1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 11

Thi hành các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013

10 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 402,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định chính sách nhất quán tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người;[r]

Trang 1

THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG,

TÔN GIÁO TRONG HIẾN PHÁP 2013

ThS.NCS Nguyễn Thị Diệu Thúy

Ban Tôn giáo Chính phủ

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, nhằm đáp ứng, phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 2013 có hiệu lực từ 01/01/2014 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng

và Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, trong đó

có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Để Hiến pháp thực sự phát huy vai trò, tác dụng thì việc tôn trọng, nghiêm chỉnh thi hành và bảo vệ Hiến pháp là trách nhiệm và nghĩa vụ thường

xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, như Lời nói đầu của Hiến pháp 2013: "

Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả xin được giới thiệu khái quát những nội dung mới về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013 và những thành tựu

và thách thức của Việt Nam trong việc thi hành các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013, thông qua hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp luật về

tín ngưỡng, tôn giáo cũng như bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của

người dân trên thực tế

1 NHỮNG NỘI DUNG MỚI VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG HIẾN PHÁP 2013

Ở nước ta, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân luôn được ghi nhận và được thể hiện trong các hiến pháp qua các thời kỳ, từ Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng trong các Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013

- Hiến pháp 1946 quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự

do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài"

(Điều 10) Quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 46 còn mang tính

khái quát, chưa cụ thể và chưa có các biện pháp bảo đảm thực hiện, song sự hiện diện của các quyền công dân trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vẫn được xem là cốt lõi

của bản Hiến pháp dân chủ, khẳng định sự thành công của lịch sử lập hiến Việt Nam

- Hiến pháp 1959 đã kế thừa tư tưởng về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hiến pháp năm 1946 và đã dành một điều khoản riêng quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, khẳng định quan điểm, chính sách cởi mở của Nhà nước về vấn đề này Điều 26 Hiến

pháp năm 1959 quy định: "Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền tự do tín

ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào"

- Hiến pháp 1980 là bước phát triển trên cơ sở kế thừa, tiếp thu các quy định của hai

Hiến pháp trước Điều 68 tiếp tục khẳng định: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo

hoặc không theo một tôn giáo nào” đồng thời xác định các biện pháp bảo đảm thực hiện

quyền này: “Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà

nước” Quy định này không chỉ khẳng định quan điểm nhất quán trong chính sách của Nhà

nước về việc thừa nhận và bảo đảm quyền tự do cá nhân thiết yếu quan trọng của công dân

mà còn khẳng định thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những hành vi lợi dụng quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách mạng

Trang 2

- Hiến pháp 1992 ra đời trong công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước ta Trên tinh thần phát huy dân chủ, mở rộng các quyền tự do dân chủ của công dân, Hiến pháp năm 1992 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo rõ ràng và toàn diện hơn tại Điều 70:

“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các

tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín

ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”

- Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người Đây cũng là cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện tự

do tín ngưỡng, tôn giáo của mình Điều 24 (Chương II) của Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “1

Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật 2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”

Hiến pháp 2013 đã có sửa đổi quan trọng về chủ thể của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là của “công dân” Việt Nam mà là quyền của tất cả “mọi người” và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi, Việc ghi nhận khái niệm “mọi người” có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn khẳng định sự đoàn kết, gắn bó của toàn thể nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, trong quá trình xây dựng, bảo

vệ Tổ quốc

Hiến pháp 2013 nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước trong việc ghi nhận, tôn trọng, thực hiện và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bổ sung các thiết chế độc lập nhằm tăng cường cơ chế thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Lần đầu tiên vấn đề giới hạn của các quyền được quy định thành nguyên tắc trong Hiến pháp Hiến pháp năm 2013, theo tinh thần của các công ước quốc tế đã quy định thành

nguyên tắc ở Điều 14: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy

định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Quyền con người, quyền công dân là

những quyền mà con người, công dân có toàn quyền định đoạt Chúng chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong những trường hợp đặc biệt, chứ không phải chung chung như

