1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY CỔ THƯƠNG MẠI LẠNG SƠN

28 199 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá tại công ty cổ thương mại Lạng Sơn
Tác giả Đặng Thuý Hằng
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Lạng Sơn
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 69,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo phương thức này, hàng hoá của Công ty mua về, sau khi kiểm nhận lưu tại kho, rồi mới chuyển bán cho khách hàng, khách hàng đến làm hợp đồng trực tiếp với Công ty.. + Người mua ứng t

Trang 1

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY CỔ THƯƠNG MẠI LẠNG SƠN.

1.Đặc điểm hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá tại Công ty.

CTCPTMLS là một doanh nghiệp kinh doanh đa ngành đa nghề, do đó các mặt hàng tại Công ty rất đa dạng, bao gồm các nhóm sau:

+ Nhóm hàng lương thực, nông sản: Thực phẩm tươi sống XNK hàng hoá nông

- lâm - thuỷ hải sản các loại, sản phẩm Công nghiệp, Thực phẩm công nghệ

+ Nhóm dịch vụ: khách sạn,du lịch, nhà hàng ăn uống trong và ngoài nước.+ Nhóm hàng khác: KD hàng tiêu dùng, xăng dầu các loại, vật liệu XD, chất đốt, bách hoá, bông vải sợi, quần áo may sẵn, dệt kim, Mua bán vật tư và thiết bị các ngành y tế, giáo dục, Mua bán giống cây trồng, vật nuôi các loại

Đối với các mặt hàng lương thực và nông sản thì nguồn nhập chủ yếu từ thu mua trực tiếp các tổ chức kinh doanh trong nước Sau khi thu mua hàng hoá từ các tổ chức KD trong nước, Công ty sẽ chuyển về kho, hoặc yêu cầu các tổ chức kinh doanh chuyển hàng đến địa điểm bán.Số tiền hàng mua sẽ được thanh toán trên cơ sở Hoá đơn GTGT và Hợp đồng kinh tế đã ký kết, có thể là trả trước (tạm ứng, đặt cọc), trả ngay sau khi nhận hàng hoặc trả chậm trong khoảng thời gian đã thoả thuận theo Hợp đồng

Với phương châm lựa chọn nguồn hàng đảm bảo được số lượng, chất lượng, có chi phí và giá thu mua hợp lý đem lại hiệu quả tối đa cho Công ty Công ty luôn lựa chọn những nhà cung cấp đảm bảo được tất cả các yếu tố đó Hiện nay, Công ty có hai nguồn mua hàng chủ yếu là: Mua hàng nội địa và hàng nhập khẩu

- Nguồn hàng trong nước : Là một trong những nguồn hàng quan trọng của Công ty Hàng hoá được mua về dựa trên các đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế với các đối tác Hiện nay, các đối tác cung cấp hàng hoá cho Công ty rất đa dạng

- Nguồn hàng nhập khẩu: Một số mặt hàng quan trọng của Công ty mà thị trường trong nước không đáp ứng được, Công ty phải nhập khẩu từ nước ngoài Công ty đặc biệt quan tâm, xây dựng phương án từ khâu chọn nhà sản xuất, nhập khẩu đến giao

Trang 2

nhận hàng hoá, nên các mặt hàng của Công ty được đánh giá rất cao, và có uy tín Các mặt hàng của Công ty chủ yếu được nhập từ Trung (than điện cực…).

