Việc nghiên cứu thục trạng của việc ấp dụng Thực hành Dựa vào Bằng chửng là một bước hữu hiệu nhằm đưa rà những chiến íữợc phù hợp với từng cơ quan trong việc thúc đẩy Thực hành [r]
Trang 1NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA TÍNH CÁCH VÀ HÀNH VI ĂN UỐNG CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG TẠI THÀNH PHÓ HUẾ
Nguyễn Thị Minh Thành
Khoa Đ iều D ưỡng - T rường Đ ại h ọ c Y D ượ c Huế
TÓM TẢT
M ục tiêu nghiên cứ u: Xác định mối liên quan giữa tính cách và hành vi ăn uổng của trẻ em Đ ố i tư ợ n g vậ
p h ư ơ n g pháp nghiên cứu:Cách chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm đã được sử dụng đề chọn ra 225 học sinh đang học tại hai trường tiểu học tại thành phố Huế, Việt Nam sổ liệu được thu thập từ thống 1 đến tháng 3 năm
2015 Công cụ nghiên cứu: câu hỏi nhân khẩu học, bộ cáu hỏi về hành vi ăn uống và bộ câu hòi về tính cách do giáo viên đánh già Độ tin cậy đồng nhất là 0,74 và 0,67, 0,75, 0,63, và 0,61 Phân tích só liệu bời chương trình thống kê SPSS 17 K ết quả: Đãtìm thấy rằng có mối liên hệ giữa sự kiên trì và hành vi ăn uống (r = -0,268, p
<ọ,001), mức độ hoạt đọng và hành vi ăn uong (r= 0,187, p <0,01) K ế t Ịuận.Từ những kết quả này đã đưa ra kiến nghị cho điều dưỡng cần nâng cao sự hiểu biết với tính cách về sự kiên trì và mức độ hoạt động của trẻ em
Từ đó, có kế hoạch cải thiện hành vi ẳn uổng của trẻ em tốt hơn.
Từ khóa: Tính cách, hành vi ăn uống, trẻ em /ứa tuổi học đường
RELATIONSHIPS BETWEEN TEMPERAMENT AND EATING BEHAVIORS IN SCHOOL-AGE CHILDREN, HUE C!TY
Nguyen Thỉ Minh Thanh
Faculty of Nursing - Hue University of Medicine and Pharmacy
SUMMARY
Backgroun&.To examine relationship between temperament and eating behaviors o f school-age children.Materials a n d m ethod:A cluster random sampling technique was used to recruit the sample o f 225 school-age children who studied in two primary schools in Hue city, Viet Nam Data were collected from January
to March, 2015 Research instruments included a demographic questionnaire, the child eating behavior questionnaire, and the school-age temperament inventory teacher version Internal consistency reliabilities were 0,74 and 0,67, 0,75, 0,63, and 0,61 Data were analysis by using the spss 17 program.Results:The result showed there were significant correlations between task persistence and eating behaviors (r = -0,268, p <0,001), motor activity and eating behaviors (r= 0,187, p <0,01) Conclusion-.These findings suggest that nurse should promote
to understanding the child’s temperament o f task persistence and motor activity In an addition, eating behaviors
o f Vietnamese school-age children would be more appropriate.
Keywords: Temperament; eating behavior, school-age children
Đ Ặ T V Ắ N Đ Ẻ từlúc bắt đầu sinh ra, kiên định trong một số tình Hành vi ăn uống được định nghĩa là một loạt các huống và được duy tri mức độ ổn ánh nhất định hoạt động liên quan đến lượng thức ăn được thực [20Ị.Những trẻ em khác nhau thì sẽ có tính cách khác hiện bời cá nhân để đáp ứng với các kích thích sinh nhau[1] Theo Lyons-Thomas và McClowry (2012) học, tâm lý và văn hóa xã hội [19Ị Hành ví này có liên phân ioạị tính cách của các em trong lứa tuổi học quan ổến thói quen ăn uống, lựa chọn thức ăn và tiêu đường thành 4 kiểu: phản ứng tiêu cực, sự kiên tri, sự thụ thực phẩm, phương pháp nấu ăn và lượng thức ăn rụt rè, và mức độ hoạt động Phản ứng tiêu cực mô tả
