Trong đó việc nuôi gà thả vườn ở qui mô hộ gia đình là một mô hình truyền thống rất được chú ý đến do hiệu quả kinh tế khá cao ngược lại chi phí vốn cũng như chi phí nuôi dưỡng lại thấp
Trang 1KHOA KINH TẾ- QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
MÔ HÌNH NUÔI GÀ THẢ VƯỜN Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS.TRƯƠNG HÒA BÌNH LÂM HỒNG YẾN
MSSV: 4077647
Lớp: Kinh Tế Nông Nghiệp 3 Khóa: 33
Cần Thơ, tháng 11/2010
Trang 2CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết hình thành đề tài
Hiện nay, nước ta sau hơn 20 năm đổi mới phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thu được nhiều thành quả đáng kể Tổng sản phẩm quốc dân tăng đều hàng năm kéo theo thu nhập người dân cũng được cải thiện đáng kể, cuộc sống người dân ngày càng tốt hơn về cả vật chất và tinh thần Bên cạnh khía cạnh tinh thần vốn đa dạng thì khía cạnh vật chất mà cơ bản nhất là ăn, mặc, ở đã có nhiều thay đổi Khi thu nhập thấp thì nhu cầu thực phẩm chủ yếu là để duy trì, tái tạo sức lao động, khi thu nhập tăng thì tất yếu nhu cầu thực phẩm sẽ tăng theo hướng tăng về chất Khẩu phần tinh bột được giảm dần và thay bằng các thức
ăn giàu dinh dưỡng như thịt, trứng, sữa đây là tín hiệu đáng mừng vì nó phản ánh đời sống cũng như góp phần nâng cao thể trạng sức khoẻ của người Việt
Tuy nhiên cũng như nhiều nền kinh tế đang phát triển khác, nước ta cũng gặp nhiều khó khăn khi chuyển từ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ sang chăn nuôi công nghiệp tập trung Mà hệ quả là khi có dịch bệnh xảy ra thì khả năng bùng phát là rất cao Gần đây nhất là thịt heo và trước đó là các loại gia cầm, do bệnh dịch trên heo bùng phát nên việc chuyển qua tiêu dùng các loại thực phẩm làm cho nhu cầu cũng như giá cả một số loại thực phẩm khác tăng nhanh, trong đó có thịt gà Việc chăn nuôi gà vốn đã tồn tại rất lâu đời ở nước ta với hai mô hình chủ yếu là: nuôi gà theo quy mô công nghiệp tập trung và nuôi theo dạng chăn thả hay còn gọi là gà thả vườn Trong
đó việc nuôi gà thả vườn ở qui mô hộ gia đình là một mô hình truyền thống rất được chú ý đến do hiệu quả kinh tế khá cao ngược lại chi phí vốn cũng như chi phí nuôi dưỡng lại thấp so với việc nuôi cá, nuôi heo, nuôi bò, bên cạnh đó việc chăn nuôi gà không cần một diện tích lớn và cố định như các vật nuôi khác Những đặc điểm này của chăn nuôi gà thả vườn rất phù hợp với nền kinh tế nước ta vốn chưa thể chuyển hẳn sang sản xuất tập trung quy mô lớn mà vẫn nên phát triển kinh tế hộ gia đình
Trang 3Cần Thơ là trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long, do quá trình đô thị hoá hiện nay nên dân số Cần Thơ ngày một tăng (do di chuyển từ các tỉnh khác), vì thế nhu cầu về thực phẩm là rất lớn Cần Thơ hiện có 9 quận huyện trong đó có 8 quận huyện tham gia chăn nuôi, sản xuất Do đa số hộ nông dân nuôi gà thả vườn đều tập trung ở huyện Phong Điền nên đề tài này được phân tích chủ yếu trong phạm vi huyện Phong Điền
Huyện Phong Điền được thành lập theo nghị định 05/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ Tuy là huyện mới thành lập nhưng Phong Điền luôn đi đầu trong công cuộc đổi mới, sáng tạo ra nhiều mô hình chăn nuôi sản xuất, trong đó tất nhiên có mô hình nuôi gà thả vườn Huyện Phong Điền hiện có 17.785
hộ tham gia chăn nuôi sản xuất, trong đó số hộ nghèo của huyện là 1.096 hộ, những
hộ nghèo đa số là những hộ có rất ít đất canh tác cũng như không có nhiều vốn để phát triển những mô hình cần nhiều đầu vào, vì thế việc phát triển mô hình nuôi gà qui mô hộ gia đình là rất cần thiết để nông dân thoát nghèo hiện nay, cũng như thêm thu nhập cho những hộ ở những mức thu nhập khác Nhưng liệu chi phí vốn đầu vào của mô hình là bao nhiêu? lợi nhuận đầu ra thế nào? có phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội của huyện Phong Điền nói riêng và các quận huyện khác của Cần Thơ nói chung hay không?
Xuất phát từ những vấn đề trên đề tài nghiên cứu “ Phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ ” được
lựa chọn nghiên cứu để giúp cho nông dân có hướng đi cũng như lựa chọn đúng đắn hơn trong thời gian tới
1.1.2 Căn cứ khoa học thực tiễn
Chăn nuôi gà thả vườn là một mô hình đơn giản, hiệu quả đã và đang được áp dụng rộng rãi ở nước ta Dựa vào những kiến thức đã học cùng sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, đề tài được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và hiệu quả sản xuất, cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến mô hình nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền, TP.CT, từ đó đánh giá và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mô hình này, giúp người nông dân có hướng sản xuất hiệu quả hơn trong thời gian tới
Trang 41.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
• Tìm hiểu thực trạng và hiệu quả chăn nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền
• Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền
• Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và mở rộng mô hình nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền
1.3 CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Các giả thuyết kiểm định
Các nhân tố chi phí con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc phòng và trị bệnh, chi phí chuồng trại, chi phí máy móc thiết bị, chi phí lao động gia đình ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông hộ nuôi gà thả vườn
1.3.2 Các câu hỏi nghiên cứu
1 Thực trạng nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ như thế nào?
2 Việc nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ hiện nay
có hiệu quả không?
