1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 10

Tác động của dòng chảy bạc Manila ( Philippins ) đến chuyển biến kinh tế - xã hội Trung quốc thế kỷ XVI-XVII

19 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, sự phát triêh mạnh về sô' lượng tiền đồng và sự suy giảm của bạc Manila vào những năm cuổỉ triều đại nhà Minh đã gây ra những biến đổi trong ti giá giữa dền đổng và b[r]

Trang 1

TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG CHẢY BẠC MANiLA (PHILIPPINES) ĐÊIM CHUYỂN BIẾN KINH TẾ-XÃ HỘI

TRUNG QUỐC THÊ KỶ XVI-XVII

HVCH Nguyễn Thị Minh Nguyệt*

Thế kỉ XVI - XVII tại khu vực Đông Á được đông đảo các học

giả công nhận là một thời kỳ phát triển nở rộ của các dòng

tiền kim loại đặc biệt là sự lưu hành của bạc đôi vói thị trường châu

Á nói chung Thực tế, thời kỳ này đã đánh dấu một lượng bạc khổng

lổ "hành hương" về khu vực châu Á và đặc biệt tập trung nhiều nhất

ờ thị trường Trung Quốc Nguyên nhân chính dẫn đến những biến

chuyển to lớn về nhu cầu sử dụng bạc vói tư cách là đổng tiền bản vị

trong quá trình trao đổi, buôn bán tại quốc gia này xuâ't phát từ sự

thay đổi trong các chính sách kinh tế của nhà Minh Có thể nói, đối

với Trung Quốc, bạc chính là "mạch máu" của nền kinh tế Cùng thời

điểm này, tại Manila (Philippines)- điểm kết nôì chính giữa Tân thê'

giói với châu Á là một trong những trung tâm của dòng chảy bạc

Bạc được chuyên chở hàng năm vói sô' lượng và mật độ không giói

hạn từ năm 1571 và tập trung vào đối tượng buôn bán chủ yếu là

Trung Quốc

Từ đó, xuôi theo dòng chảy kim loại bạc qua Manila, những yêu tố

mới từ phía bên kia thế giói có cơ hội thâm nhập và từng bước biến đổi

phần nào bộ mặt Trung Quốc giai đoạn cận đại sơ kỳ và thậm chí

những tác động ấy còn kéo dài cho đến ngày nay Sự du nhập của các

yếu tô' mói được đặc biệt biểu hiện rõ lên đời sống kinh tế - xã hội tại

các cảng thị khu vực phía Nam Trung Quôc như Quảng Đông, Phúc

* Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN.

Trang 2

T ác động của d ò n g chảy bạc Manila (Philippines)

Kiến - những nơi có mối quan hệ giao lưu buôn bán liên tục và tưcng đối đều đặn với Manila Hơn thế nữa, sự xuất hiện của các giông cây trổng mới có nguồn gôc từ Tân Thế giới đã dẫn đến một sự bùng nổ vê kinh tê'ở Trung Quốc thế kỷ XVIII Đây cũng là tiền đề cho sự bùng nổ dân số và mở rộng lãnh thổ Nói một cách khác "sự trao đổi của Magenllan" (Magenllan's Exchange) đã xuâ't hiện trong nền kinh tê' - xã hội Trung Quốc thế kỉ XVI - XVII

Từ những cơ sở trên, bài viết tập trung phần tích và chi rõ mối liên hệ trao đổi kim loại bạc Tân Thế giới và những ảnh hưởng của

nó lên Trung Quốc - nơi được cho là "điểm tập kết cuô'i cùng của các dòng bạc" Những tác động này được thể hiện thông qua các yêu tô' kinh tế (giá cả, tỉ giá đồng tiên, cơ cấu ngành nghề ), xã hội (dân số, lao động .) cùng những chuyến biến nổi bật khác Dựa trên các dữ liệu thu thập từ nguồn tài liệu phương Tây, bài viết sử dụng các quan điểm mới về quá trình trao đổi toàn cầu giai đoạn cận đại sơ kỳ thông qua hoạt động thương mại bạc trực tiếp giữa Manila (Philippines) và Trung Quôc