đã ăn[16j Hành vi ăn uống anh hưởng đến sự hấp thu là cường độ và tần suất mà một đứa trẻ thề hiện hay năng lượng thông qua các lựa chọn ve việc khi nào ăn phản ứng íại một cách tiêu cực Sự kiên trì được mô ta
và an ở đâu, cũng như loại thực phẩm và số lượng mức độ kỉển nhẫn của đứa trẻ trong việc thực hiện của các loại thực phẩm được lựa chọn, bao gồm ca nhiệm vụ của minh và trách nhiệm khac.Rụt rè là phan
các quyết định về việc bắt đầu ăn và ngừng ăn [2], [3] ứng ban đầu của một đứa trẻ khi gặp những người Chế độ ăn uống không lành mạnh là yếu tố nguy cớ mới hoặc những tình huống mới Mức độ hoạt động là cao cho các bệnh khong lây như béo phi, bệnh tim mức đọ hoạt đọng nhiều hay ít của một đứa trẻ Hơn mạch, ung thư và tiểu đường Hiện nay, người ta ước nữa, tính cốch có liên quan đến vấn đề ăn uống sau tính rằng đã có 35,5% trẻ em từ 6-11 tuổi là thừa cân này trong thời thơ ấu của một đứa trè[11], [22]
[15] ĐỐI với ở Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh có Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tính cách và hành trẻ em bị béo phi cao hơn bất kỳ thành phố nào khác vị ăn uống của trẻ em.Nhưng chủ yếu ở trẻ em dưới 1 với 16% trẻ em bị béo phì, ở Hà Nội là 9,9%, và 5,1% tuổi, trẻ ở lứa tuổi mầm nonhay ở tuổi dậy thi Nhưng có
ở thành phố Huế[14Ị Hành vi ăn uống của trẻ em là rất ít tài liệu nói về mối liên quan giữa tính cách và hành vi một yếu tố quan trọng dẫn đến ỉl lệ beo phi ờ trẻ em ăn uống ở trẻ em lứa tuồi học đường Do vậy, nghiên
và bệnh mãn tính sau này [9] cứu này được thực hiện với mục tiêu sau:
Tính cách được định nghĩa là đặc điểm của cá “Xắc định mối liên quan giữa tính cẳch và hành vi
nhân liên quan đến mặt sinh học, được hình thành ăn uống ở trẻ em độ tuổi học đường".
2 1 7
Trang 2-ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
Thiết kế nghiên cứu sừ dụng thiết kế nghiên cứu
mơ tả cắt ngang để kiểm tra moi liên quan giữa tính
cách và hành vi ăn uống ờ trẻ em độ tuổi đi học ờ
trường tiểu học, thành phố Huế.Kỹ thuật chọn mẫu
ngẫu nhiên theo cụm được sử dụng đề lẩy cỡ mẫu íà
225 trẻ em lứa tuồi học đườna ở 33 trườna tiểu học
cơng lập ờ thành phố Huế cống cụ nghiên cứu bao
gồm:bộ câu hỏi vế nhân khẩu học, bộ câu hỏi hành
viăn uống của trẻ em, và bộ câu hỏi tính cách trẻ em
lứa tuổi học đường phiên bàn giáo viên
Bộ câu hỏi về nhân khẩu học được làm bởi nghiên
cửu viên Bộ câu hỏi hành vi ăn uống của trẻ emđược
phát triển bời Wardle, Guthrie, Sanderson, và
Rapoport (2001) Nĩ được sử dụng để đo íương hành
vi ăn uống cùa trẻ, Bao gồm 35 câu hịi của 8 kỉeu liên
quan ổến:sự đáp ứng với thực phẩm (5 câu), cảm xúc
khỉ ăn nhiều (4 câu), thích thú với thực phẩm (4 câu),
mong muốn ve thức uống (3 câu), phần ứngsá khỉ ăn
no (5 câu), sự chậm chạp trong ăn uống (4 câu), cảm
xúc khi ăn ít (4 câu), và sự t? mỉ với thực phẩm (6 câu)
Mỗi câu cĩ điểm tư 1-5, với 1 = khơng bao giờ, 2 -
hiếm khi, 3 = đơi khi, 4 = thường xuyên, 5 = iuơn luơn
Trohg nghiên cứu này, bộ câu hỏi cĩ độ tin cậy với hệ
số Cronbach alpha là Ị.74.BỘ câu hỏi tính cách írẻ em
lứa tuổi học đường phiên bản giáo viên(SATỈ-T) được
phát triển bởi Lyons-Thomas và McClowry (2012).Các
giáo viên đánh giá tính cách của trẻ em trong iởp học
của mình.Bao gồm 33 câu hỏi của 4 phần ìíên quan
đến độ phản ứng tiêu cực (11 câu), sự kiên trì (9câu),
sự rụt rè (8 câu), và mức độ hoạt động (5 câu) Mỗi
cẩu cĩ điểm từ 1-5, với 1 = khơng bao giờ, 2 = hiếm
khi, 3 = một nửa thời gỉan, 4 = thường xuyên, 5 = íuơn
luơn Trong nghỉên cứu này, cỏ độ tin cậy với SATI-T
bao gồm độ phản ứng tiêu cực, sự kiên trì, sự rụt rè,
và mưc độ hoạt động cĩ hệ số Cronbach aipha là 0,67,
