1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền văn hóa của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam

18 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 445,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp quốc (UDHR) năm 1948 khẳng định: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do không có bất kỳ sự phân biệt đối x[r]

Trang 1

QUYỀN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

TẠI VIỆT NAM

TS Nguyễn Thị Hồng Yến & TS Mạc Thị Hoài Thương

(Trường Đại học Luật Hà Nội)

“Dân tộc thiểu số là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam Trong tiến trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển bền vững” 185

1 Khái quát về quyền văn hóa của người dân tộc thiểu số

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp quốc (UDHR)

năm 1948 khẳng định: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự

do không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” (Điều 2); đồng thời Công ước quốc

tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 cũng ghi nhận: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” (Điều 3) Điều này có nghĩa là, trong

việc áp dụng và thụ hưởng các quyền con người cơ bản, trong đó có cả quyền văn hóa, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, kể cả về mặt sắc tộc, dân tộc hay tôn giáo

Trong các văn kiện quốc tế của Liên Hợp quốc, các nhóm thiểu số hay được

đề cập đến là thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ Tòa án Công lý quốc tế thường trực (PCIJ) đưa ra định nghĩa về dân tộc thiểu số là: cộng đồng thiểu

số là một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc một địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có

sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ186

“Dân tộc” là khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính, chỉ cộng đồng

185 Phát biểu của Phó Thủ Tướng Thường trực Trương Hòa Bình tại Hội thảo Quốc gia “Thực trạng chính sách dân tộc, Định hướng xây dựng chính sách giai đoạn 2021 – 2030” Nguồn

http://www.nhandan.org.vn/chinhtri/item/38783202-dinh-huong-chinh-sach-phat-trien-vung-dan-toc-thieu-so-mien-nui.html

186 Nguồn Ý kiến tư vấn của PCIJ, đoạn 84 tại

http://www.worldcourts.com/pcij/eng/decisions/1930.07.31_greco-bulgarian.htm?fbclid=IwAR0PBs_R1_s5IUhMUYBXI-iyYcd31SEkzu3BSV9yXxeX6uMneUNsoaaFbNo

Trang 2

dân cư của một quốc gia hoặc chỉ một cộng đồng dân cư của một tộc người sử dụng chung một ngôn ngữ, có đặc điểm chung về văn hoá và ý thức tự giác tộc người, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa Thuật ngữ

“dân tộc” trong “DTTS” được hiểu theo nghĩa thứ hai

“Thiểu số” theo nghĩa thông thường nhất được hiểu là nhóm người có những

sự khác biệt về một phương diện nào đó với đa số người trong xã hội Họ có thể khác biệt với nhóm người đa số về phương diện ngôn ngữ và văn hoá Khác biệt về nhận thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập v.v và đi kèm theo đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ

Như vậy, các khái niệm đưa ra không hoàn toàn giống nhau, điều này cho thấy tính chất phức tạp của vấn đề người thiểu số trên thế giới Tổng hợp những thuộc tính được nêu ra từ các quy định có liên quan trong các văn kiện quốc tế về vấn đề người

thiểu số, có thể rút ra khái niệm chung nhất: người DTTS là nhóm người có số dân ít hơn so với đa số cộng đồng người trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia, có đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và bản sắc văn hóa 187

Người thiểu số có những đặc điểm như: về số lượng (ít, thiểu số khi so sánh với nhóm đa số cùng sinh sống trên lãnh thổ); về vị thế xã hội (là nhóm yếu thế trong xã hội thể hiện ở tiềm lực, vai trò ảnh hưởng của nhóm tới đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống); về bản sắc (có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán); về vị thế pháp lý (có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi họ đang sinh sống) Về mặt chủ quan, nhóm cộng đồng có ý thức bảo tồn truyền thống văn hóa của mình188… Hiện nay, quyền của người dân tộc thiểu số cũng được quy định trong hầu hết accs văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng như: Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ 1992, Tuyên ngôn quốc

tế về quyền con người; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966; Công ước quốc tế về xóa bỏ hình thức phân biệt chủng tộc 1965