“theo quy định của pháp luật” trước đây Theo đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người, nên việc quy định hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được quy định

cụ thể và bằng luật

Đồng thời, Hiến pháp 2013 cũng đã phân định thẩm quyền của Quốc hội, thẩm quyền của Chính phủ trong quyết định các chính sách tôn giáo, quản lý nhà nước về tôn giáo Đây

là các vấn đề đặt ra cần phải ban hành luật để cụ thể hoá đầy đủ nội dung, quy định và tinh thần của Hiến pháp 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Việc ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định chính sách nhất quán tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; tạo môi trường pháp lý quan trọng cho các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo; đảm bảo sự tương thích với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc gia nhập; đồng thời là bước tiến quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ ổn định, bền vững giữa Nhà nước và các tổ chức tôn giáo

Trang 3

2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG HIẾN PHÁP 2013

2.1 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo - Bước cụ thể hóa Hiến pháp 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời là một trong những Luật đầu tiên được ban hành cụ thể hóa quyền con người trong Hiến pháp 2013 - đó là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm mới tiến bộ, thể hiện tính công khai, minh bạch, nhà nước pháp quyền, vừa phù hợp tinh thần Hiến pháp

2013, vừa bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời đã tạo cơ sở pháp lý để mọi người thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình và góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước

Để cụ thể hóa quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã bổ sung các quy định cụ thể về nội hàm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các cách thức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách của Nhà nước thể hiện sự tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Các quy định cụ thể của Luật cơ bản tạo lập cơ chế để ghi nhận và bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch sinh sống và làm việc trong lãnh thổ Việt Nam, góp phần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp 2013

Luật đã mở rộng phạm vi chủ thể của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ “công dân”

thành “mọi người”, thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người theo tinh thần Hiến pháp 2013 Đặc biệt, Luật đã dành một chương (Chương II) để quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, để phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện một cách cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người Cụ thể:

- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người:

Tại Điều 6 của Luật đã quy định nhiều chủ thể được thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đó là “mọi người”; “mỗi người”; người chưa thành niên; chức sắc, chức việc, nhà tu hành; người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện

pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và

người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

+ Đối với mỗi người, Luật quy định có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo

+ Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

+ Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác

+ Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và các tổ chức, cá nhân khác có quyền lợi

và nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính, khởi kiện vụ án dân

Trang 4

sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật có liên quan; cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật

về tín ngưỡng, tôn giáo

+ Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

quy định “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm

giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo” 483 Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng,

tôn giáo được Nhà nước bảo đảm thực hiện và bảo vệ ngay cả đối với người phạm tội đang phải chấp hành hình phạt theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án Đây là sự thể hiện đầy đủ nhất về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trước hết là quyền con người, là sự tự nhiên, vốn có và phải được đảm bảo ngay cả khi con người bị tước quyền công dân

- Quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc:

Luật quy định mang tính nguyên tắc về các quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc Các quyền này bao gồm hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn

bản có nội dung tương tự của tổ chức tôn giáo, cụ thể các quyền này trong Luật bao gồm:

+ Thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc;

+ Đăng ký pháp nhân phi thương mại cho tổ chức tôn giáo trực thuộc;

+ Thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo;

+ Phong phẩm hoặc suy cử chức sắc;

+ Bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc;

+ Thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành;

+ Cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc;

+ Tổ chức hội nghị thường niên, hội nghị liên tôn, hội nghị có yếu tố nước ngoài; + Tổ chức đại hội;

+ Tổ chức cuộc lễ;

+ Phong phẩm hoặc suy cử cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; + Thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế;

+ Gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài;

+ Xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tín ngưỡng, tôn giáo, đồ dùng tôn giáo;

+ Tham gia các hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan;

+ Tổ chức sinh hoạt tôn giáo;

+ Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo;

+ Nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặng cho;

