1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng đo chỉ số nhân trắc dinh dưỡng cho trẻ tại khoa nhi bệnh viện Bãi Cháy

31 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là một nội dung kỹ thuật quan trọng hàng đầu của dinh dưỡng học. Tình trạng dinh dưỡng người có thể được đánh giá thông qua các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc dinh dưỡng. Cho đến nay số đo nhân trắc dinh dưỡng được xem là nhạy, khách quan và có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của một cá thể hay của cộng đồng. Chúng ta đều biết hậu quả của một chế độ ăn thiếu dinh dưỡng dẫn tới giảm khả năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em.

Trang 1

SỞ Y TẾ QUẢNG NINH

BỆNH VIỆN BÃI CHÁY

CẢI TIẾN CHẤT LƯỢNG ĐO CHỈ SỐ NHÂN TRẮC DINH DƯỠNG CHO TRẺ TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN BÃI CHÁY

NĂM 2020

ĐỀ ÁN CẢI TIẾN CHẤT LƯỢNG

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Sơn Thư ký: Trần Văn San

Quảng Ninh, năm 2020

Trang 2

Mục lục

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU 3

1 Mục tiêu chung 3

2 Mục tiêu cụ thể 3

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1 Khái niệm 4

2 Kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc 4

2.1 Kỹ thuật cân 4

2.2 Kỹ thuật đo chiều cao đứng (đối với trẻ từ 24 tháng tuổi trở lên) 5

2.3 Kỹ thuật đo chiều dài nằm (đối với trẻ dưới 24 tháng tuổi) 6

2.4 Đo chu vi vòng cánh tay 6

2.5 Đo chu vi vòng đầu 7

2.6 Đo chu vi vòng ngực 7

3 Các nghiên cứu liên quan đã thực hiện 8

4 Thực trạng đo chỉ số nhân trắc dinh dưỡng cho trẻ tại khoa Nhi Bệnh viện Bãi Cháy 9

5 Lựa chọn vấn đề cải tiến chất lượng 9

Chương 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 10

2.1 Phương pháp nghiên cứu 10

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 10

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 10

2.1.3 Thiết kế nghiên cứu 10

2.1.4 Cỡ mẫu 10

2.1.5 Phương pháp thu thập số liệu 10

2.1.6 Công cụ thu thập số liệu 10

2.1.7 Chỉ số và phương pháp tính 11

2.1.8 Tiêu chuẩn đánh giá 11

2.2 Phân tích nguyên nhân 11

2.3 Lựa chọn giải pháp 13

2.4 Kế hoạch can thiệp 13

2.4.1 Kế hoạch hoạt động chi tiết 13

2.4.2 Kế hoạch thực hiện theo thời gian 15

2.5 Kế hoạch theo dõi và đánh giá 16

2.5.1 Thời gian đánh giá 16

2.5.2 Phương pháp đánh giá: đánh giá bằng bảng kiểm (phụ lục 1, 2, 3) 16

Chương 3: KẾT QUẢ 17

3.1 Kiến thức của điều dưỡng về kĩ thuật đo chỉ số nhân trắc trước và sau tập huấn 17

3.2 Tuân thủ đúng quy trình đo chỉ số nhân trắc cho trẻ trước và sau tập huấn 17

3.3 Tuân thủ của điều dưỡng theo các nội dung kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc trước và sau can thiệp 18

