Liên quan đến quản trị chia sẻ, nhóm nghiên cứu tập trung xử lý, phân tích các dữ liệu về sự tham gia của giảng viên và sinh viên trong quản trị ba lĩnh vực hoạt động của nhà trường là[r]
Trang 1GS.TS Nguyễn Quý Thanh
TS Nguyễn Thị Bích Thủy 1
Tóm tắt: Quản trị đại học ở Việt Nam đang chuyển dịch theo hai hướng có vẻ trái
ngược nhau là chia sẻ và tập đoàn hóa Theo hướng chia sẻ, nhóm quản trị “chóp bu” trong nhà trường chủ động thu hút sự tham gia của cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên, người học và nhân viên hỗ trợ và người lao động trong nhà trường Xu hướng chia sẻ gắn liền với dân chủ hóa trong nhà trường Bài viết hướng đến làm
rõ khái niệm quản trị chia sẻ, các cách tiếp cận về quản trị chia sẻ và làm rõ sự tham gia của sinh viên vào quá trình quản trị chia sẻ trong trường đại học Các lĩnh vực sinh viên tham gia được bàn đến là tổ chức nhân sự, học thuật và tài chính
Bài viết sử dụng dữ liệu thuộc đề tài “Báo cáo Thường niên Giáo dục 2018: Quản trị đại học ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi” (Đề tài cấp Đại học Quốc gia,
mã số QG.18.27) do nhóm chính nhóm tác giả thực hiện.
Từ khóa: Quản trị đại học, Quản trị chia sẻ, Sự tham gia của sinh viên.
1 Đặt vấn đề
Từ khi đổi mới kinh tế - xã hội đến nay, đặc biệt là từ khi Việt Nam ban hành Luật Giáo dục (1998) và nhất là luật Giáo dục đại học (2012), quản trị đại học của Việt Nam đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng “xã hội hóa” Trong đó, Nhà nước tiếp tục đóng vai trò chủ đạo thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật và phân cấp, phân quyền, tản quyền cho các trường đại học tự chủ theo năng lực và điều kiện hoạt động của mỗi trường đại học Dưới áp lực của các điều kiện kinh tế thị trường, quản trị đại học cấp cơ sở giáo dục, cấp tổ chức đang chuyển dịch theo hai hướng
có vẻ trái ngược nhau là chia sẻ và tập đoàn hóa Theo hướng chia sẻ, nhóm quản trị
“chóp bu” trong nhà trường chủ động thu hút sự tham gia của cán bộ lãnh đạo, quản
lý, giảng viên, người học và nhân viên hỗ trợ và người lao động trong nhà trường
Xu hướng chia sẻ gắn liền với dân chủ hóa trong nhà trường
1 Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 2Bài viết này tác giả quan tâm đến xu hướng quản trị chia sẻ trong các trường đại học ở Việt Nam Quản trị chia sẻ (Shared Governance) là mô hình quản trị cân bằng, tái cân bằng giữa quản trị nhà nước, quản trị hàn lâm, quản trị tập đoàn trong các trường đại học Hiện nay, quản trị chia sẻ chỉ bó hẹp trong phạm vi các cơ quan quản trị, ví dụ mở rộng các thành phần tham gia hội đồng quản trị, hội đồng trường Điều quan trọng là cần phải huy động sự tham gia của giảng viên, sinh viên vào các hoạt động của nhà trường Tác giả bài viết hướng đến làm rõ khái niệm quản trị chia
sẻ, các cách tiếp cận về quản trị chia sẻ và làm rõ sự tham gia của sinh viên vào quá trình quản trị chia sẻ trong trường đại học Các lĩnh vực sinh viên tham gia được bàn đến là tổ chức nhân sự, học thuật và tài chính Bài viết sử dụng các số liệu khảo sát từ
đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: “Báo cáo Thường niên Giáo dục 2018: Quản trị Đại học ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi” do chính nhóm tác giả bài viết thực hiện
2 Quản trị chia sẻ: khái niệm và một số cách tiếp cận
2.1 Khái niệm
Trên thế giới, quản trị chia sẻ không mới, ví dụ ở Hoa Kỳ quản trị chia sẻ được định nghĩa là quá trình theo đó các bộ phận cấu thành như các hội đồng quản trị, bộ phận hành chính cao cấp và đội ngũ giảng viên và có thể cả đội ngũ nhân viên, sinh viên và những thành viên khác của trường đóng góp vào quá trình ra các quyết định liên quan đến chính sách và quy trình hoạt động của nhà trường [6] Quản trị chia