+ Các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan

483 Khoản 5, Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 5

Như vậy, các điều kiện thiết yếu để duy trì, phát triển các hoạt động tôn giáo của các

tổ chức tôn giáo đã được đảm bảo về mặt pháp lý một cách toàn diện và đầy đủ

- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã dành một điều tại Chương 2 quy định về quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, khẳng định “Người

nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” 484 Về nguyên tắc, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại

Việt Nam được tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và có những quyền về tín ngưỡng, tôn giáo như công dân Việt Nam Cụ thể “người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền: sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo;

sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam”485; Đối với “chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam”486

- Các hành vi bị nghiêm cấm được quy định trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Luật cũng đã bước đầu cụ thể hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 trong các quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tôn giáo dành cho cả tổ chức tôn giáo, cá nhân, cơ quan nhà nước Việc đưa ra các hành vi bị nghiêm cấm để phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 5 gồm: (1) Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo (2) Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo (3) Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo (4) Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo: xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa

vụ công dân; chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác

nhau (5) Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi

Tùy từng trường hợp, khi vi phạm các điều cấm này, tổ chức, cá nhân sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

- Nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định rất nhiều quyền cơ bản cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo Bên cạnh đó, Luật cũng xác định cụ thể nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện các hoạt động liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo, cụ thể:

- Điều 9 của Luật tín ngưỡng, tôn giáo quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đó là tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động

tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, Luật tín ngưỡng, tôn giáo và các

484 Khoản 1 Điều 8, Luật tín ngưỡng, tôn giáo

485 Khoản 2 Điều 8, Luật tín ngưỡng, tôn giáo

486 Khoản 3 Điều 8, Luật tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 6

quy định khác của pháp luật có liên quan; chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đúng quy định của pháp luật

- Luật cũng xác định trách nhiệm quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo của Chính phủ; Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước Nhiệm vụ của thanh tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện bao gồm: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Ủy ban nhân dân các cấp; thanh tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Đặc biệt, khi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo khi thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm như lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; vi phạm quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo

Như vậy, với những quy định đầy đủ, tiến bộ của Luật tín ngưỡng, tôn giáo về quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, chắc chắn rằng những hoạt động tín ngưỡng sẽ được bảo tồn và phát huy, các hoạt động tôn giáo sẽ được duy trì, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, tiếp tục góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

2.2 Những thành tựu bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo trên thực

tế ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo Theo số liệu thống kê, Việt Nam hiện

có 15 tôn giáo với 41 tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, hơn 25, 3 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước, 55.860 chức sắc, nhà tu hành, gần 134 nghìn chức việc và trên 28 nghìn cơ sở thờ tự; gần 70% dân số có tín ngưỡng với trên 45 nghìn cơ sở tín ngưỡng Ba tôn giáo có đông tín đồ nhất hiện nay là Phật giáo khoảng trên 14 triệu tín đồ, Công giáo khoảng 7 triệu tín đồ, Cao đài khoảng 2, 5 triệu tín đồ Bên cạnh đó, Việt Nam còn có các tôn giáo khác như: Tin lành, Hồi giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bà La Môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh Sư đạo, Minh Lý đạo, …

Thành tựu Việt Nam bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho thấy Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo đảm thực hiện trên thực tế, cụ thể:

- Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách chăm lo đến đời sống của đồng bào theo tôn giáo Các bộ, ngành, đoàn thể và các địa phương đã cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng nhiều chương trình hành động và kế hoạch thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, tập trung giải quyết vấn đề an sinh xã hội, phát triển văn hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của

