1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tác động của kênh bán hàng trực tuyến trong thị trường Việt Nam

77 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 10,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Website là linh hồn của việc kinh doanh trực tuyến, do vậy việc thiết kế website chính thức thật bắt mắt và thuận tiện là một yếu tố quyết định để thu hút sự chú ý của khách hàng. Hiểu đ[r]

Trang 1

Kỷ yếu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Đề tài

TÁC ĐỘNG CỦA KÊNH BÁN HÀNG TRựC TUYỂN TRONG THỊ

TRƯỜNG VIỆT NAM

Ngô Hương Hoài Thu - L K6AH3 Nguyễn Hồng Hà- L K6AH3

Trang 2

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

M Ở Đ Ầ U

Theo số liệu thống, kê mới nhất năm 2010, số lượng người sử dụng Internettrên thế giới đã gấp đôi năm năm trước với số lượng là hơn 2 tỷ người Đây là mộtcột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển chóng mặt của Internet bởi 1/3 dân sốthế giới đã được dùng Internet, so với xuất phát điểm là con số 0 của hơn 20 năm

vể trước Đến cuối năm 2010, 71% dân số ở các nước phát triển tham gia vào xãhội trực tuyến, trong khi đó ở các nước đang phát triển, con số đó là khoảng 21%dân số Tính riêng từng khu vực, 65% dân số sử dụng Internet là ở châu Ẩu, 55% là

ở châu Mỹ, 21.9% là ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, và chỉ có khoảng 9,6%dân số ở châu Phi được sử dụng Internet, số người sử dụng Internet ở châu Á vàchâu Phi ngày càng tăng nhưng vẫn còn khoảng cách khá ló'n so với các nưó'c pháttriển

Hiện nay có hơn 30 triệu người sử dụng Internet ở Viêt Nam (theo kết quảđiều tra mới nhất năm 2011) và sẽ còn tăng mạnh Bên cạnh đó, Internet ngày càngphát triển đi theo sau là các dịch vụ Internet kèm theo cũng góp phần làm tănglượng người online trong giờ nghỉ và ngày nghỉ, số thuê bao Internet băng thôngrộng là trên 3,5 triệu thuê bao, theo số liệu thống kê có đến tháng 10/2010 củaVNNIC, tỷ lệ truy cập tại gia đình tăng từ 75% (2010) lên 88% (2011)

Theo chiều hướng phát triển đó, về lâu dài kênh bán hàng trực tuyến ở ViệtNam sẽ có những bước nhảy vọt như các nước Anh, Mỹ đã từng trải qua Chính vìvậy, tham gia đầu tư vào kênh bán hàng trực tuyến là hướng đầu tư tất yếu của mỗidoanh nghiệp Việt Nam Bên canh đó, việc phát triển kênh bán hàng trực tuyếncũng đem đến những lợi ích nhất định cho người tiêu dùng Việt Nam Vì vậy, tìmhiểu về kênh bán hàng trực tuyến sẽ cũng cấp thông tin và hiểu biết cần thiếtkhông chỉ cho các doanh nghiệp mà còn cho người tiêu dùng

181

Trang 3

B Trọng Tâm

I Giới thiệu chung

í Khái niệm thương mại điện í

Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, từ máy tính cá nhânđang sử dụng, người ta có thể tìm kiếm thông tin, có thể liên lạc với bất cứ ai,khai thác tài nguyên thông tin ở bất cứ đâu trên thế giới b ng cách truy cậpvào mạng Internet Internet đã chứng tỏ tính ưu việt của mình với hàng loạtcác ứng dụng khác nhau, liên tục được cải tiến, ngày càng đa dạng và phongphú cho người sử dụng Cho tới nay, cơ sở hạ tầng của mạng máy tính hayInternet đã đạt đến trình độ tiêu chu n cho các hoạt động kinh doanh, đờisống gia đình và các hoạt động chính phủ Nó đã trở thành yếu tố xúc tác làmthay đổi cơ cấu hoạt động và quản lý của các tổ chức theo phương thức điện

tử, số hoá, thúc đ y sự ra đời của thương mại điện tử

Thương mại điện tử (Electronic commerce hay E-commerce hoặc EC) làhình thái hoạt động thương mại, mua bán hàng hóa, dịch vụ, và trao đổi thôngtin thương mại thông qua việc ứng dụng các phương tiện công nghệ điện tử có

sử dụng các tiêu chu n truyền thông chung

Theo nghĩa rộng thương mại điện tử được định nghĩa trong Luật mẫu vềthương mại điên tử của ỷ ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế(UNCITRAL) “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng đểbao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù

có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm cácgiao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào vể thương mại về cung cấp hoặc ừaođổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thươngmại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹthuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai tháchoặc tô nhượng; liên doanh Gác hình thức khác về hộp tác công nghiệp hoặc

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 4

kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách b ng đường biển, đườngkhông, đường sắt hoặc đường bộ.”1

Như vậy, có thể thấy r ng phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng, baoquát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụchỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tủ' Theonghĩa hẹp thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiếnhành trên mạng máy tính mở như Internet Trên thực tế chính các hoạt độngthương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ thương mạiđiện tử

Thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụqua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng,chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giáthương mại, họp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thịtrực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng.Thương mại điện

tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng,các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cungcấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (nhưchăm sóc sức khỏe, giáo dục ) vả các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo).Thương mại điện tô đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cáchthức mua sắm của con người

Ravi Kalakota và Andrew Winston2 đã mô tả thương mại điện tử theobốn góc độ chính một cách đơn giản và dễ hiểu như sau:

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Công nghệ thông tie Thương mại điện tủ' là việc cung câp,

phân phối thông tin, sản ph m và dịch

1 Bộ Thưcmg mại: Thương mại điện t , Nxb Thống kê, Hà Nội 1999.

2Ravi Kalakota và Andrew B Winston: Electronic commerce: A manager’s guide,

Addison Wesley Publisher, 1999

183

Trang 5

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

vụ, các phương tiện thanh toán quađiện thoại, các mạng truyền thông hayqua các phương tiện điện tử khác

công nghệ thông tin để tự động hoácác giao dịch kinh doanh và các kênhthông tin kinh doanh

doanh nghiệp, người tiêu dung, cácnhà quản lý cắt giảm chi phí dịch vụ,động thời nâng cao chất lượng hànghoá, dịch vụ, và tăng tốc độ cung cấpdịch vụ cho khách hàng

năng tiến hành các hoạt động muabán hàng hoá, trao đổi thông tin,trựctiếp trên Internet cùng nhiều dịch vụtrực tuyến khác

Bảng 1: khái niệm thương mại điện tử từ các góc độ

2 Khái niệm của kênh bán hàng trực tuyến

Bán hàng trực tuyến (bán hàng qua internet) chính là những hoạt độnggiao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy tính toàn cầu với sự hỗ trợ

từ một chương trình phần mềm có tính năng giỏ hàng Hiểu một cách đơngiản, người mua hàng thay vì đến cơ sở của người bán, người mua có thể thựchiện tất cả các công đoạn của việc mua hàng chỉ thông qua Internet Nghĩa làngười mua có thể thực hiện việc xem hàng, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng,thụ hưởng các dịch vụ sau bán hàng thông qua mạng Internet Chu trình

Trang 6

hoạt động của kênh bán hàng trực tuyến được mô tả cụ thể trong hình 1 bêndưới.

Các giao dịch qua kênh bán hàng trực tuyến có thể hiểu tương đươngnhư các hoạt đông thương mại điện tử nh m sinh lợi cho các chủ thể kinhdoanh trên thị trường Do vậy, về bản chất, bán hàng qua Internet cũng đượcxem xét dưới các đặc điểm sau:

Bán hàng trực tuyến được thực hiện trên cơ sở bán hàng, giao dịch thươngmại truyền thống, do vậy, nhiều tiến trình mua bán trong thương mại trựctuyến liên quan đến thương mại truyền thống Hình thức thương mại điện tửkhông thể hiện các dạng văn bản trên giấy Tất cả các văn bản giao dịch đềuđược thể hiện b ng các dữ liệu tin học, ghi âm hay b ng các phương tiện lưutrữ điện tủ' khác Chính điều này đã làm thay đổi căn bản văn hoá giao dịch -không giấy tờ (paperless)

Bán hàng trực tuyến phụ thuộc vào chương trình máy tính được cài đặttại ít nhất một điểm cuối của giao dịch hoặc quan hệ thương mại để tiến hànhcác giao dịch Tại điểm cuối khác, một người đang sử dụng một chương trìnhmáy tính hoặc truy cập vào mạng máy tính nào đó

Kỷ yểu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (-12/2011)

185

Trang 7

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Hình 1: Chu trình bán hàng trực tuyếnBán hàng trực tuyến là một hệ thống bao gồm nhiều giao dịch thươngmại Gác giao dịch này không chỉ tập trung vào việc mua - bán hàng hoá vàdịch vụ để trực tiếp tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp, mà bao gồm nhiều giaodịch hỗ trợ tao ra lợi nhuận như kích thích, gợi mở nhu cầu đối với hàng hoádịch vụ, hỗ trợ việc chào bán, cung cấp các dịch vụ khách hàng hoặc tạo điềukiện thuận lợi cho quá trình thông tin liên lạc giữa các đối tác kinh doanh Bán hàng trực tuyến được xây dưng trên cơ sở những ưu thế và cấu trúcthương mại thuần tuý cùng với sự linh hoạt, mềm dẻo của các mạng điện tử,

Trang 8

cho phép loại bỏ những trở ngại, những cản trở vật lý khi thực hiện các giaodịch 24 giờ mỗi ngày và 7 ngày mỗi tuần, các dịch vụ hỗ trợ khách hàngđược thiết lập bởi hệ thông Internet đã và đang sẵn sàng thực hiện các đơn đặthàng ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời điểm nào.