3.3.1 Kết quả tuân thủ của điều dưỡng nội dung đo chiều dài nằm 18

Trang 3

3.3.2 Kết quả tuân thủ của điều dưỡng nội dung đo chiều cao đứng 19

3.3.3 Kết quả tuân thủ của điều dưỡng nội dung đo cân nặng 19

3.4 Kết quả tuân thủ của điều dưỡng theo các bước trong quy trình đo chỉ số nhân trắc 20

3.4.1 Kết quả tuân thủ của điều dưỡng theo các bước trong quy trình đo chiều dài nằm 20

3.4.2 Kết quả tuân thủ của điều dưỡng theo các bước trong quy trình đo chiều cao đứng 21

3.4.3 Kết quả tuân thủ của điều dưỡng theo các bước trong quy trình đo cân nặng 22

Chương 4: BÀN LUẬN 23

Phụ lục 1: Bảng kiểm quy trình đo chiều dài nằm 25

Phụ lục 2: Bảng kiểm quy trình đo chiều cao đứng 25

Phụ lục 3: Bảng kiểm quy trình kỹ thuật cân trẻ 27

Phụ lục 4: Bảng kiểm đánh giá kiến thức đo chỉ số nhân chắc 28

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là một nội dung kỹ thuật quan trọng hàng đầu của dinh dưỡng học Tình trạng dinh dưỡng người có thể được đánh giá thông qua các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc dinh dưỡng Cho đến nay số đo nhân trắc dinh dưỡng được xem là nhạy, khách quan và có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của một cá thể hay của cộng đồng

Chúng ta đều biết hậu quả của một chế độ ăn thiếu dinh dưỡng dẫn tới giảm khả năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em Cơ thể trẻ em đáp ứng với chế độ ăn thiếu dinh dưỡng đó là giảm khả năng hoạt động thể lực và chậm tăng trưởng Khi thiếu dinh dưỡng ở mức vừa thì các ảnh hưởng trên tăng lên và đồng thời các biểu hiện như gầy còm bắt đầu xuất hiện Ở mức thiếu dinh dưỡng nặng thì các biểu hiện ngừng trệ tăng trưởng, kém hoặc mất khả năng hoạt động thể lực, gầy còm nặng hơn và các biểu hiện lâm sàng xuất hiện (như phù dinh dưỡng, các biến đổi ở da và tóc…) được thấy một cách rõ ràng

Như vậy, việc sử dụng các chỉ số nhân trắc dinh dưỡng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng có tầm quan trọng đặc biệt Trong hoạt động giám sát dinh dưỡng hay theo dõi liên tục diễn biến tình trạng dinh dưỡng của một cá thể hay của cộng đồng qua các chỉ số nhân trắc dinh dưỡng có một ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn Hơn thế nữa, phép đo nhân trắc dinh dưỡng không đòi hỏi phương tiện dụng cụ quá đắt tiền và có thể thực hiện dễ dàng

Đo chỉ số nhân trắc dinh dưỡng và một kĩ thuật cơ bản trong đánh giá dinh dưỡng ở trẻ em từ đó có các can thiệp tư vấn dinh dưỡng hợp lý đối với từng trẻ không những làm kết quả điều trị bệnh chính tăng lên mà còn đóng góp phần không nhỏ đến sự phát triển của trẻ sau này

Tuy nhiên việc đo chỉ số nhân trắc dinh dưỡng và đánh giá dinh dưỡng của trẻ còn chưa được quan tâm đúng mực và nghiêm túc Qua khảo sát ngẫu nhiên có 60% nhân viên làm đúng kĩ thuật đo chi số nhân trắc chỏ trẻ Do vậy

Trang 5

chúng tôi làm đề án “Cải tiến chất lượng đo chỉ số nhân trắc dinh dưỡng cho trẻ tại khoa Nhi - Bệnh viện Bãi Cháy năm 2020”

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN

Các chỉ số nhân trắc học về kích thước con người như: chiều dài nằm, chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, vòng cổ, vòng eo, vòng mông, chiều rộng vai, chỉ số Pignet, chỉ số BMI, tỷ lệ giữa các bộ phận trên cơ thể ví dụ một vòng ngực tiêu chuẩn là có tỷ lệ số đo bằng 1/2 chiều cao toàn thân

2 Kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc

c, Thao tác cân:

Trang 8

- Chỉnh về số 0 hoặc vị trí thăng bằng sau mỗi lần cân

- Kiểm tra độ chính xác của cân bằng cách kiểm tra cân với một vật đã biết trọng lượng sau một số lần cân

- Cân vào một thời điểm nhất định, tốt nhất là vào buổi sáng, khi vừa ngủ dậy, sau khi đi tiểu đại tiện, vẫn chưa ăn gì Nếu điều kiện lý tưởng trên không đạt được thì ít nhất cũng phải cân trước bữa ăn và trước giờ lao động

