Trong chương 1, luận văn hệ thống hóa, làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận, thực tiễn của tính độc lập của tòa án trong xét xử: i) Nội dung tính độc lập của tòa án trong xét xử; ii) Làm rõ [r]
Trang 1Sự độc lập của hoạt động xét xử (Qua thực tiễn của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng)
Nguyễn Mạnh Hà
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật;
Mã số: 60 38 01 Người hướng dẫn: TS Đặng Minh Tuấn
Năm bảo vệ: 2014
Abstract Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, pháp
lý về sự độc lập của Tòa án; từ việc phân tích, đánh giá thực trạng về sự độc lập trong hoạt động xét xử của tòa án hai cấp của thành phố Hải Phòng, phát hiện những hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến tính độc lập trong xét xử của tòa án, đồng thời luận văn cũng kiến nghị những giải pháp để tăng cường sự đô ̣c lâ ̣p của Toà án đó là : hoàn thiện tổ chức bộ máy To à án nhân dân theo hướng thành lâ ̣p toà án khu vực ; đổi mới cơ chế tuyển cho ̣n , kéo dài nhiệm kỳ thẩm phán ,
có chế độ đãi ngộ hợp lý; nâng cao năng lực hô ̣i thẩm; công khai, minh bach, dân chủ trong hoa ̣t
đô ̣ng xét xử của Toà án nhân dân ; xây dựng và hoàn thiê ̣n vấn đề “án lê ̣” trong hoa ̣t đô ̣ng xét xử; đổi mới phương thức lãnh đa ̣o của Đảng đối với công tác tổ chức cán bô ̣ và hoa ̣t đô ̣ng xét xử của toà án
Keywords Pháp luật Việt Nam; Hoạt động xét xử; Tòa án
Content
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Một trong những đặc trưng và là yêu cầu cơ bản của nhà nước pháp quyền là bảo đảm tính độc lập trong mối quan hệ phân công, phối hợp, chế ước với các quyền lập pháp , hành pháp, tư pháp Hệ quả của đặc trưng, yêu cầu này là về phương diện tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, phải thiết kế, vận hành được một hệ thống tòa án độc lập Sự độc lập của tòa án không chỉ bảo đảm sự thượng tôn của Hiến pháp, của pháp luật, kiểm soát các nhánh quy ền lực còn lại, mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội, quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Tòa án không chỉ là cơ quan xét xử các tranh chấp trong xã hội
mà phải còn là nơi bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, công lý
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vị trí vai trò của tòa án ngày càng được khẳng định Tòa án chính là cơ quan thực thi quyền tư pháp trong quyền lực nhà nước Việc thực thi quyền này ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu và các giá trị của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Tòa án là nơi thể hiện sâu sắc nhất nền công lý của chế độ, đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động, uy tín của cả hệ thống Tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Do đó cải cách tòa án về tổ chức và hoạt động được coi là khâu đột phá của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trên cơ sở đó, trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã, đang thực hiện cải cách tư pháp hướng tới xây dựng một nền tư pháp ngang tầm với những đòi hỏi của nhà nước pháp quyền, đáp ứng kịp thời yêu cầu của quá trình đổi mới đất nước, xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế
Trong cải cách tư pháp, theo tinh thần nội dung Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005
Trang 2của Bộ Chính trị, đòi hỏi cần có nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của Tòa án trong bộ máy nhà nước và những nguyên tắc hoạt động cơ quan của tòa án trong đó có nguyên tắc độc lập xét xử
Nguyên tắc độc lập xét xử là một giá trị phổ biến khi nói tới một nền tư pháp công bằng,
là một trong những đặc thù của việc thực hiện quyền tư pháp và là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong tổ chức và hoạt động của tòa án trong nhà nước pháp quyền
Ở nước ta, nguyên tắc tòa án xét xử độc lập là nguyên tắc được Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác quy định từ rất sớm và luôn được củng cố bảo đảm theo sự phát triển, hoàn thiện của Hiến pháp và hệ thống pháp luật
Trong thực tế, hệ thống tòa án ở nước ta những năm qua đã, đang vận hành theo nguyên lý đó Trên cơ sở bảo đảm tính độc lập của tòa án, hàng năm ngành tòa án đã xét xử hàng trăm nghìn vụ việc, góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với pháp luật, nhà nước, "hạn chế
được tình trạng điều tra, truy tố, xét xử oan, sai hay bỏ lọt tội phạm Chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên" [13]
Tuy nhiên, có thể thấy tính độc lập của tòa án chưa được đảm bảo triệt để, còn nhiều bất cập,