Từ khóa: dòng chảy bạc Tân thế giới, Manila, Trung Quốc, thế kỷ 16-17, cận đại sơ kỳ

*

Sau những thành tựu trong công cuộc phát kiên địa lí những quôc gia châu Âu đi đầu là Bổ Đào Nha và Tây Ban Nha đã dần tiếp cận được mục đích ban đẩu của mình đó là đến khu vực phương Đông để buôn bán Có thể nói, điều này đã thực sự làm "đảo lộn tính ổn định của xã hội phương Đông để phù hợp cũng như để thích nghi với các xu hướng phát triển của các nền văn minh mới" (Lê Thanh Thủy, 2007: 54) Các trung tâm quyền lực mới của người châu Âu được hình thành bên cạnh những đế chế và vương quốc trong khu vực

Bên cạnh quá trình du nhập của phương Tây, bản thân khu vực Đông Á trong thời điểm này cũng đã diễn ra hoạt động trao đổi thương mại hết sức sôi động Nhu cầu về bạc cũng như nhu cầu trao

Trang 3

N guỵển Thị Minh Nguyệt

đổi hàng hóa bản địa đã mang đến cơ hội cho một thời kì buôn bán thịnh vượng giữa các cảng thị nội vùng Bắt đầu từ năm 1571, người Tây Ban Nha đã thiết lập cho mình cơ sở kinh tế tại khu vực Đông Á

đó là Manila (Philippines) Manila với vai trò của một cảng thị quốc

tế là điểm đến của dòng bạc từ châu Mỹ và từ đó phân phô'i đi khắp các quốc gia trong khư vực Đông Á đặc biệt là Trung Quôc Thời kỳ này, dòng chảy bạc từ châu Mỹ vào châu Á nói chung và khu vực Đông Á nói riêng thế kỉ XVI - XVII không chỉ tác động đến toàn bộ nền kinh tế mà còn góp phân làm chuyển biến những nhân tố xã hội đặc thù trong khu vực Dòng bạc luân chuyển vói tư cách là "tiên tệ"

đã tác động không nhỏ đến các quốc gia Đông Á, một trong sô' đó phải kể đến Trung Quốc “ điểm đến cuối cùng củá các dòng bạc (End Marketplace)

1 Dòng chảy bạc từ Manila vào Trung Quốc

1.1 G iai đoạn 1571-1640

Vơi Trung Quốc, mặt hàng quan trọng và được trông mong nhất

là đồng bạc Từ thế kỉ XV cho đến cuôì đời nhà Thanh, bạc là loại hình tiền tệ phổ biến trong nền kinh tế Thời điểm cuối thê' kỉ XVI, tỉ giá vàng và bạc tại Trung Quốc có lúc chênh lệch tói khoảng từ 7 đến 8 đơn vị bạc có thể đổi được 1 đơn vị vàng Đối vói những nhà buôn châu Âu, Trung Quôc chính là điểm đến của các dòng bạc: "Trung Hoa, nơi người ta xuất bạc sang nhiều nhất vì bạc ờ đây cao giá nhất, bạc chảy về đó như về trung tâm của mình bởi vì tất cả bạc trên trái đất đểu hành hương về đây" (Giraldez, 2009: 56)

Tính từ năm 1565, những đoàn thuyền đầu tiên của người Trung Quốc đã xuất hiện tại bờ biển Manila để buôn bán Lượng bạc lón có chât lượng cao được đưa đều đặn từ châu Mỹ là mục tiêu chính của các

nhà buôn Trung Quốc Vương Thắng khi đó đã viết trong Mẩn du kí lược: 'Tiền và bạc của các nưóc Phiên đi từ biển vào, trên mặt tiền có

hình chữ Thành Điệp hoặc có hình chim muôn, nhân vật, vùng Tuyền Chương (thuộc Phúc Kiến) thông dụng loại tiền này." (Vương Thắng Thòi, 1975: hộc sách thứ 14)

Trang 4

T ác động của dòng chảy bạc Manila (Philippines)