Công tác kiểm tra kỹ thuật, nhập kho và quản lý hàng hoá được Công ty rất quan tâm, ngày càng được nâng cao

- Thị trường tiêu thụ của Công ty trải rộng trên cả nước, thị trường trong ngành thương mại cũng rất lớn Hiện nay, công tác tổ chức kinh doanh, chỉ đạo điều hành của Công

ty đã nhanh nhạy hơn Có phương án cụ thể cho từng thương vụ, từng mặt hàng, luôn luôn nắm bắt nhu cầu của khách hàng trong cả nước Công ty đã xây dựng được mối quan hệ giữa Công ty – Các chi nhánh thuộc công ty và các đơn vị: quan hệ bạn hàng giữa Công ty và khách hàng; quan hệ đối tác trong nước và nước ngoài, các đối tác tin cậy Công ty cũng đã từng bước thay đổi về phương tiện vận chuyển, bốc xếp, điều kiện làm việc… Kết hợp vận chuyển trong nội bộ với vận chuyển ngoài xã hội theo hướng hiện đại hơn Công ty đưa được hàng hoá đến tận các đơn vị, nhiều khi đến tận các các kho, các cửa hàng an toàn và tiết kiệm

2.Kế toán tiêu thụ hàng hoá tại Công ty.

2.1 Các phương thức tiêu thụ hàng hoá và thủ tục chứng từ.

Với các mặt hàng kinh doanh đa dạng và phong phú, nhiều chủng loại, nhiều đối tượng khách hàng nên Công ty cũng có nhiều phương thức bán hàng Phương thức bán hàng chủ yếu của Công ty là bán buôn trực tiếp qua kho, ngoài ra còn có các hình thức khác như bán lẻ, ký gửi, và một số phương thức tiêu thụ khác được coi như tiêu thụ là tiêu thụ nội bộ…

* Phương thức bán buôn hàng hoá: (bán qua kho trực tiếp) Đây là hình thức

bán hàng chủ yếu của Công ty Theo phương thức này, hàng hoá của Công ty mua về, sau khi kiểm nhận lưu tại kho, rồi mới chuyển bán cho khách hàng, khách hàng đến làm hợp đồng trực tiếp với Công ty Hoạt động bán hàng này do phòng Kinh doanh của Công ty thực hiện

Công ty cổ phần thương mại Lạng Sơn có Kho Văn phòng, kho bến và kho của cửa hàng tại cửa khẩu dự trữ hàng hoá cho việc bán buôn của công ty

Trang 3

Tại mỗi kho của Công ty, thủ kho sử dụng thẻ kho để theo dõi số nhập, xuất, tồn kho Tại Phòng kế toán, Kế toán hàng tồn kho và tiêu thụ hàng hoá cũng theo dõi nhập, xuất, tồn hàng hoá nhưng cả về số lượng lẫn giá trị Khi có nghiệp vụ bán hàng phát sinh, theo phương thức bán buôn này, Phòng Kinh doanh ký hợp đồng kinh tế với khách hàng Dựa trên thoả thuận trong hợp đồng kinh tế, Phòng Kinh doanh lập hoá đơn GTGT( lập làm 3 liên, liên 1: lưu; liên 2: giao cho khách hàng; liên 3: dùng

để luân chuyển), tại phòng Kế toán, căn cứ vào nhu cầu của phòng Kinh doanh lập phiếu xuất kho Phiếu xuất kho cũng được lập thành 3 liên( Liên 1: lưu cuống phiếu; liên 2: Thủ kho giữ để ghi vào thẻ kho, sau đó chuyển cho Kế toán hạch toán và lưu chứng từ; liên3: nội bộ) Cuối tháng thủ kho tính ra số nhập, xuất, tồn trên thẻ kho, số lượng này sẽ được đối chiếu với số lượng ở sổ chi tiết hàng hoá tại phòng kế toán

- Các hình thức thanh toán:

+) Thanh toán bằng tiền mặt, Séc: Thường là thanh toán cho phương thức bán

buôn qua kho đối với các khách hàng mua không thường xuyên, khách hàng mới, hoặc những khách hàng có nhu cầu thanh toán ngay Phương thức thanh toán này giúp Công ty thu hồi vốn nhanh, tránh bị chiếm dụng vốn, giảm thiểu chi phí quản lý công nợ