Các hoạt đông bán hàng trực tuyến được thực hiện trên cơ sở các nguồnthông tin dưới dạng số hoá của các mạng điện tô Tuỳ thuộc vào mức độ sốhoá của nền kinh tế và khả năng hội nhập số hoá với nền kinh tế toàn cầu màcác hoạt đông bán hàng trực tuyến có thể đạt được các cấp độ từ thấp đến cao.Bán hàng trực tuyến phụ thuộc vào sự phát triển của không nhưng côngnghệ thông tin mà còn khả năng, trình độ công nghệ của người sử dụng Côngnghệ luôn luôn thay đổi Nhưng sáng tạo kĩ thuật mới thường xuyên ra đời,không ngừng nâng cao và phát triển Chính vì vậy, bán hàng trực tuyến hayrộng hơn là thương mại điện tử cần xây dựng đội ngũ nhân viên không chỉthành thạo về công nghệ mà còn có kiến thức và kỹ năng về quản trị kinhdoanh nói chung, về thương mại nói riêng

3 Các đặc trưng của kênh bán hàng trực tuyến:

Khác với các hoạt động bán hàng truyền thống, bán hàng qua Internet cómột số đặc điểm riêng CO'bản sau:

a) Bán hàng trực tuyến thực hiện các giao dịch không đòi hỏi các bên phảitiếp xúc với nhau, và không nhất thiết phải biết nhau từ trước Nếu trong buônbán truyền thống, bên mua và bên bán sẽ phải gặp mặt trực tiếp để tiến hànhcác giao dịch Theo hình thức nay, rõ ràng cả người mua và người bán sẽ phảigặp không ít khó khăn do ảnh hưởng của vị trí địa lý, phương thức thanh toán,

và giao hàng Thương mại điện tử với tiêu biểu là kênh bán hàng trực tuyếncho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khuvực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có cơhội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

187

Trang 9

nhất thiết phải có mối quen biết với nhau Ví dụ tập đoàn Sears cần một thế

kỷ để trở thành hệ thống siêu thị lớn nhất thế giới Tuy nhiên, Wal-Mart đượcthành lập năm 1980 chỉ cần 20 năm để vượt qua Sears trở thành hệ thống siêuthị lớn nhất thế giới Amazon.com, một hiệu sách trực tuyến được thành lậpnăm 1995 chỉ cần mất 4 năm để vượt qua Wal-Mart về giá trị thị trường Theonghiên cứu Amazon.com có khoảng 6 triệu khách hàng mà rất nhiều ngườitrong số là những khách hàng thường xuyên Nó không có gì khác so với bất

kỳ cửa hàng nào Chúng ta không cần đến cửa hàng nữa Điều quan trọng làchúng ta có thể mua cái mà chúng ta cần và ngươi bán có thể nhận được tiềnthanh toán Như vậy thì không cần phải đi đến cửa hàng để mua sắm nữa.b) Các giao dịch bán hàng truyền thống được thực hiện với sự tồn tại củakhái niệm biên giới quốc gia, còn bán hàng trực tuyến được thực hiện trongmột thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) Bán hàngqua Internet trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu

c) Trong hoạt động giao dich qua kênh bán hàng trực tuyến đều có sựtham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được làcác nhà cung cấp dịch vụ mạng, và các cơ quan chứng thực Đây là bên thứ ba

có nhiệm vụ luân chuyển, và lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia loạihình giao dich này, đồng thời cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin tronggiao dich mua bán trực tuyển

d) Trong kênh bán hàng trực tuyến, mạng lưới thông tin chính là thịtrường Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo , America Online hayGoogle đóng vai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng Các trang Web

đã trở thành các khu chợ khổng lồ trên Internet Với mỗi lần nhấn chuột,khách hàng có khả năng truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ

lệ khách hàng vào hàng ngàn các cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàngvào thăm rồi mua hàng là rất cao Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạngmột số các loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng Nhiều ngườisẵn sàng trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đi tới tận cửa hàng Một số

Kỷ yểu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 10

công ty đã mời khách may đo quần áo trên mạng, tóc là khách hàng chọnkiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet) rồi sau một thờigian nhất định nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình Điều tưởngnhư không thể thực hiện được này cũng có rất nhiều người hưởng ứng Cácchủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tin lênWeb để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên Web b ng cách mởcửa hàng ảo.

4 Các cơ sở và các loại giao dịch bán hàng trực tuyến:

Để phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở:

® Hạ tầng kỹ thuật internet phải đủ nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải cácnội dung thông tin bao gồm âm thanh, hình ảnh trung thực và sống động Một

hạ tầng internet mạnh cho phép cung cấp các dịch vụ như xem phim, xem TV,nghe nhạc v.v trực tiếp Chi phí kết nối internet phải rẻ để đảm bảo số ngườidùng internet phải lớn

® Hạ tầng pháp lý: phải có luật về TMĐT công nhận tính pháp lý của cácchứng từ điện tử, các họp đồng điện tủ' ký qua mạng; phải có luật bảo vệquyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ sụ riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng , lchi giaodịch qua mạng

® Phải có cơ sỏ' thanh toán điện tử an toàn bảo mật, khi thanh toán điện tửqua thẻ, qua tiền điện tủ' Các ngân hàng phải triển khai hệ thống thanh toánđiện tử rộng khắp

® Phải có hệ thống cơ sở chuyển phát hàng hoá, dịch vụ nhanh chóng, kịpthời, và tin cậy

e Phải xây dựng hệ thống bảo mật cho các giao dịch, chống xâm nhậptrái phép, chống virus, chống thoái thác trách nhiệm

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

189

Trang 11

• Xây dựng nguồn nhân lực am hiểu về kinh doanh, công nghệ thông tin,thương mại điện tử để triển khai tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến, bán hàng vàthanh toán qua mạng.

5 Các hình thức bán hàng trực tuyến:

Trong suốt lịch sử phát triển, con người đã thực hiện trao đổi giá trị theonhiều hình thức khác nhau như hàng đổi hàng hay thông qua các phương tiệnbiểu trưng cho giá trị: tiền tệ, vàng, bạc Trong cuộc sống hiện đại, cùng với

sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là các hoạt động thương mại trênInternet và sự phổ biến của Web, các giao dịch thanh toán đang được thựchiện ngày càng nhiều theo phương thức thanh toán trên Internet hay thanhtoán trực tuyến trong thương mại điện tử Xét trên nhiều phương diện, thanhtoán trong bán hàng trực tuyến được xây dựng dựa trên sự kết hợp các kỹthuật cơ bản của hình thức thanh toán trong thương mại truyền thống, vànhững nguyên tắc của hệ thống thanh toán trên Internet trên cơ sở của tiềnmặt điện tử chính yếu tổ cơ bản này đã phân bán hàng trực tuyến theo nhiềuhình thức khác nhau

5.1 H ìn h th ức thanh toán trực tuyển.

5.1.1 C c loại thẻ tín dụng, thẻ trả phí và thẻ ghi nợ

Thanh toán trực tuyến hay chính là hinh thức thanh toán b ng thẻ trả phínhư các loại thẻ tín dụng, thẻ trả phí và thẻ ghi nợ Cũng như các hình thứcthanh toán b ng thẻ trả phí khác, thanh toán b ng thẻ tín dụng là hình thứcthanh toán phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Một thẻ tín dụng, như VisaCard hay Master Card, có khả năng cung cấp cho người mua một khoản tíndụng tại thời điểm mua hàng; con giao dịch thanh toán thực tế sẽ xảy ra sauđóthông qua cá hoá đơn thanh toán hàng tháng

Các loại thẻ của các hãng như Visa và Master thường là thẻ tín dụng,trong khi các thẻ của các hãng như American Express lại thường là thẻ trả phí

Kỷ yếu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 12

Từ góc độ người bán hàng, các loại thẻ trên về bản chất được thực hiện theonhững cách thức giống nhau, chúng chỉ khác nhau ở chỗ là trong trường hơp

cụ thể, người bán hàng có chấp nhận nhóm thẻ đó có hay không

Đối với thẻ ghi nợ, việc thanh toán liên quan đến các loại thẻ này đượckết nối với một tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, chẳng hạn như tài khoản séc(tài khoản tiền gửi phát hành séc) tại ngân hàng Các thẻ loại này thườngmang biểu trưng của Visa hay MasterCard và được chấp nhận ở bất cứ nơinào mà Visa và MasterCard được chấp nhận Dưới góc độ người bán hàng,quá trình sử dụng loại thẻ này không khác gì đối với các loại thẻ tín dụngkhác Và các loại thẻ ghi nợ như mô tả ở trên được gọi là thẻ ghi nợ ngoạituyến, bởi vì không cần bất cứ sự xin cấp phép nào tại thởi điểm diễn ra cácgiao dịch thanh toán Ngược lại, đối với một thẻ ghi nợ trực tuyến, khi thanhtoán đòi hỏi phải được cấp phép tại thời điểm diễn ra giao dịch thông qua việc

sử dụng mã số định danh cá nhân (mã số PIN - Personal IdentìicationNumber) Các loại thẻ như vậy thường là các thẻ giao dịch tự động (ATMcard) Người bán hàng thường chấp nhận loại thẻ này từ các ngân hàng địaphương đối với một vài loại giao dịch Cũng giống như thẻ ghi nợ ngoạituyến, khi thanh toán bang thẻ này, các số tiền sẽ được chuyển ngay lập tức tù'tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tương ứng