Tuần phủ Phúc Kiến thời nhà Minh là Từ Học Ngưng qua các ghi chép cũng từng nhận định việc buôn bán với Luzon chủ yêu là nhờ sụ xuất hiện của bạc "Phật Lang Cơ" (bạc; Tây Ban Nha) Do đó, trong một thời gian dài, những thương nhân thuộc các tình ở ven biên phía Nam Trung Quốc có mốì quan hệ, giao lưu buôn bán với Manila đều gọi những con thuyền lớn hàng năm chở bạc từ châu Mỹ đến Manila

(Manila Galleon) là những con "thuyên bạc" (Silver Ship) v ề phỉa

Manila, năm 1609, một bức thư của Antonio de Morga có nhắc đến tình hình buôn bán bạc với người Trung Quôc ở Manila:

Việc buôn bán hàng hóa của Trung Quốc đều được tính bằng bạc, người Sangleys (thương nhân đến từ Trung Quôc) không muôn được trả bằng vàng hay các loại hình tiền tệ khác, họ nói rằng sẽ không mang v ề bẵi kì thứ gì chỉ trừ bạc.

(Chuan, 1997: 283) Một bức thư khác được gửi đến vua Philip II cũng có nội dung về tình hình buôn bán bạc:

Một lượng lớn bạc được mang tới đây (Manila) đ ể trao đôĩ với họ (Trung Quôc) Mặc dù một phần của sô' tiền đó được giữ lại tại quân đảo (Philippines) nhưng hầu như tất cả những phần còn lại đểu bị mang đi khỏi bởi người Trung Quốc, những người tới đây từ đất liền đ ể bán hàng hóa của mình.

(Chuan, 1997: 284) Hoạt động buôn bán giữa Manila và Trung Quốc thịnh vượng nhâ't vào những năm 1620, trung bình hơn 50 tấn bạc đã đi qua Manila và tuôn vào thị trường Trung Quốc Hàng năm, 30 đến 40 thuyền Phúc Kiến từ Manila vận chuyển đi 250 tới 300 vạn rial bạc trắng để mua lụa và tơ sống (Boxer, 1959: 14) Một người Tâv Ban Nha ớ Philippines đã thô't lên rằng: "Hoàng đếTrung Hoa có thể xây dựng hẳn một tòa cung điện bằng sô'bạc từ Peru đưa đến!" (Atvvell, 1982: 74) Rõ ràng, lợi nhuận mà nhũng chuyên buôn bán này đem lại thường là một con sô' đáng mơ ước đô'i với bất kì nhà buôn nao

Trang 5

Nguyễn Thị Minh Nguỵệt

Bảng 1: Lượttg bạc nhập khẩu vào Trung Quốc thông qua M anila

(Chuan, 1997: 285) Những mặt hàng được người Trung Quốc đem bán khá đa dạng

từ tơ lụa, gỗ, các sản phẩm nông nghiệp, vũ khí, gôm sứ cho đến đổng, lưu huỳnh,-đổng trắng, sắt Trong sốnhừng mặt hàng đó, quan trọng nhất phải kể đến tơ lụa và vải dệt Trung Quốc Năm 1567, Legaspi là người đầu tiên chỉ ra rằng thương mại trên cơ sở sử dụng bạc để đổi lấy lụa vói Trung Quốc có thể cạnh tranh được với hoạt động buôn bán hương liệu của người Bổ Đào Nha Chính vì nguồn lợi nhuận lón nên giai đoạn cuối thế kỉ XVI đến những năm 1640, tơ sông

và lụa trở thành mặt hàng chiến lược của các thương nhân Trung Quốc để đổi lấy bạc

Hàng năm, thuyền Trung Quốc đến Manila vào khoảng giửa tháng

12 và ở tại đó cho đến hết tháng 5 Qua các năm, lượng thuyền thường không ồn định, có năm lên tói hơn 100 thuyền nhưng có năm chỉ khoảng trên dưới 20 thuyền của thương nhân Trung Quôc đến cảng Manila Mặc dù vậy, các thương thuyền Trung Quôc luôn là những khách hàng được người Tây Ban Nha và người Philippines trông mong nhât Tù năm 1571 cho đến thập niên 1640, hoạt động thương mại trao đổi bạc giữa Manila với thị trưòng Trung Quốc đã diễn ra vô cùng nhộn nhịp, lượng bạc chảy về từ châu Mỹ không ngừng tăng Mặc dù rất khó