0,75, 0,63 và 0,61, tương ứng từng tính cách
KẾT QUẢ
1 Đặc điểm nhân khầu học
1.1 Trẻ em độ tuổi đi học ờ Việt Nam
Mâu gồm cĩ 225 trẻ em 'độ tuổi học đường.ĐỘ tuổi
trung bình là 9,96tuỗỉ (S.D = 0,82) Cĩ 53,30 % là nam
và 46,70 % là nữ Lớp học của trẻ em được chia lảm 3
khối với các !ởp 3,4,5 Cĩ 35,60 % trẻ em lớp 3, 32,40
% trẻ em lớp 4, và 32,00 % trẻ em ỉớp 5 Cân nặng
trung bình của trẻ em là 34,49kg (S.D = 8,00) Chiều
cao trung bình của trẻ em ià 136,34cm (S.D = 8,35)
1.2 Cha mẹ
Đa sổ cha mẹ sống với nhau (97,30 %) Độ tuồi
trung bỉnh của mẹ là 39,51tuổi (S.D - 5,34) từ 28 tuổi
đến 58 tuổi Độ tuổi trung bình của cha là 43,22tuồi
(S.D = 5,89) từ 29 tuổi đến 61 tuồi Hầu hếí cha mẹ đã
hồn thành chương trình giáo dục cơ bồn.Hầu hết mẹ
đã hồn thành chựơng trinh THPT (30,30 %) và trình
độ đại học trên30,70 % Cha cĩ trình độ đại học hoặc
trên đại học chiếm tỷ lệ cao nhất (41,80 %), và tiểp
theo là trình độ THPT (28,40 %) Trùng bình thu nhập
gia đinh mỗi tháng là 5003111,11 VND (S D =
1685018 12) từ1830769,23VNDđến 9584615,38 VND
1.3 Giáo viên
Tuổi cùa giáo viên trung bình ià 41,41tuổi (S.D =
10,06) với mức từ 23 tuổi đến 55 tuổi Tất cả giáo viên
ỉà nữ (100 %).Tất cả giáo viên đều cĩ trình độ từ đại học trở lên (82,20 %), s ố năm ơạy học trung bình là
1Ồ,08rtăm (S.D = 10,06).
2 Thống kê mơ tả đặc điểm của các biến 2.1 Tính cách
Điểm số truna binh của tinh cách: độ phản ứna tiêu
cực là 2,25 (S.D - 0,57), sự kiên trì ià 3,82 (S.D = 0,81), sự rụt rè là 3,12 (S.D = 0,60) và mức độ hoạt đọng là 2,35 (S.D = 0,91) Kết quả được thể hiện chi
tiểt tại bảng 1
Bảngl Trung bình, độ iệch chuẩn vàkhoảng biển thiên cỉìa từng tính cách (n = 225)
Tính cảch M S.D. Khoảng bién thiên Phản ứng tiêu cực 2,25 0,57 1,81-3,91
Sự kiên trì 3,82 0,81 1,22-5,00
Sự rụt rè 3,12 0,60 1,57-5,00 Mức độ hoạt động 2,35 0,91 1,00-5,00
2 Hành vỉ ăn uống
Điểm trung bình của hành vi ăn uống là 2,49 (S.D
= 0,39), Khi quan sát từng biến nhỏ, đỉem trung bình của sự phản ưng với thực phẩm là 2,18 (S.D = 0,84), cảm xúc khi ăn nhiều là 2,42 (S.D = 0,94), sự hứng thú với thức ăn là 2,94 (S.D = 0,91), sự thèm muốn đo uống là 2,18 (S.D = 0,98), sự phản ửng sau khi ăn no
là 2,66 (S.D = 0,71), ăn uống chậm chạp là 2,32 (S.D
= 0,85), cảm xúc sáu ănlà 3,17 (S.D = 0,97), và tì mì
với thực phẩm íà 2,05 (S.D = 0,61) Kểt quả được thề hiện chí tiết tại bảng 2
Bảng 2 Trung bĩnh, độ lệch chuẩn và khoảng biến thiêncủa tồn bộ hành vi ăn uống và các biến nhị của hành vi ăn uống nhị (n = 225) _ Hành vi ăn uốnq M S.D. Khoảng biến thiên Tống cộng 2,49 0,39 1,72-3,76 Biến nhỏ
Sự phản ửng với thực phẩm
2,18
0,84 1,00-5,00 Cảm xúc khi ăn
nhiều
2,42 0,94 1,00-5,00
Sự hứng thú với thức ăn
2,94 0,91 1,00-5,00
Sự thèm muơn
đồ uống
2,18 0,98 1,00-5,00
Sự phản ứng sau khi ăn no
2,66 0,71 1,00-4,80
Ăn uống chậm chạp
2,32 0,85 1,00-5,00 Cảm xúc sau ăn 3,17 0,97 1,00-5,00
Tĩ mỉ với thực phẫm
2,05 0,61 1,00-4,33
3 Mơi liên hệ giữa tỉnh cách và hành vi ăn uổng
Kết quả chỉ ra rằng cĩ mối liên quan tương quan
nghịch giữa sự kiên trì và hành vi ăn uổng (r= -0,268,
p <0,001), và tương quan thuận giữa mức độ hoạt động và hành vi ăn uổng (r = 0,187, p <0,01) Tuy nhiên, khơng cĩ mối liên quan giữa phản ứng tiêu cực
và hành vi ăn uống (r = 0,102, p >0,05), vồ khơng cĩ
mối liên quan giữa sự rụt rè và hành vĩ ăn uống (r = -0,052, p >0,05) Kết quả được thể hiện chi tiết tại bảng
3
2 1 8
Trang 3-Bảng 3 Hệ sổ tương quan giữa tính cách và hành
vi ăn uổng (n=225) _
£<0,01
BAN LUẬN
1 Tính cách của trẻ em Việt Nam lứa tuổi học
đường.