Đối với thẻ tín dụng, người bán hàng sẽ phải thanh toán toàn bộ các chiphí thực hiện giao dịch thanh toán Các khoản phí này không giống nhautrong những trường hợp khác nhau Nó tuỳ thuộc vào quy định của từng ngânhàng, vào quy mô của người bán hàng trực tuyến, vào độ lớn của các giaodịch, vào khối lượng các giao dịch thẻ tín dụng và từng loại hình kinh doanh

cụ thể

Thanh toán thông qua thẻ tín dụng là hình thức phổ biến trong thanh toántrực tuyến áp dụng với các giao dịch thương mại bán lẻ; đặc biệt là cá giaodịch tương tự như giao dịch truyền thống có sử dụng hình thức thanh toán thẻ

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

191

Trang 13

tín dụng bao gồm các giao dịch như đặt mua, hay thanh toán cho các giaodịch thông tin trực tuyến Và khi tiến hành thanh toán b ng thẻ tín dụng,người giao dịch sẽ phải trả một số khoản phí nhất định nên nó không thíchhọp với các giao dicn nhỏ, lẻ, riêng rẽ Nhìn chung, sử dụng các loại thẻ tíndụng co chi phí khá cao (khoảng tù' 2% đến 5% giá trị của toàn bộ giao dịch),nhưng chúng cũng cung cấp nhiều dịch vụ đi kèm với chất lượng cao hơndịch vụ của nhiều thẻ thanh toán khác.

5.1.2 Quy trình thực hiện c c giao dịch thẻ tín dụng:

Sau khi khách hàng xuất trình thẻ tín dụng của mình để mua hàng hoá,dịch vụ, người bán hàng sẽ xem xét giá trị của giao dịch có đúng hạn mứcthanh toán do ngân hàng thanh toán quy định hay không, trường hợp số tiềnthanh toán lớn hơn hạn mức thì cơ sở chấp nhận thẻ phải cấp phép Thôngthường, hạn mức này được đưa ra dựa trên mức độ chấp nhận rủi ro củangành được cấp phép Ngành nào có rủi ro cao thì hạn mức càng thấp vàngược lại Các ngành dịch vụ nói trên được chia ra làm các loại chủ yếu nhưsau:

và sử dụng thống nhất trên toàn thế giới. _ _

K ỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 14

Trường hợp xin cấp phép thực chất là quá trình xin ý kiến của ngân hàngphát hành thẻ xem có cho phép chủ thẻ sử dụng để thanh toán số tiền của mộtgiao dịch b ng thẻ tín dụng hay không

Đầu tiên, người bán hàng gửi yêu cầu tới ngân hàng của mình (được gọi

là ngân hàng đại lý) đề nghị cho phép khách hàng (chủ thẻ) sử dụng thẻ đểthanh toán số tiên của giao dịch mua bán trực tuyến

Trung tâm cấp phép của ngân hàng đại lý từ máy chủ của mình sẽchuyển yêu cầu này xuống trung tâm xử lý số liệu thông qua mạng trao đổithông tin

Trung tâm xử lý số liệu sẽ chuyển yêu cầu xin cấp phép đến ngân hàng

đã phát hành thẻ Ngân hàng phát hành thẻ này tiến hành kiểm tra hạn mức tíndụng của chủ thẻ và sau đó sẽ gửi trả lời cấp phép tới trung tâm xử lý số liệuthông qua mạng trao đổi dữ liệu trên Trong trường hợp không đồng ý, ngânhàng phát hành thẻ sẽ từ chối cấp phép và gửi thông báo tới trung tâm Mộtgiấy phép chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định(thường là bangày), quá thời hạn đó giấy phép sẽ không còn giá trị (trù trường họp giaodịch đã được tiến hành hoặc khi giấy phép được cấp lại)

Tiếp theo đó, trung tâm xử lý số liệu sẽ chuyển trả lời cấp phép lại chongân hàng thanh toán

Ngân hàng trả lòi người bán (cơ sở chấp nhận thẻ)

Kỷ yểu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Các câu trả lời xin được cấp phép được trình bày như sau:

Gọi lại cho

phát hành thẻ

để cung cấp

Từ chôi vìkhông đủ tiền

193

Trang 15

Kỷ yếu H ội nghị KH SVKhoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

tin và sẽ trảlời sau

Bảng 2: Trả lời của ngân hàng

5.2 H ình th ức thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng

Chuyển khoản qua ngân hàng là hình thức chuyển khoản điện tử Electonic Funds Transfer) là việc chuyển tiền trực tiếp giữa các tài khoảnngân hàng áp dụng với các nghiệp vụ thanh toán trong ngày hoặc trong mộtvài ngày Chuyển khoản điện tử thường được sử dụng khi chuyển các tàikhoàn tiền lớn ỉiên ngân hàng Tuy nhiên, đối với các giao dịch với giá trị nhỏ

(EFT-lẻ, việc chuyển khoản sẽ qua trung tâm thanh toán bù trừ tự động để thực hiệncác thanh toán trực tuyến cho các hoá đơn khi mua hàng hoặc các hoạt độngthương mại khác Việt Nam, theo quy định, các ngân hàng chỉ thực hiệndịch vụ chuyển phát tiền trước 15 giờ hàrig ngày

5.3 H ìn h th ức chuyển tiền qua bưu điện - L ện h ch i h ay M oney order.

Chuyển tiền là một dịch vụ đa dạng với nhiều phương thức của bưu điện.Dịch vụ này được thực hiện qua cuộc đàm thoại giữa bưu cục nhâĩỹ chuyển

và bưu cục nhận phát Ngoài cước chuyển tiền theo quy định, khách hảng cònphải tính thêm cước đàm thoại giữa hai bưu cục chuyển tiền trong gói cướcphí dịch vụ Dịch vụ thư chuyển tiền được người dân sử dụng cho những móntiền không cần gửi gấp với giá cước rẻ Ngoài ra, khách hàng con có thể sửdụng dịch vụ chuyển tiền từ nước ngoài về qua bưu điện một cách thuận tiệncho bất cứ người nào ở Việt Nam mà không phụ thuộc vào người đó co tàikhoản hay khổng

Trang 16

Lợi thế của bưu điện chính là thời gian Thứ nhất, bưu điện chấp nhậnphục vụ dịch vụ chuyển phát đến 21 giờ hàng ngày Thứ hai, bưu điên khôngyêu cầu khách hàng phải phân loại tiền khi gửi như ở ngân hàng Hơn thế nữa,bưu điện có một hệ thống bưu cục và điểm bưu điện văn hoá từ xã đến tậnthôn, bản rất thuận tiện cho khách hàng.

Theo quy trình mới, hàng ngày các bưu cục cung cấp dịch vụ sẽ chuyểnchứng từ (thư chuyển tiền, điện chuyển tiền) lên bưu điện huyện hoặc tỉnh.Tại trung tâm huyện, tỉnh các nhân viên sẽ tiếp tục nhập và chuyển số liệu lêncấp hành chính trung ương cao hơn Dịch vụ chuyển tiền nhanh sẽ do các tỉnhtrực tiếp phối họp vói nhau không cần qua trung tâm chuyển tiền

Chuyển, tiền quốc tế được thực hiện thông qua đầu mối là trung tâmchuyển tiền Các báo cáo tổng hợp về luồng tiền sẽ được truyền về trung tâmchuyển tiền qua mạng máy tính Với quy trình mới này, thông tin sẽ được cậpnhật trên mạng một tiếng một lần, thông tin điều hành quỹ cũng có ngay trênmạng giúp giải quyết thông tin mau chóng, an toàn, và giảm thiểu chi phí giảiquyết khiếu nại không đáng có

5.4 Hình thức chuyển tiền qua hệ thông chuyển tiền quốc tế

Thông qua hệ thống SWIFT (Society for Worldwide Interbank FinancialTelecommunication), các ngân hàng Việt Nam mà là thành viên của hệ thốngviện thông tài chính liên ngân hàng quốc tế, và là đại lý với nhiều ngân hànglớn trên toàn thế giới, các khách hàng có thể chuyển tiền đến bất cứ đâu, một

cá nhân hay một tổ chức thông qua dich vụ chuyển tiền quốc tế này Việc traođổi dữ liệu tài chính được thiết lập giữa các ngân hàng trên toàn cầu và cáckhách hàng; cho phép ngân hàng ở Việt Nam nhận khoản tiền mà họ được uỷquyền từ người thanh toán và lập bản sao kê các khoản thanh toán cho ngườithụ hưởng Dịch vụ này cho phép khách hàng nhận tiền mặt hoặc chuyểnkhoản tò nước ngoài chuyển về có thể bang cả VNĐ hoặc ngoại tệ Kháchhàng du có tài khoản hay không có tài khoản ngân hàng, thì vẫn có thể nhận

Kỷ yếu Hội nghị -KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thử 4 (12/2011)

Trang 17

tiền chuyển về Bên cạnh đó, khách hàng không phải khai báo nguồn gốc sốtiền chuyển về và cũng không phải nộp thuế thu nhập.