đê ưóc lượng được con sô' chính xác có bao nhiêu bạc đã chảy về Trung Quốc trong giai đoạn này, tuy nhiên không thể phủ định một điều: cùng với tơ lụa, bạc đã trở thành loại hình tiền tệ - hàng hóa phổ biến nhất trong khu vực

Trang 6

T ác đ ộ n g của dòng chảy bạc Maniỉa (Philippints)

1.2 G iai đoạn 1640-1700

Năm 1644, nhà Minh sụp đổ và bị thay thế bởi triều đình của người Mãn Châu Trong những năm đẩu cai trị, các vị hoàng đếahà Thanh ra lệnh cấm biển nhằm hạn chế sự hoạt động của quân phản loạn và những người Hán phản đối lại triều đình Ngay sau đó, năm

1684, chính quyền nhà Thanh đã dẹp bỏ được trở ngại của họ Trịnh ở Đài Loan và tiếp tục mở cửa mậu dịch hải ngoại Số thuyền buôn từ Trung Quốc đến Manila có cơ hội tăng nhanh và trung bình đạt 17, 5 thuyền/ năm

■fc>- Theo ước tính của Chuan Hang-Sheng, số lượng bạc theo con

đường qua Manila đến với thị trường Trung Quô'c giai đoạn này trung bình vào khoảng 2.000.000 pesos/ năm (Theo Chuan, 1997: 285) Tuy nhiên, con số này chi là tương đối bởi tình hình dòng bạc

từ châu Mỹ những năm cuối thế kỉ XVII đã có sự suy giảm nhanh chóng Có những năm chi có một sô' lượng bạc rất nhỏ được đua từ Mexico đến Manila, nhất là trong thập niên 1640 Một sô' lo ngại theo

đã xuâ't hiện đó là thời gian này, chỉ có một sô' râ't nhỏ thuyền mành

từ Trung Quốc đêh Manila cũng là một sự an ủi lớn (cho những thương nhân Manila) Bởi thực tê' do số bạc được đưa từ Mexico đến ngày càng thấp khiến họ "lo sợ rằng những thương nhân Trung Quốc rồi sẽ không còn đến buôn bán vào năm nay" (Atwell, 2005: 473) Bên cạnh đó, tình hình buôn lậu thời điểm này đã vượt quá sự kiểm soát của chính quyền Tây Ban Nha Hơn nữa, sự tham gia tích cực của người Hà Lan trong hệ thống thương mại châu Á đã trở thành cản trở lớn cho sự phát triển tuyến thương mại Trung Quốc - Philippines

Có thể nói, vào cuôì thế kỉ XVII, hoạt động thương mại giữa Manila và Trung Quôc bắt đầu có dấu hiệu suy giảm tuy nhiên lượng bạc giao dịch vân đảm bảo về mặt sô' lượng và giúp duy trì sư phát triển của thị trường Manila trong một khoảng thời gian dài Tương ứng vói đó, tùy vào sự thay đổi của từng thời kì và môì quan hậ giữa Manila và Trung Quôc sô' lượng thuyền buôn và tần suâ't hoạt động buôn bán cũng thay đổi theo

Trang 7

N guỵễn Thị Minh Nguỵệt

2 Những chuyển biến về mặt kinh tê

2.1 Tắc động lên tỉ giá

Xuất phát từ hệ quả của chính sách "Nhát roi duy nhất" (Single

Whip) toàn bộ nền kinh tế thời Minh đã có những biến đổi toàn diện

và sâu sắc Do sự suy giảm mạnh trong khai thác các mỏ bạc trong

nưóc vào những năm đầu của XV, lượng bạc cung ứng thâp hơn rất < nhiều so vói nhu cầu tiêu dùng cho lìơn 150 triệu người thời bấy giờ

Điều đó đã dẫn đến tình trạng chưa khi nào trong lịch sử tiền tệ

Trung Quôc tỉ giá hôì đoái giữa đổng bạc - vàng lại có sự chênh lệch

lớn nghiêng về bạc đến như vậy So sánh vói hai triều đại cũng sử

dụng bạc làm phương tiện giao dịch đó là nhà Tông (960 - 1279) và

nhà Nguyên (1271 - 1368) thì giá trị của bạc vào thời Minh đã cao

gần gấp hai lần (Chuan, 1997: 284)