+) Người mua ứng trước: Phương thức này thường áp dụng đối với khách hàng

có nhu cầu đặt mua theo yêu cầu, cung cấp với số lượng lớn, giá trị cao, Công ty không thể đáp ứng ngay được, đòi hỏi có sự hỗ trợ từ phía khách hàng, và khách hàng có năng lực về tài chính, sẵn sàng đáp ứng cho Công ty theo thoả thuận trong hợp đồng kinh tế

+)Thanh toán chậm: Phương thức này được áp dụng cho những khách hàng

truyền thống của Công ty, họ là những khách hàng có quan hệ thanh toán thường xuyên, có uy tín đối với Công ty Trong trường hợp này Công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn, nhưng bù lại Công ty lại tiêu thụ một khối lượng hàng hoá lớn, và khách hàng phải chịu phần lãi suất do việc trả chậm Hiệu quả của tiêu thụ hàng hoá, thông qua hình thức thanh toán trả chậm phụ thuộc vào sự đánh giá và quyết định của Công

ty về khả năng thanh toán của khách hàng

Trang 4

Ngoài ra, khách hàng còn có thể thanh toán cho Công ty bằng cách chuyển tiền cho Công ty qua các ngân hàng mà Công ty có tài khoản tại đó Hiện nay, Công ty có tại khoản tại các ngân hàng như Ngân hàng Công thương, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Với các hình thức thanh toán đa dạng, được Công ty áp dụng hết sức linh động, nên ngày càng thu hút thêm được nhiều khách hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hoá tại Công ty

* Phương thức bán lẻ :

Theo phương thức này, nhân viên bán hàng tại các cửa hàng sẽ trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách Định kỳ, thường là 3 ngày thủ quỹ đi đến các cửa hàng thu tiền, nhân viên bán hàng sẽ nộp tiền cho thủ quỹ và Kế toán tiền mặt và TGNH tại Công ty sẽ viết phiếu thu khoản tiền trên Hiện nay, Công ty có 2 cửa hàng bán lẻ là: một cửa hàng miễn thuế ở Đồng Đăng và một cửa hàng ở gia lâm

- thành phố Hà Nội Nhận thức được lợi ích từ việc bán lẻ, Công ty luôn tìm phương

án đầu tư, mở rộng mạng lưới các cửa hàng bán lẻ…Các hình thức thanh toán chủ yếu là tiền mặt, thường là không có hình thức trả chậm, và ứng trước

* Tiêu thụ nội bộ

Ngoài các phương thức tiêu thụ được trình bày ở trên, Công ty còn sử dụng một số loại hàng hoá để quảng cáo, chào hàng hay làm vật tư đầu vào cho các nhà máy, xí nghiệp là đơn vị trực thuộc của Công ty, các trường hợp này được coi là tiêu thụ nội bộ Theo phương pháp này, phòng Kinh doanh cũng lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, căn cứ vào chứng từ này thủ kho xuất kho, ghi thẻ kho, sau đó chuyển cho phòng Kế toán hạch toán ghi sổ và lưu trữ

- Phiếu XK kiêm v/c nội bộ

- Sổ chi tiết hàng hoá

Trang 5

* Tính giá mua hàng xuất bán:

*) Công ty đang áp dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho theo phương pháp giá thực tế Giá nhập kho thực tế của hàng hoá mua được tính theo công thức:

Trang 6

phương thức đơn đặt hàng Số tiền được thanh toán trên cơ sở hóa đơn và hợp đồng

ký kết Thường là Công ty thanh toán ngay, riêng với hợp đồng nhập khẩu thì Công ty

có thể trả trước, đặt cọc, hoặc mở L/C (Thư tín dụng) và Công ty trả ngay bằng L/C

*) Giá mua trên hoá đơn: Là giá không có thuế GTGT ( Các mặt hàng của Công ty đều là các mặt hàng chịu thuế GTGT, và Công ty áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT )

*) Thuế nhập khẩu: Các mặt hàng Công ty nhập từ nước ngoài về, đều là những hàng hoá được phép nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam Giá tính thuế nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu (tính theo giá CIF) Thời điểm để tính thuế nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hàng hoá nhập khẩu, giá trị hàng nhập khẩu bằng ngoại tệ được quy đổi thành VND theo tỷ giá mua bán bình quân do ngân hàng Ngoại thương công bố ở thời điểm đăng ký tờ khai hàng hoá để xác định giá tính thuế

*) Chiết khấu thương mại, hoặc các khoản giảm giá sau mua: Công ty thường không có khoản này

Tính giá mua hàng xuất bán:

Hiện nay, Công ty đang sử dụng phương pháp Nhập trước- Xuất trước (FIFO)

để tính giá thực tế hàng hoá xuất kho, theo phương pháp này có sự giả định rằng, lô hàng nào nhập trước sẽ được xuất trước Vì vậy, số lượng hàng hoá xuất thuộc lần nhập nào thì tính giá thực tế của lần nhập đó Khi có nghiệp vụ bán hàng phát sinh, căn cứ vào Hoá đơn GTGT do phòng kinh doanh lập, Phòng kế toán lập phiếu xuất kho Công ty cổ phần Thương mại Lạng Sơn đang áp dụng tính giá hàng tồn kho theo phương pháp Nhập trước - Xuất trước nên Kế toán có thể tính ngay giá vốn của hàng hoá xuất bán, giá này được ghi trên phiếu xuất kho Phiếu xuất kho là căn cứ để thủ kho xuất hàng và ghi thẻ kho, đồng thời là căn cứ để kế toán ghi sổ chi tiết và sổ tổng hợp

* Phương thức thanh toán với nhà cung cấp:

Đối với nhà cung cấp trong nước Công ty thường thanh toán ngay bằng tiền mặt, với một số mặt hàng Công ty có nhu cầu với số lượng lớn Công ty có thể đặt trước tiền bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản theo các thoả thuận trong hợp đồng kinh

Trang 7

tế hoặc đơn đặt hàng Đối với các nhà cung cấp nước ngoài thì Công ty thường mở thư tín dụng và thanh toán ngay theo thư tín dụng.

Chứng từ và sổ sách sử dụng:

- Hợp đồng mua hàng giữa Công ty và nhà cung cấp

- Hoá đơn GTGT

- Phiếu nhập kho, thẻ kho, biên bản kiểm nghiệm hàng hoá nhập kho

- Phiếu chi, giấy báo có của ngân hàng …

- Hợp đồng ngoại (Invoice), phiếu xuất kho

Căn cứ vào nhu cầu hàng hoá của thị trường, khách hàng Công ty lập kế hoạch mua hàng hoá phục vụ tiêu thụ và dự trữ Giám đốc ký duyệt kế hoạch mua hàng hoá

và hợp đồng mua hàng hoá Căn cứ vào hợp đồng được ký kết nhà cung cấp, cung cấp hàng hoá với đúng số lượng, chủng loại, Biểu mã, quy cách Phòng kinh doanh

sẽ nhận hoá đơn GTGT của người bán giao cho Công ty

2.3 Kế toán Giá vốn hàng bán.

a/ Căn cứ tính giá vốn hàng bán

*Căn cứ tính giá vốn hàng nhập khẩu xuất bánGiá vốn hàng nhập khẩu xuất bán được tính dựa trên giá mua hàng nhập khẩu; thuế nhập khẩu hàng hoá và chi phí mua hàng được phân bổ cho hàng nhập khẩu xuất bán trong tháng đó

Trang 8

Số lượng hàng tồn đầu kỳ

x

Số lượng hàng bán ra trong kỳ

* Căn cứ tính giá vốn hàng nhập mua nội địa xuất bán

Xác định giá vốn hàng nội địa xuất bán được tính trực tiếp dựa trên giá mua hàng nội địa Giá mua hàng này không bao gồm chi phí thu mua hàng nội địa Chi phí này được tính riêng và không được tính vào giá vốn hàng bán