sẻ là hệ thống lãnh đạo, quản lý trao quyền tham gia quá trình ra quyết định cho tất
cả các thành viên của tổ chức Đối với trường đại học, quản trị chia sẻ đòi hỏi tất cả các thành viên của trường đại học được trao quyền tham gia quá trình ra quyết định Tuy nhiên, thách thức rất lớn luôn được đặt ra là làm sao thu hút được sự tham gia của “tất cả thành viên” trong một trường đại học với hàng trăm giảng viên và hàng nghìn sinh viên cùng rất nhiều người khác Các ý kiến góp ý được tập hợp như thế nào và được tham khảo ra sao là những câu hỏi đặt ra và cần trả lời một cách thỏa đáng Ở Việt Nam, trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, quản trị chia
sẻ trở thành xu hướng quản trị trong các trường đại học công lập và trường đại học
tư thục theo đó quản trị chính trị nhà nước tập trung vào cơ quan quản lý nhà nước
và cơ quan hành chính nhà nước và các trường được tự chủ áp dụng quản trị chia sẻ với sự tham gia của các bên gồm giới khoa học, giảng viên, sinh viên, các cá nhân và
tổ chức trong trường và ngoài trường
Một biểu hiện rất rõ của mô hình quản trị chia sẻ trong các trường đại học công lập ở Việt Nam là việc thiết lập hội đồng trường với nhiều thành phần là đại diện của nhiều nhóm, tổ chức trong trường và ngoài trường Đồng thời, hội đồng khoa học
và đào tạo được thành lập và hoạt động một cách độc lập với tính cách là cơ quan
Trang 3tư vấn chuyên môn học thuật cho hiệu trưởng, giám đốc Ngoài ra, trong hệ thống các cấu trúc quản trị của trường đại học còn có một số hội đồng khác như hội đồng tuyển sinh, hội đồng thi đua khen thưởng, hội đồng kỷ luật gồm các thành phần có tính chất chia sẻ là các đại diện đương nhiên từ phía lãnh đạo, quản lý và các thành phần khác
2.2 Một số cách tiếp cận lý thuyết về quản trị chia sẻ
Năm 2014, một nghiên cứu về chủ đề này trong các trường cao đẳng và đại học ở Hoa Kỳ đã phát hiện được bốn cách tiếp cận lý thuyết khác nhau như sau [8]:
(i) Quản trị chia sẻ là sự bình đẳng về quyền tham gia quản trị Theo quan niệm này,
quản trị chia sẻ việc đảm bảo rằng giảng viên, nhân viên và cán bộ hành chính có tiếng nói bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực quản trị bao gồm ngân sách, học thuật
và kế hoạch chiến lược Các quyết định về lĩnh vực này chỉ được ban hành khi nào đạt được sự đồng thuận của các bên tham gia Vấn đề đặt ra với quan niệm này là như thế nào là tiếng nói bình đẳng và làm thế nào để tạo ra được sự đồng thuận khi
có những ý kiến trái ngược nhau về cùng một nội dung cần phải có quyết định xử
lý ngay
(ii) Quản trị chia sẻ là tư vấn, tham vấn Theo quan niệm này, quản trị chia sẻ là
việc các bên có trách nhiệm ra quyết định phải tham vấn và xem xét các ý kiến đóng góp của những người khác Cách tiếp cận này nói đến tham vấn nhưng không rõ những người khác là ai và tham vấn như thế nào và cân nhắc ra sao với các ý kiến của những người khác Do vậy, các nhà quản trị hoàn toàn có thể tham vấn ý kiến người khác cho có vẻ là “chia sẻ” mà vẫn đưa ra quyết định theo ý chí của mình mà không bị ảnh hưởng bởi ý kiến của người được tham vấn
(iii) Quản trị chia sẻ là các quy tắc ràng buộc Theo quan niệm này, quản trị chia
sẻ là tập hợp các quy tắc về vai trò và quyền uy của ban quản trị, đội ngũ giảng viên
và bộ máy hành chính trong các quyết định về học thuật, ngân sách, lựa chọn người đứng đầu nhà trường (chủ tịch) và các quyết định điều hành khác Quản trị chia sẻ còn bao gồm cả các quy tắc giải quyết các bất đồng khi xảy ra giữa các giảng viên, các ủy viên quản trị và các nhà hành chính Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa nêu