5.5 Phương ph p nhờ thu:

Có 2 phương pháp nhờ thu phổ biến là nhờ thu hối phiếu trơn (CleanCollection) và nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection)

5.5.1 Phương thức nhờ thu hối phiếu trơn:

Đây là phương thức thanh toán trong đó người bên bán sau khi giao hànghay cung cấp dịch vụ sẽ uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình sẽ thu hộ tiền từngứời mua hàng hay nhận dịch vụ căn cứ theo hối phiếu bên bán lập ra, cònchứng từ hàng hoá, dịch vụ thì được gửi thẳng cho người mua mà không cầngửỉ cho ngân hàng

Quy trình thanh toán b ng nhờ thu hối phiếu trơn:

i Người bán hàng giao hàng và bộ chứng từ hàng hóa cho người mua

ii Người bán hàng lập hối phiếu và uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền từngười mua hàng

iỈL Ngân hảng nhân UỶ thác và chuyển đổi hối phiếu cho ngân hàng đại lý

để thông báo cho người mua hàng biết

iv Ngân hàng thông báo chuyển hối phiếu cho người mua để yêu cầu chấpnhận hay thanh toán

V Người mua hàng thông báo đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán

vi Ngân hàng đại lý trích tiền từ tài khoản của người nhập kh u chuyểnsang ngân hàng uỷ thác thu

vii Ngân hàng uỷ thác thu sẽ ghi có và thông báo cho người bán hàngtrong trường hợp người mua hàng đồng ý trả tiền hoặc thông báo trong trườnghợp người mua hàng từ chối trả tiền

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thíc 4 (12/2011)

Trang 18

Phương thức nhờ thu trơn không đảm báo quyền lợi của bên bán, vì việcnhận hàng và việc thanh toán không rang buộc nhau Người mua cỏ thể nhậnhàng rồi mà không chịu chi trả hoặc chậm trễ trong việc thanh toán đúng kỳhạn Ngân hàng ở đây chỉ đóng vai trò trung gian, đơn thuần thu được tiềnhay không thì ngân hàng vẫn thu được phí Đương nhiên, ngân hàng cũng sẽkhông chịu trách nhiệm nếu bên mua không thanh toán Vì vậy, người bán chỉnên sử dụng cách này trong những trường hợp tín nhiệm hoàn toàn bên mua,hay giá trị hàng hoá nhỏ, hay khi thăm dò thị trường có biểu hiện hàng hóatiêu thụ chững lại, có nguy cơ ứ đọng, khỏ tiêu thụ trong thòi gian tới.

5.5.2 Phương thức nhờ thu kèm chứng từ:

Đâylà phương pháp nhờ thu trong đó người bán hàng sau khi đã hoànthành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ, sẽ tiến hành ủy thác cho ngânhàng phục vụ mình thu hộ tiền ở người mua không chỉ căn cứ theo hối phiếu

mà còn theo bộ chứng tò hàng hoá gửi kèm theo với điều kiện nếu người muathanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì ngân hàng mới trao bộ chứng tù chongười mua hàng hoá

Quy trình thanh toán bang phương pháp nhờ thu kèm ehứng tù':

i Người bán giao hàng cho người mua nhưng không giao bộ chứng từhàng hoá

ii Người bán gửi hối phiếu và bộ chứng từ hàng hoá đến ngân hàng uỷthác để nhờ thu hộ tiền ở người mua

iii Ngân hàng nhận uỷ thác chuyển hối phiếu và bộ chứng từ sang ngânhàng đại lý để thông báo cho người mua

iv Ngân hàng đại lý chuyển hối phiếu chấp nhận đến người mua yêu cầuthanh toán hoặc chấp nhận thanh toán

V Người mua thông báo đồng ý hay từ chối trả tiền

Kỷ yểu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

197

Trang 19

vi Ngân hàng đại lý trích tài khoản người mua hàng chuyển tiền sang chongân hàng nhận uỷ thác thu để ghi có cho người bán hàng hoặc thông báoviệc từ chối trả tiền của người mua hàng.

vii Ngân hàng nhận uỷ thác báo cáo có hoặc là íhông báo việc từ chối trảtiền cho người bán

Trong phương pháp nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ, người bán hàngngoài việc uỷ thác cho ngân hàng thu tiền mà còn nhờ ngân hàng thông quaviệc khống chế bộ chứng từ hàng hoá buộc người mua phải trả tiền hoặc chấpnhận trả tiền Do đó, phương pháp này đảm bảo khả năng thu tiền hơn phươngpháp nhờ thu hối phiếu tron đây đã có sự rang buộc chặt chẽ giữa việcthanh toán và việc nhận hàng của bên mua Tuy nhiên việc bên mua có nhậnhàng và thanh toán hay không còn tuỳ thuộc vào thiện chí của người mua, nhưvậy, quyền lợi của người bán vẫn chưa được đảm bảo hoàn toàn

6 Lịch sử và hiên trạng phát triển trên thế giới

6.1 Lịch sử ph t triển trên thế giới:

- thiện tương lại của nhân loại Thế kỷ mới chính ĩà thế kỷ của thương mại điện

Thương-mại-điện-tò-eó4hể-ềượe-xem-rÉiư4à-mệt-hiện-teẹ®g-giúp-hoàn-tử Nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giảm thiểu chi phí chung, thúc

đ y sự phát triển của lĩnh vực bán lẻ, đặc biệt là bán hàng trựe tuyến, đảm bảothanh toán dễ dàng hơn và giảm rủi ro đầu tư Sự hình thành và phát triển củathương mại điện tử hay cụ thể hơn là bán hàng trực tuyến gắn liền với sự rađời và phát triển của Internet

Internet là mạng lưới máy tính khổng lồ gồm nhiều mạng máy tính trảirộng khắp thế giới Năm 1969, với mục tỉêu thiết kế ra một mạng máy tính tincậy để kết nối giữa Bộ Quốc phòng Mỹ với các nhà thầu nghiên cứu khoa họcquân sự, cơ quan quản lý các dự án nghiên cứu cao cấp (ARPA - Advanced

K ỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 20

Research Projects Agency) thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đã khởi xướng ranhũng khái niệm sơ khai về Internet Cho đến đầu nhưng năm 70 của thế kỷ

XX, tiền thân của mạng Internet ra đời - mạng Arpanet Năm 1974,ARPANET được đổi tên là Internet (liên mạng) do có ngày càng nhiều trườngđại học và các tổ chức nghiên cứu gia nhập vào mạng này Tuy nhiên,năm

1983 do số lượng các tham gia của các trường đại học quá lớn, khiến chomạng kết nối này trở nên quá tải, Bộ Quốc phòng Mỹ quyết định tách thànhhai mạng nhỏ là MILNET dành riêng cho quân đội và ARPSNET mới cho cáchoạt động phi quân sự Vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Quỹ khoa hocquốc gia Mỹ (NSF- National Science Foundation) đã thành lập năm trung tâmsiêu máy tính để phục vụ cho các chương trình phát triển nghiên cứu trênkhắp, nước Mỹ với sự hỗ trợ của mạng ARPANET Chính NSF đã nâng cấpARPANET thành NSFNET để kết nối với các trung tâm siêu tính toán, vàthiết lập một chuỗi các mạng khu vực nh m liên kết những người sử dụngtrong từng khu vực với NSFNET và với khu vực khác Nhờ những ưu thế này,cho đến năm 1990, rất nhiều doanh nghiệp đã chuyển tù' ARPANET sangNSFNET

Cùng thời gian này, mạng EUnet kết nối trực tiếp Hà Lan, Đan Mạch,Thuỵ Điển và Anh cũng xuất hiện với ứng dụng của IP (Internet Protocol-giao thức Internet) Đến năm 1985, sự bùng nổ của Internet mới thực sự bắtđầu khi mạng NSFNET được kết nối với hệ thống máy tính cao tốc xuyênquốc gia Chỉ bốn năm sau đó, vào năm 1989, mạng châu Âu (EUnet) vàmạng châu úc (A SIBnet) Phải tới năm 1995, Internet chính thức được côngnhân là mang máy tính toàn cầu với sự xuất hiện của World Wide Web(WWW) và mạng không dây