Như vậy, quyền dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của pháp luật về quyền con người, và việc thúc đẩy và thường xuyên thực hiện quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ như là một phần gắn liền trong sự phát triển xã hội nói chung và trong khuôn khổ dân chủ, pháp luật nói riêng, góp phần vào việc tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc và các quốc gia Trong những quyền con người của người DTTS, quyền văn

187 Xem Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2011

188 Xem Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2011

Trang 3

hóa hiện nay cũng được coi là một trong những quyền có nhiều giá trị đặc thù cần được bảo tồn, gìn giữ và phát triển

Theo Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 (viết tắt là CESCR) và các văn bản có liên quan thì quyền văn hóa của con người bao gồm:

- Quyền của mỗi cá nhân được tham gia vào đời sống văn hoá

- Quyền của mỗi cá nhân được hưởng thành quả tiến bộ khoa học và áp dụng nó

- Quyền được hưởng việc bảo vệ quyền lợi đạo đức và vật chất bắt nguồn từ các sản phẩm nghệ thuật, văn học, khoa học mà người hưởng thụ là tác giả

- Quyền tự do không thể tước bỏ khỏi hoạt động sáng tạo nghiên cứu khoa học Riêng đối với DTTS, Điều 2 Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 quy định:

Những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ (dưới đây gọi là những người thuộc các nhóm thiểu số) có quyền189:

- Hưởng nền văn hóa (…) dưới hình thức riêng rẽ hoặc trong tập thể, một cách tự do và không bị can thiệp hay bị bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào;

- Tham gia một cách tích cực vào đời sống văn hóa tôn giáo, xã hội, kinh tế

và đời sống cộng đồng;

- Tham gia một cách có hiệu quả vào những quyết định ở cấp quốc gia và, trong những trường hợp thích hợp là ở cấp khu vực khi liên quan đến nhóm thiểu số

mà họ là thành viên hoặc liên quan đến những vùng mà họ sống ở đó, theo một phương thức không trái với pháp luật quốc gia

Bên cạnh việc ghi nhận quyền của các dân tộc thiểu số, luật pháp quốc tế còn quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm cho các cá nhân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) quyền được hưởng nền văn hóa, ngôn ngữ trong các điều kiện đặc thù của mình Trong Tuyên bố năm 1992 cũng ghi

nhận: “Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ, và khuyến khích những điều kiện để thúc đẩy bản sắc đó; các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những mục tiêu này” (Điều 1)

Ngoài ra, CESCR cũng xác định thêm rằng, trách nhiệm của các nhà nước là:

- Tôn trọng quyền tự do của cá nhân khẳng định và phát triển xu hướng văn hoá theo ý thích của mình

- Ngăn ngừa và chống lại bên thứ ba khỏi sự vi phạm các đặc điểm văn hoá của các cá nhân và nhóm nhằm khẳng định bản sắc văn hoá của các chủ thể này

189 Nguồn https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Tuyen-bo-ve-quyen-cua-nhung-nguoi-thuoc-cac-nhom-thieu-so-ve-dan-toc-chung-toc-ton-giao-1992-275807.aspx

Trang 4

- Nhà nước hỗ trợ và thực hiện các điều kiện mà theo đó đảm bảo quyền tham gia hoạt động văn hoá

- Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do của cá nhân tìm kiếm thông tin và nhận thông tin khoa học vào cuộc sống Bảo vệ quyền của cá nhân được hưởng thụ phúc lợi xã hội từ các thành tựu khoa học

- Bảo đảm quyền tự do cần thiết cho các hoạt động sáng tạo và khoa học Hay như Điều 4 Tuyên bố năm 1992 thì:

1 Các quốc gia sẽ thực hiện các biện pháp trong trường hợp cần thiết để đảm bảo rằng những người thuộc các nhóm thiểu số sẽ được thực hiện đầy đủ và có hiệu quả tất cả các quyền con người và các tự do cơ bản của họ mà không có bất kỳ

sự phân biệt đối nào một cách hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật

2 Các quốc gia sẽ thực hiện các biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho những người thuộc các nhóm thiểu số được thể hiện những đặc điểm riêng có của

họ, và được phát triển văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, truyền thống và tập quán của

họ, trừ khi những thực hành cụ thể vi phạm pháp luật quốc gia và trái với các chuẩn mực quốc tế

3 Các quốc gia cần thực hiện các biện pháp thích hợp để, bất cứ khi nào có thể, những người thuộc các nhóm thiểu số có thể có đầy đủ những cơ hội được học hỏi tiếng mẹ đẻ của họ hoặc được giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ của họ

4 Các quốc gia, trong trường hợp thích hợp, cần thực hiện các biện pháp trong lĩnh vực giáo dục để giúp phát triển kiến thức về lịch sử, truyền thống, ngôn ngữ và văn hóa của các nhóm thiểu số đang sống trong phạm vi lãnh thổ của họ Những người thuộc các nhóm thiểu số cần có đầy đủ những cơ hội để có được kiến thức về xã hội nói chung

5 Các quốc gia cần xem xét những biện pháp thích hợp để những người thuộc các nhóm thiểu số có thể tham gia đầy đủ vào sự phát triển và tiến bộ kinh tế

ở nước họ

Đồng quan điểm với các văn kiện quốc tế khi xác định nghĩa vụ và trách nhiệm của các quốc gia trong đảm bảo quyền văn hóa của người dân, Ủy ban về các

quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Nhận định chung số 21 tiếp tục nhấn mạnh: các Quốc gia thành viên cần phải tôn trọng quyền của các dân tộc thiểu số tự do tiếp cận văn hóa, di sản, và các hình thức biểu đạt khác của riêng họ, cũng như tự do thực hành bản sắc văn hóa và tập quán của họ Điều này bao gồm quyền được truyền dạy về văn hóa của chính mình cũng như của người khác.190 Các Quốc gia thành viên cũng cần tôn trọng quyền của các dân tộc bản địa với văn hóa và di sản

190 Tuyên bố Fribourg về Quyền văn hóa, điều 6 (b) và 7 (b)

Trang 5

của họ và để duy trì và tăng cường mối quan hệ tâm linh của họ với các vùng đất tổ tiên và tài nguyên thiên nhiên khác theo truyền thống thuộc sở hữu của họ, hay bị

họ chiếm dụng hoặc sử dụng, và không thể thiếu cho đời sống văn hóa của họ

Như vậy, đảm bảo và thúc đẩy việc thực hiện các quyền con người của người DTTS cũng nằm trong nghĩa vụ chung của các quốc gia Tuy nhiên, xuất phát từ những đặc điểm riêng của người DTTS, việc đảm bảo các quyền của nhóm này cũng cần những chính sách phù hợp, có tính các yếu tố gắn liền với người DTTS

Ủy ban về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội trong Nhận định chung 21 cũng đã

khẳng định: Dân tộc thiểu số, cũng như những người thuộc dân tộc thiểu số, không chỉ có quyền có bản sắc riêng của họ mà còn có quyền phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa Bất kỳ chương trình nào hướng tới thúc đẩy sự hội nhập mang tính xây dựng của các dân tộc thiểu số và những người thuộc dân tộc thiểu số vào xã hội chung của một Quốc gia thành viên cần dựa trên sự hòa nhập, tham gia và không phân biệt đối xử, nhằm bảo tồn bản sắc đặc trưng của các văn hóa thiểu số191

2 Chính sách, pháp luật nhằm đảm bảo quyền văn hóa của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia thống nhất với 54 dân tộc Tính đến năm 2014, trên 12,3 triệu người trong tổng số hơn 90 triệu dân Việt Nam thuộc 53 dân tộc thiểu số, chiếm 14,3% dân số Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các vùng núi, đặc biệt

là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên và xây dựng đất nước Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự

đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất192

Coi trọng, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa các DTTS được Việt Nam khẳng định tại Cương lĩnh Xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); đặc biệt, được thể hiện sâu sắc tại hai nghị quyết chuyên đề về văn hóa Một trong 10 nhiệm vụ cụ thể được nêu ra tại Nghị quyết

Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (năm 1998) là “Bảo tồn, phát huy, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số”, trong đó nhấn mạnh đến việc đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu,

phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật các DTTS Nghị quyết số

33-NQ/TW khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (năm 2014) định hướng “…Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống”193

Tiếp đó, Điều 5 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

191 Xem Ủy ban về các quyền kinh tế, văn háo, xã hội trong Nhận định chung 21

192 Sách trắng về quyền con người năm 2018, tr.43-44

193 Nguôn https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Nghi-quyet-33-NQ-TW-2014-xay-dung-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-Viet-Nam-237544.aspx

Trang 6

Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”

Ngoài ra, để bảo đảm các quyền của các DTTS, Điều 42 Hiến pháp 2013

cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ

mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” Đồng thời khẳng định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, hội” 194 Nguyên tắc này cũng đã được thể hiện xuyên suốt trong

toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, được thể chế và cụ thể hóa trong các văn bản luật như: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Quốc tịch, Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật Lao động; Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác Trong thời gian qua, Quốc hội Việt Nam đã ban hành 151 luật với 38 luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các dân tộc thiểu số195

Đối với việc đảm bảo các quyền văn hóa của người DTTS, Việt Nam cũng

đã dành sự quan tâm đặc biệt nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền văn hóa của người DTTS trên lãnh thổ Việt Nam, cụ thể:

2.1 Quyền được tham gia vào các hoạt động của đời sống văn hóa và bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa riêng

Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương xây dựng nền văn hóa thống nhất và đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc Hình thức sinh hoạt văn hóa của các dân tộc thiểu số kết hợp giữa văn hóa truyền thống và hiện đại trong xu thế giao lưu, hội nhập và phát triển Người DTTS ở tất cả các vùng miền được tham gia hoạt động văn hóa mang bản sắc các dân tộc Đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, mức thụ hưởng văn hóa được nâng cao Nhiều nét văn hóa các dân tộc thiểu số được bảo tồn, phát triển, được công nhận là

di sản văn hóa thế giới như: “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”,

“Thánh địa Mỹ Sơn”, “Cao nguyên đá Đồng Văn”

Quyền bảo tồn và phát triển văn hóa DTTS được coi là quyền đặc thù có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng DTTS và đã được quy định ở nhiều văn bản

194 Điều 16 Hiến pháp 2013

195 Sách trắng về quyền con người năm 2018, tr.43-44

Trang 7

khác nhau như: Điều 41, Điều 42 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa; Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” Để đảm bảo quyền này, nhà nước ta

không chỉ ban hành các văn bản pháp luật chuyên ngành là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền mà còn có các chính sách, đề án bảo tồn và phát triển văn hóa như: Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020 theo Quyết định 1270/ QĐ –TTg hoặc là quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành khung dạy tiếng DTTS cho cán bộ công chức công tác ở vùng DTTS, Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các DTTS Việt Nam trong giai đoạn hiện nay196,…

2.2 Quyền được sử dụng và phổ biến ngôn ngữ riêng và lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hóa của mỗi dân tộc, là tinh hoa được hình thành và gọt giũa trong một thời gian dài Qua ngôn ngữ mỗi cộng đồng bản ngữ thể hiện được thế giới quan tâm linh của mình, đồng thời thế giới quan tâm linh cũng làm ngôn ngữ phát triển Vì vậy, việc đảm bảo cho các dân tộc thiểu số vừa tiếp cận được với ngôn ngữ của các dân tộc khác để thuận lợi trong quá trình học tập, công tác và đón nhận các giá trị văn hóa của nhân loại, vừa được sử dụng, không làm mất đi ngôn ngữ “mẹ đẻ” của mình để duy trì các giá trị văn hóa truyền thống không phải là một điều dễ dàng Vì vậy, trong các quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, quyền sử dụng và tiếp cận ngôn ngữ đã được đề cập đến tại Điều 42 như

sau: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” 197

Tiếp đó, Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”; Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác”; Hay Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định về tiếng nói, chữ viết dùng trước Tòa án nhân dân: “Tiếng nói, chữ viết dùng trước Tòa án là tiếng Việt Tòa án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ

196 Phê duyệt Đề án "Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" – Website: https://bvhttdl.gov.vn/phe-duyet-de-an-bao-ton-phat-huy-trang-phuc-truyen-thong-cac-dan-toc-thieu-so-viet-nam-trong-giai-doan-hien-nay-20190223064433559.htm

197 Xem http://khoaluat.vinhuni.edu.vn/dao-tao/seo/bai-viet-quyen-su-dung-va-tiep-can-ngon-ngu-cua-cac-dan-toc-thieu-so-o-viet-nam-78222

Trang 8

viết của dân tộc mình trước Tòa án nhân dân, trường hợp này phải có phiên dịch”

Điều 21 Luật di sản văn hóa 2013 cũng có những quy định tương tự Tiếp đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP Quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hợp tác với UNICEF thí điểm thực hiện giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ tại 3 tỉnh Lào Cai, Trà Vinh, Gia Lai…

Duy trì văn hóa truyền thống, gìn giữ ngôn ngữ, các bài hát, điệu múa và nhạc cụ truyền thống là các yếu tố quan trọng nhận diện đặc trưng của các DTTS Trong thời gian vừa qua, Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam không ngừng nâng cao công suất, tăng thời lượng phát sóng, mở rộng diện tích phủ sóng rộng khắp trong cả nước, tới các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng

xa Trên 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các Đài phát thanh, truyền hình địa phương có các chương trình phát bằng 26 ngôn ngữ dân tộc thiểu số198

Tổng hợp từ kết quả số liệu điều tra về thực trạng kinh tế xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, cho thấy: có đến 95,8% tỷ lệ số người DTTS biết tiếng nói của dân tộc mình Tuy nhiên tại một số nhóm dân tộc thiểu số tỷ lệ này còn tương đối thấp Cụ thể là nhóm Ơ Đu, kết quả Điều tra cho thấy chỉ 27,7% số người của dân tộc này nói được ngôn ngữ Ơ Đu Thực trạng mai một ngôn ngữ mẹ đẻ cũng đáng lo ngại ở các nhóm DTTS như Cơ Lao (45,5%), Ngái (50,8%), La Chí (64,4%) và La Ha (67,3%) Một điều đáng chú ý là các nhóm DTTS bị mai một ngôn ngữ mẹ đẻ này cũng là những nhóm DTTS có quy mô dân số bé, chưa đến

1000 hộ mỗi dân tộc, như Ơ Đu (100 hộ), Cơ Lao (647 hộ), Ngái (252 hộ), La Chí

và La Ha (trên 2.000 hộ mỗi nhóm)

2.3 Quyền tiếp cận và thụ hưởng các giá trị văn hóa

Quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá có thể hiểu là quyền được thừa nhận và bảo đảm nhu cầu cảm nhận và khai thác các giá trị, các vốn xã hội tốt đẹp được sáng tạo, lưu giữ trong đời sống cộng đồng của một cá nhân, cộng đồng nào đó

Ở nước ta, quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá lần đầu tiên được nước ta ghi nhận vào một văn bản pháp lý là tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 41) Theo đó, quyền này tập trung vào các khía cạnh sáng tạo, tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa

tinh thần xã hội Cụ thể, điều 24 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; không ai

198 Xem Sách trắng với chủ đề Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, 2018

Trang 9

được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”; Điều 39: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập Điều 40 quy định: mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”; Điều 41: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”

