu cầu của con người về một môi trường

sống trong sạch, thuần khiết, chất lượng, hệ sinh thái cần bằng, không có ô nhiễm hay suy

thoái môi trường giúp con người sống thoải mái, trường thọ và hữu ích…Tại Hội nghị

thượng đỉnh thế giới về Môi trường và phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janeiro,

Brasil, thì quyền được sống trong môi trường trong lành còn đề cập đến nguyên tắc để các cá

nhân và cộng đồng có “một cuộc sống lành mạnh và sản xuất trong sự hòa hợp với thiên

nhiên” Theo đó Nguyên tắc số 10 khẳng định: “Vấn đề môi trường phải được giải quyết một

cách tốt nhất với sự tham gia của tất cả các cá nhân liên quan, ở cấp độ thích hợp Cấp độ

quốc gia, mỗi cá nhân sẽ được tiếp cận thông tin thích hợp liên quan đến môi trường, do các

cơ quan công quyền lưu giữ, bao gồm cả thông tin về các chất và hoạt động nguy hiểm trong

cộng đồng của họ, và có cơ hội được tham gia trong quá trình ban hành các quyết định…”

Như vậy nguyên tắc này không chỉ đề cập đến môi trường trong lành dưới góc độ là nhu cầu

về một môi trường thích hợp mà còn có ý nhấn mạnh đến việc tôn trọng và đảm bảo thực thi

quyền con người như một trong những điều kiện cần thiết để bảo vệ môi trường Theo đó

quyền được sống trong môi trường trong lành còn bao hàm việc được tiếp cận với thông tin

về môi trường, hay việc được giải quyết thỏa đáng những vấn đề môi trường đồng thời là

việc tham gia vào giải quyết những vấn đề này Đối với sự tham gia, thông tin và biện pháp

khắc phục các điều kiện môi trường, Tuyên bố Rio đã quy định về sự tham gia của cácnhóm

chủ thể khác nhau: sự tham gia và trách nhiệm của phụ nữ được quy định trong (Nguyên tắc

20), thanh niên (Nguyên tắc 21), và người dân bản địa và cộng đồng địa phương (Nguyên tắc

22) Theo tuyên bố này một trong những điều kiện tiên quyết cơ bản để đạt được sự phát

triển bền vững là sự tham gia rộng rãi công chúng trong việc ra quyết định.415

Ở Việt Nam, quyền được sống trong môi trường trong lành được đề cập trong điều 43,

Hiến pháp 2013 theo đó: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có

413 Học viện CTQG Hồ Chí Minh

414 Bùi Đức Hiền(2011) Về quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học số

11/2011, tr.23

415 Quyền con người được sống trong môi trường trong

lànhhttp://lenhatbao.blogspot.com/2013/06/thuc-thi-cac-quy-inh-am-bao-quyen-con.html

Trang 2

nghĩa vụ bảo vệ môi trường” Quy định này của Hiến pháp đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật Bảo vệ môi trường 2014 và nhiều văn bản pháp luật khác Các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam phần lớn thể hiện nguyên tắc phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường, quy định về các hành vi bị cấm; hay quy định hoạt động quản

lý nhà nước về môi trường như yêu cầu về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường…

Trong môi trường thì môi trường nước là một thành phần cơ bản bởi nước duy trì mọi hoạt động sống và sản xuất của con người Bảo vệ nguồn nước cũng chính là bảo vệ sự sống còn của nền kinh tế, bảo vệ sức khỏe và sinh kế của hàng triệu người, do đó việc kiểm soát ô nhiễm nước là một trong những ưu tiên hàng đầu trong công tác bảo vệ môi trường Hội nghị

về nước của Liên hợp quốc diễn ra năm 1997 đã thống nhất "Tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, địa vị kinh tế, xã hội, đều có quyền tiếp cận nước uống với số lượng và chất lượng bảo đảm cho các nhu cầu cơ bản của mình" Đến tháng 7/2010, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết tuyên bố nước sạch và an toàn và các điều kiện vệ sinh là các quyền cơ bản để con người hưởng thụ cuộc sống và tất cả các quyền con người khác.416

Nhận thức được tầm quan trọng của nước, trong sự phát triển bền vững của nhân loại, năm 2015 với tư cách là nước chủ nhà của Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới (IPU-132), Việt Nam đã đưa vấn đề về nước vào chương trình nghị sự của đại hội, để các đại biểu xem xét.417 Đồng thời trong những năm qua Việt Nam đã thay đổi nhiều quy định pháp luật

để đảm bảo quyền có nước sạch cho tất cả mọi người, cũng như tích cực nỗ lực triển khai chính sách, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước nhằm thực thi quy định của hiến pháp năm 2013 về quyền được sống trong môi trường trong lành