3 Giải pháp nào được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ ?
Trang 51.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm Vi Về Không Gian
Đề tài được nghiên cứu chủ yếu ở huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ Số liệu được thu thập trên các xã : xã Nhơn Ái, xã Giai Xuân, xã Tân Thới và xã Nhơn Nghĩa
1.4.2 Phạm Vi Về Thời Gian
Số liệu thứ cấp được lấy từ 2007 đến 2009
Số liệu sơ cấp được lấy đến tháng 10 năm 2010
Đề tài được thực hiện trong 3 tháng từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2010
1.4.3 Đối Tượng Nghiên Cứu
Các nông hộ chăn nuôi các loại gà thả vườn với qui mô trên 200 con trên địa
bàn huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ
Trang 6CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1.2 Khái niệm hộ và kinh tế gia đình
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ
là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công
Tại cuộc Hội thảo quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan năm
1980, các đại biểu nhất trí rằng: hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động khác
Qua các điểm khác nhau về khái niệm “hộ” có thể nêu lên một số đặc điểm cần lưu ý khi phân định “hộ”:
- Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc
- Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung
- Cùng tiến hành sản xuất chung
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một cuộc thảo luận nào nghiêm túc nào
về khái niệm hộ và các phương pháp nghiên cứu hộ Hầu như từ trước tới nay người
ta mặc nhiên thừa nhận hộ là “ gia đình”, kinh tế hộ là “ kinh tế gia đình”
Hộ sản xuất là những hộ làm những nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp Việc sản xuất hàng hóa của hộ chủ yếu dựa vào các thành viên được xem là khoản thu nhập cho nông hộ Quá trình sản xuất hộ liên quan đến việc chuyển đổi các loại hàng hóa trung gian, thành hàng hóa hoàn hảo Họ thường sử
Trang 7dụng vốn và các dụng cụ của gia đình để sản xuất cũng như lao động Vì vậy, tổng giá trị hàng hóa tăng thêm của hộ được gọi là tổng sản phẩm của hộ
2.1.1.3 Vấn đề sử dụng vốn & lao động trong quá trình sản xuất kinh tế hộ
Theo thuật ngữ kinh tế, vốn và lao động là hai nguồn lực sản xuất Lao động được tính bằng thời gian hoặc số người tham gia lao động, vốn được xem như khoản tiền phải trả cho việc sử dụng các dịch vụ, mua nguyên vật liệu trang trải chi phí trong quá trình sản xuất Quá trình sản xuất là một quá trình được xem như việc
sử dụng các nguồn lực để chuyển đổi vật liệu hoặc những sản phẩm dở dang thành sản phẩm, dịch vụ hoàn chỉnh để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng
2.1.1.4 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển
Kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao, phần lớn nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của chính chủ trang trại và các thành viên trong gia đình Động lực thúc đẩy sản xuất ở nông trại gia đình là lợi ích kinh tế cả các thành viên trong gia đình Ở Việt Nam, kinh tế nông hộ mặc dù còn ở quy mô sản xuất nhỏ và phân tán, nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp
Kinh tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội khoảng 90% sản lượng rau quả, góp phần tăng nhanh số lượng lương thực, thực phẩm, cho công nghiệp và xuất khẩu, góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động, tiền vốn, tăng thêm việc làm cho nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nhân dân
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nông thôn Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn Dân
2.1.1.5 Một số khái niệm cơ bản trong kinh tế
+ Tổng chi phí:
Chi phí: là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với
mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất của nông hộ nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận
Trang 8Tổng chi phí: là tất cả các khoản hao phí trong quá trình chăn nuôi từ giai
đoạn làm chuồng, chuẩn bị con giống cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm gà thịt
+ Tổng doanh thu: là tổng các khoản thu nhập của nông hộ từ hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
+ Lợi nhuận: là kết quả tài chính cuối cùng của việc sản xuất kinh doanh đó chính là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động nuôi gà thả vườn Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan
2.1.1.6 Hiệu quả
Hiệu quả trong từ điển Bách khoa toàn thư được hiểu là kết quả mong
muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới, nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất, Hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, Hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Trong xã hội học, một hiện tượng, một sự diễn biến có hiệu quả xã hội, tức
là có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội, đối với sự phát triển của lĩnh vực
đó Hiệu quả của một cuộc điều tra xã hội học là kết quả tối ưu đạt được so với mục tiêu của cuộc điều tra đó
2.1.1.7 Hiệu quả sản xuất
Hiệu quả sản xuất bao gồm: hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật
- Hiệu quả kinh tế: tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị, nghĩa là khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì không
có hiệu quả
- Hiệu quả kỹ thuật: là việc tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Nó được xem là một thành phần của hiệu quả kinh tế Bởi vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết phải đạt được hiệu quả kỹ thuật
Trang 92.1.1.8 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính Là chỉ tiêu phản ánh trình
độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu Tuỳ theo mục đích đánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu hồi vốn, vv Chỉ tiêu tổng hợp thường dùng nhất là doanh lợi thu được so với tổng số vốn bỏ ra Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, chỉ tiêu hiệu quả là tỉ trọng thu nhập quốc dân trong tổng sản phẩm xã hội
Trong nhiều trường hợp, để phân tích các vấn đề kinh tế có quan hệ chặt chẽ với các vấn đề xã hội, khi tính hiệu quả kinh tế, phải coi trọng hiệu quả về mặt
xã hội (như tạo thêm việc làm và giảm thất nghiệp, tăng cường an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội, củng cố sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, và sự công bằng xã hội), từ đó có khái niệm hiệu quả kinh tế - xã hội
2.1.2 Các chỉ tiêu về lợi nhuận dùng trong phân tích
Để đánh giá hiệu quả nuôi gà thả vườn của nông hộ, trong đề tài có sử dụng các tỷ số tài chính sau:
+ Tổng chi phí: Tất cả các khoản chi phí bằng tiền liên quan đến sản xuất Bao gồm: chi phí lao động, chi phí vật chất và một số loại chi phí khác
+ Tổng doanh thu: Tổng giá trị sản lượng thu hoạch được trong 1 vụ, được tính từ sản lượng sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm đó
+ Lợi nhuận: Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí bỏ ra
Tổng chi phí = Chi phí lao động + Chi phí vật chất + Chi phí khác
Tổng doanh thu = Số lượng * Đơn giá
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Trang 10+ Lợi nhuận có hai loại: lợi nhuận không tính lao động nhà và lợi nhuận có tính công lao động gia đình