Trang 7

đồng bào có đạo như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư triển khai thực hiện chương trình "Nâng cao

hiệu quả đầu tư của dự án chương trình mục tiêu quốc gia đối với vùng đông tín đồ tôn giáo, vùng dân tộc, miền núi có tôn giáo"; Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai đề án "Chương trình giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân trong các trường, lớp đào tạo chức sắc tôn giáo và hoạt động của các tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia xã hội hoá giáo dục"; Bộ Ngoại giao và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam triển

khai Quy chế quản lý đối với các tổ chức phi chính phủ tôn giáo và liên quan đến tôn giáo

trong lĩnh vực viện trợ; Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xây dựng mô hình làng, xã văn

hóa "Sống tốt đời, đẹp đạo" trong các vùng đông tín đồ tôn giáo; xây dựng Đề án giữ gìn,

phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân, bài trừ mê tín dị đoan; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng Quy định quản

lý đối với các cơ sở từ thiện nhân đạo do các tôn giáo quản lý; quy chế quản lý việc các tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động từ thiện nhân đạo, …

- Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo như việc bày

tỏ đức tin của tín đồ, lễ nghi, lễ hội tôn giáo được diễn ra bình thường, đặc biệt những ngày

lễ trọng của các tôn giáo như lễ Phật Đản của Phật giáo; lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành; Lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao đài và Phật giáo Hoà Hảo; tháng chay Ramadan của người Hồi giáo, … được tổ chức trọng thể theo đúng nghi thức tôn giáo, với quy mô ngày một lớn, thu hút nhiều tín đồ tham dự với một tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

- Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có quyền và được Nhà nước tạo điều kiện mở cơ

sở đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo Hàng năm, số chức sắc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tâm linh của nhân dân Hiện nay, Việt Nam có 60 cơ sở đào tạo tôn giáo,

trong đó: Phật giáo có 45 cơ sở; Công giáo có 10 cơ sở; Tin lành có 03 cơ sở; Cao đài có 01

cơ sở Một số cơ sở đào tạo của Phật giáo, Công giáo và Tin lành được phép đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ

- Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo cũng có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội,

có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp như mọi công dân khác theo quy định của pháp luật Quốc hội khóa XIV có 06 đại biểu là chức sắc, nhà tu hành tôn giáo

(04 đại biểu Phật giáo, 01 đại biểu Công giáo, 01 đại biểu Cao đài) và theo số liệu thống kê

của các tỉnh, thành phố, hiện có trên 10 nghìn chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo là đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021

- Việc xây dựng, sửa chữa, cải tạo cơ sở tôn giáo được các tổ chức tôn giáo quan tâm

và được chính quyền các cấp hướng dẫn, tạo điều giải quyết nhanh các thủ tục cấp giấy phép Việc sửa chữa, cải tạo và xây dựng mới cơ sở tôn giáo đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu

sinh hoạt tôn giáo trong đời sống tôn giáo của tín đồ Theo thống kê, đến nay đã có khoảng

20.000 cơ sở thờ tự được sửa chữa, xây dựng mới Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm ha đất để xây dựng cơ sở thờ tự, trong đó một số trường hợp đáng kể như: giao đất cho Toà Tổng Giám mục TGP thành phố Hồ Chí Minh xây dựng Trung tâm mục vụ; giao 7.500m2 đất cho Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện Thánh kinh Thần học; giao 20 ha xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 10 ha xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội; giao hơn 11.000m2 đất cho Toà Giám mục Buôn Ma Thuột, hơn 9.000m2 đất cho Toà Giám mục Đà Nẵng, 15 ha đất cho Giáo xứ La Vang, Quảng Trị để mở rộng cơ sở tôn giáo,

- Các tổ chức tôn giáo được tạo điều kiện in ấn, phát hành kinh sách và đồ dùng việc đạo, bảo đảm phục vụ yêu cầu hoạt động của các tôn giáo Hầu hết các tổ chức tôn giáo đã có báo, tạp chí, bản tin Tính từ năm 2013 đến nay, đã có hơn 3.000 ấn phẩm tôn giáo được xuất

Trang 8

bản, trong đó có khoảng hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa MP3, VCD, CD, DVD, bằng nhiều ngôn ngữ; 12 tờ báo, tạp chí, phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có Website riêng

- Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảm đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu số, như: Cộng đồng dân tộc Chăm theo Hồi giáo và đạo Bà la môn được thành lập các Ban đại diện cộng đồng để hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo; Giáo hội Phật giáo Việt Nam được xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer để đáp ứng nhu cầu đào tạo của tu sỹ Phật giáo Nam tông Khmer; xuất bản ấn phẩm tôn giáo bằng 13 tiếng dân tộc; chính quyền địa phương ở khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc tạo điều kiện cho nhóm người theo đạo Tin lành sinh hoạt tôn giáo tập trung tại địa điểm hợp pháp

- Hoạt động quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo ngày càng được Nhà nước tôn trọng, bảo đảm và tạo điều kiện thực hiện Hàng năm, có hàng trăm lượt chức sắc, nhà tu hành tôn giáo Việt Nam xuất cảnh tham dự các hoạt động tôn giáo, khóa đào tạo về tôn giáo

ở nước ngoài và hàng trăm lượt cá nhân tôn giáo nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam hoạt động tôn giáo Ngoài hoạt động quốc tế mang tính tổ chức hoặc giao lưu với các tổ chức tôn giáo quốc tế, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam còn tham gia tích cực các hội nghị, diễn đàn tôn giáo khu vực và quốc tế như: Đối thoại liên tín ngưỡng Á - Âu (ASEM), đối thoại liên tín ngưỡng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được

tổ chức trọng thể, thành công ở Việt Nam và được dư luận quốc tế đánh giá cao như: Đại lễ

VESAK năm 2014; 500 năm Cải chánh Tin lành (2017),

2.3 Những hạn chế và thách thức của Việt Nam trong việc bảo đảm thực thi quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Bên cạnh bức tranh khả quan nêu trên, tình hình bảo đảm thực thi quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định:

- Nhận thức của cán bộ, công chức thực tế cho thấy, hiểu biết về quyền con người, quyền công dân nói chung trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn hạn chế, dẫn đến

có những hành động cố ý hoặc vô ý vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, đặc biệt là ở một số cơ quan công quyền

- Một bộ phận không nhỏ chức sắc, tín đồ các tôn giáo còn chưa hiểu đúng, đầy đủ những quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; chưa nhận thức rõ được quyền và nghĩa vụ của một tín đồ tôn giáo cũng như của một công dân, dễ bị kích động, lôi kéo

- Việc kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn chưa kịp thời, kiên quyết

- Cơ chế bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chưa hiệu quả: Hiện

nay, Việt Nam vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách - cơ quan nhân quyền quốc gia

(National Human Right Institutions) - là cơ quan có chức năng tư vấn, hỗ trợ Nhà nước trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người; mới chỉ một số cơ quan nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm, bảo vệ quyền của một số nhóm người trong xã hội, ví dụ như: Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ có nhiệm vụ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; Nhưng cơ quan này được thành lập với tư cách là cơ quan nhà nước (trong khi đó, tính độc lập với các cơ quan nhà nước là yếu tố không thể thiếu của cơ quan nhân quyền quốc gia)

Sở dĩ còn tình trạng trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó đáng lưu ý đó là nhận thức về vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và làm công tác thực tiễn từ Trung ương xuống địa phương còn nhiều hạn chế Một số nơi cấp uỷ đảng, chính quyền và một số cán bộ làm công tác tôn giáo chưa làm tốt việc hướng dẫn, vận động chức sắc, tín đồ tôn giáo, chưa nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thiếu linh hoạt trước vấn

Trang 9

đề có tính nhạy cảm về chính trị nên giải quyết các vụ việc liên quan đến tôn giáo kém hiệu quả Việc triển khai các chủ trương, chính sách và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo còn chậm và thiếu đồng bộ, tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động, xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, gây mất

ổn định chính trị xã hội, …

3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH

VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG HIẾN PHÁP 2013

Để việc triển khai thi hành các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013 được thống nhất, hiệu quả, cần tiến hành đồng thời một số biện pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức của nhà nước, người dân và cộng đồng thông qua giáo dục nhân quyền