Kết quả cho thấy trẻ em lứa tuồi học đường có số
điểm trung bình của tính cách của: phản ứng tiêu cực ià
2,25 (S.D = 0,57) Nó được xếp vào mức điểm từ trung
binh đến ỉhấp khi so sánh với tỷ iệ điểm số từ 1 - 5.CÓ
thẻ giải thích rằna mỗi lớp có một giáo viên chính đề
giảng dạy và kiêm soát mọi hoạt động bên trong
lớp.Các giáo viên có thể dễ dàng nhận biết các biểu
hiện của phản ứng tiêu cực của trẻ.Sau đó, giáo viên có
íhể có điều chỉnh sớm các phản ứng tiêu cực, làm giảm
được phản ứng tiêu cực của trẻ.Bên cạnh đó, phản ứng
ỉiêu cực được mô tả ỉà cường độ và tần suất các biễu
hiện của phản ứng tiêu cực mà đứa trẻ thể hiện Một
đứa trẻ mà có phản ứng tiêu cực cao sẽ tăng cường độ
biểu hiện các phản ứng tiêu cực, phản ứng ngay lập tức
với sự khó chịu nhỏ Một đứa trẻ có phản ứng tiêu cực
thấp sẽ giảm cường độ biểu hiện các phản ứng tiêu
cực, thường dễ chịu và nhẹ nhàng trong các phản ứng
của minh để thay đổi tình huống[13] Các nghiên cứu
trước đây cũng cho thấy điểm trung binh cùa phản ứng
tiêu cực của tính cách 2,62 (S.D = 0,99) [10],cũng
tương lự như trong nghiên cứu này
Trẻ em Việt Nam ờ lứa tuổi học đường có điểm
trung bình của sự kiên trì của tính cách ià 3,82 (S.D =
0,81) Nó được xếp vào điểm số từ trung binh đen cao
khi mà so sánh với điểm số từ 1 - 5.Sự kiên trì được
miêu tả là mức độ tự thực hiện cùa bản thân trong việc
thực hiện nhiệm vụ cùa minh và trách nhiệm được
giao.Sự kiên ỉri của trẻ em chù yếu là mô tả hành vi chu
đáo, cần thận được thể hiện trong học tập hoặc các kỹ
năng về tâm iý Trẻ em mà có sự bền bỉ cao có thế
hoàn thành việc học của mình hoặc các hoạt động khác
một cách dê dàng.Những trẻ em có sự kiên trì kém
thường gặp khó khăn khi hoàn thành bài tập về nhà
[13] Gác nghiên cứu trước đây cũng cho thấy điểm
trung binh của sự kiên trì của tinh cách ià 3,42 (S.D =
0,98) [10] Sự kiên trì cao cũng được thể hiện qua các
báo cáo học tập và kết quả học tập từ giáo viển[6]
Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy rang trè
em lứa tuổi học đường có đềm trung binh của tính rụt
rè của tính cách là 3,12 (S.D = 0,60), điểm này từ
mức độ trung binh đến cao khi so sánh với mức từ
1-5 Sự rụt rè của tính cách của trẻ em lứa tuổi học
đường ià sự phản ứng đầu tiên hay sự đáp ứng lại với
những thứ mới, kinh nghiệm mới, nơi mới, một ý kiến
mới hay người mới Những trẻ có sự rụt rè ít thông
thường thích gặp hay nói chuyện với người mới hoặc
cổ cơ hội tốt đề cỏ kinh nghiệm từ các trải nghiệm
mới.Những trẻ có tính rụt rè cao thường xuất hiện với
sự nhút nhát [13] Các nghiên cứu trước đây cho thấy
điểm trung bình của sự rụt rè của tính khí là 2,80 (S.D
= 0,83) [10] Điều này có thể phù hợp với trẻ em Việt Nam iứa tuổi học đường được sinh ra trong nền văn hóa các nước Asian.Những đứa trẻ này thường nhút nhát, trầm và ít hướng ngoại hơn như ổược xem như
!à một chuẩn mực phù hợp với cuộc sống bình thường
Kết quả cùa nghiên cứu này cũng cho thấy rằng trẻ
em Việt Nam lứa tuổi học đường có điểm trung bình của mức độ hoạt động của tính cách là 2,35 (S.D = 0,91), ở mức độ điểm trung bình Mức độ hoạt động được mô tả ỉà số lượng hoạt động của trẻ.Trẻ em có mức độ hoạt động cao thường là không ngừng hoạt động, ngay cả khi trẻ đang nghĩ ngơi.Nhưng trẻ em co mức độ hoạt thấp thường thường ngồi yên lặng trong một ỉhờỉ gian dài [13] Các nghiên cứu trước đây cũng cho íhấy điểm trung bình của mức độ hoạt động cùa tính cách là 2,42 (SD = 1,05) [10], kểt quả này cũng tương tự với nghiên cứu cùa chúng tôi và với trẻ em iứa tuổi học đường