+ Tỷ suất lợi nhuận: Được tính bằng cách lấy lợi nhuận chia tổng chi phí
Tỷ suất lợi nhuận cho ta biết một đồng chi phí đầu tư vào sản xuất thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Lợi nhuận/Tổng doanh thu: Để cho thấy một đồng doanh thu mang lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Tổng doanh thu/Tổng chi phí: Để cho thấy chi phí đầu tư vào sản xuất bỏ
ra một đồng thì mang lại bao nhiêu đồng doanh thu Đây cũng chính là năng suất của mô hình nuôi gà thả vườn
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
- Khảo sát 40 hộ chăn nuôi gà thả vườn với qui mô trên từ 200 con trở lên tại các xã Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Tân Thới, Giai Xuân của huyện Phong Điền, TP.CT,
cụ thể:
+ Nhơn Ái có 14 hộ được chọn phỏng vấn
+ Tân Thới có 13 hộ được chọn phỏng vấn
+ Giai Xuân có 7 hộ được chọn phỏng vấn
+ Nhơn Nghĩa có 6 hộ được chọn phỏng vấn
- Tham khảo số liệu Niên giám thống kê cấp tỉnh và số liệu báo cáo hằng năm của các huyện nằm trong địa bàn nghiên cứu
- Cách chọn hộ, cơ sở nuôi phỏng vấn theo hướng dẫn của cán bộ địa phương
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các tài liệu có sẵn (niên giám thống kê, các
báo cáo, kế hoạch, chủ trương…) của Trung tâm khuyến nông thành phố Cần Thơ, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phong Điền, Trạm Khuyến nông
Huyện Phong Điền, báo chí, internet
x 100%
Lợi nhuận Tổng chi phí TSLN =
Trang 11- Số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp từ 40 hộ nuôi gà thả vườn tại huyện Phong Điền theo bảng câu hỏi được thiết kế sẵn
- Nội dung phỏng vấn:
+ Thông tin tổng quát về tình hình chăn nuôi gà thả vưởn, đặc điểm nông
hộ, đặc điểm chăn nuôi và tiêu thụ gà thả vườn của nông hộ
+ Các chi phí chăn nuôi gà thả vườn bao gồm: chí phí con giống, thức ăn, lao động, phòng và chữa bệnh, chuồng trại, chi phí khác…
+ Những thuận lợi, khó khăn khi tham gia chăn nuôi và tiêu thụ gà thả vườn, các đề xuất của nông hộ
- Các bước tiến hành điều tra số liệu:
+ Xin giấy giới thiệu từ Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Thành Phố Cần Thơ
+ Liên hệ với Trạm khuyến nông huyện Phong Điền
+ Tiến hành điều tra các xã dưới sự hướng dẫn của cán bộ trạm khuyến nông huyện Phong Điền
+ Kiểm tra sự hợp lý của số liệu
+ Nếu có sai sót cần khảo sát lại
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.3.1 Các khái niệm về phương pháp phân tích
2.2.3.1.1 Phân tích thống kê mô tả
Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và kinh doanh bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số liệu và thông tin được thu thập
Hai khái niệm cơ bản của thống kê là tổng thể (Population) và Mẫu (Sample) Tổng thể là tập hợp tất cả phần tử mà ta nghiên cứu và muốn có kết luận
về chúng Mẫu là tập hợp một số phần tử được chọn từ tổng thể
Thống kê mô tả được sử dụng trong đề tài này nhằm mô tả thực trạng chăn nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền, TP.CT và tình hình chăn nuôi gà thả vườn của nông hộ
Trang 12Các công cụ thống kê được sử dụng để phân tích số liệu:
+ Phương pháp phân tích hồi quy tương quan để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
+ Bảng thống kê: là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin
đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, trình bày kết quả nghiên cứu
2.2.3.1.2 Phương pháp so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối
- So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu, kết quả biểu hiện quy mô của hiện tượng kinh
tế
- So sánh bằng số tương đối: là kết quả phép chia giữa hiệu số của trị
số kỳ phân tích so với kỳ gốc chia cho trị số của kỳ gốc Kết quả biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển mức độ phổ biến của các hiện tượng kinh tế
2.2.3.1.3 Phương pháp phân tích hàm hồi quy
Thiết lập phương trình hàm hồi quy để xác định được các nhân tố ảnh hưởng đối với một đối tượng hay một chỉ tiêu nào đó Từ những phân tích sơ bộ ban đầu (bằng phương pháp thống kê mô tả) ta rút ra những nhân tố có thể ảnh hưởng đến chỉ tiêu đó rồi tiến hành chạy hàm và tìm ra nhân tố ảnh hưởng, từ đó phát huy những nhân tố tốt, hạn chế và khắc phục những nhân tố ảnh hưởng không tốt đến chỉ tiêu
Phương trình hồi quy có dạng: Y = b0 + b1X1 + b2X2 + … + bkXk
Trong đó: Y là biến phụ thuộc
Xi (i = 1, 2, 3, …, k) là các biến độc lập
Các tham số b0, b1, b2,…, bk được ước lượng bằng phương pháp hồi quy tuyến tính từ phần mềm Sata
Các thông số được xem xét khi phân tích:
+ Multiple R: Hệ số tương quan bội, nói lên mối liên hệ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc Y và biến độc lập X, R càng lớn mối liên hệ càng chặt chẽ
+ Hệ số xác định R2 (R – Square): Tỷ lệ phần trăm biến động của Y được giải thích bởi các Xi
Trang 13+ R2: (Adjusted R Square): Hệ số xác định đã điều chỉnh: dùng để trắc nghiệm xem có nên thêm vào một biến độc lập nữa không Khi thêm vào một biến mà R2tăng lên thì chúng ta quyết định thêm biến đó vào phương trình hồi quy
+ Standard error: Sai số chuẩn cả phương trình
+ Observations: Số quan sát (= n)
+ Regression: Hồi quy
+ df: độ tự do :
+ SS (Sum of square): Tổng bình phương
SSR: Tổng bình phương hồi quy: là đại lượng biến động của Y được giải thích bởi đường hồi quy
SSE: Phần biến động còn lại (còn gọi là số dư): là đại lượng biến động tổng gộp của các nguồn biến động do các nhân tố khác gây ra mà không hiện diện trong
mô hình hồi quy và phần biến động ngẫu nhiên
SSE MSE
Trang 14+ F là cơ sở bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H0
+ Giả thuyết:
• H0: Tất cả tham số hồi quy đều bằng 0 ( b1= b2 =b3=…=bk )
• H1: bi ≠ 0, tức là các Xi có liên quan tuyến tính với Y
F càng lớn thì khả năng bác bỏ H0 càng cao
+ Significant F: mức ý nghĩa của phương trình hồi quy, Sig F càng nhỏ càng
tốt, độ tin cậy càng cao (Sig f ≈ α), thay vì tra bảng F, Sig F cho ta kết luận ngay
mô hình hồi quy có ý nghĩa khi Sig F nhỏ hơn mức ý nghĩa nào đó
+ Coefficients: (hệ số)
• t_Stat: Giá trị thống kê, dùng kiểm định cho các tham số riêng biệt (Xi);
nếu t_Stat = 0 thì Xi không ảnh hưởng đến Y
• P – value: giá trị xác suất P, là mức ý nghĩa α nhỏ nhất mà ở đó giả thuyết
H0 bị bác bỏ
2.2.3.1.4 Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA-Cost Benefit
Analysis)
Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích là phương pháp phân tích
giúp tìm ra sự đánh đổi giữa các lợi ích thực mà xã hội có được từ một phương án cụ
thể với các nguồn tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ để đạt được lợi ích đó Nói
cách khác, đây là phương pháp ước tính sự đánh đổi thực giữa các phương án, nhờ
đó giúp cho xã hội đạt được những lựa chọn ưu tiên kinh tế của mình
Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích ngoài việc giúp đánh giá sự
ưa thích và lựa chọn các phương án đầu tư, nó còn là phương pháp thường được sử
dụng để phân tích kết quả hoạt động sản xuất, xác định lợi ích đạt được so với phần
chi phí bỏ ra Vì vậy phương pháp này thường được sử dụng trong phân tích kinh tế
Trong nghiên cứu này, phương pháp CBA được sử dụng để phân tích hiệu quả sản