2 Những vấn đề trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 ở Việt Nam

Tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, trong đó bao gồm việc bảo vệ môi trường nước đã được cụ thể hóa trong rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Bảo vệ môi trường; Luật Tài nguyên nước; Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; Luật Bảo vệ rừng và phát triển rừng; Luật Đất đai; Luật Di sản văn hoá; Luật Khoáng sản; Luật Du lịch Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản dưới luật liên quan đến quản lý chất lượng nước, ví dụ như các văn bản về: quản lý lưu vực sông, kiểm soát ô nhiễm, quan trắc môi trường, đánh giá tác động môi trường, phí BVMT đối với nước thải, vv…

Từ các văn bản đã được rà soát, cho thấy, hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đã liên tục được hoàn thiện trong những năm gần đây Từ năm 2013 đến nay, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật triển khai Luật tài nguyên nước, như: Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước 2012; Nghị định số 43/2015/NĐ- CP về lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước và Nghị định số 54/2015/NĐ- CP quy định về ưu đãi đối với các hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả Bộ Tài nguyên Môi trường đã ban hành Thông tư quy định về cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước, Thông tư quy định điều kiện năng lực của đơn vị thực hiện điều tra cơ bản về tài nguyên nước, đơn vị tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước; Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT

416 Sử dụng nước sạch là quyền cơ bản của con người, truy cập từ trang

Trang 3

https://baomoi.com/su-dung-nuoc-sach-la-ngày 30/5/2014 quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước.418

Năm 2017 Bộ Tài nguyên Môi trường đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành

11 quy trình vận hành liên hồ chứa cho cả mùa lũ và mùa cạn trên 11 lưu vực sông lớn… Đồng thời xây dựng, ban hành Thông tư số 64/2017/TT-BTNMT quy định về xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và hạ lưu các hồ chứa, đập dâng… Bộ đã tập trung triển khai xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt Đề án kiểm soát đặc biệt đối với các cơ sở tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xây dựng hệ thống tiêu chí về môi trường làm cơ sở lựa chọn, sang lọc loại hình sản xuất và công nghệ sản xuất trong thu hút đầu tư, xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư, đảm bảo không thu hút công nghệ sản xuất lạc hậu vào Việt Nam.…419

Các quy định về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước được quy định trong Luật bảo vệ môi trường đã được sửa đổi năm 2014 Theo đó Luật bảo vệ môi trường năm 2014

đã quy định rõ ràng và cụ thể hơn về nhiều lĩnh vực liên quan đến quản lý môi trường nước như: Luật này không chỉ có những quy định chặt chẽ về nguồn thải ra sông mà còn có những quy định về chất lượng nước, khả năng chịu tải của sông, nguồn nước là nền tảng cho các quy định về phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm nước và cải thiện chất lượng nước Luật đã phân định trách nhiệm rõ ràng trong bảo vệ môi trường nước nước sông giữa Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tài Nguyên Môi trường Luật Bảo vệ tài nguyên môi trường

2014 cũng quy định các hoạt động cần thực hiện như: Thu gom, xử lý nước thải đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường đồng thời xác định rõ nội dung, phạm vi công việc của các chủ thể trong xử lý nước thải.420

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước thì hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực này của nước ta vẫn còn được đánh giá có nhiều hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ nguồn nước đảm bảo quyền tiếp cận với nước sạch của người dân Những hạn chế lớn của hệ thống pháp luật có thể kể đến như:

Thứ nhất, các quy định pháp luật bảo vệ môi trường nước chưa mang tính toàn diện,

thiếu tính cụ thể.Nguyễn Ngọc Lý, (2018) chỉ ra rằng hệ thống pháp luật về quản lý môi trường nước của nước ta được xây dựng chủ yếu xuất phát từ phương diện để quản lý nhà nước, mà chưa quan tâm đầy đủ tới góc nhìn từ đối tượng bị điều chỉnh là các doanh nghiệp,

đô thị và thiếu góc nhìn từ các đối tượng được bảo vệ là nguồn nước mặt và các loại cá, tôm, thủy sinh sống trong môi trường nước.421 Tác giả này cũng chỉ ra rằng Luật bảo vệ môi trường

và Luật Tài nguyên nước đã được ban hành nhưng nội dung của những Luật này vẫn mang tính bao quát, tính nguyên tắc chung Các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước cũng chỉ dừng lại ở các điều khoản có tính nguyên tắc, nên tính khả thi của điều luật này rất yếu Thậm chí các quy định về kiểm soát ô nhiễm nước quá chung chung và thiếu thống nhất giữa các luật dẫn tới những người thực thi pháp luật khó có thể biết được cần phải làm gì, ai làm và làm như thế nào Ví dụ Nghị định 155/2016 quy định xử phạt hành chính đối với hành vi pha