Tình trạng này vẫn tiếp diễn cho đến cuối thế kỉ XVI, tỉ giá bạc

đổi lấy vàng so vơi những thị trường khác trên thế giói trong cùng

thời điểm thậm chí đã chênh lệch gấp đôi: 1 đơn vị vàng chỉ đổi được

6 đon vị bạc trong khi vàng tại châu Au người ta giao dịch ở tỉ giá

1:12, tại thị trường Nhật Bản và Ba Tư là 1:10, tại Mông Cổ là 1:9, Ấn

Độ là 1:8 Thậm chí ở nhiều nơi đặc biệt là các cảng thị ở phía Nam

Trung Quốc, như: Quảng Đông từ đầu cuôì thế kỉ XVI đến khoảng

đẩu thế kỉ XVII, ti giá vàng/bạc là 1:7 hoặc 1:8 Bên cạnh đó, ghi chép

của những thương nhân người Hà Lan về tình hình trao đổi bạc lấy

vàng ở Phúc Kiến vào những năm đầu thế kỉ XVII đó là: khoảng

những năm 1620 tỉ giá là 1:8, 1:10 vào năm 1635 và giảm xuống còn

1:13 vào khoảng 1637 đến 164ŨS Như vậy, bắt nguồn từ nhu cầu lớn

về hạc của Trung Quốc, "Tất cả bạc trên trái đất đều hành hương về

đây" (The world's silver sink) (O.Flynn và Giraldez, 1995: 207) Điều

đó dà mang đến nguồn lợi nhuận kếch xù cho tất cả thương nhân

phương Tây và thương nhân Nhật Bản Năm 1569, một tu sĩ Tây Ban

Nha tên là Gaspa de Cruz đã nhận xét: "Không có bâ't kì mặt hàng

nào quan trọng hơn bạc đôì với thị trường ở Trung Quôc" (O.Flynn

và Ciraldez/ 2002: 394)

Trang 8

Tác độ n g của dòng chảy bạc Maniỉa (Philippm es)

Bảng 2: Tỉ g iá hôi đoái bạd v àn g (1500-1700)

(Đơn vị tính: X bạc đôỉ lây 1 đơn vị vàng)

\^ N u ớ c

(Broadberry và Gupta, 2005: 26) Tuy nhiên, lượng bạc chảy vào Trung Quô'c theo những con đường

từ châu Mỹ qua Manila hoặc từ Nhật Bản đã đạt tới những con số khổng lồ Theo ước lượng, khối lượng bạc được đưa đến thị trường Trung Quốc vào khoảng 4.500 tân từ 1570 - 1630 (75.000kg/năm) (Atwell, 2005: 470) Trước sự thâm nhập với cường độ lớn đó của bạc, cuôì cùng, tỉ giá vàng: bạc đã dần trở về mức sàn thế giới Dù vậy, bạc vẫn tiếp tục được chảy về Trung Quôc trong suô't nửa sau của thê' kỉ XVII Bạc được tích lũy và trở nên phổ biên trên thị trường Bảng sô' liệu dưới đây cho thấy Sự biêh động rõ ràng về tí giá của bạc ớ Trung Quôc

so với các thị trường Nhật Bản và Tây Ban Nha qua các năm như sau:

Bảng 3: Ti g iá hốt đ o á i bạc/vàng (1566-1644)

(Đơn vị tính: X bạc đôĩ lây 1 đơn vị vàng)

Trang 9

N guyễn Thị Minh Nguyệt

(Atwell, 1982: 82) Ngoài nhũng biến động về tỉ giá hối đoái giữa vàng và bạc, tì giá giữa tiển đổng và bạc cũng có sự thay đổi đáng kể Bắt đầu từ cuôĩ thê' kỉ XVI cho đến nhũng năm đầu thế ki XVII, do sự khan hiếm của tiền đồng và lượng bạc dổi dào khiến tỉ lệ tiền đổng và bạc có sự chênh lệch râ't lớn