rõ các quy tắc quản trị chia sẻ phải như thế nào và các quy tắc đó có thể hoàn toàn
có lợi cho ban quản trị Ví dụ, quản trị chia sẻ có thể đề ra một quy tắc bổ nhiệm cán
bộ hay tuyển chọn cán bộ là ban quản trị phải lấy ý kiến thăm dò của giảng viên và cán bộ hành chính để tham khảo mà ý kiến thăm dò đó không có ảnh hưởng gì đến quyết định của ban quản trị
(iv) Quản trị chia sẻ là một hệ thống sắp xếp các ưu tiên Theo quan niệm này, quản
trị chia sẻ là hệ thống truyền thông mở nhằm sắp xếp các thứ tự ưu tiên, xây dựng
Trang 4văn hóa chia sẻ trách nhiệm đối với phúc lợi chung và thiết lập hệ thống kiểm tra và cân bằng đảm bảo cho nhà trường duy trì được sứ mệnh đã xác định Quan niệm thứ
tư này tỏ ra phù hợp hơn cả bởi vì nó vừa nói đến cách thức thực hiện vừa nói đến nội dung và mục tiêu cuối cùng của quản trị chia sẻ
3 Sự tham gia của sinh viên vào hoạt động quản trị trong các trường đại học 1
Hiện nay, vai trò của “các bên liên quan” trong cơ chế ra quyết định của các trường đại học Việt Nam vẫn còn rất yếu Minh chứng cho điều này là tiếng nói của sinh viên Sinh viên chắc chắn là bên liên quan quan trọng của trường đại học, nhưng hiện nay họ hầu như không có vai trò gì trong hoạt động quản trị nhà trường Thực tế, sinh viên chẳng những đã đầu tư vào trường qua số tiền học phí họ đóng,
mà còn đầu tư thời gian, công sức, chi phí cơ hội của cuộc đời Thái độ của trường đại học đối với sinh viên, và thái độ của sinh viên đối với nhà trường là một trong những điểm khác biệt rõ nét nhất giữa các trường đại học ở Việt Nam và các trường đại học ở những quốc gia phát triển Sinh viên là một phần rất quan trọng tạo ra bộ mặt của nhà trường Bốn năm học đại học không phải chỉ bao gồm những buổi lên lớp và những bài thi hết môn, mà còn là thể thao, hoạt động cộng đồng, thực hiện
1 Năm 2018, nhóm nghiên cứu của Đại học quốc gia Hà Nội đã tiến hành một cuộc khảo sát chọn mẫu
về quản trị đại học (tác giả bài viết là chủ trì và thư ký khoa học) nhằm làm rõ thành phần, cấu trúc và các vị trí, vai trò của các bên liên quan trong quá trình ra quyết định đối với các lĩnh vực cơ bản của nhà trường là tổ chức nhân sự, học thuật (đào tạo và nghiên cứu khoa học), tài chính và những lĩnh vực khác Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra thu thập thông tin với hai loại phiếu khảo sát: một phiếu dành cho giảng viên và một phiếu dành cho sinh viên Phiếu khảo sát gồm các câu hỏi được xây dựng nhằm mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng quản trị đại học của các cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục ở nước ta hiện nay Những thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát và
từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm đối với các cán bộ lãnh đạo, quản lý, quản trị và các bên liên quan được xử lý phân tích để làm rõ những luận điểm nghiên cứu về quản trị đại học nói chung và quản trị chia sẻ nói riêng
Cuộc khảo sát đã thu thập được thông tin từ các phiếu khảo sát đối với 300 giảng viên và 700 sinh viên thuộc 11 cơ sở giáo dục đại học Đó là Đại học quốc gia Hà Nội; Đại học quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh; Trường Đại học Sài Gòn; Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Học viện Ngân hàng; Đại học Tây Nguyên; Trường Đại học Tài nguyên và môi trường; Học viện Nông nghiệp; Đại học Đà Nẵng; Đại học Vinh; Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội; Trường Đại học Đông
Á Đà Nẵng.