418 Nguyễn Trần Điện, (2016), Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng Việt Nam, luận án tiến sỹ luật – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tr.66

419 Nhiều giải pháp giải quyết ô nhiễm nguồn nước, truy cập từ trang

http://www.monre.gov.vn/wps/portal/tintuc/!ut/p/c5/dZDdboJAFISfxQdo9oCKeglU2V1-dGFV3BujtCXYBbYqKPv0xaRpE5POybmZi8k3gwTqrzq0RX64FnV1kChFwtq7no1HkwAAyNwAwhbxEHu BCZ6JtiiF0T45TVXYXdNAuy0_6cS8vLLbtf9IL

420 Lê Minh Ánh, (2014), Luật bảo vệ môi trường sửa đổi với nội dung phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước, Tạp chí môi trường chuyên đề 1 /2014, tr.7

421 Nguyễn Ngọc Lý, (2018), Ô nhiễm nước và sự cần thiết phải xây dựng Luật Kiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=%C3%94-nhi%E1%BB%85m-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-

v%C3%A0-s%E1%BB%B1-c%E1%BA%A7n-thi%E1%BA%BFt-ph%E1%BA%A3i-x%C3%A2y- d%E1%BB%B1ng-Lu%E1%BA%ADt-Ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-%C3%B4-nhi%E1%BB%85m-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-48227

Trang 4

loãng nước thải công nghiệp nhưng luật chưa đưa ra khái niệm thế nào là pha loãng nước thải công nghiệp, hành vi nào được coi là pha loãng nước thải công nghiệp.422

Nhìn cung các quy định pháp luật của chúng ta hiện chủ yếu tập trung quy định các hành vi bị cấm, các chế tài xử phạt hay các quy định liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với môi trường nước mà chưa tiếp cận theo hướng bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền tiếp cận với nước sạch do đó còn thiếu cách tiếp cận để người dân được biết các thông tin về ô nhiễm môi trường nước hãy nói đúng hơn là khía cạnh quyền được tiếp cận với thông tin về môi trường nước chưa được quy định một cách đầy đủ

Các luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển cũng được đánh giá chung chung dẫn đến khó áp dụng trong thực tế.423 Trần Ngọc Toàn, (2011) chỉ ra rằng “So với yêu cầu thực tiễn của vụ việc giải quyết tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển,

hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay chưa thực sự phát huy hiệu quả Điều này là do chúng

ta chưa xây dựng được một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh bao gồm hai bộ phận chính, đó là: (i)

Cơ chế giải quyết các vụ việc giữa tổ chức cá nhân trong nước, (ii) Cơ chế giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài; và phải đảm bảo có đầy đủ: (i) Căn cứ, cơ sở pháp lý về quy trình thủ tục, (ii) Căn cứ, cơ sở pháp lý về phân công, phân cấp phối hợp thực hiện, (iii) Căn

cứ, cơ sở pháp lý về đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, cũng như các yêu cầu khác

có liên quan.” Các văn bản pháp luật quản lý ô nhiễm môi trường biển vẫn còn chung chung, chưa cụ thể rõ ràng đảm bảo thuận tiện cho việc áp dụng chúng, không làm rõ được chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan đó trong việc thực hiện nhiệm vụ dẫn đến hiệu quả thực thi các quy định pháp luật và ngăn ngừa ô nhiễm biển thực tế hiện nay đạt hiệu quả thấp.424 … Các văn bản pháp luật bảo

vệ ô nhiễm môi trường biển do địa phương ban còn chưa được quan tâm đúng mức, chủ yếu mang tính đối phó với tình hình ô nhiễm do vậy văn bản còn kém cả về chất lượng và số lượng, không đủ đáp ứng được yêu cầu ngăn ngừa đặt ra đối với tình hình ô nhiễm xảy ra trên địa bàn.425

Thứ hai, các quy địnhpháp luật về bảo vệ môi trường nước còn tản mạn trong nhiều

văn bản pháp luật khác nhau và đôi khi còn chống chéo chưa thống nhất Sự tản mạn thể hiện

rõ nhất trong các quy định pháp luật liên quan đến các công cụ thực thi kiểm soát ô nhiễm nước Các quy định này hiện nằm tản mạn trong nhiều luật và có quan hệ chồng chéo phức tạp trong hệ thống quản lý hành chính, dẫn đến tính thực thi chưa có hiệu quả cao.426 Việc

các quy định cho việc kiểm soát ô nhiễm nước còn nằm phân tán trong nhiều văn bản luật và các văn bản dưới luật gây khó khăn cho việc kiểm soát các hoạt động gây ô nhiễm, đồng thời hiệu quả việc thực thi các quy định này khó đạt được hiệu quả