Song song vói sụ' phát triển của Internet, thương mại điện tử cũng dầntạo dựng chỗ đứng của mình trong xu thế phát triến của nền văn minh mạng.Tuy nhiên, trước khi có sự xuất hiên của Internet, vào những năm 60 của thế

kỷ XX, các doanh nghiệp đã biết đến ứng dụng mạng nội bộ (Intranet) cho

199

Kỷ yến Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 21

việc trao đổi dữ liệu điện tủ' và thư tín điện tử Tiếp đến, tự động hoá trongngành công nghiệp dịch vụ tài chính cũng ra đời và phát triển như séc, thẻ tíndụng và chuyển tiền điện tử Bên cạnh đó, sự hinh thành của các trạm giaouịch tự động với việc sử dụng các thiết bị giao dịch tự động (ATM -Automatic Teller machine) và các thiết bị bán hàng tự động (Point-of-Salemachines) đã cho phép khách hàng có thể thực hiện giao dịch và trực tiếp truycập vào các thông tin tài khoản cá nhân của mình Đến những năm 90 của thế

kỷ XX, máy tính cá nhân nhanh chóng bùng nổ và trở thành một công cụchung và Internet làm cầu nối thuân tiện cho các thông tin liên lạc, các công

ty nhanh chóng mở rộng công nghệ, gia tăng dịch vụ, đảm bảo cơ sở bước vào

kỷ nguyên phát triển của thương mại điện tử

Là con đẻ của thương mại điện tử, bán hàng trực tuyến hay bán hàngqua Internet, dù mới xuất hiện tù' giữa thập niên 1990 khi Tim Bemers-Leetạo ra “ The World Wide Web Browser”, nhưng nó đã phát triển mạnh mễ vàgần như bao phủ mọi ngành hàng Vài năm sau đó, năm 1994, một số doanhnghiệp đã mạnh dạn mở rộng và phát triển bán hàng trực tuyến như Onlinebank, Online Pizza shop của Pizza Hut Cùng thời điểm đó, tập đoàn truyềnthông Netscape cho ra đời quy trình mã hoá SSL, cho phép các dữ liệu được

mã hoá và truyền trực tuyến, một nhân tố cơ bản phục vụ cho mua bán hàngtrực tuyến hay chính là Online shopping Đến năm 1995, Amazon bắt đầukhởi sự bán sách qua mạng cùa mình Và năm 1996, một nhà kinh doanh trựctuyến lớn khác là Ebay cũng bắt tay vào triển khai cổng mua hàng trực tuyến.Năm 1998 chứng kiến việc sử dụng tem bưu phí điện tử đầu tiên trên thế giới,tức là mọi người có thể tải về, in ra tem sau khi trả một khoản phí danh nghĩa.Năm 1999, cửa hàng trực tuyến đầu tiên của Anh ra đời Những trang Webbán lẻ thực sự đã trở thành một giải pháp hiệu quả khi nâng giá trị thị trườngcủa các tập đoàn bán lẻ trực tuyến cao hơn gấp nhiều lần so với những tậpđoàn bán lẻ truyền thống có lịch sử lâu đời Ví dụ, tập đoàn Amazon, từ năm

1995 đến nay, giá trị thị trường vào khoảng 35 triệu USD, gấp khoảng 20 lần

Kỷ yếu Hộị nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 22

SOvới Barnes & Nobles ( vào khoảng 1,5 tỷ USD) dù Bames & Nobles là tậpđoàn bán sách có tuổi đời gần 100 năm với gần 800 cửa hàng trên khắp nướcMỹ.

6.2 H iện tr ng h á t triển bán hàng trự c tuyến trên th ế gi i:

Bill Gate, nguyên chủ tịch kiêm kiến trúc sư trưởng tập đoàn Microsoft

đã nhận xét “Internet đang t c động mạnh đến cuộc sống con người Cuộcsống mạng s là một đ c tnmg của đời sống tương lai Một khi con người đãbắt đầu sử dụng Internet thì s không có sự quay lại Quy mô của Internetđang làm thay đổi cẩu trúc của toàn xã hội

Ở thời đại này, trong khi một sổ người vẫn còn làm việc trên c c c nhđồng, một sổ người vấn còn làm việc trong c c nhà m y thì rất nhiều người

đã tham gia vào xã hội mạng, đơn giản là truy cập vào mạng Internet Theo

b o c o số liệu thông kê năm 2000, hơn 200 triệu người đã biết truy cập và

sử dụng Internet Điều đó cho thấy r ng,hơn 3% tổng dân số thế giới đã sẵnsàng bước vào mạng xã hội Vào năm ỉ 998, 29% trong số 500 tập đoàn chủchốt trên thế giới đã tuyển dụng nhân tài qua Internet Vào năm 2000, con sốnày là 79% Xu hướng sử dụng mạng toàn cầu đang ngày càng gia tăng ởkhắp nơi trên toàn cầu trong nhũng năm tởi

Theo số liệu thống kê mới nhất được công bố trên tạp chí The Worldnăm 2010, số lượng người sử dụng Internet trên toàn cầu đã gấp đôi năm nămtrước và sẽ vượt qua mốc 2 tỷ vào năm 2010 Theo Dan Olds, chuyên viênphân tích của tập đoàn Gabriel, đây là một cột mốc đánh dấu sự phát triểnchóng mặt của Internet bởi 1/3 dân số thế giới đã được dùng Internet, so vớixuất phát điểm là con số 0 của hơn 20 năm vể trước.Theo biểu đồ phía dưới,

162 triệu hay 1,6 tỷ trong tổng số 226 triệu người mới sử dụng Internet trongnăm 2010 là ở các nước đang phát triển, nơi mà người sử dụng Internet đangphát triển với tỷ lệ cao Đến cuối năm 2010, 71% dân số ở các nước phát triểntham gia vào xã hội trực tuyến, trong khi đó ở các nước đang phát triển, con

201

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 23

Số đó là khoảng 21% dân số Tính riêng từng khu vực, 65% dân số sử dụngInternet là ở châu Âu, 55% là ở châu Mỹ, 21.9% là ở khu vực châu Á TháiBình Dương, và chỉ có khoảng 9,6% dân số ở châu Phi được sử dụng Internet.

Số người sử dụng Internet ở châu Á và châu Phi ngày càng tăng nhung vẫncòn khoảng cách khá lớn so YỚi các nước phát triển

Có thể nói r ng, thế kỷ XXI đã và đang chứng kiến sự bùng nổ tột bậctrong ngành công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet, đã mang đến mảnh đấtmàu mỡ cho sự phát triển không ngừng của thương mại điện tử Hiện nay,khoảng cách ứng dụng thương mại điện tử giữa các nước phát triển và đangphát triển còn rất lớn các nước có tỷ lệ dân số sử dụng máy tính cá nhâncàng cao thì sự hiện diện của thương mại điện tử, hay cụ thể hơn là bán hàngtrực tuyến trong các giao dịch buôn bán càng nhiều Các nước phát triểnchiếm hơn 90% tổng giao dịch thương mại điện tử toàn cầu, trong đó riêngphần Bắc Mỹ và châu Âu đã chiếm hơn 80%tỷ lệ thương mại điện tử toàncầu Tuy tỷ lệ này có giảm dần trong các năm gần đây nhưng Mỹ và các nướcchâu Âu vẫn có khả năng lớn cho việc chiếm giữ vị trí số một của họ ứong tỷ

lệ thương mại điện tử (khoảng 70%) trong vòng 10 đến 15 năm nữa Ngoài ra,phải kề đến môt số nứởc châu Ả như Singapore và Hong Kong (Trung Quốc)

đã phát triển rất nhanh và rất hiệu quả thành công thương mại điện tử Bêncạnh đó, do điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế nên vẫn còn một số nước ởchâu Á và châu Phi chưa phát triển thương mại điện tử, hoặc phát triển cònchậm

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 24

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Billions of Per 100 Inhabitants, 2010

In erne users

W ore ‘ HsiHtmc

SotiMce; ITU Wo/id Tetetom m vnkữ on /iCT to ákitm /ỉ •tfa frtlw f

Hình 2: So- đồ số Iưọìig ngưòi sử dụng Internet từ năm 2005 đến

2010 trên thế giới

Thương mại điên tủ' không chỉ giải quyết những yêu cầu thiết yếu, cấpbách trên các lĩnh vực như hệ thống giao dịch hàng hoá, điện tò hoá tiền tệ vàphương án an toàn thông tin mà hoạt động thực tế của nó còn tạo ra nhữnghiệu quả và lợi ích mà mô hình phát triển thương mại truyền thống không thểsánh kịp Chính vì tiềm lực to lớn này nên chính phủ hầu hết các nước đều hếtsức chú trọng phát triển thương mại điện tử Nhiều quốc gia trên thế giới đã

và đang có những chính sách và kế hoạch hành động cụ thể để đ y mạnh sựphát triển thương mại điện tò ở nước mình Đây chính là cơ hội nắm bắt tiến

bộ công nghệ thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, thúc đ y sựphát triển kinh tế của đất nước, giành lấy vị trí thuận lợi trong xã hội thông tintương lai

203

Trang 25

Trong tương lai, phương thức kinh doanh B2B ( Business to Business) sẽchiếm ưu thế nổi trội so với B2C ( Business to Customers) trong các giao dịchthương mại điện tử toàn cầu Trong loại hình kinh doanh B2C, phương thứcbán lẻ tổng hợp (siêu thị thương mại điện tử) dù chiếm tỷ lệ kkhông cao trongtổng số cửa hàng bán lẻ trực tuyến nhưng lại nắm giữ phần lớn giá trị giaodịch trên thị trường ảo Việc kết họp cửa hàng bán ỉẻ trực tuyến với cáchkênh phân phối truyền thông vẫn và sẽ là phương thức được nhiều nhà kinhdoanh lựa chọn.