Căn cứ tính giá vốn hàng nội địa = Giá mua hàng nội địa

b/ Phương pháp tính Giá vốn hàng bán

Giá vốn hàng bán được tính theo phương pháp giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập, tức là xác định giá bình quân của từng loại mặt hàng, căn cứ vào giá đơn vị bình quân của từng loại mặt hàng và lượng hàng xuất kho giữa 2 lần nhập kế tiếp để xác định giá thực tế hàng xuất kho Do Công ty sử dụng phần mềm kế toán nên việc xác định giá vốn hàng bán được thực hiện dễ dàng hơn, giảm đi khối lượng công việc tính toán Mặc dù sử dụng phương pháp này, Kế toán không cần phải xác định ngay giá vốn hàng bán ngay sau mỗi lần nhập mà đến cuối tháng, kế toán chỉ làm một lệnh duy nhất tính giá vốn hàng bán ra trong tháng, máy sẽ tự động tính giá đơn vị bính quân sau mỗi lần nhập cho từng danh điểm hàng

Hàng ngày, khi nhập số liệu cho “Hoá đơn bán hàng”, máy sẽ tự định khoản và cập nhật số liệu cho Sổ Nhật ký chung, nhưng số liệu tương ứng tại dòng TK 632 và

TK 1561 sẽ bỏ trống

Chứng từ sử dụng:

Trang 9

Đối với bất cứ nghiệp vụ tiêu thụ hàng (nhập khẩu hay hàng nội địa), kế toán đều căn cứ vào chứng từ: “Hoá đơn giá trị gia tăng” Ngoài ra có thể căn cứ vào chứng từ khác như: “Biên bản giao nhận hàng hoá” để theo dõi kiểm tra và đối chiếu.Sau khi kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của các chỉ tiêu trong Hoá đơn giá trị gia tăng, kế toán tiền hành nhập số liệu vào máy Kế toán sẽ nhập số liệu cho mục “Hoá đơn bán hàng tiền VND”

Tài khoản sử dụng:

Đối với phần Giá vốn hàng bán, tại văn phòng Công ty sử dụng tài khoản 632- Giá vốn hàng bán Tài khoản này tập hợp giá vốn của hàng xuất bán trong kỳ cho tất

cả các chủng loại hàng hoá và nó không có tài khoản chi tiết cấp 2

TK 1561- giá mua hàng hoá Tài khoản này phản ánh giá trị hàng tồn đầu kỳ và giá trị hàng nhập vào trong kỳ

TK 1562- Chi phí mua hàng Các chi phí mua hàng phát sinh hàng ngày liên quan đến việc nhập khẩu hàng hóa được tập hợp trên tài khoản 1562 Tài khoản này tập hợp các chi phí mua hàng nhập khẩu tồn đầu kỳ và phát sinh trong kỳ Và nó được chi tiết theo mã hàng hoá

Báo cáo tổng xuất hàng

Báo cáo kết quả kinh doanh

Trang 10

Xuất bán tháng 2/2007

0

Trang 11

2.3 Kế toán doanh thu bán hàng.

Căn cứ vào tình hình nhập mua hàng hóa của công ty cũng như chiến lược kinh doanh của từng kỳ, Phòng kinh doanh Công ty tiến hành xác định giá bán cho từng loại hàng hóa phù hợp với từng nhóm khách hàng và phương thức tiêu thụ

Phần doanh thu tiêu thụ được xác định theo công thức sau:

Doanh thụ tiêu thụ hàng hoá = Đơn giá bán X Số lượng hàng hoá

tiêu thụĐối với các khách hàng bên ngoài công ty hay là các chi nhánh của Công ty đều có đơn giá bán theo giá thị trường