2 Hành vi ăn uống của trẻ em Việt Nam iứa ỉuổi học đường.
Kết qua cùa nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng trẻ
em Việí Nam lứa tuổi học đường có tong số điểm của hành vi ăn uống ià 2,49 (S.D = 0,39) Nó ờ mức độ điểm số trung bình khi so sánh với mức độ điềm từ 1 -5.Những kết quả tìm íhấy cũng đã hỗ trợ và cho thấy rằng những tre mà hay xúc động thường khó khăn trong việc cho ăn như ăn cầu kỳ và ăn chậm [18], cũng như những hành vi ăn uống thông thường cũng đã được xây dựng tùy thuộc vào sự thích thú với thiĩc ăn hoặc đáp ứng lại với thức ăn Bên cạnh đó, với lứa tuổi học đường, sự chấp thuận hay lòng tự trọng bị ânh hường
ờ ngoài qia đinh, đặc biệt là mỗi quan hệ bạn bè chiếm vai trò rat quan trọng trong việc phát triển hành vi ăn uống của trẻ Hầu hết các mối quan hệ của trẻ học đường đển từ những mối quan hệ từ trường học[4] Ngoài ra, trẻ em lứa íuổi học đường thường ăn các loại ỉhực phẩm từ nhà của họ, nhưng đôi khi họ ăn thức ăn
ờ trường Bên cạnh đó, hành vi ăn uổng của họ đã bị ảnh hương từ moi quan hệ bạn bè, giáo viên, phương tiện truyền thông, truyền hỉnh, do đó trẻ em ở tuồi đi học thường thử thức ăn mới dựa trên giới thiệu của bạn bè Tuy nhiên, írẻ em độ tuổi đỉ học có thể tự quyếi; định ỉhực phẩm của họ, và tự điều tiết bởi chính bản thân họ
VI vậy, hành vi ăn uống của trẻ em có thể bị ảnh hưởng
từ môi trường và mối quan hệ của họ Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy điểm trung binh của hành vi ăn uống của trẻ em nước Anh là 2,70 (S.D = 0,41) [7], và điểm số trung bình của hành vi ăn uống là 2,45 (S.D -0,53) [21], ơ mức điểm trung bình và tương tự như nghiên cứu này
Các kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy rằng trẻ em ơ lứa tuổi học đường có điểm trung binh của xúc động sau ăn của hành vi an uống là 3,17 (S.D
- 0,97) Điểm này ở mức độ từ trung bình đến cao khi
so sánh với mức điểm từ 1 - S.Điều đó thấy rằng khi các em không thể điều chỉnh hành vi cảni xúc, các em không thể chú tâm vào hành vi ăn uống Trẻ thường
có những hoạt động liên quan đến sự mất cân bằng cảm xúc của trẻ Với trẻ em lứa tuổi học đườngthường
có mặt tại trường từ 07:30 sáng đếri 04:30 chiều, VI
Trang 4vậy cảm xúc của trẻ bị ảnh hưởng từ các mối quan hệ
cua trẻ tại trường Các em lứa tuoi học đường thường
bắt đầu phát triền mạnh mối quan hệ bạn be của trề,
đặc biệt íà mối quan hệ bạn bè cùng giới Trẻ rấỉ dễ bị
ảnh hưởng từ những mối quan hệ của trẻ vỉ đây là giai
đoạn bắt đầu hình thành những mối quan hệ của trẻ
Điếu này đã ảnh hưởng tới hành vi art uống cùa írẻ
Cảc nghiên cứu trước đây cũng cho íhấy điểm trung
bình của hành vi ăn uống sau ăncủa trế em Anh íà
2,76 (S.D = 0,90) [7 ị
Trẻ em íứa tuổi học đường có điểm số trung binh
của sự tỉ mỉ của thức ăn của hành vi ăn uống là 2,05
(S.D = 0,61) Mức điểm này thuộc loại íhấp khi so
sánh với mức điểm 1 - 5 Các trẻ em ở lứa tuổi học
đường có thể là thích hay không thích mộí số loại thực
phẩm, nhưng trẻ em cần phải học để biết thời gian này
ià thời gian hoàn hảo cho trẻ học về ăn uổng lành
mạnh Trẻ em ở lứa tuổi này cần một ioạt các loại thực