7 Kênh bán hàng trực tuyến ở Việt Nam

7.1 Thực t i của kênh b á n hàng trực tuyến t i Việt Nam.

Khoảng mười năm trở lại đây, các Webside bán hàng trực tuyến đã phổbiến khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, điển hình chonhững gã khổng lồ thương mại điện tử này phải kể đến Ebay, Alibaba, hayAmazon Việt Nam, các Webside phục vụ cho các kênh bán hàng trựctuyến cũng sớm phổ biến từ những năm 2006 Những kênh trực tuyếri này đã

có mặt nhiều ngành hàng như điện thoại di động, sách, mỹ ph m, quần áo, đồgia dụng, vé máy bay Đi tiên phong trong những Webside đó phải kể đếntrang muabanraovat.com, enbac.com, rongbay.com Ngẫy nay, moi ngẫỹlạĩ

có thêm nhiều Webside bán hàng trực tuyến được thiết kế và đưa vào sử dụngvới muôn hình vạn trạng nh m thoả mãn nhu cầu mua sắm của các kháchhàng trên mọi miền tổ quốc hay cả ngoài quốc tế Hiện Việt Nam có gần 30triệu người sử dụng Internet và có khoảng 58% người sử dụng Internet (thống

kê của trung tâm Internet Việt Nam năm 2011) lên mạng tìm hiểu thông tinhàng hoá trước khi mua Con số này còn được dự báo tăng nhanh hơn trongthời gian tới Đã xa rồi cái thời khách hàng phải đến tân công ty, cửa hàng đểxem xét, chọn lựa, và mua hàng, các khách hàng ngày nay họ am hiểu vềInternet, chỉ sau vài thao tác đơn giản truy cập vào mạng toàn cầu, thông quaWebside bán hàng trực tuyến, họ đã có thể tham khảo sản ph m và tìm kiếm

Kỷ yểu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 26

nhà cung cấp chất lượng tốt với giá cả cạnh tranh Đây chính là tín hiệu chochúng ta thấy, về lâu dài, ngành bán hàng trực tuyến Việt Nam cũng sẽ cónhững bước phát triển nhảy vọt như Mỹ, Nhật, Anh

ở một số thành phố phát triển tại Việt Nam như Hà Nội và Tp Hồ ChíMinh, các doanh nghiệp và cá nhân ngày càng hiểu được tầm quan trọng củacác Webside bán hàng trực tuyến đối với hoạt động kinh doanh của họ, họ đãsẵn sàng đầu tư và phát triển các gian hàng trực tuyến tại các Webside uy tínnhư 123mua.vn, vatgia.com, hay dailydeal.vn Bán hàng trực tuyến đang trởthành hướng đi cần thiết cho các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức trong nềnkinh tế hiện nay

Thương mại điện tử là lĩnh vực tương đối mới tại Viêt Nam do đó cơ sởpháp lý điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử ra đời khá muộn so vớinhiều nước trên thế giới Cuối năm 2005, Việt Nam mới ban hành “Luật, giaodịch điện tử” và năm 2006 mới ra đời Nghị định hướng dẫn thi hành luật này.Tới đầu năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành ba Nghị định cơ bản vềthương mại điện tô như: số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 về “Giao dịchđiện tủ' trong hoạt động tài chính”; số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 -

“Quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tà về chữ ký số và dịch vụchứng thực chữ ký số”; cuối cùng là số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 -

“Ve giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng” Những khung pháp lý nàỵ

đã mở đường cho thương mại điện tử phát triển một cách họp pháp, an toàn,đảm bảo công b ng cho cả người mua và người bán Chính phủ và Nhà nướcViệt Nam luôn chủ trương thúc đ y, tạo điều kiện thuận lợi nhất để ngànhthương mại điện tủ phát triển

Tuy nhiên, tại Việt Nam, đa số các kênh bán hàng trực tuyến chưa thựchiện hết chức năng của chúng mà chỉ chủ yếu được sử dụng như một kênhmarketing, quảng cáo hơn là bán hàng Thứ nhất, điều này cũng dễ hiểu khi

mà hệ thống thanh toán ở Việt Nam còn chưa hỗ trợ cho việc thanh toán trực

Kỳ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/201 ỉ)

205

Trang 27

tuyến Theo thống kê của VISA, năm 2008, mới chỉ co 1% dân số Việt Nam

có thẻ tín dụng Theo công bố của Ngân hàng Nhà Nước tháng 3/2008, thìcũng mới chỉ co 10% dân số Việt Nam có tài khoản cá nhân Bên cạnh đó,tâm ỉý tiêu dùng của người Việt con chưa quen với hinh thức mua bán màkhông cần nhìn, ngắm hoặc kiểm tra chất lượng hàng hoá trước khi thanhtoán Nguyên nhân này còn có thể xuất phát từ niềm tin giữa người tiêu dùng

và nhà bán lẻ chưa cao Có thể ví dụ như, ở Việt Nam, rất ít nhà bán lẻ cungcấp dịch vụ đổi trả hàng hay dịch vụ bảo dưỡng không cần lý do trong vòngthời gian nhất định sau khi mua hàng Chính vì thế, người mua hàng thườnggặp khó khăn khi mua phải hàng không ưng ý

7.2 X u hư ởng h á t triển kênh bán hàng trực tuyến t i Việt Nam

Trong hội nghị Trung ương II khoá VIII vào tháng 11/1996, trên cơ sở

đề nghị của ban cán sự Đảng của tổng cục Bưu điện lúc đó và nay là BộThông tin và Truyền thông, Trung ương Đảng đã nhất trí cho mở, phát triểnInternet tại Việt Nam Chính từ quan điểm sáng suốt này của Đảng và NhàNước đã cho phép Việt Nam đi thẳng vào công nghệ hiện đại, và đã rút ngắĩikhoảng cách với các nước khác khoảng vài chục năm Phát triển Internet đồnglĩgKĩãvơTtạo ra mọHỉĩỊtrữơng mở, mộrcát^ừợiíể^mọTĩrgữờrđểD-có-thể thaTii"gia- chợ điện tử Đây được coi lả một bước đi sáng suốt của các nhà hoạchđịnh chính sách khi đã bắt nhịp với thời đại số và ưu tiền phát triển, xây dựngnển tảng công nghệ thông tin vững chắc ở Việt Nam Chính điều kiện này đãgiúp Internet có sự phát triển thần kỳ trong thời gian gần đây Bên cạnh đó, nócòn hỗ trợ đắc lực cho sự đi lên không ngừng của thương mại điện tử- cáchoạt động mua bán thông qua kênh bán hàng trực tuyến

Trong giai đoạn phát triển đến năm 2015, nh m hướng đến nâng caonăng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đ yquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Thủ tướng chính phủ đã vứa phê

K ỷ yếu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 28

duyệt một Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử Theo đó, bản kếhoạch chỉ ra rõ mục tiêu từ năm 2011 đến năm 2012 là như sau:

• 100% số doanh nghiệp lớn sử dụng thường xuyên thư điện tử tong hoạtđộng sản xuất kinh doanh

«80% số doanh nghiệp co trang bị thông tin điện tử, cập nhật thườngxuyên thông tin điện tử bán hàng ( các webside bán hàng trực tuyến haythương mại điện tử)

®5% số doanh nghiệp tham gia các mạng thương mại điện tủ' theo môhình trao đổi chứng từ điện tử dựa trên chu n trao đổi dữ liệu điện tử

®20% số doanh nghiệp ứng dụng các phần mềm chuyên dụng trong hoạtđộng quản lý sản xuất và kinh doanh

®Nhà Nước xây dựng một số cơ sỏ' giao dịch hàng hoá trực tuyến đối vớinhững sản ph m sản xuất tại Việt Nam mà co chiếm tỷ trọng cao trên thịtrường thế giói

©Các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tiến hành giao dịch thương mại điện tủ'với người tiêu dùng , trong đó: 100% số doanh nghiệp sử dụng thư điện tủtrong các hoạt động sản xuất kinh doanh; 45% số doanh nghiệp có trang thôngtin điện tủ và có cập nhật định kỳ; 30% số doanh nghiệp tham gia cácWebside thương mại điện tử để mua bán các sản ph m hàng hoá và dịch vụliên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , ,

®Xây dựng các tiện ích hỗ trợ người tiêu dùng tham gia thương mại điện

-tử, trong đó đạt 70% thuộc về các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sỏ' phânphối hiện đại cho phép người tiêu dùng thanh toán không dùng tiền mặt khimua hàng; 50% các đơn vị cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông chấp nhậnthanh toán phí dịch vụ của các gia đình qua thanh toán điện tử; 30% cơ sởkinh doanh trong các lĩnh vực thưong mại dịch vụ như vận tải, văn hoá, thếthao và du lịch phát triển giao dịch điện tử

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

207

Trang 29

•Ngoài ra, về dịch vụ công, Nhà Nước sẽ cố gắng thực hiện cung cấptrực tuyến các dịch vụ thủ tục hải quan điện tử trước năm 2013, bên cạnh đócòn các thủ tục về thuế, đăng ký doanh nghiệp, cấp giấy chứng nhận

Chính phủ đã có những bước định hướng cơ bản đối với thương mại điện

tử và thanh toán điện tử đến sự hoàn thiện về cơ sở hạ tầng đảm bảo cho giaiđoạn phát triển mạnh mẽ của thưong mại điện tử