* Chứng từ sử dụng

Dù tiêu thụ nội bộ hay xuất bán hàng hoá cho khách hàng bên ngoài Công ty, chứng từ sử dụng đều là “Hoá đơn giá trị gia tăng” Ngoài ra cón có “Biên bản giao nhận hàng hoá” để tiện cho việc theo dõi kiểm tra và đối chiếu

* Tài khoản sử dụng

Để theo dõi các khoản doanh thu bán hàng Công ty sử dụng TK 511 Tài khoản này được chi tiết thành 3 tài khoản cấp 2:

TK 5111: Doanh thu bán hàng hoá

TK 5112: Doanh thu từ hoạt động cho thuê kho, bến bãi…

TK 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ khác

Căn cứ để ghi sổ tài khoản 511 là các Hoá đơn GTGT (Liên 3)

Quá trình bán hàng là quá trình Công ty chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho khách hàng, còn khách hàng phải có nghĩa vụ thanh toán tiền cho Công ty như hai bên đã thoả thuận Thời điểm kế toán ghi nhận doanh thu bán hàng là lúc Công ty chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho khách hàng và hoàn tất thủ tục bán hàng.Hiện nay, Công ty đang thực hiện chế độ giao khoán doanh thu cho từng cửa hàng bán lẻ để đẩy nhanh tiến độ bán hàng còn Phòng kinh doanh phụ trách các nghiệp vụ bán buôn, và bán hàng nói chung Kế toán có nhiệm vụ theo dõi doanh thu bán hàng trên tài khoản 511"Doanh thu bán hàng" trên cơ sở giá thực tế (Số tiền ghi trên hóa đơn) Khi khách hàng có nhu cầu về hàng hoá của Công ty, thường là khách

Trang 12

hàng trực tiếp đến Công ty thoả thuận, đàm phán để ký kết các hợp đồng kinh tế, cũng có nhiều trường hợp Công ty tham giá đấu thầu để được quyền cung cấp hàng hoá cho khách hàng Riêng đối với hình thức bán lẻ tại Công ty thì quá trình tiêu thụ đơn giản hơn, khách hàng đến cửa hàng, thực hiện mua hàng trực tiếp và thanh toán tiền ngay.

Sơ đồ 6: Quy trình luân chuyển chứng từ bán hàng

Sau khi khách hàng chấp nhận thanh toán và Công ty trao quyền sở hữu hàng hoá cho khách hàng, đây là thời điểm kế toán ghi nhận doanh thu Kế toán căn cứ vào hoá đơn GTGT số để vào chứng từ ghi sổ, lên sổ cái tổng hợp và sổ cái chi tiết tài khoản doanh thu, đồng thời cũng căn cứ vào hoá đơn đó kế toán theo dõi trên sổ chi tiết bán hàng Số lượng, đơn giá, thành tiền của các mặt hàng tương ứng trên hoá đơn GTGT sẽ được ghi lên cột số lượng, đơn giá, và thành tiền trên "Sổ chi tiết bán

Hoá đơn GTGTMáy tính

Sổ chi tiết bán hàng

Nhật ký chứng từ

Bảng kê, bảng phân

bổ

Sổ cái chi tiết doanh thu và

sổ cái tổng hợp doanh thu Bảng tổng hợp

chi tiếtBảng cân đối

tài khoản 511

Báo cáo tài chính

Trang 13

hàng" Cuối kỳ Kế toán tính ra tổng số phát sinh, doanh thu thuần (tại Công ty cổ phần thương mại Lạng Sơn thì tổng số phát sinh bằng doanh thu thuần vì tại Công ty không có các khoản giảm trừ doanh thu), kế toán trừ giá vốn của hàng bán trong kỳ

để tính ra lãi gộp

2.4 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu.