Cơ cấu mẫu được phân bố cân đối giới tính nam và nữ và các khối ngành đào tạo gồm Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quản lý và khoa học tự nhiên, khoa học sự sống, y học Nhằm mục đích
so sánh mức độ tự chủ và quản trị chia sẻ của các nhóm trường, nhóm nghiên cứu đã chia các cơ sở giáo dục đại học trên thành 5 nhóm chính: Đại học quốc gia; Đại học vùng; trường đại học tự chủ theo Nghị quyết 77; Trường đại học ngoài công lập và trường đại học khác Liên quan đến quản trị chia
sẻ, nhóm nghiên cứu tập trung xử lý, phân tích các dữ liệu về sự tham gia của giảng viên và sinh viên trong quản trị ba lĩnh vực hoạt động của nhà trường là tổ chức nhân sự, học thuật, tài chính
Trang 5trải nghiệm các kỹ năng và làm việc nhóm Sinh viên là thành phần không thể thiếu trong cơ cấu hội đồng trường đối với nhiều trường, nhằm bảo đảm rằng nhà trường đáp ứng tốt nhất những nhu cầu và mong đợi của họ
Sự tham gia của sinh viên vào quản trị trong trường đại học chính là việc họ thực hiện các hoạt động như đóng góp ý kiến, đánh giá chất lượng, trả lời phiếu khảo sát, làm thành viên các hội đồng cấp khoa, cấp trường, phản hồi chất lượng phục vụ,… mức độ tham gia của sinh viên thể hiện thấp nhất là thờ ơ, không quan tâm và mức cao nhất là tham gia nhiệt tình, ý kiến của họ được trường tiếp nhận và
sử dụng
Ở các bảng biểu sử dụng trong bài viết, có hai chỉ số giá trị trung bình mức độ tham gia và hiệu quả tham gia, kèm theo độ lệch chuẩn của hai chỉ số này Mức độ tham gia là chỉ số thể hiện tần suất tham gia của giảng viên, sinh viên vào các hoạt động, nhằm đánh giá mức độ tham gia tích cực vào các hoạt động Giá trị trung bình của mức độ tham gia dao động từ 0 đến 2 điểm, trong đó 0 điểm thể hiện cho sự không tham gia và 2 điểm là tham gia tích cực nhất Còn giá trị trung bình của hiệu quả tham gia dao động từ 0 đến 10 điểm, trong đó 10 điểm là hiệu quả tham gia cao nhất “Độ lệch chuẩn” là một đại lượng thống kê mô tả dùng để đo mức độ phân tán của một tập dữ liệu đã được lập thành bảng tần số Có thể tính ra độ lệch chuẩn bằng cách lấy căn bậc hai của phương sai “Độ lệch chuẩn” càng cao chứng tỏ sự phân tán, sự biến thiên các điểm của mức độ tham gia và hiệu quả tham gia càng lớn
Sự tham gia của sinh viên vào quản trị lĩnh vực tổ chức nhân sự
Trong các môi trường đại học, sinh viên được coi như một đối tượng trưởng thành cả về trí và lực Đứng trước các vấn đề liên quan đến lĩnh vực tổ chức nhân sự, sinh viên cần được quyền phát huy tinh thần tự chủ của mình Thông qua quá trình rèn luyện tự chủ sinh viên mới có thể khẳng định khả năng độc lập, khát vọng tìm kiếm và năng lực sáng tạo mới có điều kiện nảy nở Các hoạt động tham gia của sinh viên được cho là có ảnh hưởng lớn nhất đến lĩnh vực tổ chức nhân sự của cơ sở giáo dục đại học, thể hiện qua bảng số liệu 3.1