dẫn đến "Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác; án tồn
đọng, án bị huỷ, bị cải sửa còn nhiều" [13]
Có nhiều nguyên nhân, yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến tính độc lập trong xét xử của tòa án như: mô hình tổ chức tòa án; chế độ tuyển chọn, đào tạo, bổ nhiệm, đãi ngộ thẩm phán; trình độ, bản lĩnh của đội ngũ thẩm phán; những tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường; sự tác động của lợi ích nhóm… Những tác động này có ảnh hưởng mạnh hơn đến hệ thống các tòa án ở địa phương (tòa án nhân huyện, tỉnh) so với Tòa án nhân dân tối cao
Là thành phố duyên hải, Hải Phòng nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 21001’ vĩ độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường
bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình
Hải Phòng có diện tích tự nhiên là 1.507,57km2, Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Hải Phòng là đô thị loại 1, gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh,
Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ)
Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ
và là một trong những trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước (Quyết định 1448 /QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ)
Với lợi thế trên Hải Phòng là một trong những địa phương đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình này đã đang tác động mạnh mẽ đến tổ chức, hoạt động của hệ thống tòa án nhân dân ở Hải Phòng nói chung, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nói riêng Bình quân 3 năm trở lại đây (2011- 2013), mỗi năm, Tòa án nhân dân các cấp thành ph ố Hải Phòng xét xử 5.516 vụ án, vụ việc Trong đó án b ị tồn đọng là 12 vụ, cải sửa là 25 vụ án, hủy là 06 vụ
Những hạn chế nói trên có nhiều nguyên nhân, nhưng có thể thấy, trong đó có một nguyên nhân là tính độc lập của tòa án trong quá trình xét xử đã không được tôn trọng, bảo đảm
Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu về tính độc lập của tòa án- trong bối cảnh cụ thể của Tòa
án các cấp Toà án nhân dân thành ph ố Hải Phòng, trên cơ sở đó, tìm kiếm thêm những cơ sở
lý luận, thực tế cho việc xây dựng, tổ chức thực hiện những giải pháp để bảo đảm tính độc lập của tòa án, thông qua đó, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử ở Tòa án nhân
Trang 3dân thành phố Hải Phòng là một điều cần thiết, đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng, phát triển Hải Phòng
Đây là lý do thứ nhất để đề tài "Sự độc lập của hoạt động xét xử (Qua thực tiễn của
Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng)" được lựa chọn
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của tòa án nói chung cũng như về tính độc lập của tòa án trong xét xử nói riêng được công bố như:
- "Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền" của GS.TS Nguyễn Đăng Dung, NXB
Tư pháp, 2004;
- "Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân , do dân , vì dân củ a nước ta" của GS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2003;
- Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền" do GS.TSKH Lê Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004;
- Bài "Một số biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc khi xét xử thẩm phản độc lập và chỉ tuân theo pháp luật", của PGS.TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí Nhà nư ớc và pháp luật, số 5/2003;
- "Tòa án và vấn đề cải cách tư pháp" của TS Phạm Văn Hùng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3/2008;
- Bài "Độc lập xét xử ở những nước quá độ", của Ths.Lưu Tiến Dũng, Tạp chí Tòa án nhân dân dân, các số 20, 21/2006;
- Bài "Những bảo đảm cho nguyên tắc tòa án độc lập xét xử có hiệu lực thực tế" Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19/2007;
Các công trình nghiên cứu khoa học trên gián tiếp hoặc trực tiếp, ít nhiều đã luận bàn đến cơ sở lý luận, thực tiễn cũng như đánh giá thực tế tính độc lập của tòa án trong xét xử ở nước ta Đó là những thành quả nghiên cứu lý luận chung đóng góp ở mức độ khác nhau vào tiến trình cải cách tư pháp nói chung, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của tòa án nói riêng Những công trình nghiên cứu, tài liệu nêu trên là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị, mang tính lý luận và thực tiễn cao
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về tính độc lập của Toà án hai cấp Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trong hoạt động xét xử, giải quyết các vụ