Do đặc điểm của hoạt động bán hàng tại Công ty cổ phần thương mại Lạng Sơn là: sau khi đại diện bên mua và bên bán lập Biên bản giao nhận để xác định số lượng hàng hoá đã giao cũng như chất lượng của hàng hoá thì kế toán hàng hoá tại Công ty mới lập Hoá đơn GTGT Số lượng và đơn giá ghi trên Hoá đơn được căn cứ vào Biên bản giao nhận Vì thế tại Công ty không có các khoản giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại

Mặt khác, Công ty chủ yếu bán buôn theo lô với khối lượng lớn và giá bán là theo thoả thuận giữa hai bên (bên mua và bên bán) nên tại Công ty cũng không có khoản Chiết khấu thương mại

2.5 Kế toán thanh toán với khách hàng.

Tại Công ty thì hình thức thanh toán cũng như thời gian thanh toán được các bên thoả thuận và ghi vào Hợp đồng kinh tế

Với các khách hàng thường xuyên (các khách hàng có quan hệ buôn bán lâu năm với Công ty) thì Công ty có thể cho phép thanh toán chậm (thường là sau 30 ngày kể từ ngày Công ty hoàn tất việc giao hàng)

Với các khách hàng không thường xuyên hoặc các khách hàng vãng lai thì Công ty thường yêu cầu đặt trước một phần tiền hàng(khoảng 5% đến 10% giá trị Hợp đồng), phần còn lại sẽ được thanh toán dứt điểm ngay hoặc sau 5 ngày kể từ ngày Công ty hoàn tất việc giao hàng

Hiện tại ở Công ty các khoản phải thu khách hàng được quản lý rất chặt chẽ, công tác thu nợ cũng diễn ra rất tốt nên Công ty không phải lập khoản Dự phòng phải thu khó đòi

Để thuận lợi cho việc theo dõi và quản lý các khoản phải thu, Công ty đã mở

Sổ chi tiết cho từng khách hàng

Trang 14

Hàng ngày kế toán hàng hoá căn cứ vào Hoá đơn GTGT, Lệnh chuyển Có, Phiếu thu để vào Sổ chi tiết thanh toán với người mua.

* Chứng từ và trình tự luân chuyển chứng từ

Khi khách hàng thanh toán tiền hàng, khách hàng có thể trực tiếp thanh toán tiền cho phòng kế toán hoặc nhân viên giao nhận tại Phòng Kinh doanh sẽ thu tiền của khách hàng sau đó nộp cho phòng kế toán Sau khi kiểm nhận và thu tiền, kế toán viết Phiếu thu và hạch toán vào tài khoản Vốn bằng tiền

Hoặc khách hàng có thể thanh toán bằng chuyển khoản Sau khi nhận được Giấy báo có của ngân hàng mà Công ty có giao dịch, kế toán sẽ nhập số liệu và hạch toán vào tài khoản tiền gửi ngân hàng

511 hoặc 136 đối ứng với 511

Số liệu thanh toán với khách hàng được cập nhật như sau:

Sổ chi tiết công nợ củatừng đối tượng

Báo cáokết quả kinh doanhBáo cáo quỹ hàng ngày

Nhật ký Chứng từ

Sổ Cái TK 131 (Tổng hợp)

Sổ tổng hợp công nợNhập số liệu vào máyBảng kê và Bảng phân bổ

Chứng từ gốc

Ngày đăng: 31/10/2013, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kê số 8 - THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY CỔ THƯƠNG MẠI LẠNG SƠN
Bảng k ê số 8 (Trang 10)
Sơ đồ 6: Quy trình luân chuyển chứng từ bán hàng - THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY CỔ THƯƠNG MẠI LẠNG SƠN
Sơ đồ 6 Quy trình luân chuyển chứng từ bán hàng (Trang 12)
Sơ đồ 8 : Quy trình luân chuyển chứng từ chi phí  bán hàng - THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY CỔ THƯƠNG MẠI LẠNG SƠN
Sơ đồ 8 Quy trình luân chuyển chứng từ chi phí bán hàng (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w