Không chỉ tản mạn mà các quy định đôi khi còn chống chéo, thiếu thống nhất Ví dụ Điều 16 của nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định các trường hợp khai thác, xả thải không phải xin phép, điều 8 của nghị định 34/2005/NĐ-CP quy định mức phạt khi xả nước thải vào nguồn nước, nghị định số 25/2013/NĐ-CP cũng đưa ra phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Các văn bản này rất khó phân biệt giữa các loại nước thải (nguyên nhân gây nên

422 Lục Thị Thu, (2017), Pháp luật về nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sỹ luật học viện Hàn lân Khoa học xã hội Việt Nam, tr 69

423 Đinh Thị Thu HƯơng, (2013), Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất ô nhiễm trên biển tại Việt Nam, luận văn thạc sỹ khoa luật đại học quôc sgia, tr.40

424 Trần Ngọc Toàn (2011), Pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển và việc thwucj thi công ước marpol 73/78 tại Việt Nam, luận văn thạc sỹ khoa luật đại học quốc gia Hà nội, tr.60

425 Trần Ngọc Toàn (2011), Pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển và việc thwucj thi công ước marpol

Trang 5

ô nhiễm, suy thoái chất lượng nước) là đối tượng của quyết định nào.427 Hay quy định của Luật của luật bảo vệ môi trường về xử lý nguồn nước thải Theo đó mọi nguồn thải phải xử

lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trước khi xả vào môi trường tiếp nhận Tuy nhiên, việc xác định môi trường tiếp nhận là môi trường xung quanh, hệ thống thoát nước hay hệ thống thủy lợi đang là vấn đề chồng chéo của các quy định hiện hành và trong thực tế các quy chuẩn kỹ thuật đối với nguồn nước thải lại khác nhau do các cơ quan khác nhau quản lý.428

Thứ ba, Nhiều quy định pháp luật còn chưa phù hợp với thực tiễn hay không bao quát

hết những vấn đề đang diễn ra trong thực tiễn điều này gây khó khăn cho các cơ quan quản

lý nhà nước trong việc áp dụng luật Ví dụ hiện tại các công cụ trực tiếp kiểm soát hành vi xả thải và ô nhiễm nước gồm công nghệ xử lý, giấy phép xả thải, tiêu chuẩn quy chuẩn, kiểm tra

và giám sát phụ thuộc chủ yếu vào các khuyến nghị trong đánh giá tác động môi trường Điều này khiến cho khả năng thực thi của các công cụ kiểm soát hành vi xả thải hạn chế bởi các quy định về đánh giá tác động môi trường trong các văn bản pháp luật vẫn mang nặng tính dự báo nên có thể có sự khác biệt rất lớn so với thực tiễn Mặt khác, việc các công cụ được thiết lập dựa trên khuyến nghị của đánh giá tác động môi trường có thể gây ra những hậu quả cực lớn, nhưng rất khó quy trách nhiệm.429

Các quy định về thu phí nước thải cũng được các nhà nghiên cứu chỉ ra còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Nguyễn Ngọc Anh Đào, (2015) chỉ ra rằng hiện có nhiều hạn chế trong quy định pháp luật liên quan đến sử dụng công cụ kinh tế để thu phí nước thải như:

“Thứ nhất, hạn chế liên quan đến phương pháp tính toán phí Theo quy định hiện hành, các

đối tượng nộp phí, không phân biệt quy mô xả nước thải, số phí được xác định theo cùng một công thức dựa vào lượng nước thải, hàm lượng chất ô nhiễm và nguồn tiếp nhận nước thải Quy định này không phù hợp bởi hiện tại nhiều sở Tài nguyên môi trường không có đủ nguồn lực để thẩm định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của các cơ sở

kê khai dẫn đến số phí thu được ít do chỉ dựa vào kê khai của doanh nghiệp Thứ hai, theo

quy định hiện tất cả các doanh nghiệp (không phân biệt lĩnh vực sản xuất, chế biến) dều phải

kê khai và thẩm định số phí phải nộp Sở Tài Nguyên, ôi trường phải phân tích 06 chất ô nhiễm trong nước thải gồm: nhu cầu ôxy hóa học (COD), chất rắn lơ lửng (TSS), asen, thủy ngân, chì và cadimi Thực tế hiện nay cho thấy việc phân tích các kim loại nặng trong nước thải để phục vụ công tác thu phí là không hiệu quả do nhiều địa phương chưa có khả năng phân tích kim loại nặng trong nước thải và rất nhiều trường hợp số phí thu được đối với các

kim loại nặng nhỏ hơn chi phí lấy mẫu, phân tích Thứ ba liên quan đến mức thu đối với chất

ô nhiễm Theo quy định hiện hành, mức thu đối với COD là 100 ÷ 300 đ/kg; TSS là 200 ÷