phẩm lựa chọn cho một chế độ ăn tốt Tuy nhiên, đây
ỉà thời điểm trẻ bắt đấu tiếp xúc nhiều với cuộc sống
xã hội nhộn nhịp, có tiền riêng đề bỏ túi và bắt đầu
chọn iựa lối sống riêng của trẻ Thói quen ăn uống và
nếm thử thức ăn được hình thành từ rất sớm, do đó,
một loạt các loại thực phẩm phải được học cách chọn
lựa ngay từ đầu Đây không chỉ để giúp tránh ăn thức
ăn không tốt, mà còn giúp trẻ có một chế độ ăn cân
bằng đảm bảo sức khỏe ổề cung cấp đầy đù dinh
dưỡng mà trẻ cần
3 Mối liên quan giữa tính cách và hành vỉ ăn
uống cùa trẻ em lửa ỉu ổ ỉ học đường, tạ l thành phổ
Huế
Kết quả đã thể hiện rằng có mối liên quan tương
quan nghịch giữa sự kiên trì và hành vi ăn uổng cùa
trẻ (r =-0,268, p <0,01) Điều này có thể hiểu rằng trẻ
em lứa tuổi học ổường có độ kiên trì cao hơn thường
có hành vi ări uống phù hợp hơn Có thể hiểu rằng
những trẻ có trách nhiệm cao với hoạt động của minh
thường có hành vi ăn uống lành mạnh hơn Điều này
có thể giải thích rằng sự kiên trì của trẻ em ià khuynh
hướng mà trẻ thường tập trung cao cho mộí nhiệm vụ
cho đến khi thực hiện xong nhiệm vụ và điều này cỏ
ảnh hưởng đến đến hành VI sức khỏe của trẻ Trẻ mà
có sự kiên trì cao thường hoàn thành mọi thứ khá dễ
dàng mà không cần nhắc nhở lại[13].Trẻ em lứa tuổi
học đường mà có sự kiên tr) cao, chúng thường hoàn
thành công việc và bài tập đúng thời hạn với trách
nhiệm caoT Đây có thể làm cho trẻ có sự hiểu biết tốt
hơn những gì để ăn và trẻ sê có những hành vi ăn
uổng thích hợp hơn Vì vậy, họ sẽ tập trung vảo những
hành vi sức khỏe lành mạnh Ngoài ra, trẻ đang ở giai
đoạn phát triển íà tiền dậy thì nên sẽ lưu ý về hành vỉ
ăn uống có liên quan đến ăn uống lành mạnh, sợ béo
và làm đẹp Đó có thể là một lý do khiến cho những trẻ
em có sự kiên trì cao thường có hành vi ăn uống thích
hợp hơn
Kết quả cũng chỉ ra rằng có mối liên quan tương
quan thuận giữa mức độ hoạt động và hành vi ăn
uống ( r = 0,187, p <0,01) Điều này có thể hiểu rằng
trẻ em lứa tuổi học đường mà có mức độ hoại động
cao thường liên quan tới hành vi ăn uống không phù
hợp Được giải thích rằng hoạt động thế chất mạnh
mẽ như chạy ngoài trời thường được xem là sử dụng
và đốí cháy nhleu năng lượng hơn và trẻ thường ăn nhiều và hay ăn nhữncj thức ăn có sẵn khi mà nhu cầu
cơ thề đang cần thiet, do vậy trẻ thường ăn uống không hợp ỉý khi hoạt động nhiều.Henniger (2010) nhắc nhơ chúng ta rằng trẻ em mà có sự tự tin và lòng
tự trọng thường có các mửc độ hoạt động thể chất tốt
Vì vậy, trẻ em có thể cỏ những hành vi ăn uống không thích hợp khi trẻ hoạt động quá mức
Dựã trên những kết qua này, cỏ hai kiểu tính cáchđó
là sự kiên cao và mức độ hoạt động có mối iiên quan đến hành V! ăn uống, Thẽo Pender (1990), cũng chì ra rằng đặc điểm cá nhân và kinh nghiệm bao gồm cả yếu
tố cá nhân có ảnh hường đến thúc đẩy hành vi sức khỏe Tỉnh cách của trẻ em cũng bị ảnh hườna về hành
vi ăn uổng Dựa vào mối quan hệ này, các điều dưỡng
có thề điều chình hành vi an uống cỉía trẻ em dựa trên đặc điểm của íính cách Các kết quả của nghiên cứu này là tương tự như các nghiên cứu trước đây ổã thề hiện rằng có mối liên hệ mạt thiết giữa tính cách trẻ em nước Anh và hành vi ăn uống cua trẻ[7] Một nghiên cứu khác cho rằng, hành vi ăn uống của trẻ em đã được xác định dựa vào tính cách của họ và có sự liên kết với các hành vỉ ăn uổng sau này[22Ị