Nhìn chung, qua các quy định trên đây có thể thấy, người dân dù thuộc về bất kỳ DTTS nào hay là người dân tộc Kinh, thì đều được Nhà nước đảm bảo quyền bình đẳng trong thụ hưởng và khuyến khích phát huy các giá trị văn hóa do mình hoặc cộng đồng tạo ra Bên cạnh đó, Nhà nước cũng tạo mọi điều kiện, cả về pháp luật và cơ

sở vật chất để đảm bảo quyền này của người dân, trong đó có người DTTS

3 Đánh giá chung

3.1 Một số kết qủa đạt được

Đoàn kết là truyền thống quý báu, là bài học lớn của cách mạng Việt Nam; đại đoàn kết dân tộc là đường lối cơ bản, chiến lược hết sức quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Trong thực tế, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam không chỉ được tự do hưởng thụ tất cả những giá trị văn hoá mà còn có vai trò quan trọng trong sáng tạo, giữ gìn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, góp phần tạo nên các di sản văn hoá, kể cả các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên, Hát xoan Phú Thọ, Không gian văn hoá quan họ Bắc Ninh, Ca Trù…;

giữ gìn và phát triển các làng nghề truyền thống

Để đảm bảo quyền văn hóa của người DTTS, Việt Nam xác định hệ thống chính sách pháp luật phải đảm bảo hoàn toàn tôn trọng phẩm giá, nhân quyền, tính độc đáo về văn hóa của họ và dân tộc thiểu số không bị tác động bất lợi trong quá trình phát triển và họ sẽ nhận được lợi ích phù hợp điều kiện văn hóa - kinh tế xã hội Trong những năm qua, Chính phủ xác định hoàn cảnh của cộng đồng thiểu số

là một ưu tiên chính trị và đã phát triển một loạt các chương trình nhằm mục đích nâng cao mức sống của họ Thông qua đó, Chính phủ đã thực thi nhiều chính sách

để giúp đỡ người dân tộc thiểu số vượt qua những rào cản mà họ phải đối mặt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội dành cho các xã đặc biệt khó khăn trong vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam, được gọi là Chương trình 135, ví dụ,

đã tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng ở vùng sâu vùng xa để giải quyết tình trạng

cô lập về địa lý như là một nguyên nhân gây nên tính dễ bị tổn thương của các dân tộc thiểu số

Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam, theo đó:

Trang 10

1 Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam

2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc

3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình

4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước

Việt Nam đã xây dựng một loạt các chính sách nhằm phát triển, nâng cao điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội của người dân tộc thiểu số tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Sau các chương trình 124 và chương trình 125 giai đoạn 1,

giai đoạn 2, Chính phủ đã đưa ra chương trình 135 giai đoạn 3 để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc, miền núi Bên cạnh việc các chương trình phát triển chung cho các cộng đồng DTTS, Chính phủ giao cho Ủy ban Dân tộc chủ trì hướng dẫn các tỉnh xây dựng dự án Hỗ trợ phát triển các dân tộc có dân số dưới 1000 người như các nhóm: Si La, Pu Péo,

Rơ Măm, Brâu, Ơ đu Chính phủ cũng ban hành Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, nơi tập trung nhiều đồng bào DTTS đang sinh sống

Việt Nam đã có nhiều chính sách đảm bảo người DTTS được học tập, được đào tạo nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình; tạo việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế,

phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Việt Nam đã ban hành và thực hiện các chính sách giáo dục dưới đây để thúc đẩy sự phát triển giáo dục nói chung và giáo dục cho PNDTTS nói riêng:

- Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

- Luật Giáo dục, năm 2005 và kèm theo là các văn bản hướng dẫn thi hành

- Chương trình quốc gia về Giáo dục cho mọi người giai đoạn 2003-2015, trong đó đã coi bình đẳng giới là một mục tiêu ưu tiên: “Xoá bỏ bất bình đẳng giới

ở bậc tiểu học và trung học vào năm 2005, đạt bình đẳng giới trong giáo dục vào năm 2015, chú trọng đảm bảo trẻ em gái được tiếp cận đầy đủ và công bằng cũng như hoàn thành giáo dục cơ bản với chất lượng tốt”

- Đề án Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025

Ngày đăng: 04/02/2021, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w