án, dưới góc độ của Lý luận chung về nhà nước và pháp luật Trong đó, có nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu như: tính phổ biến và đặc thù trong độc lập xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, những yếu tố chủ yếu tác động đến tính độc lập xét xử của Toà án hai cấp Tòa án nhân dân thành ph ố Hải Phòng, những giải pháp cụ thể bảo đảm tính độc lập xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; những kinh nghiệm trong việc bảo đảm tính độc lập xét xử của tòa án từ thực tế hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng…
Đây là lý do thứ hai để đề tài "Sự độc lập của hoạt động xét xử (Qua thực tiễn của Tòa
án nhân dân thành phố Hải Phòng)" được lựa chọn
3 Mục tiêu và nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận cơ bản
về nguyên tắc độc lập của Tòa án trong hoạt động xét xử, nhằm làm rõ các khái niệm, nội dung
và ý nghĩa của nguyên tắc
Mục tiêu cụ thể của luận văn là trên cơ sở các luận cứ, quan điểm lý luận, áp dụng vào thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án nói chung, hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nói riêng, chỉ ra những thuận lợi khó khăn tác động đến sự vận hành đúng đắn của nguyên tắc độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án, qua đó đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần vào quá trình lý luận cũng như áp dụng thực tiến
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ thêm cơ sở khoa học, pháp lý về tính độc lập của tòa án trong xét xử;
- Phân tích thực trạng và đánh giá thực trạng, xác định ưu, nhược điểm và những vấn đề đặt ra trong quá trình bảo đảm tính độc lập của tòa án từ thực tiễn xét xử của Tòa án hai cấp Toà
án nhân dân thành phố Hải Phòng;
Trang 4- Đưa ra những giải pháp để bảo đảm, nâng cao tính độc lập của tòa án trong xét xử của của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nói riêng cũng như những kinh nghiệm có thể nhân rộng trong phạm vi cả nước nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn cơ sở lý luận, thực tiễn của tính độc lập của tòa án trong xét xử cũng như những giải pháp để nâng cao tính độc lập của tòa án trong xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nói riêng cũng như những kinh nghiệm có thể nhân rộng trong phạm vi cả nước nói chung
Phạm vi nghiên cứu của luận văn về không gian được giới hạn là hoạt động xét xử hai cấp của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng (cấp quận, huyện và cấp thành phố); giới hạn thời gian là từ 2009 đến nay
5 Phương pha ́ p nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật nói chung, về tòa án nói riêng, cùng với các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Đề tài kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp khảo sát thực tế; Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp; Phương pháp phân tích, đối chiếu; Phương pháp so sánh…
6 Như ̃ng đóng góp của luâ ̣n văn
Trong chương 1, luận văn hệ thống hóa, làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận, thực tiễn của tính độc lập của tòa án trong xét xử: i) Nội dung tính độc lập của tòa án trong xét xử; ii) Làm rõ tiêu chí đánh giá tính độc lập của tòa án trong xét xử; ii) Các yếu tố tác động đến tính độc lập của tòa án trong xét xử; iv) Ý nghĩa của việc bảo đảm tính độc lập của tòa án trong xét xử
Chương 2, trên cơ sở đánh giá tính độc lập của tòa án trong xét xử qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, luận văn chỉ ra: i) những nguyên nhân, yếu tố chủ yếu tác động tích cực (hoặc tiêu cực) đến tính độc lập của tòa án trong xét xử; ii) Những kinh nghiệm từ thực tế bảo đảm tính độc lập xét xử của Tòa án hai cấp Toà án nhân dân thành ph ố Hải Phòng
Tại chương 3, luận văn tập trung đưa ra hệ thống giải pháp để bảo đảm tính độc lập của tòa án trong xét xử gồm: i) Giải pháp về tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của tòa án; ii) Giải pháp về đổi mới cơ chế tuyển chọn; về nâng cao năng lực và đãi ngộ thẩm phán, hội thẩm; iii) Giải pháp về án lệ và hoàn thiện án lệ; iv) Giải pháp về công khai, minh bạch và dân chủ hóa hoạt động xét xử; v) Giải pháp về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xét xử
7 Kết cấu luâ ̣n văn
Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Trong đó,
nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về sự độc lập của tòa án trong nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 2: Thực trạng đảm bảo nguyên tắc độc lập trong xét xử của Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng
Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị c ụ thể bảo đảm nguyên tắc độc lập trong xét
xử của tòa án
References