- Đối tượng mặc quần áo tối thiểu, bỏ dày dép, mũ nón và các vật nặng khác trong người

- Đứng giữa bàn cân mắt nhìn thẳng, không cử động (cân bàn) Với trẻ nhỏ đặt nằm ngửa hoặc ngồi giữa lòng máng (cân lòng máng, cân bàn đồng hồ)

- Người đọc nhìn thẳng chính giữa mặt cân, đọc khi cân thăng bằng, ghi

số theo kg với 1 số thập phân (ví dụ 10,6kg, 9,5kg )

2.2 Kỹ thuật đo chiều cao đứng (đối với trẻ từ 24 tháng tuổi trở lên)

a, Dụng cụ:

- Sử dụng thước đo chiều cao đứng, cho trẻ ≥ 24 tháng tuổi và người lớn Trong nghiên cứu thường sử dụng thước gỗ, nếu có điều kiện sử dụng thước microtoise, hoặc thước dán tường Thước phải có độ chia tối thiểu 0,1cm

- Bỏ guốc, giầy, dép, mũ nón, bờm tóc, khăn, búi tóc

- Đứng quay lưng vào thước đo, 2 chân sát vào nhau

- Đảm bảo các điểm chạm vào mặt phẳng có thước: 2 gót chân, 2 bụng chân, 2 mông, 2 vai và chẩm

- Trục cơ thể trùng với trục thước đo, mắt nhìn thẳng 2 tay buông thõng 2 bên

Trang 9

- Dùng eke áp sát đỉnh đầu, thẳng góc với thước đo

- Đối với trẻ nhỏ, cần thêm một người hỗ trợ giữ 2 cổ chân và gối của trẻ, người đo 1 tay giữ cằm của trẻ, còn tay kia kéo êke áp sát đỉnh đầu của trẻ

- Đọc kết quả theo cm với 1 số lẻ

2.3 Kỹ thuật đo chiều dài nằm (đối với trẻ dưới 24 tháng tuổi)

- Người thứ 2 giữ thẳng đầu gối của trẻ sao cho 2 gối trẻ thẳng, 2 gót chân chạm nhau, đảm bảo 5 điểm chạm: Gót chân, bụng chân, mông, vai và chẩm áp sát vào thước đo

- Trục của cơ thể phải trùng với trục của thước

- Người thứ 2 giữ thẳng đầu gối của trẻ sao cho 2 gối trẻ thẳng, 2 gót chân chạm nhau, đảm bảo các điểm chạm vào mặt phẳng có thước: 2 gót chân, 2 bụng chân, 2 mông, 2 vai và chẩm Trục cơ thể trẻ trùng với trục thước đo Dùng tay còn lại đưa êke di động của thước áp sát vào bàn chân, bàn chân thẳng đứng, vuông góc với mặt thước

- Đọc kết quả theo

Chú ý: Khi trẻ không đo đứng được sẽ phải đo nằm rồi lấy kết quả trừ đi 0.7cm

2.4 Đo chu vi vòng cánh tay

Trang 10

- Sự phát triển kém hoặc suy mòn các cơ là những biểu hiện chính của suy dinh dưỡng thiếu protein- năng lượng, nhất là trẻ bé Ở người lớn và người trưởng thành, khối lượng cơ lại tỷ lệ với sự tăng vận động của một nhóm cơ nào

đó

- Trong thực hành dinh dưỡng, đánh giá khối lượng cơ thường được thông qua vòng đo trực tiếp các chi

- Kỹ thuật: + Vòng đo thường dùng nhất là vòng đo cánh tay trái, tư thế

bỏ thõng tự nhiên Dùng thước mềm, không chun giãn với độ chính xác 0,1cm Vòng đo đi qua điểm giữa cánh tay tính từ mỏm cùng xương vai đến mỏm trên lồi cầu xương cánh tay Do vòng này ít thay đổi ở trẻ từ 12-60 tháng cho nên không đòi hỏi biết tuổi chính xác ở lứa tuổi này