xuất của các nông hộ chăn nuôi gà thả vườn bằng cách so sánh giữa tổồng doanh thu
và tổng chi phí sản xuất gà thả vườn Xem xét qua:
Lợi nhuận = Tồng doanh thu – Tổng chi phí
Trang 15+ Nếu Lợi nhuận > 0 thì chăn nuôi gà thả vườn có hiệu quả
+ Nếu Lợi nhuận < 0 thì chăn nuôi gà thả vưởn không có hiệu quả
2.2.3.2 Phương pháp phân tích cho từng mục tiêu cụ thể
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích số liệu chủ yếu sau:
+ Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng và hiệu quả nuôi gà thả vườn ở huyện
Phong Điền, TP.CT
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh tương đối, so sánh tuyệt đối thông qua giá trị sản xuất, sản lượng, qui mô
+ Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi gà thả
vườn ở huyện Phong Điền, TP.CT
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền, TP.CT Đồng thời,
mô hình hồi quy tuyến tính được sử dụng trong phân tích để lượng hóa mối quan hệ giữa lợi nhuận từ nuôi gà thả vườn với các biến độc lập
Phương trình hồi quy có dạng: Y = b0 + b1X1 + b2X2 + … + bkXk
Trong đó: Y là biến phụ thuộc (lợi nhuận trên 100 con gà thả vườn)
+ X2: Qui mô (con)
+ X8: Số năm kinh nghiệm (năm)
+ X9: Tập huấn kỹ thuật
Nếu có có tập huấn kỹ thuật là 1
Nếu không có tập huấn kỹ thuật là 0
Trang 16• Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận từ nuôi gà thả vườn của nông hộ: + X1: Chi phí con giống (đồng/100 con)
+ X2: Chi phí lao động (đồng/ 100 con)
+ X3: Chi phí thức ăn (đồng/100 con)
+ X4: Chi phí phòng và trị bệnh (đồng/100 con)
+ X5: Chi phí chuồng trại (đồng/100 con)
+ X6: Chi phí máy móc thiết bị (đồng/100 con)
+ X7: Năng suất ( lần - tổng doanh thu/ tổng chi phí)
+ X8: Số năm kinh nghiệm (năm)
+ X9: Tập huấn kỹ thuật
Nếu có tập huấn kỹ thuật là 1, nếu không có là 0
+ Mục tiêu 3: Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà
thả vườn ở huyện Phong Điền, TP.CT
Từ các kết quả nghiên cứu trên đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền, TP.CT
Trang 17
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (Nguồn số liệu tổng
hợp từ Niên Số liệu kinh tế xã hội 13 tỉnh, thành phố thuộc Đồng bằng sông Cửu Long - Cục Thồng Kê Cần Thơ năm 2009, Tổng cục Thống kê)
3.1.1 Vị trí địa lí
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu của Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam ĐBSCL cũng là vùng đất quan trọng đối với Nam Bộ và cả nước trong phát triển kinh tế, hợp tác đầu tư và giao thương với các nước trong khu vực và thế giới
ĐBSCL có vị trí như một bán đảo với 3 mặt Đông, Nam và Tây Nam giáp biển (có đường bờ biển dài 700km), phía Tây có đường biên giới giáp với Campuchia và phía Bắc giáp với vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế lớn của Việt Nam hiện nay ĐBSCL nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thủy vào bậc nhất ở nước ta
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
Diện tích tự nhiên toàn vùng là 40.518 km2, trong đó có khoảng 18.43% diện tích đất được dùng để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
ĐBSCL có 13 đơn vị hành chính bao gồm: 1 thành phố trực thuộc Trung Ương (Thành phố Cần Thơ) và 12 tỉnh (Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau)
Vùng ĐBSCL có lợi thế về tài nguyên đất đai, sông ngòi, biển và thềm lục địa cũng như điều kiện khí hậu thuận lợi được thể hiện trên các mặt sau đây:
- Nếu chưa kể hải đảo, thì tổng diện tích đất đai của cả vùng hơn 4 triệu
ha, chiếm khoảng 12% diện tích cả nước, trong đó đất phù sa chiếm gần 30%
Trang 18- Khí hậu ổn định, nhiệt độ trung bình 28oC, chế độ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm từ 2.226 - 2.790 giờ, ít xảy ra thiên tai do khí hậu gây ra
- Nguồn nước được lấy từ 2 nguồn chính là từ sông Mekong và nước mưa Sông Mekong chảy qua vùng ĐBSCL hàng năm đem lại lượng nước bình quân khoảng 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150 - 200 triệu tấn phù sa Việc vùng ĐBSCL hàng năm bị ngập lũ gần 50% diện tích từ 3 - 4 tháng tạo nên một đặc điểm nổi bật của vùng, một mặt làm hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt và gây nhiều khó khăn cho đời sống của dân cư, nhưng mặt khác cũng tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và bổ sung độ phì nhiêu cho đất trồng trọt
- Vùng ĐBSCL có bờ biển dài trên 700km, khoảng 360.000km2 khu vực đặc quyền kinh tế, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp Thái Bình Dương và phía Tây - Nam giáp vịnh Thái Lan, tạo điều kiện rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
3.1.3 Tình hình xã hội
- Dân số: đến năm 2009 dân số toàn vùng đạt trên 17,21 triệu người Mật độ
dân số: tỷ lệ nữ giới chiếm 50,88%, tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị là 21,15%
- Dân tộc: ĐBSCL gồm có nhiều dân tộc cùng chung sống với nhau Nhiều
nhất là dân tộc Kinh (chiếm hơn 80% dân số của cả vùng), kế đến là dân tộc
Khơ-me, Hoa, và một số dân tộc thiểu số khác (chiếm không quá 2%)
- Văn hóa: ĐBSCL có nhiều dân tộc cùng sinh sống do đó cùng tồn tại nhiều
phong tục tập quán của nhiều dân tộc khác nhau, cùng tồn tại và phát triển
3.1.4 Tình hình kinh tế nông nghiệp
Cây lúa - cây trồng chủ lực, là sản phẩm chuyên môn hoá cao nhất vùng Sản lượng lúa cả vùng năm 2009 đạt 20.48 triệu tấn, chiếm 52.66% sản lượng cả nước, với nhịp độ tăng trưởng hàng năm khoảng 3,2%/năm (cả nước khoảng 3,1%/năm) Hàng năm lúa gạo của vùng ĐBSCL đóng góp phần lớn vào việc cung ứng nhu cầu trong nước và chiếm tới 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước
Trang 19Sau lúa là nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, với 8/13 tỉnh giáp biển, lại có 2 sông lớn là sông Tiền và sông Hậu song song nối các tỉnh với biển Đông, vùng ĐBSCL có điều kiện rất thuận lợi để nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ cũng như nước ngọt Sản lượng thuỷ sản của vùng năm 2009 đạt khoảng 2.8 triệu tấn, chiếm 57,85% sản lượng cả nước, trong đó thủy sản khai thác chiếm 33.33% Nhịp
độ tăng trưởng sản lượng thuỷ sản hàng năm khoảng 9,25%/năm (cả nước khoảng 8,35%/năm) Đến 2009, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nước ta đã chạm mức 4.25 tỷ USD
Một lợi thế nữa trong sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL là chăn nuôi gia súc và gia cầm Các loại vật nuôi chính là bò (gồm cả bò lấy thịt và bò sữa) và gia cầm Gia cầm ở vùng ĐBSCL rất phát triển, chủ yếu là gà và vịt Số gà vịt được nuôi ở khu vực này chiếm đến 80% số gà vịt được nuôi ở toàn miền Nam và trên 50% cả nước
Ngoài lợi thế về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng thủy sản,và chăn nuôi, cây ăn trái và nông sản khác được xem là thế mạnh của vùng ĐBSCL như bưởi năm roi, xoài cát, quýt đường, vú sữa, đậu nành; mía đường, đậu phộng, dứa, dừa và các loại rau, đậu phục vụ cho ngành sản xuất trong nước, tiêu dùng và cho xuất khẩu đã được các thị trường thế giới chú ý nhiều hơn trong thời gian gần đây
3.2 TỒNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Cần Thơ (TP.CT) được thành lập theo nghị quyết số 22/2003/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa 11