400 đ/kg Mức thu này là quá thấp so chi phí xử lý nước thải và thấp hơn nhiều so với các nước trên thế giới Mặt khác, do trượt giá từ năm 2003 đến nay mức thu đối với chất ô nhiễm

là quá thấp so với thực tế dẫn đến không tạo động lực xử lý nước thải đối với các cơ sở và

không tạo được nguồn thu cho công tác BVMT Thứ tư liên quan đến bất cập giữa Nghị định

67 và Nghị định số 88/2007/NĐ-CP (Nghị định 88) của Chính phủ quy định về thoát nước

đô thị và khu công nghiệp khi phí thoát nước trong Nghị định 88 được định nghĩa là phí BVMT đối với nước thải Theo quy định về phí thoát nước, các hộ thoát nước đã nộp phí

427 Lê Xuân Định và các cộng sự, (2015), Quản lý tổng hợp tài nguyên nước, tình hình quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam, Cục tài nguyên công nghệ, tổng luận số 7/2015, tr36

428 Nguyễn Hoàng Ánh và cộng sự, (2014), Kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam cơ hội và thách thức,Tạp chí môi trường chuyên đề 1 /2014, tr.4

429 Nguyễn Ngọc Lý, (2018), Ô nhiễm nước và sự cần thiết phải xây dựng Luật Kiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=%C3%94-nhi%E1%BB%85m-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-

v%C3%A0-s%E1%BB%B1-c%E1%BA%A7n-thi%E1%BA%BFt-ph%E1%BA%A3i-x%C3%A2y- d%E1%BB%B1ng-Lu%E1%BA%ADt-Ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-%C3%B4-nhi%E1%BB%85m-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-48227

Trang 6

thoát nước theo Nghị định 88 thì không phải nộp phí BVMT đối với nước thải theo Nghị định 67 Trong khi đó, bản chất của hai loại phí này là hoàn toàn khác nhau Phí thoát nước

là số tiền phải trả cho dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải còn phí BVMT đối với nước thải

là số tiền phải trả cho việc thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường.” 430

Các quy định liên quan đến chế tài xử phạt hành chính với hành vi sả thải công nghiệp được cho là chưa đủ sức răn đe Các quy định liên quan đến vận hành thử nghiệm hệ thống

xử lý nước thải công nghiệp còn hạn chế khiến cho rất nhiều doanh nghiệp đã núp dưới danh nghĩa vận hành thử nghiệm để xả thải trái phép hoặc vô tình làm ô nghiễm nghiêm trọng nguồn nước Theo quy đinh tại điều 16 Nghị định 18/2015 thì doanh nghiệp muốn vận hành thử nghiệm hệ thống xử lý NTCN phải thực báo cáo đánh giá tác động môi trường, phải có kế hoạch vận hành thử nghiệm và thời gian thử nghiệm không quá 6 tháng Quy định về vận hành thử nghiệm tạo ra 4 kẽ hở pháp lý là thời gian gia hạn vận hành thử nghiệm; cơ chế giám sát, kiểm tra quá trình vận hành thử nghiệm; biện pháp khắc phục trong tình thế cấp thiết và trách nhiệm doanh nghiệp khi gây hậu quả nghiêm trọng; phí BVMT cho hoạt động vận hành thử nghiệm431

Quy định tại Điều 39 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về chuyển hệ thống thông tin xả thải nước cho sở tài nguyên môi trường được cho là thiếu hợp lý gây khó khăn cho các cơ

sở nuôi trồng thủy sản Ví dụ Khoản 3 điều 39 nghị định này quy định “Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm ngoài khu công nghiệp có quy mô xả nước thải từ 1.000 m3/ngày đêm trở lên (không bao gồm nước làm mát), phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục và truyền số liệu trực tiếp cho Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương” Quy định này chưa tính đến yếu tố đặc thù của hoạt động nuôi trồng thủy sản với tính chất hoạt động có lượng nước luân chuyển và lưu thông lớn, do vậy hầu hết các cơ sở nuôi trồng thủy sản đều phải thực hiện yêu cầu này

Hay Nghị định 38/2015/NĐ-CP chưa có những quy định kỹ thuật về ngưỡng giới hạn điều kiện tiếp nhận nước thải từ các cơ sở thứ cấp trong khu công nghiệp để xử lý tại hệ thống xử lý nước thải tập trung của chủ đầu tư cơ sở hạ tầng, do vậy, trong những năm qua

đã xảy ra những tranh chấp giữa doanh nghiệp thứ cấp và chủ đầu tư cơ sở hạ tầng 432