Bảng 4: Tỉ giá hô'i đ o á i tiền đổng/bạc ở Trung Quốc (1368-1627)

(Atwell, 1982: 84) Sau năm 1630, ti giá bạc: đổng có xu hướng ngày càng tăng do lúc này nhà Minh đã cho mở một sô' mỏ khai thác đồng đê’ đúc tiền Bên cạnh

đó, một lượng lớn tiền đổng 2eni của Nhật cũng được nhập sang thị

trường Trung Quôc Điều này ảnh hưởng lớn đến tỉ giá hối đoái giữa loại hình tiển bằng bạc và tiền bằng đổng Vào năm 1638, 1.000 tiên đổng đổi được trên 9 quan (0,342 kg bạc), năm 1640 cùng với số tiền đổng đó đổi

Trang 10

T ác động của dòng chảy bạc Maniỉa (Phiíippines

được khoảng 5 quan (0,019kg), vào năm 1643 là 3,3 quan (0,012 kg) tỉ lệ trao đổi giảm hẳn vào năm 1646 khi 1000 đơn vị tiên đổng chỉ đổi được 1,7 quan (0,006 kg) Có thể nói, sự phát triêh mạnh về sô' lượng tiền đồng

và sự suy giảm của bạc Manila vào những năm cuổỉ triều đại nhà Minh

đã gây ra những biến đổi trong ti giá giữa dền đổng và bạc

Như thế, tỉ giá hối đoái giữa vàng: bạc và tiền đổng: bạc của Trung Quôc luôn chịu ảnh hưởng của dòng chảy bạc từ bên ngoài Đặc biệt, vào giai đoạn sau thập niên 1620s, vói sự suy giảm đột ngột của nguồn bạc được khai thác ở châu Mỹ và Nhật Bản, quá trình tích lũy bạc trong thời gian dài tại Trung Quôc đẩy giá bạc lên cao Một mặt nào đó, chính yếu tố này đã dẫn đến tình trạng khủng hoảng và lạm phát lên toàn bộ nền kinh tế Trung Quôc nói riêng và kinh tế thế giói nói chung

2.2 Tác động lên g iá cả

Với những biêh đổi trong tỉ giá hổi đoái giữa bạc vơi các loại tiền tệ khác đặc biệt là vào cuôĩ triều đại nhà Minh, tình hình giá cả cũng có sự

- thay đổi đáng kể Tinh trạng lạm phát diễn ra ở mức độ cao trên thị trường Trung Qưôc Đổng thòi tại các khu vực khác, lạm phát chóng mặt đã tạo nên một cuộc cách mạng về giá cả, đặc biệt ở châu Âu Phân tích hiện tượng này, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định rằng nguyên nhân của tình trạng lạm phát do sự quá dổi dào về kim loại quý khiên cho thị trường trở nên hoàn toàn bão hòa (Beaud, 2002: 45)

Quay trở về trường hợp của Trung Qưôc, tình trạng lạm pháit đã xuất hiện tù khoảng thập niên 1630 và thập niên 1640 Bên cạnh việc dòng bạc sau một thời gian dài chảy liên tục vói mật độ ngày càng lón vào thị trường đã tích lũy nên một sô' lượng lón, thời gian này tại Trung Quốc còn xảy ra tình trạng thiên tai1, bệnh dịch Không chỉ vậy, chính quyền nhà Minh còn tiến hành tăng thuế liên tục để thu ngân sách phục

vụ cho cuộc chiêh vói người Mãn Châu Tâ't cả những yếu tô' trên đã đẩy giá cả lên cao và trờ thành nỗi khổ của mọi cư dân đặc biệt là cộng đồng dân cư sinh sông tại khu vực sông Dương Tử

1 Giai đoạn 1626 - 1650 xảy ra hiện tượng thòi tiết cực đoan, đặc biệt lạnh, mhiệt

độ trái đất giảm đến mức thâp nhâ't chí đứng sau thời kì băng hà Giai đoạn này được ghi chép trong lịch sử châu Âư với cái tên "Kỉ băng hà của Louis XIV"'.

Ngày đăng: 04/02/2021, 13:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w