Tuy nhiên, chúng tôi không tim thay mỗi liên quan giữa phản ứng tiêu cực và hành vỉ ăn uổng, cũng như
sự rụt rè và hành vi ăn uống (p> 0,05) Phản ứng tiêu
cực được mô tâ lồ cường độ và tần suất mà ổứa trẻ thề hiện những phản ứng tiêu cực.Một đứa trẻ mà có độ phản ứng tiêu cực cao sẽ dễ dàng có những phản ứng
dữ dội va ngay lập tức dẫn đến những phan ứng tiêu cực[12] Nó có thể được giải thích rằng phản ứng tiêu cực có thể dẫn đến khồng thích về ăn chung do trẻ khó nghe theo lời người lớn Kết quả này cũng tương tự như các nghiên cứu trước đây đã trình bày rằng không
có mối quan hệ giữa phản ứng tiêu cực và lượng thức
an được ăn vào (r - 0,24, p - 0,13) [5] Kết quả này
cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây đã trình bày rằng không có mối tương quan đáng kề giữa các vấn đề về hành vi bao gồm cả hành ví ăn uống và sự rụt
rè (p> 0,05) ở trẻ em mầm non Thổ Nhĩ Kỳ[23].
KẾT LUẬN
Có mối quan hệ giữa sự kiên tri và hành vi ăn uống
và tương quan giữa mức độ hoạt động và hành vi ăn uống Tuy nhiên, không có mối liên quan giữa phản ứng tiêu cực và hành vi ăn uống, và không có mổi liên
hệ giữa sự rụt rè và hành vi ăn uống.Dựa trên kếí quả này sẽ hưu ich cho việc phát triển một chương trinh can thiệp hiệu quả để cải íhiện hành vỉ ăn uống của trẻ
em dựa trên đặc điểm tính cách của trẻ em, đặc biệt là
ờ thành phố Huế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Agrâs, w s., Hammer, L D., McNichoỊas, F., Kraemer, H c , 2004 Risk factors forchildhood overweightA prospective study from birth to 9.5 years Journal ofPediatrics, 145(1), p 20 - p 25
2 Bỉundelí, J E., Cooling, J., 2000 Routes to obesity:Phenotypes, food choices andactivity British Journal of Nutrition, 83(1), p 33 - p 38
3 Blundell, J E., Stubbs, R, J., Golding, c „ Croden, F Alam, R., Whybrow, s Lawton, c L.,
Trang 52005 Resistance and susceptibility to weight
gain:lndividual variability inresponse to a high-fat diet
Physiology & Behavior, 86(5), p 614 - p 622
4 Burns, C.E Dunn, A.M., Brady, M.A., Starr,
N.B., Blosser, C.G., 2013 Pediatric Primary
Care(5thed) United States of America, Eisevier
5 Epel, E., Lapidus, R., McEwen, B., Brownell, K
2001 Stress may add bite to appetite in women: a
laboratory study of stress-induced cortisol and eating
behavior Psychoneuroendocrinology, 26, p 37 - p
49
6 Guerin, D w „ Gottfried, A w , Oliver, p H.,
Thomas, c w , 2003 Temperament: infancy through
adolescence New York: Kluwer Academic/Plenum
- 7 Haycraft, E., Farrow, c , Meyer, c., Powell, F„
Biisseii, J., 2011 Relationships between temperament
and eating behaviours in young children Appetite,
56(3), p 689 - p 692
8 Henniger, M L., 2010 The importance of motor
skiils.[Web log] Retrieved from
http://www.education.com/reference/article/impo rtance
-motor-skills/
9 Lobstein, T „ Baur, L., Uauy, R., 2004 Obesity in
children and young people: A crisis in public health
Obesity Reviews, 5(1), p 4 - p 85
10 Lyons-Thomas, J., McClowry, s G 2012.The
examination of the validity and reliability of the school-
age temperament inventory.Journal of classroom
interaction, 47(2), p 25 - p 32
11 Martin, G C.,Wertheim, E H., Prior, M., Smart,
D., Sanson, A., &Oberklaid, F (2000) A longitudinal
study of the role of childhood temperament in the later
development of eating concerns.internationai Journal