3 Những vấn đề liên quan đến việc triển khai quy định pháp luật bảo vệ môi trường nước của các cơ quan chức năng

Để triển khai hiệu quả hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước trên thực tế, những năm qua các cơ quan chức năng đã triển khai nhiều chương trình và thực thi nhiều hoạt động trên lĩnh vực quản lý nhà nước đối với môi trường nước như: Bộ Tài nguyên Môi trường đã

tổ chức thống kê, cập nhật dữ liệu nguồn thải nước thải, xây dựng kế hoạch quản lý, xử lý nguồn thải nước thải trên lưu vực sông, công khai thông tin về nguồn thải trên cổng thông tin môi trường lưu vực sông; triển khai Đề án đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của lưu vực sông phục vụ quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông Triển khai Quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu công nghiệp trên lưu vực sông và Quy hoạch quản lý chất thải rắn trên lưu vực sông…433

430 Nguyễn Ngọc Anh Đào, (2013), Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ luật học Viện Hàn Lân khoa học xã hội Việt Nam, tr.91-92

431 Lục Thị Thu, (2017), Pháp luật về nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sỹ luật học viện Hàn lân Khoa học xã hội Việt Nam, tr 68

432 Bộ tài nguyên môi trường, (2017), Tờ trình Về Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường,

Trang 7

Bên cạnh đó bộ đã tập trung quyết liệt vào công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Buộc tất cả các khu, cụm công nghiệp xây dựng mới phải hoàn thành hệ thống xử lý nước thải trước khi đi vào hoạt động…Các địa phương trên toàn quốc thường xuyên thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện, chấp hành pháp luật về tài nguyên nước; hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước Một số địa phương đã triển khai thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra như: Thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Yên Bái, Khánh Hòa, Kon Tum, Bình Dương, Tiền Giang và Cà Mau.434

Một số tỉnh đã có biện pháp để lập quy hoạch tài nguyên nước, nhiều địa phương triển khai quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước hay triển khai các quy định về bảo vệ tài nguyên nước dưới đất, lập vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, quan trắc mực nước, chất lượng nước dưới đất; quy định về phân vùng xả nước thải Nhiều địa phương xây dựng trạm quan trắc tự động chất lượng nguồn nước, xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa bảo đảm dòng chảy tối thiểu trên sông Đề án về “Bảo vệ tài nguyên nước dưới đất ở các đô thị lớn” của Chính phủ đang được triển khai.435

Bên cạnh những cố gắng và nỗ lực để triển khai quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước thì việc triển khai chính sách pháp luật trên lĩnh vực này cũng tôn tại những hạn chế, yếu kém nhất địnhnhư:

Nhiều chương trình, chính sách thực hiện chưa hiệu quả trong thực tế Ví dụ việc đầu

tư hệ thống các trung tâm quan trắc nước ở các địa phương Việc triển khai xây dựng, vận hành các trung tâm quan trắc nước đã được tiến hành nhiều năm qua nhưng hệ thống này đang được đánh giá vạn hành không hiệu quả trong thực tế Số liệu quan trắc vừa không đảm bảo tính chính xác vừa không đầy đủ Việc vận hành các trung tâm này gây lãng phí nguồn nhân lực và vật lực do hệ thống này do nhiều cấp, nhiều cơ quan quản lý dẫn đến thiếu tính đồng bộ, tính liên kết Mặ khác các số liệu quan trắc hiện nay chủ yếu phục vụ cho các cơ quan quản lý các cấp trong công tác báo cáo định kỳ, không được công khai cho nhân dân biết (đặc biệt là cộng đồng dân cư nơi bị ô nhiễm).436 Điều này vừa không đảm bảo quyền tiếp cận với thông tin về môi trường của người dân vừa không phát huy được vai trò của người dân trong bảo vệ môi trường thông qua hoạt động giám sát thực trạng ô nhiễm, và giám sát việc thực thi pháp luật của cơ quan quản lý các cấp

Việc thành lập Uỷ ban bảo vệ môi trường lưu vực sông được coi là biện pháp tăng cường hoạt động quản lý nhà nước đối với nguồn nước ở lưu vực các con sông, tuy nhiện các

Ủy ban này được cho là hoạt động không có hiệu quả do cán bộ quản lý tổng hợp tài nguyên nước còn quá ít (nhất là Bộ TN&MT), kinh nghiệm quản lý chưa nhiều, cơ sở, phương tiện quản lý còn yếu và thiếu trong khi đó sự phối hợp giữa các Bộ, Ngành liên quan tới quản lý tài nguyên nước từ Trung ương đến địa phương còn yếu Vai trò của Phụ nữ trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước chưa được quan tâm đúng mức.437