và Nghị định số 05/2004/NĐ - CP ngày 02/01/2004 của Thủ tướng chính phủ trên
cơ sở chia tách tỉnh Cần Thơ cũ thànhThành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và thành lập mới tỉnh Hậu Giang.TP.CT chính thức trở thành đô thị loại I trực thuộc Trung ương kể từ ngày 24/6/2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định số 889/QĐ-TTg, công nhận TP.CT là đô thị loại I trực thuộc Trung ương, đạt được 82,39 điểm/100 điểm (quy định từ 70 điểm trở lên)
Trang 20TP.CT nằm trong vùng trung, hạ lưu là trung tâm của Đồng bằng Sông Cửu
Long, trải dài trên 55 km dọc bờ Tây sông Hậu, TP.CT hiện có 9 đơn vị hành chánh cấp huyện, 85 đơn vị hành chính cấp xã (44 phường, 36 xã, và 5 thị trấn), cụ thể:
+ Quận Ninh Kiều 13 phường + Quận Bình Thủy 8 phường + Quận Cái Răng 7 phường + Quận Ô Môn 7 phường + Quận Thốt Nốt 9 phường + Huyện Phong Điền 1 thị trấn và 6 xã + Huyện Cờ Đỏ 1 thị trấn và 9 xã + Huyện Thới Lai 1 thị trấn và 12 xã + Huyện Vĩnh Thạnh 2 thị trấn và 9 xã
Về vị trí địa lí của TP.CT :
- Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long
- Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang
- Phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang
- Phía Bắc giáp tỉnh An Giang
TP.CT cách thành phố Hồ Chí Minh 170 km về phía Đông Bắc theo quốc lộ 1A, là giao điểm của nhiều tuyến đường giao thông thủy bộ quan trọng, thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế giữa các tỉnh vùng Tây Nam sông Hậu với vùng Tứ Giác Long Xuyên, vùng Bắc sông Tiền và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; có trục sông Hậu nối từ Biển Đông tới PhnomPênh
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn thành phố là: 140.161,60 ha Trong đó:
+ Đất nông nghiệp: 115.556,28 ha, chiếm 82,45%
+ Đất phi nông nghiệp: 24.282,12 ha chiếm 17,32%
+ Đất chưa sử dụng: 323,20 ha chiếm 0,23%
Khí hậu ở Cần Thơ là khí hậu nhiệt đới với 2 mùa rõ ràng: mùa mưa (tháng
5 đến tháng 11) và mùa khô (tháng 12 đến tháng 4) Độ ẩm trung bình là 82%, lượng mưa trung bình 1.247,7 mm, nhiệt độ trung bình 27,2°C
Trang 213.2.2 Cơ sở hạ tầng
3.2.2.1 Giao thông
+ Đường bộ:
Thành phố Cần Thơ có các đường liên tỉnh:
+ Quốc lộ 91 từ Cần Thơ đi An Giang
+ Quốc lộ 80 từ Cần Thơ đi Kiên Giang
+ Quốc lộ 1A, từ Cần Thơ đi các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
+ Tuyến Nam sông Hậu nối liền Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng Quốc lộ 1 bị ngăn cách bởi sông Hậu, một bên là Vĩnh Long, một bên
là TP Cần Thơ Trước đây, việc giao thông giữa 2 bờ phụ thuộc vào phà Cần Thơ, đến ngày 24/4/2010 Cầu Cần Thơ đã chính thức được thông xe và Phà Cần Thơ cũng chính thức ngừng hoạt động Sắp tới thành phố cũng sẽ triển khai xây dựng tuyến cao tốc Cần Thơ - Vị Thanh
+ Đường thủy:
Cần Thơ nằm bên bờ phía nam sông Hậu, một bộ phận của sông Mê Kông, vì thế các tàu có trọng tải lớn (trên 1.000 tấn) có thể đi các nước và đến Cần Thơ dễ dàng Ngoài ra, tuyến Cần Thơ - Xà No - Cái Tư là cầu nối quan trọng giữa
TP Hồ Chí Minh, tỉnh Hậu Giang và Cà Mau
+ Cảng Cái Cui: Có thể phục vụ cho tàu từ 10.000-20.000 tấn, khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 4,2 triệu tấn/năm
Sau khi thực hiện xong dự án nạo vét và xây dựng hệ thống đê tại cửa biển Quan Chánh Bố, Cảng Cái Cui sẽ là Cảng biển Quốc Tế tại TP Cần Thơ
Trang 22+ Đường hàng không:
Cần Thơ có Sân bay Cần Thơ, sân bay lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long Sân bay hiện đã hoàn thành công việc cải tạo, chính thức đưa vào hoạt động từ ngày 03.01.2009 Hiện đang xây dựng Nhà Ga hành khách và trong vòng quý 4 năm 2010, Cần Thơ sẽ có Sân bay đạt chuẩn quốc tế với những đường bay trong khu vực và sẽ dần mở rộng ra các nước xa hơn Nhưng hiện nay, Cụm cảng hàng không miền Nam đã lên kế hoạch mở tuyến bay Cần Thơ - Đài Bắc (Đài Loan) vào đầu tháng 2/2010 để phục vụ nhu cầu ăn Tết của kiều bào
3.2.2.2 Điện
Cần Thơ có Nhà máy nhiệt điện Cần Thơ có công suất 200 MW, đã hòa vào lưới điện quốc gia Hiện tại, đang xây dựng Nhà máy nhiệt điện Ô Môn có công suất giai đoạn đầu là 600 MW, sau đó sẽ được nâng cấp lên 1.200 MW Dự án đường ống dẫn khí Lô B (ngoài khơi biển Tây)- Ô Môn đưa khí vào cung cấp cho Trung tâm điện lực Ô Môn (tổng công suất dự kiến lên đến 2600 MW) đang được Tổng công ty Dầu khí Việt Nam triển khai, dự kiến hoàn thành năm 2009 Đến thời điểm đó, Cần Thơ sẽ là một trong những trung tâm năng lượng lớn của Việt Nam
3.2.3 Tình hình kinh tế xã hội
Theo kết quả điều tra dân số của cục Thống kê TP.CT ngày 01/04/2009 dân
số Cần Thơ là 1.189.555 người, mật độ dân số là 849 người/km2, trong đó: dân cư thành thị 783.104 người chiếm 65,83% và dân cư nông thôn 406.451 người chiếm 34,17%
Trang 23
Tổng sản phẩm 2009 đạt 37.202.414 triệu đồng, trong đó: lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 5.215.147 triệu đồng, công nghiệp xây dựng 15.804.290 tỷ đồng và các ngành dịch vụ 16.181.977 triệu đồng
Tổng thu ngân sách năm 2009 đạt 4.717.389 triệu đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm qua đạt 16,5%, thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt 1.534 USD, tỷ lệ hộ nghèo 6,04%
Cơ cấu kinh tế: nông, lâm, thủy sản đạt 12,75%, công nghiệp và xây dựng đạt 57,69% và các ngành dịch vụ đạt 29,56%
Về nông nghiệp:
+ Cây nông nghiệp chính của Cần Thơ là lúa Sản lượng lúa tại Cần Thơ năm 2009 ước đạt 1.138.058 tấn Ngoài ra có một số cây hoa màu khác như ngô, khoai, dưa hấu
+ Ngành chăn nuôi ở Cần Thơ chủ yếu là nuôi heo và gia cầm Số lượng heo là 113.906 con, số lượng gia cầm là 1.821.890 con, trong đó gà là 353.690 con, vịt là 1.426.940 con, một số loại gia cầm khác 41.260 con Các gia súc như trâu là 520 con, bò là 4.437 con, dê là 1.392 con
+ Ngành thủy sản ở Cần Thơ chủ yếu là nuôi trồng, diện tích nuôi trồng thủy sàn là 12.941 ha với sản lượng trung bình năm 2009 đạt 191.878 tấn, trong đó sản lượng cá là 191.783 tấn, sản lượng tôm là 35 tấn Về phần khai thác thủy sản thì sản lượng năm 2009 ước đạt 6,053 tấn
3.3 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HUYỆN PHONG ĐIỀN
3.3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Phong Điền là một trong 9 đơn vị hành chính trực thuộc thành phố
Cần Thơ, có vị trí địa lí như sau:
+ Phía Đông: giáp với quận Ninh Kiều và một phần của quận Bình Thủy + Phía Tây: giáp với huyện Cờ Đỏ
+ Phía Nam: giáp với quận Cái Răng và tỉnh Hậu Giang
Trang 24+ Phía Bắc: giáp với quận Ô Môn và Bình Thủy
Phong Điền được xem là “lá phổi xanh” của TP.CT, nằm cách trung tâm TP.CT 17km, miền đất nơi đây có khí hậu ôn hòa, cây trái xanh tươi, rất thích hợp cho việc phát triển du lịch vườn trái cây sinh thái
3.3.1.2 Đất đai
Theo Niên giám Thống kê huyện Phong Điền năm 2009, huyện Phong Điền
có tổng diện tích đất tự nhiên là 12.364,04 ha Trong đó, đất nông nghiệp 10.668,50
ha, chiếm 86,29% tổng diện tích đất đai tại huyện
3.3.1.3 Khí hậu
Huyện Phong Điền có đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng Nam bộ Việt Nam, có 2 mùa rỗ rệt: mùa khô (bắt đầu từ khoảng tháng 12 đến khoảng tháng 4 năm sau) và mùa mưa (bắt đầu từ khoảng tháng 5 và chấm dứt vào khoàng cuối tháng 11) Theo Niên giám Thống Kê của huyện Phong Điền năm 2009:
+ Nhiệt độ không khí dao động khá rộng từ 18,5oC đến 35,1oC, nhiệt độ trung bình trong năm là 27,1oC
+ Số giờ nắng trung bình trong năm là 2.551,3 giở, tháng ít nắng nhất là tháng
9 có 131,16 giờ nắng, tháng nhiều nắng nhất là tháng 3 có 280,20 giờ nắng
+ Lượng mưa trung bình trong năm là 1.245,30 mm, tháng 10 có lượng mưa nhiều nhất là 293,50 mm
+ Độ ẩm tương đối trung bình là 83,8%, tháng 3 là tháng có độ ẩm thấp nhất 79%, độ ẩm cao nhất là vào tháng 7 là 89%
Với điều kiện khí hậu như trên và có nguồn nước ngọt dồi dào từ sông Cần Thơ nên rất thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp
Trang 253.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội
3.3.2.1 Đơn vị hành chính
Huyện Phong Điền có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thị trấn Phong Điền, xã Nhơn Ái, xã Giai Xuân, xã Tân Thới, xã Trường Long, xã Mỹ Khánh và xã Nhơn Nghĩa
3.3.2.2 Dân số
Theo Niên giám thống kê huyện Phong Điền năm 2009, dân số huyện là 99.667 người, mật độ dân số 804 người/km2 Dân số trong độ tuổi lao động là 73.792 người, số người có việc làm là 65.375 người, trong đó có 49.892 người tham gia sản xuất nông nghiệp Như vậy, số người tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm đến 76,32% tổng số lao động có việc làm Đây là điều kiện thuận lợi
để ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định
3.3.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp huyện Phong Điền
Giá trị sản xuất trên địa bàn huyện Phong Điền từ năm 2005 đến năm 2009 tăng đáng kể Tổng giá trị sản xuất năm 2005 chỉ là 563 tỉ đồng thì đấn năm 2009 tăng lên 985 tỉ đồng, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 546,625 tỉ đồng Đặc biệt, năm 2009, tổng giá trị ngành nông nghiệp tăng vọt lên 422 tỷ đồng chiếm 43,06% tổng giá trị sản xuất, tăng 54,44% so với năm 2007
Tổng số trang trại trong huyện là 16, trong đó về trồng cây lâu năm và cây hàng năm có 7 trang trại, chăn nuôi có 1 trang trại và nuôi trồng thủy sản có 8 trang trại
Để hiểu thâm về tình hình phát triển nông nghiệp trong huyện ta sẽ đi sâu vào từng lĩnh vực:
Trang 26Diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm (dừa, cam, quit, chanh, bưởi…) là 5.576 ha
Và một số loại trái cây khác với năng suất khá cao và giá bán cũng tương đối
ổn định như xoài, chôm chôm, nhãn, chuối…
+ Chăn nuôi:
Chăn nuôi chủ yếu của huyện là heo và gia cầm cụ thể toàn huyện có 9.139 con heo, 103.840 con gia cầm với sản lượng trứng 2009 là 2.525 triệu trứng, 443 con bò và 7 con trâu Tình hình chăn nuôi ở huyện còn khá nhỏ lẻ chủ yếu để kiếm thêm một phần thu nhập phụ cho gia đình
+ Thủy sản và lâm nghiệp
Giá trị sản xuất thủy sản đạt 103.209 triệu đồng Theo niên giám thống kê 2009 diên tích nuôi trồng thủy sản của huyện là 315 ha bao gồm diện tích nuôi tôm là 5ha
và nuôi cá là 310ha Sản lượng đạt được là 6.276 tấn trong đó sản lượng nuôi cá là 6.274 tấn và tôm là 2 tấn Sản lượng khai thác thủy sản 2009 ước đạt 510 tấn
Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2009 là 3.447 triệu đồng với sản lượng khai thác gỗ là 598 m3
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Phong Điền)
3.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ GÀ THẢ VƯỜN Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN HIỆN NAY
Tuy ảnh hưởng dịch bệnh, giá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi liên tục biến động nhưng nông dân huyện Phong Điền, tỉnh Cần Thơ vẫn sản xuất có hiệu quả nhờ áp dụng nhiều mô hình chăn nuôi mới với hiệu quả kinh tế cao như mô hình nuôi baba, mô hình nuôi ếch, mô hình nuôi cá rô đầu vuông, mô hình nuôi nhiếm, mô hình nuôi kỳ đà… với một diện tích chăn nuôi ít nhưng lợi nhuận thu lại cao Hiện nay huyện Phong Điền đang tập trung nhân rộng phong trào phát triển 72
mô hình VAC, VAR, VACR theo hướng khép kín có tác dụng hỗ trợ nhau, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng lợi nhuận Trong đó, mô hình trồng bắp lai (V) lấy bắp cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi gà (C) kết hợp
Trang 27với việc lấy phân gà làm thức ăn cho cá (A) cũng đang được áp dụng khá hiệu quả tại địa phương
Năm 2006-2007 dịch cúm gà bùng phát tại Việt Nam, huyện Phong Điền cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, qua tiếp xúc tại địa phương nhiều nông dân vẫn giữ tâm
lí e ngại không dám mở rộng mô hình khi vẫn còn đó món nợ hàng chục triệu đồng
tử dịch cúm vài năm trước Điển hình như bác Bùi Thiện Thuấn hiện là chủ một trại
gà qui mô trên 300 con, năm 2007 bác bị thiêu hủy trên 2500 con gà thiệt hại gần
100 triệu đồng, hiện nay bác đang kết hợp mô hình nuôi gà với mô hình nuôi cá rô đầu vuông và không có dự định mở rộng mô hình nuôi gà thả vườn trong thời gian sắp tới mặc dù mô hình đang có hiệu quả cao
Hiện nay mô hình nuôi gà thả vườn đang thu lại lợi nhuận kinh tế cao dễ chăm sóc, dễ tiêu thụ, giá bán lại khá cao Nhờ sự hỗ trợ từ phía nhà nước trong việc tiêm phòng dịch bệnh cúm gia cầm H5N1 (miễn phí thuốc 100%) mà tình hình dịch bệnh hiện nay đã được kiểm soát khá hiệu quả, bên cạnh đó với sự hướng dẫn cộng tác rất nhiệt tình của cán bộ thú y, cán bộ khuyến nông địa phương làm cho nông dân chăn nuôi yên tâm hơn để sản xuất Trung bình vụ năm nay đa số người chăn nuôi gà thả vườn thu lợi nhuận từ 15-20 nghìn đồng trên một kg gà sống, vì vậy mô hình đang được mở rộng trên toàn huyện với trên 200 hộ nuôi mới qui mô từ 200 đến 2000 con Nhiều nhất là các xã Nhơn Ái, Tân Thới
Ngoài ra, huyện đang tiến hành thành lập tổ hợp tác sản xuất gà thả vườn để đưa
gà thả vườn vào các siêu thị trên ĐBSCL và thị trường Thành Phố Hồ Chí Minh Tiêu biểu là tổ hợp tác hội cựu chiến binh do ông Lý Văn Tịnh (bác Mười Tịnh) làm
tổ trưởng, bước đầu tổ đã kết nạp được trên 38 thành viên bao gồm các hộ đang nuôi
và mới nuôi trên địa bàn huyện, tổ hợp tác đang hoạt động rất hiệu quả với nhiệm vụ nâng cao lợi nhuận cho nông dân chăn nuôi gà thả vườn qua việc quản lí đầu vào lẫn đầu ra Cụ thể, tổ hợp tác kết hợp sản xuất con giống qua việc đầu tư các lò ấp cung cấp giống giá rẻ cho nông dân, cung cấp thức ăn hỗn hợp với giá hợp lí, đồng thời tổ chức các buổi tập huấn với sự hướng dẫn của các giảng viên thuộc khoa Nông Nghiệp trường Đại học Cần Thơ hướng dẫn cho nông dân từ khâu chăn nuôi đến khâu phòng trừ dịch bệnh đảm bảo 100% các thành viên tiêm đầy đủ các vắc-xin
Trang 28phòng bệnh trên gia cầm, cũng thông qua các buổi tập huấn này nông dân có cơ hội trao đổi kinh nghiệm sản xuất làm cho việc sản xuất càng có hiệu quả hơn Bên cạnh
đó, tổ hợp tác cũng bao tiêu đầu ra sản phẩm bằng việc kí hợp đồng với các thị trường lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long Xuyên…bảo đảm giá cả đầu ra cho người nông dân Ngoài ra, tồ còn cho các thành viên vay vốn với lãi suất
ưa đãi giúp nông dân có thể mạnh dạn mở rộng qui mô chăn nuôi sản xuất
Hiện huyện Phong Điền có 1 tổ hợp tác nói trên và đang có kế hoạch thành lập thêm 2 tổ hợp tác gà thả vườn trong 2 năm 2011 và 2012 Nhìn chung đây là một mô hình có lợi nhuận cao dễ áp dụng rộng rãi nhưng do nhu cầu về vốn, kinh nghiệm sản xuất, thiếu thông tin thị trường thường xuyên bị thương lái ép giá nên nhiều nông dẫn vẫn chưa đạt được hiệu quả kinh tế như mong đợi, cần có nhiều hơn sự hỗ trợ của nhà nước trong việc mở rộng mô hình chăn nuôi gà thả vườn như hiện nay