Đối với những nhà bán lẻ nội địa hàng đầu Việt Nam như CoopMart,Citimart, Nguyễn Kim, thế giới di động, đây chính là cở hội và thách thức

mà các doanh nghiệp phải biêt nắm bắt và lấy nó làm bàn đạp cho sự pháttriển, lớn mạnh của doanh nghiệp Mục tiêu mở rộng thị trường, tăng số lượngcửa hàng, chiếm lĩnh các địa điểm tốt tại các tỉnh thành, song song với pháttriển kênh bán hàng trực tuyến là hướng đi quan trọng nhất đối với lĩnh vựcbán lẻ trong giai đoạn này Xây dựng niềm tin từ phía người tiêu dùng, tạocho họ thói quen mua sắm thông qua kênh bán lẻ trực tuyến Nâng cao chấtlượng sản ph m, đảm báo giá cả hợp lý, đa dạng hàng hoá, dịch vụ, tạo ra đầumối duy nhất đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, những chương trìnhkhuyến mại, giảm giá tạo sức hút đối với người tiêu dùng, gỡ bỏ nút thắt niềmìììrâểlĩọiróT:lĩểT:lĩMTĩMt^^

các doanh nghiệp bán lẻ

Tóm lại, với điều kiện hạ tầng ở Việt Nam tương đối hoàn thiện với hệthống Internet phủ sóng rộng, các cổng thanh toán trực tuyến ngay càng antoàn cà nhanh chóng, các nhà bán lẻ đựng trước cơ hội mở rộng kênh bánhàng trực tuyến, mang lại làn sóng mới cho thương mại điện tử Việt Nam.Với những lợi thế sẵn có từ thương hiệu, hệ thống chuỗi cửa hàng và hệ thốngquy trình bán lẻ chuyên nghiệp, nhà bán lẻ có khả năng mở nút thắt niềm tinnơi khách hàng Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ cũng vẫn có thể tận dụng tốt lợithế tiết kiệm chi phí của kênh bán hàng trực tuyến đế xây dựng những dịch vụ, và đảm bảo chất lượng và giá cả tốt nhất đến tay khách hàng

K ỷ yếu Hội nghị KH SVKhoa Quốc tế - ĐHQGHNỈần thứ 4 (12/2011)

Trang 30

II Tác động đến người tiêu d ng

1 Bán hàng trực tuyến trên thế giới

K ỷ yếu Hội nghị KHSVKhoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin nói chung,cũng như Internet nói riêng sẽ là động lực thúc đ y sự tăng trưởng buôn bántrên phạm vi toàn cầu Nhiều nước trên thế giới đã và đang sẵn sàng tham gia.Tại các nước Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ thì việc bán muahàng hóa trực tuyến đã phổ biến và trở thành kênh bán hàng lớn thứ hai.Trong năm 2010, ở Mỹ nghành thương mại điện tử hàng hóa tiêu dùng đãtăng trưỏng 12 tỷ USD, chiếm 2% trong tổng thu nhập từ ngành hàng đónggói sẵn Dự đoán tỷ lệ này còn tăng gấp đôi trong vòng bốn năm tới, tóc làvào năm 2014 tỷ lệ sẽ là 25 tỷ USD (Quỳnh Anh, 2011) Bán hàng trực tuyếnmới phát triển gần đây và là mảnh đất màu mõ cho các doanh nghiệp Trongthời gian tói đây, các doanh nghiệp sẽ thu được một nguồn lợi nhuận khống lồ

từ bán hàng trực tuyến Chính người tiêu dùng sẽ mang lại nguồn lọi nhuậnnày cho các doanh nghiệp Lợi nhuận này càng lớn chứng tỏ người tiêu dùng

Trang 31

Hình 3: Doanh thu bán hàng online ở MỹTrong năm 2011 tại Mỹ, vào ngày Cyber Monday, ngày đặc biệt để muasắm online các công ty bán lẻ đưa ra giá khuyến mãi, giảm giá đặc biệt vàongày này, đã thu hút tới 96,5 triệu khách hàng Theo số liệu điều tra của công

ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen, trên thế giới hiện nay có 10% dân sốthực hiện việc mua bán trên mạng với con số gần 627 triệu người (Tố Lan vàHùng Dũng, 2011)

Cách đây chỉ khoảng mươi lăm năm trước, ở hầu hết các nước Châu Á,mua bán hàng hoá được trao đổi thông qua hệ thống chợ búa và các cửa hàngđộc lập Chợ sẽ là lựa chọn đầu tiên để mua các sản ph m tươi sống và một sốcác sản ph m thiết yếu khác như quần áo, giầy dép, cặp túi Người dânthường có thói quen đi chợ hàng ngày Còn các cửa hàng độc lập này này đơngiản chỉ cung cấp tất cả những thứ mà một người mua cần đến Người tiêudùng ngày nay có nhiều nhu cầu mua sắm và có các nhiệm vụ mua sắm khácnhau Sự phát triển của công nghệ đã hộ trợ, đáp ứng và thúc đ y những nhucầu thay đổi đó Sản ph m không chỉ đa dạng về hình thức mà chất lượng còntăng cao Không chỉ thay đổi về hình thức và chất lượng của sản ph m mà cònvề~n"ơrmữa-sắmrGác”nhà“b á n 4 ^

khốc liệt với kênh bán hàng phi truyền thống - bán hàng trực tuyến Ngườidân trả phí cho những giả pháp thuận tiện và làm cho cuộc sống dễ dàng hơn

để tiết kiệm thời gian vàng bạc của họ “Theo một nghiên cứu mới đây củaNielsen, hơn 80% người dùng trực tuyến xác nhận đã mua hàn g trực tuyến, 3trong số 5 người được hỏi trả lời r ng họ vừa mua hàng trên mạng vào thángtrước” (Kim Anh, 2011) tại các thị trường phát triển như khu vực Bắc Á,người Trung Quốc là người thường hay mua hàng trực tuyến và nắm bắt được

xu hướng này nhanh nhất, ví dụ như sự phát triển mạnh mẽ của trang webmua sắm trực tuyến Taobao Sách và quần áo là hai mặt hàng được mua phổbiến và được mua bán nhiều nhất trên mạng Đứng thứ hai là mặt hàng điện tử

và dịch vụ du lịch, theo sau đó là hàng tạp hóa với 19%

K ỷyển Hội nghị KHSVKhoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Trang 32

Xu lhưcrnci gi tàn g m u sắm trự c tu yến củ C hằu Á

Mgườitỉêư dừng tại Hàn Quốc Nhật Sần, Tr ng Quốc, Hồng Kông

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Hình 4: Xu hướng gia tăng mua săm trực tuyên của Châu A

2 Bán hàng trực tuyến tại Việt Nam

2.1 B n hàng trực tuyến đang khởi sắc

Việt Nam hình thức mua bán trực tuyến cũng đã bắt đầu xâm nhậptừng bước vào thói quen mua sắm của một bộ phận người sử dụng internet.Người tiêu dùng bước đầu đã có niềm tin về chất lượng sản ph m cũng nhưchất lượng phục vụ của những website bán hàng trực tuyến Mặt khác, với,việc mua sắm truyền thống người mua khó có thể khảo sát giá sản ph m vìthói quen tâm lý sợ dớp của người bán; mua sắm trực tuyến có cái lợi là ngườimua có thể khảo sát giá cả hàng hóa tại nhiều cửa hàng khác nhau dễ hơn.Bán hàng trực tuyến đang là hình thức kinh doanh hấp dẫn ở Việt Nam, vàtrong tương lai không xa mua sắm online của Việt Nam sẽ trở nên thịnh hành

và phát triển

Dân văn phòng thường có thói quen tận dụng lúc rảnh rỗi ở công sở đếlưót web Nhưng theo khảo sát của Kantar, vào Thứ 7 và Chủ nhật lượng truy

211

Trang 33

cập Internet không khác so với ngày thường, và thời gian truy cập Internetnhiều nhất trong ngày không phải vào ban ngày mà lại là vào khoảng từ 19 -

22 giờ Điều này là do các đường truyền băng thông rộng kéo đến từng hộ giađìrih trong thời gian gần đây phát triển nhanh chóng Đây là công cụ hỗ trợkết nối Internet tích cực cho người dùng trong việc mua sắm tại gia phát triểntrong thời gian tới Bên cạnh đó, Internet ngày càng phát triển đi theo sau làcác dịch vụ Internet kèm theo cũng góp phần làm tăng lượng người onlinetrong giờ nghỉ và ngày nghỉ, số thuê bao Internet băng thông rộng là trên 3,5triệu thuê bao, theo số liệu thống kê có đến tháng 10/2010 của VNNIC “Theokết quả nghiên cứu Net Index 2011 vừa được Yahoo và công ty KantarMedia Việt Nam công bố hôm 3/8, tỷ lệ truy cập tại gia đình tăng từ 75%(2010) lên 88% (2011)" (Delta, 2011)

Nơl truyc p Internet(%)

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

•32010 tì 2011

- 23 — 2 : 8

-57

J 3ffiif ' V Ỹ\\ yi ị d ^ ị 12 Ị1« If.-',BễiSI liiill;*Ị- Of t i i s i ị M ill (J 1 i SặMlSiS Iỉ s t i l l

Hình 5: Tỷ lệ phần trăm nơi truy cập Internet

“Internet đã vượt qua radio và báo giấy để trở thành phương tiện thôngtin được sử dụng hàng ngày phổ biến nhất tại Việt Nam, với tỷ lệ 42%”(VNNIC, 2011)

Trang 34

Kỷ yểu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

TV trên 4 giờ mỗi ngày Sự lớn mạnh của các mạng truyền hình cáp là cầu nốihữu hiệu trong việc đưa hình ảnh của sản ph m, dịch vụ của nhà cung cấp tới Ị

tận các gia đình ở thành phố, thậm chí là tận giường ngủ của người dùng Tuynhiên khu vực nông thôn, một khu vực rộng lớn và có nhiều tiềm năng thì vẫnchưa vói tới được Vì thế đây chính là nơi để báo chí, radio và Internet pháthuy thế mạnh của chúng, đặc biệt là Internet