Trong lĩnh vực tổ chức nhân sự, mức độ tham gia của sinh viên của tất cả các nhóm trường còn thấp, trong đó mức độ tham gia cao nhất chỉ đạt 1.00 điểm, còn lại phổ biến trong các hoạt động là số điểm dưới 0.50 Điều này cho thấy các khía cạnh liên quan đến tổ chức nhân sự chưa nhận được sự quan tâm tham gia nhiều của sinh viên Nguyên nhân có thể lý giải từ việc các cơ sở giáo dục đại học chưa tạo điều kiện cho sinh viên tham gia vào các hoạt động tổ chức nhân sự, đặc biệt với các hoạt động mang tính “vĩ mô” như: Góp ý cho chiến lược phát triển của trường; Góp ý cho góp quy chế tổ chức hoạt động của trường; Góp ý cho về việc thành lập các đơn vị trong trường
Trang 6Bảng 3.1 Mức độ tham gia của sinh viên vào lĩnh vực tổ chức, nhân sự
Góp ý cho chiến lược phát triển của trường
Góp ý cho góp quy chế
tổ chức hoạt động của trường
Đánh giá chất lượng phục
vụ sinh viên của các phòng ban liên quan
Góp ý cho
về việc thành lập các đơn
vị trong trường
Đánh giá chất lượng hoạt động
hỗ trợ sinh viên
Sinh viên trong
các đại học
quốc gia
0.48 (0.73) (0.75)0.54 (0.64)0.48 (0.50)0.25 (0.66)0.42 Sinh viên trong
các đại học
vùng
0.11 (0.40) (0.30)0.60 (0.55)0.28 (0.32)0.08 (0.59)0.48 Sinh viên trong
các trường đại
học tự chủ theo
Nghị quyết 77
0.01 (0.01) (0.01)0.01 (0.01)1.00 (0.01)0.01 (0.01)1.00
Sinh viên trong
các đại học
ngoài công lập
0.36 (0.53) (0.52)0.33 (0.76)0.72 (0.54)0.30 (1.25)0.77 Sinh viên trong
các trường đại
học khác
0.30 (0.60) (0.56)0.30 (0.68)0.49 (0.50)0.21 (0.70)0.51
Với các hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền lợi của sinh viên như: Đánh
giá chất lượng phục vụ sinh viên của các phòng ban liên quan hay Đánh giá chất lượng hoạt động hỗ trợ sinh viên có mức độ tham gia tích cực cao nhất, nhưng nhìn chung cũng không được nhiều sinh viên quan tâm tham gia Ngoài việc chưa được khuyến khích, tạo điều kiện thì nhiều sinh viên cũng không hứng thú với những hoạt động này Và một
số sinh viên tích cực tham gia cho ý kiến đóng góp thì những ý kiến đó cũng chưa được ghi nhận nên nhìn chung mức độ tham gia tích cực của sinh viên vào lĩnh vực tổ chức nhân sự còn thấp
Trang 7Biểu đồ 3.1 Hiệu quả tham gia của sinh viên vào lĩnh vực tổ chức nhân sự
Hiệu quả tham gia của sinh viên các nhóm trường vào lĩnh vực tổ chức nhân sự cũng không cao Trong số các nhóm trường, sinh viên trong các đại học quốc gia tự đánh giá về hiệu quả tham gia trong các hoạt động cao hơn hẳn sinh viên các nhóm trường khác (khoảng điểm từ 6,40 đến 7,20) Sinh viên trong các đại học vùng và đại học ngoài công lập có hiệu quả tham gia vào lĩnh vực tổ chức nhân sự của nhà trường thấp nhất (khoảng 3,6 đến 4,8 điểm)
Trong số các hoạt động về tổ chức nhân sự thì hoạt động Đánh giá chất lượng phục vụ sinh viên của các phòng ban liên quan có hiệu quả tham gia của sinh viên cao nhất, điểm cao nhất đạt khá với 7,26 (sinh viên trong các đại học quốc gia) và điểm thấp nhất đạt 4,18 điểm (sinh viên trong các đại học vùng)
Qua khảo sát, tác giả nhận thấy trong các nhóm trường sinh viên đều chưa được khuyến khích tham gia quản trị trong nhà trường Bản thân sinh viên khi được hỏi cũng không “mặn mà” với lĩnh vực tổ chức nhân sự Thành phần sinh viên tham gia trong Hội đồng nhà trường cũng mang tính hình thức, chưa có đóng góp thực sự hữu ích đối với sự phát triển về mặt tổ chức của trường đại học
Sự tham gia của sinh viên vào quản trị lĩnh vực học thuật