Trang 29CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔ HÌNH CHĂN NUÔI
GÀ THẢ VƯỜN Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 4.1 MÔ TẢ MẪU ĐIỀU TRA NÔNG HỘ
Theo kết quả điều tra trong 40 hộ chăn nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền
ta thấy thực trạng sản xuất của các nông hộ tại vùng nghiên cứu liên quan đến các nguồn lực sẵn có của nông hộ chủ yếu tập trung vào các nguồn lực là: lao động, vốn đầu tư cho sản xuất, diện tích canh tác, đặc điểm nông hộ…để hiểu rõ hơn về vấn đề này ta sẽ lần lượt đi qua phân tích các vấn đề sau:
Bảng 1: ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ NÔNG HỘ CHĂN NUÔI GÀ THẢ VƯỜN
Đặc điểm Thấp nhất Cao nhất Trung bình
Nguồn: Kết quả điều tra tháng 10 năm 2010
4.1.1 Tuổi và số năm kinh nghiệm
Đa phần đáp viên ở độ tuổi trung niên, tuổi trung bình của đáp viên là 40 tuổi, trong đó người có độ tuổi thấp nhất là 27 và cao nhất là 64 tuổi
Số năm kinh nghiệm: thể hiện qua số năm bắt đầu áp dụng mô hình nuôi gà thả vườn của nông hộ Số năm kinh nghiệm trung bình trong nghề là trên 4 năm, hộ nuôi lâu năm nhất là 30 năm và thấp nhất trong mẫu điều tra là 1 năm
Trang 304.1.2 Nhân khẩu và lao động
Dựa vào bảng số liệu trên, ta thấy bình quân một hộ có 5 người, hộ có số nhân khẩu đông nhất là 8 người và thấp nhất là 3 người/hộ Vậy qui mô gia đình của các
hộ trong mẫu điều tra là trung bình
Về mặt lao động của hộ, trung bình mỗi hộ có gần 4 người trong độ tuổi lao động chiếm trên 73% tổng số thành viên, mỗi hộ trung bình có khoảng 3,85 người trực tiếp tham gia chăn nuôi gà thả vườn, so với qui mô trung bình của các hộ thì ta thấy dường như các hộ không cần thuê mướn nhiều lao động để quản lí trại gà của mình (bảng 1)
4.1.3 Qui mô chăn nuôi gà thả vườn của nông hộ
Bảng 1 cho thấy qui mô nuôi gà thả vườn trung bình của nông hộ là 875 con, trong đó cao nhất là hộ nuôi 3500 con và hộ nuôi thấp nhất là 200 con Số hộ nuôi dưới 500 con chiếm đến 64,2% , điều đó cho ta thấy được qui mô nuôi gà thả vườn của nông hộ còn khá nhỏ lẻ, gây khó khăn trong việc thu mua với số lượng lớn tạo điều kiện cho thương lái ép giá nông dân, cần có biện pháp xem xét vấn đề trên
Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10năm 2010
Từ kết quả điều tra cho thấy, trình độ học vấn của nông hộ tại địa bàn điều tra
ở mức trung bình, có 9 người có trình độ học vấn trong cấp 1 (chiếm 22,5% tổng số mẫu điều tra), 24 người có trình độ học vấn trong cấp 2 (chiếm 60,0% tổng số mẫu điều tra) và có 7 chủ hộ có trình độ học vấn khá cao trong cấp 3, thậm chí tới lớp 12
Trang 31(chiếm 17,5% tổng số mẫu điều tra), và trong tổng số 40 mẫu điều tra thì không có chủ hộ nào là mù chữ Với trình độ như trên cho thấy đa số nông dân có thể nâng cao những hiểu biết và tiếp cận khoa học kỹ thuật trong việc nuôi gà thả vườn của bản thân qua sách, báo, hoặc có thể tham gia các buổi tập huấn với cán bộ khuyến nông một cách dễ dàng hơn
4.1.5 Nguyên nhân chăn nuôi gà thả vườn của nông hộ
Qua kết quả điều tra, các nông hộ có nhiều ý kiến khác nhau Phần lớn các chủ hộ cho rằng nguyên nhân chính mà hộ chọn mô hình nuôi gà thả vườn là do việc lời nhiều hơn các vật nuôi khác (chiếm 85,00%) Nguyên nhân thứ 2 là do việc chăn nuôi gà dễ bán được sản phẩm (chiếm 72,50%) Nguyên nhân thứ 3 được nhiều nông dân chọn lựa
là do nuôi gà thả vườn có năng suất cao (chiếm 70,00%) Nguyên nhân thứ 4 được lựa chọn là do có sẵn kinh nghiệm (chiếm 57,50%) Nguyên nhân thứ 5 nông dân cho rằng việc chăn nuôi gà thả vườn là hưởng ứng phong trào tức là thấy người khác nuôi có lời nên nuôi theo (chiếm 37,50%) Một nguyên nhân ít được lựa chọn là nông dân được nhà nước hỗ trợ về tài chính nên đi đến quyết định nuôi (chiếm 7,50%) Các nguyên nhân khác như được người thân hướng dẫn, tự mình muốn nuôi…(chiếm 7,50%), cụ thể các nguyên nhân được trình bày theo bảng sau:
Bảng 3 NGUYÊN NHÂN NUÔI GÀ THẢ VƯỜN CỦA NÔNG HỘ
Lợi nhuận cao hơn các vật nuôi khác 34 85,00
Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10 năm 2010
Trang 324.1.6 Những khó khăn, cản trở cho nuôi gà thả vườn của nông hộ
Trong sản xuất nông nghiệp, bất cứ hoạt động sản xuất nào đều gặp không ít khó khăn, cản trở Người dân nuôi gà thả vườn cũng vậy Những khó khăn của việc
nuôi gà thả vườn được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ
Theo số liệu điều tra cho thấy, những khó khăn mà các nông hộ thường gặp phải khi nuôi gà thả vườn đứng thứ nhất là giá cả đầu vào cao (chiếm 90,00% trong tổng số mẫu điều tra) vì đây là lượng chi phí tương đối cao trong quá trình nuôi gà thả vườn Khó khăn đứng thứ hai là vấn đề thiếu vốn đầu tư (75,00%), lí do là phần lớn các hộ không được hỗ trợ vay vốn sản xuất Khó khăn kế tiếp là kỹ thuật tay nghề còn thấp (55,00%) vì các hộ cho rằng chỉ dựa vào kinh nghiệm để sản xuất là chưa đủ Ngoài ra thiếu giống 25,00% gây ra hiện tượng làm giá như hiện nay Khó khăn khác là vấn đề giao thông và thời tiết không đáng kể chiếm 15,00% Được thể hiện cụ thể ở bảng sau:
Bảng 4 NHỮNG KHÓ KHĂN CẢN TRỞ TRONG VIỆC CHĂN NUÔI GÀ
THẢ VƯỜN CỦA NÔNG HỘ
Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10 năm 2010
4.2 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NUÔI GÀ THẢ VƯỜN
4.2.1 Phân tích các loại chí phí sản xuất
4.2.1.1 Chi phí con giống
Để chăn nuôi gà có hiệu quả thì việc lựa chọn con giống là rất quan trọng Nếu lựa chọn giống tố thì năng suất mang lại sẽ cao Hiện nay, đa số người
Trang 33dân chăn nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền sữ dụng giống gà nòi lai (hay còn gọi là giống gà Bến Tre), theo khảo sát trên 40 hộ thì có 36 hộ sử dụng giống gà này với giá dao động từ 10.500 đồng đến 15.000 đồng trên 1 con, còn 4 hộ còn lại thì vẫn sử dụng giống gà nòi truyền thống và tất cả đều là tự sản xuất với chi phí trung bình khoảng 6.000 đồng đến 10.000 đồng trên 1 con Sau đây là bảng tổng hợp chi phí giống gà thả vườn tính trên 100 con của nông hộ:
Bảng 5 CHI PHÍ CON GIỐNG CỦA NÔNG HỘ Đvt : đồng/ 100con Chi phí Thấp nhất Cao nhất Trung bình Độ lệch chuẩn Chi phí giống 600.000 1.500.000 1.131.250 88.168,5
Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10 năm 2010
Dựa vào bảng trên, ta thấy chi phí gà con giống của nông hộ trung bình là 1.131.250 đồng, thấp nhất là 600.000 đồng và chi phí cao nhất là 1.500.000 đồng Chi phí gà con giống có sự chênh lệch như vậy là do một số hộ tự ấp tự sản xuất giống cung cấp cho chuồng gà Mặt khác do các hộ nuôi vào các thời điểm khác nhau nên giá gà giống trên thị trường cũng có sự thay đổi, đặc biệt trong 4 tháng gần đây già gà giống liên tục tăng từ 8.000 đồng 1 con vào đầu tháng 6 và 13.500 đồng 1 con, có nơi lên đến 15.000 đồng con, vào cuối tháng 10 Ngoài ra nguồn giống và chất lượng giống cũng ảnh hưởng rất nhiều đến giá cả, có hộ bắt ngay tại trại giống
ở Bến Tre, có hộ lại lấy giống qua trung gian ở Phong Điền, gà giống tốt sẽ cho chất lượng thành phẩm cao hơn dễ bán được giá cao, thời gian nuôi ngắn, miễn dịch tốt