+ Xác định điểm giữa cánh tay, trước hết cần xác định mỏm cùng vai, sau đó gập khủyu tay vuông góc, xác định mỏm trên lồi cầu xương cánh tay Đặt vị trí số 0 của thước đo vào mỏm cùng xương vai, kéo thẳng thước

đo đến mỏm trên lồi cầu xương cánh tay, đánh dấu điểm giữa cánh tay Duỗi thẳng cánh tay của trẻ, vòng thước đo quanh điểm giữa cánh tay, mặt số của thước đo hướng lên trên, áp sát thước đo vào cánh tay của trẻ, đảm bảo sao cho thước đo có độ căng vừa phải không quá chặt, hoặc quá lỏng, đọc kết quả chính xác đến 0,1cm

2.5 Đo chu vi vòng đầu

- Chu vi vòng đầu, hay chu vi chẩm là một phép đo đầu của trẻ bằng cách

đo ngang chân mày phía trước, trên vành tai hai bên và ngang ụ chẩm phía sau

- Dựa vào quan sát quá trình phát triển của chu vi vòng đầu của trẻ, cha

mẹ có thể biết được tình trạng phát triển của con có chuẩn hay không, chỉ số này

là bình thường hay không bình thường

- Kỹ thuật: Dùng dây đo co giãn quấn vòng quanh phần rộng nhất của trán của bé, ở ngay sát trên tai và điểm giữa của phía sau đầu

2.6 Đo chu vi vòng ngực

- Vòng ngực theo đúng nghĩa giải phẫu và sinh lý là một trong các chỉ tiêu

Trang 11

phản ánh sự phát triển, trạng thái sức khỏe và đặc biệt là hệ hô hấp

- Số do vòng ngực là chu vi của lồng ngực theo mặt phẳng nằm ngang

- Dụng cụ: + Thước dây có bản rộng, có đó co giãn thấp, chia độ tới 1mm

+ Thường xuyên được kiểm tra lại với thước kim loại mẫu

- Kỹ thuật: + Người dứng thẳng, hai gót chụm lại, hai tay buông lỏng, không khép chặt vào sườn, mặt quay về phía đối diện người đo

+ Vị trí đặt thước ở mép dưới quần thâm của núm vú Riêng với nữ có tuyến vú phát triển, thước đặt trên vùng ngấn giữa bầu vú và cơ ngực

+ Đo ở 3 trạng thái tĩnh, hít và thở ra hết sức + Tính chỉ số đo theo chỉ số trung bình 3 số đo trên

3 Các nghiên cứu liên quan đã thực hiện

3.1 Đề tài nghiên cứu: “Thực trạng chiều cao – cân nặng của trẻ mẫu giáo bé trường mầm non Khánh Tiên – Yên Khánh – Ninh Bình” năm 2008 do Phạm Thị Lan cho thấy trẻ có chỉ số nhân trắc về chiều cao, cân nặng đạt chuẩn với tỷ lệ tương đối cao, có trẻ đạt trên chuẩn, nhưng vẫn còn trẻ chưa đạt yêu cầu về cân nặng Cụ thể:

- Về cân nặng: Dưới chuẩn chiếm 8,8%, trong chuẩn chiếm 81,6%, trên chuẩn chiếm 9,6%

- Về chiều cao: Dưới chuẩn chiếm 8% Trong chuẩn chiếm 50,4% Trên chuẩn chiếm 41,6%

3.2 Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường mầm non Chiềng Sinh – Sơn La” năm 2014 do Phạm Thị Phương Thảo cho thấy:

- Chiều cao trung bình của trẻ em lúc 2 tuổi là 85,3cm, lúc 3 tuổi là 89,77cm, 5 tuổi là 104,46cm tăng trung bình 4,79cm/năm

- Cân nặng trung bình của trẻ em 2 tuổi là 11,71kg, lúc 3 tuổi là 12,75kg, 4 tuổi

là 14,61kg, 5 tuổi là 16,39kg Mỗi năm cân nặng tăng trung bình 1,17kg

- Ở cùng một độ tuổi, trẻ em nam cao hơn và nặng hơn trẻ em nữ, tuy nhiên, mức chênh lệch không nhiều