Sinh viên được xem là “thành phần của cộng đồng học thuật” trong cơ sở giáo dục đại học, có ảnh hưởng rộng lớn và tích cực đến quản trị đại học của cơ sở Bản chất sự tham gia của sinh viên rất đa dạng và không theo một khuôn mẫu nào (mà thể hiện tùy vào đặc thù của chính sách quốc gia trong quản trị đại học) Sự tham gia của sinh viên là quy tắc và không thể thực hiện nếu thiếu sự xem xét các cách thức tiếp cận khác nhau đối với quản trị đại học Vấn đề khác là sự tham gia chính
Trang 8thức hay tham gia thực tế Do đó không chỉ yêu cầu sinh viên lắng nghe mà cần lắng nghe sinh viên “Students need not to be only listened to, but they need to be heard” (Aghveran, Armenia, 2011)
Sinh viên có thể tham gia đầy đủ trong các hoạt động xác định kế hoạch, bỏ phiếu bầu chọn và thực hiện tất cả các vấn đề liên quan đến học thuật Nó sẽ tăng cường tính tích cực của một thành viên trong cơ sở giáo dục và thể hiện tính dân chủ
và văn hóa đối thoại trong cơ sở giáo dục (Klemencic M (2011) Jungblut’s (2011) và Shiva Lal Acharya (11/2915) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra ba cách thức tham gia của sinh viên trong quản trị cơ sở giáo dục đại học, cụ thể gồm: tham gia trong
tự chủ học thuật (không chỉ phản hồi về chương trình đào tạo, học phần mà còn đưa
ra các ý kiến quyết định về vấn đề chính sách), tự chủ quản trị hệ thống và trong tiến trình đảm bảo chất lượng giáo dục (Quality Assurance process)
Để phát huy được hiệu quả của việc sinh viên tham gia trong các hoạt động cơ
sở giáo dục cần có sự ủng hộ và nguồn lực tổ chức lâu dài vì cần có các phương tiện
về tài chính, hậu cần tổ chức và các phương tiện hoạt động khác để có thể tạo được môi trường thân thiện, khuyến khích được sinh viên tích cực tham gia Bên cạnh các tuyên bố về cấp độ quốc gia và cơ sở giáo dục cần có sự chuyển tải các ý chí đó thành thực tiễn hành động Việc thực hiện sự tham gia của sinh viên cần đáp ứng theo sự thay đổi về quản trị của cơ sở giáo dục đại học
Bảng 3.2 Mức độ tham gia của sinh viên vào lĩnh vực học thuật
Họp Hội
đồng Khoa học &
Đào tạo của
Trường
Góp ý khi Nhà trường định
kì điều chỉnh chương trình đào tạo
Góp ý cho Nhà trường về chương trình đào tạo (mỗi khi thấy
có vấn đề)
Trả lời khảo sát của
cơ quan kiểm định
về chất lượng chương trình đào tạo
Trả lời khảo sát của
cơ quan kiểm định
về chất lượng đào tạo của Trường
Phản hồi khảo sát của trường
về chất lượng giảng dạy các môn học
Đánh giá chất lượng phục
vụ của thư viện
Sinh viên
trong các
Đại học
quốc gia
0.32 (0.56) (0.57)0.35 (0.58)0.40 (0.79)0.79 (0.78)0.64 (0.78)1.00 (0.58)0.39
Sinh viên
trong các
Đại học
vùng
0.11 (0.40) (0.34)0.09 (0.58)0.40 (0.62)0.35 (0.64)0.35 (0.79)0.45 (0.65)0.62
Trang 9Sinh viên
trong các
Trường Đại
học tự chủ
theo Nghị
quyết 77
0.01 (0.01) (0.01)1.00 (0.01)1.00 (0.01)1.00 (0.01)1.00 (0.01)2.00 (0.01)1.00
Sinh viên
trong các
Đại học
ngoài công
lập
0.24 (0.53) (0.62)0.41 (0.70)0.55 (0.79)0.81 (0.82)0.69 (0.83)1.12 (0.76)0.77
Sinh viên
trong các
Trường Đại
học khác
0.16 (0.44) (0.58)0.36 (0.57)0.35 (0.80)1.04 (0.83)0.81 (0.81)1.09 (0.75)0.62
Sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động thuộc lĩnh vực học thuật nhìn chung cao hơn lĩnh vực tổ chức nhân sự và có sự khác nhau giữa các nhóm trường cũng như giữa các hoạt động Hoạt động được sinh viên tham gia nhiều nhất là Phản hồi khảo sát của trường về chất lượng giảng dạy các môn học Với mức tham gia tích cực cao nhất đạt giá trị trung bình là 2.00 điểm (độ lệch chuẩn 0.01) của sinh viên trong các trường đại học tự chủ theo Nghị quyết 77 Tiếp đến, hai hoạt động Trả lời khảo sát của cơ quan kiểm định về chất lượng chương trình đào tạo và Trả lời khảo sát của cơ quan kiểm định về chất lượng đào tạo của trường cũng được sinh viên tham gia tích cực hơn các hoạt động khác, với mức độ tham gia tích cực nhất lần lượt đạt 1.04 (độ lệch chuẩn 0.80) là của sinh viên trong các trường đại học khác và 1.00 (độ lệch chuẩn 0.01) của sinh viên trong các trường đại học tự chủ theo Nghị quyết 77 Các hoạt động họp hội đồng khoa học & đào tạo của trường; Góp ý khi nhà trường định kì điều chỉnh chương trình đào tạo và góp ý cho nhà trường về chương trình đào tạo (mỗi khi thấy có vấn đề) là những hoạt động được sinh viên đánh giá thuộc cấp độ “vĩ mô”, sinh viên ít tham gia do ít khi được tạo điều kiện, khuyến khích tham gia Ngoài ra, ý kiến tham gia của sinh viên liên quan đến các hoạt động này cũng chưa được nhà trường ghi nhận Vì vậy mức độ tham gia của sinh viên của các nhóm trường vào các hoạt động này hầu như chưa đạt mức 0.50 điểm
Trang 10Biểu đồ 3.2 Hiệu quả tham gia của sinh viên vào lĩnh vực học thuật
Hiệu quả tham gia của sinh viên các nhóm trường vào lĩnh vực học thuật không đồng đều giữa các nhóm trường và giữa các hoạt động Trong từng nhóm trường, hiệu quả tham gia giữa các hoạt động cũng không đồng đều, có hoạt động Phản hồi khảo sát của trường về chất lượng giảng dạy các môn học được sinh viên đánh giá hiệu quả tham gia cao lên đến 8.95 (Sinh viên trong các trường đại học tự chủ theo Nghị quyết 77), song cũng có hoạt động họp hội đồng khoa học & đào tạo của trường hiệu quả chỉ đạt 1.00 điểm (Sinh viên trong các trường đại học tự chủ theo Nghị quyết 77)
Hoạt động Họp hội đồng khoa học & đào tạo của trường được sinh viên đánh giá có hiệu quả tham gia thấp nhất trong số các hoạt động (điểm thấp nhất là 1.00, điểm cao nhất là 5.00) Hiệu quả tham gia của sinh viên trong các đại học tự chủ theo Nghị quyết 77 là có chênh lệch lớn giữa các hoạt động, có hoạt động đạt hiệu quả tham gia cao lên đến 8.95 điểm (Phản hồi khảo sát của trường về chất lượng giảng dạy các môn học), nhưng cũng có hoạt động chỉ đạt 1.00 điểm (Họp Hội đồng Khoa học & Đào tạo của Trường) Sinh viên trong các đại học vùng và đại học khác đánh giá hiệu quả tham gia trong lĩnh vực học thuật khá đồng đều nhau (khoảng từ 4 – 6 điểm) Sinh viên trong các đại học quốc gia có hiệu quả tham gia trong các hoạt động
là đồng đều nhất (khoảng từ 5.00 – đến 6.00 điểm)
Lĩnh vực học thuật nhìn chung thu hút sự tham gia của sinh viên nhiều nhất trong cả ba lĩnh vực, vì nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của sinh viên,
do đó sinh viên quan tâm và được nhà trường khuyến khích, tạo điều kiện tham gia