Để giảm chi phí giống các hộ nên đầu tư các máy ấp trứng, lựa chọn giống tốt sẽ làm giảm các loại chi phí này
4.2.1.2 Chi phí lao động
Các nông hộ đa số đều tận dụng nguồn lao động gia đình để chăn nuôi gà thả vườn Chi phí lao động gia đình được tính bằng số ngày công của những người tham gia lao động nhân với mức giá lao động nhân công theo thị thường tại thời điểm phỏng vấn Ngoài ra các nông hộ cũng thuê mướn thêm nhân công để phục vụ cho chăn nuôi Dưới đây là bảng tổng hợp chi phí lao động trên qui mô 100 con gà của nông hộ
Trang 34Bảng 6 CHI PHÍ LAO ĐỘNG CỦA NÔNG HỘ
Đvt : đồng/ 100con
Chi phí Thấp nhất Cao nhất Trung bình Độ lệch chuẩn Lao động gia đình 450.000 2.025.000 1.325.000 88.577
Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10 năm 2010
Bảng 6 cho ta thấy chi phí lao động gia đình trung bình của nông hộ là 1.325.000 đồng trên qui mô 100 con Thấp nhất là 400.000 đồng và cao nhất là 2.025.000 đồng Chi phí có sự chênh lệch nhiều cũng do qui mô nuôi khác nhau, các
hộ nuôi nhỏ thì chi phí lao động gia đình cao, các hộ nuôi lớn thì chí phí này thấp hơn Hầu hết công việc chăn nuôi thường ngày là trộn thức ăn, cho gà ăn, vệ sinh chuồng trại, tiêm ngừa, cắt mỏ đa phần là do nguồn lao động gia đình đảm đương Tuy nhiên, vì rất khó xác định số ngày công trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nên chi phí lao động gia đình của nông hộ chỉ là giá trị tương đối
Cũng dựa vào bảng 6 ta thấy bình quân các nông hộ mất 294.675 đồng trên một công đất canh tác cho việc thuê nhân công, trong đó có một số nông hộ không thuê nên chi phí này không phát sinh và nông hộ sử dụng lao động thuê mướn cao nhất là 450.000 đồng tên 100 con Nhìn chung chi phí lao động thuê mướn ở đây thấp hơn so với chi phí lao động gia đình, chủ yếu là do các nông hộ nuôi với qui mô lớn thiếu lao động gia đình nên phải thuêm mướn thêm nhân công trong tất
cả các công việc
4.2.1.3 Chi phí chuồng trại và chi phí sử dụng máy móc, thiết bị
Chi phí sử dụng máy móc, thiết bị của các nông hộ được thể hiện qua bảng 7 Phần lớn các máy móc, thiết bị mà nông hộ sử dụng tương đối đơn giản như: bóng đèn dùng để sưởi ấm cho chuồng gà, thau và thùng dùng để trộn thức ăn Ngoài ra còn có máy ấp trứng, máy xay dùng để xay bắp và một số loại thức ăn khác
để cho gà ăn, bên cạnh đó còn có tiền điện sử dụng cho chuồng trại mỗi tháng Chi phí sử dụng máy móc, thiết bị bình quân của mỗi nông hộ là 94.250 đồng/100 con, thấp nhất là 25.000 đồng và cao nhất 320.000 đồng Chi phí thấp nhất và cao nhất giữa các hộ chênh lệch khá nhiều là do có hộ chỉ mua giống và thắp sáng hạn chế
Trang 35cho chuồng gà nên không tốn nhiều cho chi phí này, có hộ đầu tư thêm máy ấp trứng hiện đại (khoảng 3.500.000 trên 1 máy), máy xay trộn thức ăn (khoảng 1.500.000 trên 1 máy) nên chi phí này khá cao so với các hộ còn lại
Chi phí chuồng trại của khá quan trọng trong chăn nuôi gà thả vườn, chi phí trung bình của mỗi hộ khoảng 535.750 đồng trên 100 con, trong đó chi phí thấp nhất là 220.000 đồng trên 100 con và chi phí cao nhất là 850.000 đồng trên 100 con Chi phí chuồng trại bao gồm tất cả các chi phí làm chuồng được tính khấu hao theo đường thẳng qua các vụ nuôi, chi phí sửu chuồng khi bắt con giống mới, chi phí thay trấu lót chuồng Sự chênh lệch rõ rệt của loại chi phí này là do một số nông hộ đầu tư làm chuồng hiên đại, một số hộ khác chỉ che lưới, lợp cao su
Bảng 7 CHI PHÍ SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ&CHI PHÍ CHỒNG TRẠI
Đvt : đồng/ 100con
Chi phí Thấp nhất Cao nhất Trung bình Độ lệch chuẩn Chi phí sử dụng
máy móc, thiết bị 25.000 320.000 94.250 22.276,73
Chi phí chuồng trại 220.000 850.000 535.750 54.879,40
Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10 năm 2010
4.2.1.4 Chi phí thức ăn
Thức ăn là yếu tố quan trọng nhất trong việc nuôi gà thả vườn Chi phí thức ăn trung bình 3.760.000 đồng trên 100 con trong đó thấp nhất là 2.640.000 đồng và cao nhất là 5.820.000 đồng Ở đây có sự chênh lệch rõ rệt giữa chi phí cao nhất và chi phí thấp nhất là vì những hộ dân nào nuôi gà bằng 100% thức ăn viên hỗn hợp với giá trung bình 240.000 đồng trên 1 bao 25kg thì chi phí thức ăn sẽ cao, một số hộ dân cho gà trộn giữa thức ăn với lúa, tấm, cám thì giá sẽ rẻ hơn, thậm chí
có hộ chỉ cho gà ăn lúa, tấm, cám thì có thể chi phí thức ăn còn thấp hơn nhiều Bên cạnh đó thời gian nuôi cũng ảnh hưởng khá nhiều đến loại chi phí này, những hộ nào cho ăn càng nhiều thức ăn hỗn hợp thời gian nuôi sẽ càng được rút ngắn, điều này có tác dụng làm giảm các loại chi phí khác như chi phí lao động, chi phí chuồng trại, chi phí máy móc thiết bị…vì thế nên cân đối giữa các thành phần thức ăn nhằm
Trang 36đảm bảo chất lượng thịt và tối ưu hóa lợi nhuận kinh tế thu được của người nông dân
Bảng 8 CHI PHÍ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA NÔNG HỘ
1 lần H5N1, đặc biệt trong lần tiêm H5N1 nông hộ nuôi với qui mô dưới 2000 con thì được miễn phí thuốc 100% Nhìn vào bảng 9 ta thấy chi phí tiêm phòng bình quân của nông hộ là 125.887,5 đồng trên 100 con gà, thấp nhất là 35.000 đồng trên
100 con và cao nhất là 300.000 đồng trên 100 con Trong đó, liều tiêm rum cho 100 con có giá là 12.000 đồng, liều tiêm tả cho 100 con có giá 13.000 đồng, phí tiêm phòng là 300 đồng 1 lần tiêm trên 1 con, việc này được cán bộ thú y trực tiếp thực hiện Sự chệnh lệch này được giải thích là do những hộ với tâm lí chủ quan thơ ơ với việc tiêm phòng thậm chí không cho cán bộ thú y tiêm với lí do gà sẽ chậm lớn khi tiêm Còn một số hộ nuôi với qui mô trên 2.000 con sẽ không được hưởng chính sách trợ giá thuốc H5N1 cho con từ 2001 trở lên, nên chi phí tiêm phòng bình quân cao hon so với các hộ khác
Bảng 9 CHI PHÍ TIÊM PHÒNG CỦA NÔNG HỘ
Đvt : đồng/ 100con
Chi phí Thấp nhất Cao nhất Trung bình Độ lệch chuẩn Chi phí tiêm phòng 35.000 300.000 125.887,5 19.147,5
Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10 năm 2010
4.2.2 Cơ cấu các khoản mục chi phí bình quân
Để cho việc phân tích lợi ích – chi phí dễ dàng hơn, ta tổng hợp các khoản
chi phí mà nông hộ bỏ ra để chăn nuôi gà thả vườn Dưới đây là bảng tổng hợp các
Trang 37khoản mục chi phí bình quân trên một 100 con của nông hộ nuôi gà thả vườn ở huyện Phong Điền
Bảng 10 CÁC KHOẢN MỤC CHI PHÍ BÌNH QUÂN TRÊN 100 CON GÀ
THẢ VƯỜN Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, TPCT
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010
(*): Chi phí lao động gia đình là chi phí cơ hội nên không tính vào chi phí chung
Bảng 10 cho thấy chi phí chăn nuôi 100 con gà thả vườn là 5.977.812,5 đồng Cao nhất là khoản mục chi phí thức ăn với 3.796.000 đồng trên 100 con (chiếm 63,5%) và khoản mục chi phí con giống với 1.131.250 đồng trên 100 con (chiếm 18,9%) Để nhìn một cách tổng quát hơn, ta thể hiện các khoản mục chi phí chăn nuôi 100 con gà thả vườn bình quân bằng biểu đồ dưới đây
Biểu đồ 1 TỈ LỆ CHI PHÍ TRÊN 100 CON GÀ THẢ VƯỜN CỦA NÔNG HỘ
Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN, TPCT
Chi phí lao động thuê
Nguồn: Số liệu điều tra tháng 10 năm 2010