Căn cứ trên tỷ lệ 27% dân số truy cập Internet do Trung tâm InternetViệt Nam (VNNIC) công bố, Kanta khảo sát và đánh giá cao tiềm năng pháttriển thương mại điện tử ở Việt Nam Tính đến tháng 10/2010, VNNIC đưa ra

số liệu tổng kết về người sử dụng Internet tại Việt Nam đã đạt con số 26 triệu,chiếm hơn 30% tổng số gần 90 triệu dân của cả nước (Vntrades, 2010)

t e a s II

213

Trang 35

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tế - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

C h o i gam e t rụ c tuyến

,.;Ệỵ

sWebsite bao chí

16%

Tìmkiémthòng tin

12 �

Tải nhạc/video file

13%

pGiVỉlinnhắn

Idiải cấp 14%

sSeiHlinpeceiviit

g email

Ngùôn: K nt r Truy n thông Vi t N m - MHS 36 tuần - 4 thành ph

Hình 7: Internet s dụng trong nhân dân

Sau đây là 1 vài con số được thống kê về các nhóm hàng được mua bántrực tuyến: quần áo là 35%, giày dép là 14%, nhóm điện thoại di động và phụkiện là 12%, máy tính và phụ kiện là 8%, sách là 7% (Vntrades, 2010)

NGƯỜI MUA HÀNG TRỰC TUYẾN

S L8% giao d ich iầ

Trang 36

2.2 Thói quen m ua hàn g trực tuyến chưa cao

Tuy là đang khởi sắc và phát triển nhanh chóng nhưng tỷ lệ người dùngInternet để mua sắm trực tuyến còn quá thấp Khảo sát và các số liệu trên mớichỉ được thực hiện ở các thành phố lớn Báo cáo cho biết tỷ lệ này chỉ có 5%

và 49,8% số người sử dụng Internet trong tháng trước là ở các khu đô thị.Trong các năm gần đây, số lượng người dùng Internet tại Việt Nam ngàymột tăng nhanh, các mạng xã hội thu hút được đông đảo lượng người thamgia Tuy nhiên, lượng người sử dụng internet này mới chỉ giới hạn ở việc chat

và đọc tin tức, còn mua hàng trực tuyến vẫn còn khá ít ỏi Xu hướng củangười sử dụng internet tại Việt Nam theo lthảo sát của Net Index 2011 doYahoo và hãng nghiên cún thị trường Kantar Media công bố, trong năm vừaqua môi trường sử dụng Internet thay đổi một cách nhanh chóng Đọc tin tứctrên mạng đang là hoạt động phổ biến, chiếm đến 97%, theo sau là việc truycập vào các cổng thông tin điện tử với gần 96% (IMGroup, 2011)

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

Hình 9: Hoạt động sử dụng InternetNhững người 15 đến 24 sử dụng Internet chủ yếu quan tâm đến nội dunggiải trí như dịch vụ game trực tuyến (38%), nhạc trong nước (57%), thể thao(39%), các trang mạng xã hội (52%) và xem các đoạn video và hình ảnh thú

vị trên mạng (45%) (Thông tin công nghệ, 2011)

215

Trang 37

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thứ 4 (12/2011)

*2M

m m m s ậ

Nam ỉiữ

Gm tển hHình 10: Tỷ lệ phần trăm sung Internet trong các tháng quaThêm vào đó, người tiêu dùng vẫn còn chưa tin tưởng vào hình thứcthanh toán trực tuyến Vì vậy, đa số người dùng lên mạng tìm hiểu thông tin

về sản ph m và giá cả hơn là mua bán trực tiếp trên đấy Do vậy tỷ lệ truycập vào các trang web quảng cáo đang tăng nhanh Pew Internet &American Life Project nghiên cứu và chỉ ra thay vì mua các tờ quảngcáo, người Mỹ sử dụng Internet truy cập vào các trang web quảng cáophân loại trực tuyến Con số truy cập vào các trang quảng cáo là 49%tăng 22% so với năm 2005 và 9% trong số này truy cập hàng ngày tăng5% so với cách đây 4 năm (Xã luậri, 2009)

“Với website quảng cáo phân loại bạn sẽ có tất cả mọi thứ: việc làm, bấtđộng sản, đồ dùng gia đình, thậm chí cả chó con”, nhà nghiên cứu SydneyJones cho biết “Tuy nhiên, người truy cập không mua bất cứ thứ gì trực tiếp

tò đó Họ sử dụng website để tìm thông tin, thiết lập các cuộc thảo luận Giaodịch sau đấy được thực hiện giữa các cá nhân với nhau Đó là đặc tính riêng

để ph n biệt website quảng cáo phân loại với các trang web đấu giá hay trangweb bán hàng như Ebay và Amazon” (Xã luận, 2009)

2.3 B án hàng trực tuyến vẫn nhiều rủi ro

Cũng theo khảo sát của Net Index 2011, chỉ có 18% cho biết đã thựchiện giao dịch trực tuyến trong 12 tháng qua, 61% không eó ý định mua hàng

Trang 38

trực tuyến trong 12 tháng tới, 39% có thể mua 93% thanh toán trực tiếp b ngtiền mặt khi mua hàng trực tuyến, 18% trả b ng thẻ ATM, 11% trả qua thẻ túidụng và chỉ có 2% sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử (IMGroup, 2011).Theo ông Trần Vinh Nhung, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM,người dùng Việt Nam, cụ thể hơn là ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, vẫncòn thói quen mua bán kiểu “tiền tươi thóc thật” Có tới 90,8% người muabán hàng trực tuyến thanh toán b ng tiền mặt bởi phần lớn vì họ vẫn chưa antâm về chất lượng hàng hóa và dịch vụ của nhà cung cấp và một phần nào đó

vì về độ an toàn khi thanh toán trực tuyến (PCWVN, 2010)

Đồng quan điểm trên, ông Trương Sĩ Ánh - Giám đốc nghiên cún KantarMedia Việt Nam, nhận xét người dùng còn tâm lý nghi ngại về chất lượng củasản ph m trên mạng khác xa với bên ngoài nên thói quen mua hàng trực tuyếncòn chưa nhiều Các mặt hàng trên các trang web mua sắm trực tuyến tại ViệtNam cần phải bổ sung thêm nhiều chi tiết hơn về sản ph m mình cần bán

“Có những món quần áo, vật dụng mà người bán chỉ đưa lên duy nhất mộttấm hình thì rất khó để người mua hình dung nó to, cao, thấp, bé như thế nào

để chọn lựa Vì thế, nhiều khi trong hình thì hộp bánh rất to nhưng đến nơixem lại thì nó bé tí tẹo Hay các bộ quần áo đưa lên mạng nếu cùng một kiểuthì chỉ có một hình chụp và chẳng biết bên trong, mặt sau nó ra sao Nênchăng, các món hàng đưa lên mạng nên có một mã số để người -dùng có thểchỉ đích danh sản ph m cần mua Khi ấy mọi việc sẽ tiện hơn, người muachọn được đúng cái mình cần” - Chị Qu nhân viên văn phòng tại một công ty

ở quận 3, TPHCM cho hay (Tố Lan và Hùng Dũng, 2011)

Thực tế cho thấy nhiều trường hợp người dùng đã bị lừa Sau khi đã đặtmua và trả tiền nhưng hàng thì vẫn không thấy được chuyển đến Ngọc Linh -nhân viên một công ty truyền thông tại quận 3, TP.HCM bức xúc: “Có kinhnghiệm mua hàng trên mạng như vậy, em vẫn bị lừa Bởi hiện nay, trên cáctrang web mua bán và mạng xã hội, rất nhiều shop online, ban quản lý trangweb khó mà kiểm soát hết được Vì thế, sau lần bất thành, em chẳng tin tưởng

217

Kỷ yếu Hội nghị KHSV Khoa Quốc tể - ĐHQGHN lần thít 4 (12/2011)

Ngày đăng: 04/02/2021, 07:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Ravi Kalakota và Andrew B. Winston: Electronic commerce: A manager s guide, Addison Wesley Publisher, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic commerce: A manager s guide
Tác giả: Ravi Kalakota, Andrew B. Winston
Nhà XB: Addison Wesley Publisher
Năm: 1999
6. Sang M. Lee, Taewon Hwang, and Jaekyung Kim/ International Journal o fElectronic Commerce / Fall 2007, Vol. 12, No. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Electronic Commerce
Tác giả: Sang M. Lee, Taewon Hwang, Jaekyung Kim
Nhà XB: International Journal of Electronic Commerce
Năm: 2007
1. Tiến sỹ Trần Văn Hoè : Giáo trình thương mại điệntử căn bản/ Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân/ Hà Nội 2007 Khác
2. Knut Hildebrand (Hrsg.): Electronic Business dpunkt.verlag, Heidelberg 2000 (HMD 215) Khác
3. Bộ Thương mại: Thương mại điện tử, Nxb. Thống kê, Hà Nội 1999 Khác
5. Zwass, V.: Electronic Commerce: Structures and Issues. International Journal of Electronic Commerce; Vol. 1; No. 1; M.E. Sharp; 1996 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w