434 Cả nước cấp được 2.815 giấy phép tài nguyên nước, truy cập từ trang

http://www.monre.gov.vn/wps/portal/tintuc/!ut/p/c5/dY_dboJAFISfhSc4h4UCXm5B-emyBVkQuTEUW4JBIECx8PTFxPSiiTN3k8x8GchgdZNPVZmPVdvkNaSQaSfTpo6qM0R0tzK64W6vODYj aBM4QIrqKboYnT

435 Bảo vệ tài nguyên nước, khắc phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, truy cập từ trang

http://www.monre.gov.vn/wps/portal/tintuc/!ut/p/c5/dY_daoNQEISfxSfYVVNjLk80UU-Pp_7XeCNWWzEYFbVaffoaCL0oZOZiYWD2YyCBzU02VWU2Vm2T1RBDoqSaQczdniGidRLRcs-

436 Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và cộng đồng (2015), Báo cáo tóm tắt hội thảo chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước, Nxb Lao động

437 Lê Xuân Định và các cộng sự, (2015), Quản lý tổng hợp tài nguyên nước, tình hình quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam, Cục tài nguyên công nghệ, tổng luận số 7/2015, tr.37

Trang 8

Việc thực thi các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền khiếu nại, tố cáo, bồi thường thiệt hại liên quan tới môi trường chưa đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tế Theo nghiên cứu hiện chỉ có 30% khiếu kiện về ô nhiễm môi trường được giải quyết, 48% chưa giải quyết xong và 22% không được giải quyết và không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ các cơ quan quản lý nhà nước.438

Việc chậm chễ trong xử lý các cơ sở, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước còn diễn ra ở nhiều địa phương Ở các địa phương, chính quyền và cơ quan chức năng khi phát hiện những hành vi vi phạm lại xử lý quá chậm, thậm chí có những nơi còn có dấu hiệu bao che, tiếp tay cho doanh nghiệp Trường hợp ở tỉnh Bắc Giang là một ví dụ Năm 2016 sau khi thanh tra, các cơ quan chức năng của tỉnh Bắc Giang phát hiện hàng loạt doanh nghiệp xả nước thải công nghiệp chưa qua xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng Thế nhưng kết quả này lại trái ngược hoàn toàn với kết luận mà Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường (Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Bắc Giang) đã thông báo trước đó.439

Việc xử lý những vi phạm về xả thải ngây ô nhiễm môi trường ở nhiều địa phương còn chưa đủ sức răn đe khiến các doanh nghiệp thường xuyên không chấp hành các quy định về

xử lý nước thải Ví dụ “Đầu tháng 5-2016, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tân Hiếu Hưng tại xã Tân Mỹ (Lạc Sơn, Hòa Bình) xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Bưởi khiến 17 tấn cá lồng của người dân huyện Thạch Thành (tỉnh Thanh Hóa) chết hàng loạt Ngày 17-5-2016, Tổng cục Môi trường có Quyết định số 174/QĐ-XPVPHC xử phạt công ty này với tổng số tiền hơn 1, 9 tỷ đồng Ngoài ra, công ty còn bị đình chỉ hoạt động sản xuất trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 20-5-2016 Thế nhưng đầu năm 2017, khi chưa hoàn thành hệ thống xử lý nước thải, Công ty TNHH MTV Tân Hiếu Hưng đã vận hành sản xuất trở lại, gây bức xúc cho người dân.”440

Kết luận

Bảo vệ môi trường nước là việc làm vô cùng có ý nghĩa nhằm đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành theo tinh thần của các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết, được ghi nhậntrong Hiến pháp năm 2013 Những năm qua các Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm xây dựng hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước cũng như triển khai, thực thi các quy định này trong thực tế Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường nước vẫn đang diễn ra với quy mô và mức độ ngày càng nghiên trọng, điều này một phần do hệ thống quy phạm pháp luật còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập; việc thực thi pháp luật và chính sách bảo vệ nguồn nước chưa đạt được kết quả như mong muốn Do đó những tới chúng ta cần tiếp tục xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đảm bảo quyền tiếp cận với nước sạch, quyền được sống trong môi trường trong lành được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 Đồng thời đẩy mạnh các biện pháp để triển khai hiệu quả quy định này trong thực tế

438 Thúc Đẩy Công Lý Môi Trường Tại Việt Nam: Thách Thức Và Khả Năng http://hrs.org.vn/chu-de/cong-ly-moi-truong/

439 Vi phạm xả thải nước thải công nghiệp: Nhiều doanh nghiệp còn "nhờn" luật, truy cập từ trang

Trang 9

https://baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong/vi-pham-xa-thai-nuoc-thai-cong-nghiep-nhieu-doanh-nghiep-con-Tài liệu tham khảo