of Eating Disorders, 27(2), p 150 - p 162
12 McClowry, s G., 1993 Pediatric nursing
psychosocial care: A vision beyond hospitalization
Pediatric Nursing, 19(2), p 146- p 148
13 McClowiy, S G-, Halverson, c F„ Sanson, A
2003 A re-examination of validity and reliability of the
School-Age Temperament Inventory.Nursing research,
52(3), p 176- p 182
14 National Institude of Nutrition (2003) The Nationa! General Survey on Overweight and Obesity Retrieved December 7, 2011, from http://www.tinmoi.vn/Ty'le-hoc-sinh-beo-phi-
nhieuỉruong-hoc-tren 09699899.html
15 Ogden, c L „ Carroll, M D , Curtin, L R., Lamb, M M., Fiegai, K M., 2010.Prevalence of high body mass index in u s children and adolescents, 2007-2008.Journal of American Medical Association, 303(3), p 242 - p 249
16 Osorio, E J., Weisstaub, N G., Castillo, D c., 2002.Deveiopment of feeding behavior in childhood and its alterations.Revista Chiiena De Nutrición, 29(3),
p 2 8 0 - p 285
17 Pender, N J., 1990 Research agenda: A revised research agenda model American Journal of Health Promotion, 4(3), p 220 - p 222
18 Pliner, p., & Loewen, E.R., 1997 Temperament and Food Neophobia in Children and their Mothers.Appetiie, 28(3), p 239 - p 254
19 Saucedo-Molina, T., Unikel-Santoncini, c., 2010.Validity of a multidimensional questionnaire to measure risk factors associated to eating disorders in Mexiacnpubescents.RevistaChilena deNutrición, 37(1),
p 60 — p 69
20 Schaffer, H R., 2006 Key concepts in developmentai psychology London, United Kingdom: Sage Publications
21 Wardle, J., Guthrie, c A., Sanderson, s., Rapoport, L., 2001 Development of the children’s eating behaviour questionnaire Journal of child psychology and Psychiatry, 42(7), p 963 - p 970
22 Wonderlich, s A., Connolly, K M., stice, E.,
2004 Impuisivity as a risk factor for eating disorder behavior: Assessment implications with adolescents International Journal of Eating Disorders, 36(2), p 172 -p 182
23.Yoieri, s., 2014 The relationship between temperament, gender, and behavioral problems in preschool chiidren.South African Journal of Education, 34(2)
NGHIÊN c ứ u VIỆC ÁP DỤNG THỰC HÀNH ĐIỀU DƯỠNG
DỰA VÀO BẢNG CHỨNG TẠI BẸNH VIỆN c ĐÀ NẴNG
ThS Nguyễn Thị Ngọc Minh
(Giảng viên-Khoa Điều dưỡng-Trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng)
TÓM TẢT
Đặt vấn đề: Thực hành Dựa vào Bằng chứng được xem như một tiêu chuẩn vàng, một công cụ hữu hiệu trong việc tối ưu hóa chất lượng điều trị và chăm sóc y tể cho người bệnh trong các hệ thong y tế tren toàn thế giới Tuy nhiên, Thực hành Dựa vào Bằng chứng còn nhiều rào cân và thử thách Mỗi ọơ quan, hệ thống có những thế mạnh cũng như đ ể m yếu riêng biệt trong việc âp dụng Thực hành Dựa vào Bằng chứng Việc nghiên cứu thục trạng của việc ấp dụng Thực hành Dựa vào Bằng chửng là một bước hữu hiệu nhằm đưa rà những chiến íữợc phù hợp với từng cơ quan trong việc thúc đẩy Thực hành Dựa vào Bằng chứng.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thống kê cắt ngang mô tà
Kết quả: Điếu dưỡng chưa nhận được sự hỗ trự tích cực trong quả trình hiện thực hóa Thực hành Dựa vào Bằng chứng Sự thiểu hụt trầm trọng về thông tin khoa học, sự thiếu hụt về lãnh đạo đ ề u dưỡng và sự kém ủng
hộ từ phía cơ quan là những yếu tố ngăn cản điều dưỡng thực hành dựa vào bằng chứng.
2 2 1