1 Trương Hòa Bình (2012), "Mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân đáp ứng
yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa", Tạp chí Tòa án
nhân dân, (10)
2 Mai Bộ (2012), "Một số ý kiến về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án và vấn đề
tăng thẩm quyền cho Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp chí Tòa án nhân
Trang 5dân, (11)
3 Lê Văn Cảm (2010), "Những vấn đề cơ bản về tổ chức - thực hiện quyền tư pháp trong
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam", Tạp chí Tòa án nhân dân, (13)
4 Ngô Cường (2012), "Bàn về cách xây dựng án lệ", Tạp chí Tòa án nhân dân, (12)
5 Nguyễn Đăng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, Hà Nội
6 Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Hà Nội
7 Nguyễn Đăng Dung (2006), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia,
Hà Nội
8 Nguyễn Đăng Dung (2011), Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp
quyền, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr.70 - 75
9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội
10 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính
trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội
11 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội
12 Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Kết luận 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ chính trị về
đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, Hà Nội
13 Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội
14 Trần Ngọc Đường (2007), Cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Hà Nội
15 Phạm Văn Lợi (2004), Chế định Thẩm phán - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Tư
pháp, Hà Nội
16 Montesquieu SL (1967), Tinh thần pháp luật, NXB Sài Gòn, Tp Hồ Chí Minh
17 Hoàng Thị Kim Quế (2002), "Góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà
nước pháp quyền", Khoa học (Kinh tế - Luật T.XVIII)
18 Hoàng Thị Kim Quế (2007), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Hà Nội
19 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946), Hiến pháp năm 1946, Hà
Nội
20 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1959), Hiến pháp năm 1959, Hà
Nội
21 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1960), Luật tổ chức Tòa án nhân
dân năm 1960, Hà Nội
22 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980), Hiến pháp năm 1980, Hà
Nội
23 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1981), Luật tổ chức Tòa án nhân
dân năm 1981, Hà Nội
24 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp năm 1992, Hà
Nội
25 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự năm 1999,
Hà Nội
26 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Luật tổ chức Tòa án nhân
dân năm 2002, Hà Nội
27 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003, Hà Nội
Trang 628 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004, Hà Nội
29 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Bộ luật tố tụng dân sự sửa
đổi bổ sung năm 2011
30 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp năm 2013, Hà
Nội
31 Trương Tấn Sang (2012), "Bài phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác năm
2012 của ngành TAND", Tạp chí Tòa án nhân dân, (1)
32 Nguyễn Sơn, Mai Bộ (2013), "Hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án
Tòa án nhân dân địa phương trong công tác quản lý hành chính và trong tố tụng", Tạp chí
Tòa án nhân dân, (9, 10)
33 Nguyễn Minh Sử (2011), "Đổi mới công tác Đảng tại các TAND cấp huyện, đảm bảo tính
độc lập trong hoạt động xét xử", Tạp chí Tòa án nhân dân, (13)
34 Nguyễn Minh Sử (2011), "Nâng cao vị thế độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét
xử", Tạp chí Tòa án nhân dân, (14)
35 Nguyễn Minh Triết (2010), "Bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống Tòa
án nhân dân 13/9/1945 – 13/9/2010", Tạp chí Tòa án nhân dân, (18)
36 Toà án nhân dân thành ph ố Hải Phòng (2009), Báo cáo t ổng kết công tác năm 2009, Hải
Phòng
37 Toà án nhân dân thành ph ố Hải Phòng (2010), Báo cáo t ổng kết công tác năm 2010, Hải
Phòng
38 Toà án nhân dân thành ph ố Hải Phòng (2011), Báo cáo t ổng kết công tác năm 2011, Hải
Phòng
39 Toà án nhân dân thành ph ố Hải Phòng (2012), Báo cáo t ổng kết công tác năm 2012, Hải
Phòng
40 Toà án nhân dân thành ph ố Hải Phòng (2013), Báo cáo t ổng kết công tác năm 2013, Hải
Phòng
41 Toà án nhân dân T ối cao (2013), Báo cáo t ổng kết công tác năm 2013, Hà Nội
42 Tòa án nhân dân Tối cao (2013), Báo cáo tham luận về công tác tổ chức tòa án trong năm
thi đua 2013, Hà Nội