1 Lê Minh Ánh, (2014), Luật bảo vệ môi trường sửa đổi với nội dung phòng ngừa và

kiểm soát ô nhiễm nước, Tạp chí môi trường chuyên đề 1 /2014

2 Nguyễn Hoàng Ánh và cộng sự, (2014), Kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Việt

Nam cơ hội và thách thức, Tạp chí môi trường chuyên đề 1 /2014

3 Bảo vệ tài nguyên nước, khắc phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, truy cập từ trang

http://www.monre.gov.vn/wps/portal/tintuc/!ut/p/c5/dY_daoNQEISfxSfYVVNjLk80UU-Pp_7XeCNWWzEYFbVaffoaCL0oZOZiYWD2YyCBzU02VWU2Vm2T1RBDoqSaQ czdniGidRLRcs-

4 Bộ tài nguyên môi trường, (2017), Tờ trình Về Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung các

Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường,

5 Cả nước cấp được 2.815 giấy phép tài nguyên nước, truy cập từ trang

http://www.monre.gov.vn/wps/portal/tintuc/!ut/p/c5/dY_dboJAFISfhSc4h4UCXm5B-emyBVkQuTEUW4JBIECx8PTFxPSiiTN3k8x8GchgdZNPVZmPVdvkNaSQaSfTpo6

qM0R0tzK64W6vODYjaBM4QIrqKboYnT

6 Lê Xuân Định và các cộng sự, (2015), Quản lý tổng hợp tài nguyên nước, tình hình

quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam, Cục tài nguyên công nghệ, tổng luận số 7/2015

7 Nguyễn Ngọc Anh Đào, (2013), Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ

môi trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ luật học Viện Hàn Lân khoa học xã

hội Việt Nam

8 Nguyễn Trần Điện, (2016), Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các

tỉnh đồng bằng sông Hồng Việt Nam, luận án tiến sỹ luật – Học viện chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh

9 Đề xuất xây dựng Luật Kiểm soát ô nhiễm nước vào chương trình xây dựng Luật của Quốc hội khóa XIV

https://baotainguyenmoitruong.vn/tai-nguyen/de-xuat-xay-dung-luat-kiem-soat-o-nhiem-nuoc-vao-chuong-trinh-xay-dung-luat-cua-quoc-hoi-khoa-xiv-1249898.html

10 Nhiều giải pháp giải quyết ô nhiễm môi trường nước, truy cập từ trang

http://www.monre.gov.vn/wps/portal/tintuc/!ut/p/c5/dZDdboJAFISfxQdo9oCKeglU2V1-dGFV3BujtCXYBbYqKPv0xaRpE5POybmZi8k3gwTqrzq0RX64FnV1kChFwtq7no1 HkwAAyNwAwhbxEHuBCZ6JtiiF0T45TVXYXdNAuy0_6cS8vLLbtf9IL-

11 Bùi Đức Hiền(2011) Về quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện

nay, Tạp chí Luật học số 11/2011, tr.23

12 Nguyễn Ngọc Lý, (2018), Ô nhiễm nước và sự cần thiết phải xây dựng Luật Kiểm soát

ô nhiễm nước tại Việt Nam

13 Quyền con người được sống trong môi trường trong

lànhhttp://lenhatbao.blogspot.com/2013/06/thuc-thi-cac-quy-inh-am-bao-quyen-con.html

14 Lục Thị Thu, (2017), Pháp luật về nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, luận án

tiến sỹ luật học viện Hàn lân Khoa học xã hội Việt Nam, tr 68

Trang 10

15 Trần Ngọc Toàn (2011), Pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển và việc thực

thi công ước marpol 73/78 tại Việt Nam, luận văn thạc sỹ khoa luật đại học quốc gia

Hà nội,

16 Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và cộng đồng (2015), Báo cáo tóm tắt hội thảo

chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước, Nxb Lao động

17 Thúc Đẩy Công Lý Môi Trường Tại Việt Nam: Thách Thức Và Khả Năng http://hrs.org.vn/chu-de/cong-ly-moi-truong/

18 Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và cộng đồng (2015), Báo cáo tóm tắt hội thảo

chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước, Nxb Lao động

19 Tiếp cận nguồn nước là quyền cơ bản của con người

http://dwrm.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Hop-tac-quoc-te/Tiep-can-nguon-nuoc-la-quyen-co-ban-cua-con-nguoi-4132

20 Sử dụng nước sạch là quyền cơ bản của con người, truy cập từ trang

https://baomoi.com/su-dung-nuoc-sach-la-quyen-co-ban-cua-con-nguoi/c/6717306.epi

21 Vi phạm xả thải nước thải công nghiệp: Nhiều doanh nghiệp còn "nhờn" luật https://baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong/vi-pham-xa-thai-nuoc-thai-cong-nghiep-nhieu-doanh-nghiep-con-quot-nhon-quot-luat-1183165.html

Ngày đăng: 04/02/2021, 14:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w