- Ở cùng một độ tuổi, trẻ em dân tộc Kinh cao hơn và nặng hơn trẻ em dân tộc

Trang 12

thiểu số nhưng mức chênh lệch không nhiều

4 Thực trạng đo chỉ số nhân trắc dinh dưỡng cho trẻ tại khoa Nhi Bệnh viện Bãi Cháy

Khoa Nhi được thành lập từ tháng 06/2004 Tính đến thời điểm năm 2019, tổng số cán bộ, viên chức, lao động của khoa là 24 người, trong đó bao gồm 10 bác sỹ và 14 điều dưỡng

Tổng số giường bệnh thực kê tại khoa là 109 giường Năm 2019, tổng số lượt người bệnh điều trị nội trú tại khoa là 5513 bệnh nhân Trung bình mỗi ngày, khoa Nhi thực hiện đo chỉ số nhân trắc cho khoảng trên 15 bệnh nhi nhập viện Tuy nhiên, tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ đúng các bước chỉ đạt khoảng 60% (chủ yếu là chỉ thực hiện đo cân nặng) Những trẻ dưới 2 tuổi chưa có thước đo chiều dài, còn lại một số trẻ chỉ dựa vào hỏi người nhà của trẻ

5 Lựa chọn vấn đề cải tiến chất lượng

Dựa trên thực trạng của khoa, chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Điều dưỡng khoa Nhi chưa tuân thủ đúng các bước và kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc dinh dưỡng cho trẻ ” để tiến hành can thiệp, cải tiến

Trang 13

Chương 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Điều dưỡng tại khoa Nhi thực hiện kĩ thuật đo chỉ

số nhân trắc cho trẻ khi nhập viện

- Tiêu chuẩn loại trừ: Điều dưỡng đi học, nghỉ thai sản…

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2020 đến tháng 09/2020

- Địa điểm nghiên cứu: khoa Nhi, Bệnh viện Bãi Cháy

2.1.3 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu chuỗi thời gian trước - sau

2.1.4 Cỡ mẫu

- Tổng số điều dưỡng được thực hiện đánh giá: 12 điều dưỡng (loại trừ 01 điều dưỡng trưởng và 01 điều dưỡng hành chính)

- Số lượt đánh giá mỗi người: 03 lượt/người

- Do đó: Tổng số lượt đánh giá thực hiện cho mỗi đợt khảo sát

N = 03 x 12 = 36 (lượt)

2.1.5 Phương pháp thu thập số liệu

- Chúng tôi dự kiến tiến hành đánh giá, thu thập số liệu hàng tháng Tổng

số lượt đánh giá cần thực hiện mỗi tháng là 36 lượt

- Người đánh giá thực hiện đánh giá kĩ thuật đo chỉ số nhân trắc ngẫu nhiên bằng bảng kiểm, đánh giá ngẫu nhiên mỗi điều dưỡng 01 lượt/quy trình/tháng

2.1.6 Công cụ thu thập số liệu

- Bảng kiểm đo chỉ số nhân trắc trẻ em

Trang 14

2.1.7 Chỉ số và phương pháp tính

Tên chỉ số Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc

Lĩnh vực áp dụng Khoa Nhi

Đặc tính chất lượng Đúng theo tuổi

Giá trị của số liệu Độ chính xác và độ tin cậy cao

Tần xuất báo cáo Hàng tháng

2.1.8 Tiêu chuẩn đánh giá

Đối tượng nghiên của chúng tôi là những điều dưỡng đang công tác tại khoa Nhi, đã được đào tạo về kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc Hiện tại, khoa đang thực hiện kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc theo nội dung được ban hành trong Quyết định của khoa

Vì vậy, tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ đúng kĩ thuật là điều dưỡng phải tuân thủ đúng và đẩy đủ tất cả các bước của kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc Dựa vào bảng kiểm đánh giá cụ thể như sau:

Đạt = 10 điểm

Không đạt < 10 điểm

2.2 Phân tích nguyên nhân

Chúng tôi tiến hành thảo luận, phân tích nguyên nhân theo sơ đồ khung xương cá, như sau:

Ngày đăng: 04/02/2021, 04:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w