Chỉ khi nào đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân hiểu sâu sắc các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013 thì đây sẽ là cơ

sở bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định trong Hiến pháp được thực thi nghiêm túc và hiệu quả Vì vậy, việc nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Hai là, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy

phạm pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp 2013

Ưu tiên sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo như: đất đai, văn hóa, giáo dục, y tế, … để cụ thể hóa những quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên

Ba là, tuyên truyền sâu rộng các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013; phối hợp lồng ghép với tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo - một lĩnh vực nhạy cảm và hết sức phức tạp thì công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho tín đồ, chức sắc tôn giáo có ý nghĩa quan trọng Thực tế hiện nay cho thấy, nhận thức về pháp luật nói chung, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng trong đồng bào có đạo cũng rất hạn chế Thiếu hiểu biết pháp luật vẫn là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những vi phạm pháp luật trong đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo Đặc biệt, do thiếu hiểu biết pháp luật nên một số tín đồ các tôn giáo vẫn bị kẻ xấu lợi dụng để xuyên tạc chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị

Vì vậy, việc tuyên truyền, phổ biến các nội dung mới của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần tiến hành lồng ghép với tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo và tín đồ, chức sắc tôn giáo Đây là các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp 2013, có nội dung quan trọng, liên quan trực tiếp tới thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người

Trang 10

Bốn là, sắp xếp hợp lý, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo để bảo đảm thực thi vấn đề quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo đã được Hiến pháp và pháp luật quy định; nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo; trong đó chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ công tác quản lý nhà nước về tôn giáo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, nâng cao năng lực quản lý, thực thi pháp luật và có chế độ, chính sách khuyến khích thu hút cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo

Năm là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

Các quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

có được bảo đảm, bảo vệ trên thực tế hay không phụ thuộc rất nhiều vào cải cách thủ tục hành chính Thời gian qua, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện giữa các tổ chức, cá nhân tôn giáo với cơ quan quản lý nhà nước có nhiều thuận lợi, đảm bảo đúng quy trình và thời gian quy định Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực này cũng đã bộc lộ một vài khó khăn, hạn chế, như việc giải quyết thủ tục hành chính phải mất nhiều thời gian, trong khi quy định về thời gian giải quyết thủ tục có trường hợp quy định rất ngắn không ít trường hợp khi công dân đến cơ quan hành chính yêu cầu, đề nghị, hay để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình phải qua nhiều cửa, nhiều cấp, … Vì vậy, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được thực hiện ngày một tốt hơn trên thực tế là một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra hiện nay

Lời kết

Việc triển khai thi hành Hiến pháp là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị Quá trình triển khai thi hành Hiến pháp đòi hỏi sự tham gia tích cực, nghiêm túc của nhân dân, tất cả các cấp ngành dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền Hiến pháp thể hiện ý chí của nhân dân, vì vậy mỗi người dân cần có trách nhiệm trong việc bảo vệ và thi hành Hiến pháp Để làm được điều đó mỗi người dân cần phải có trách nhiệm chủ động học tập, tìm hiểu, nhận thức đầy đủ nội dung, tinh thần của Hiến pháp; hiểu biết đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; vận dụng nội dung, tinh thần của Hiến pháp để thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của mình./

Tài liệu tham khảo:

1 Bộ Tư pháp, Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 quan điểm mới cách tiếp

cận mới và các quy định mới, Nxb Chính trị Quốc gia, 2014

2 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb Chính trị Quốc gia, 2016

3 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2001), Hiến pháp, Nxb Lao đôṇg

4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, http://moj.gov.vn, 2013

5 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Luật tín ngưỡng, tôn giáo

6 Văn phòng Thường trực về nhân quyền và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh, Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp

Việt Nam, Hà Nội 2015

Ngày đăng: 04/02/2021, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w