Hình 4.31: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp 500kV Cầu Bông khi sét đánh vào cạnh lưới Hình 4.32: Dòng điện quá độ sét tại tại vị trí đầu vào của dòng s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
VŨ ĐỨC QUANG
TÍNH TOÁN ĐÁP ỨNG QUÁ ĐỘ SÉT TRÊN HỆ THỐNG BẢO VỆ CHỐNG SÉT
CỦA TRẠM BIẾN ÁP CAO ÁP
Chuyên ngành: Thiết bị, mạng và nhà máy điện
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 07 năm 2011
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS VŨ PHAN TÚ
Cán bộ chấm nhận xét 1 :
Cán bộ chấm nhận xét 2 :
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG TP HCM ngày tháng năm
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: 1
2
3
4
5
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên
ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngày, tháng, năm sinh: 07-07-1985 Nơi sinh: Tây Ninh
Chuyên ngành: Thiết bị, mạng & nhà máy điện MSHV: 09180950 1- TÊN ĐỀ TÀI:
TÍNH TOÁN ĐÁP ỨNG QUÁ ĐỘ SÉT TRÊN HỆ THỐNG BẢO VỆ CHỐNG SÉT CỦA TRẠM BIẾN ÁP CAO ÁP
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
a Nghiên cứu phương pháp số Runge – Kutta
b Nghiên cứu quá trình quá độ trong hệ thống chống sét
c Áp dụng phương pháp Runge – Kutta vào mô hình đường dây truyền tải để viết chương trình mô phỏng đáp ứng quá độ của hệ thống chống sét
d Khảo sát ảnh hưởng của cấu hình lưới chống sét, dây dẫn sét và lưới nối đất đối với hiện tượng quá độ của hệ thống chống sét bằng chương trình viết được
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Ngày 30 tháng 08 năm 2010
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Ngày 04 tháng 07 năm 2011
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS VŨ PHAN TÚ
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN
QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi những lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Vũ Phan
Tú, người thầy đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất và cung cấp cho tôi nhiều tài liệu quý giá giúp tôi hoàn thành cuốn luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn ThS Nguyễn Nhật Nam đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt thời gian trên
Bên cạnh đó, tôi cũng cảm ơn đến các thầy cô, các bạn sinh viên làm việc và học tập trong Bộ môn Hệ thống điện đã nhiệt tình trao đổi, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm để tôi hoàn thành luận văn tốt hơn
Cuối cùng, tôi muốn nói lời cảm ơn đến cha, mẹ, các chị em, vợ cùng con gái tôi đã động viên và là chỗ dựa vững chắc về tinh thần và vật chất, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành chương trình cao học
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4 tháng 7 năm 2011
Vũ Đức Quang
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Quá điện áp khí quyển (phóng điện sét) là một hiện tượng thiên nhiên gây ra những thiệt hại rất lớn không những cho tính mạng mà còn cho các công trình của con người, đặc biệt là hệ thống điện (đường dây, nhà máy, trạm biến áp, ) Để bảo vệ chống sét đánh trực tiếp cho hệ thống điện và các công trình nói chung, những hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp đã được nghiên cứu và xây dựng Do vậy, việc khảo sát quá trình quá độ xảy ra trong hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp là một nhu cầu thực tiễn
Từ đó, luận văn với tên đề tài: “TÍNH TOÁN ĐÁP ỨNG QUÁ ĐỘ SÉT TRÊN HỆ THỐNG BẢO VỆ CHỐNG SÉT CỦA TRẠM BIẾN ÁP CAO ÁP” sẽ
tính toán khảo sát các giá trị đáp ứng quá độ sét trong thiết kế hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp của trạm biến áp cao áp
Nội dung luận văn gồm có các phần:
Chương 1: Giới thiệu vấn đề
Chương 2: Tìm hiểu phương pháp Runge – Kutta và một số ví dụ ứng dụng Chương 3: Lựa chọn phương pháp mô hình hóa và cách thức mô phỏng quá
trình quá độ sét trong hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp Chương 4: Trình bày các kết quả mô phỏng được đối với lưới chống sét đơn
giản và so sánh đánh giá kết quả khi tính toán mô phỏng với phần mềm EMTP Từ đó áp dụng mô phỏng lên lưới chống sét của 2 trạm biến áp cao áp thực tế là trạm 220kV Lạng Sơn và trạm 500kV Cầu Bông với dòng sét đánh vào các vị trí góc lưới, cạnh lưới và tâm lưới để đưa ra trường hợp nguy hiểm nhất
Chương 5: Trình bày kết quả quá độ sét khi đã có biện pháp hạn chế là thiết kế
thêm cọc nối đất đối với các trường hợp ở chương 4
Chương 6: Đánh giá kết quả luận văn và hướng phát triển
Trang 6MỤC LỤC
NỘI DUNG
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ 3
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂUU 6
Chương 1: TỔNG QUAN 7
1.1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 7
1.2 NHỮNG ĐIỂM CHÍNH CỦA LUẬN VĂN 8
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP RUNGE-KUTTA 9
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG 9
2.2 NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP RUNGE-KUTTA 11
2.3 16
PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẠCH ĐIỆN CƠ BẢN BẰNG PHƯƠNG PHÁP RUNGE-KUTTA 2.4 KẾT LUẬN 22
Chương 3: MÔ HÌNH MÔ PHỎNG 23
3.1 PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH HÓA HỆ THỐNG CHỐNG SÉT 23
3.2 26
TỔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG QUÁ ĐỘ TRONG HỆ THỐNG CHỐNG SÉT 3.3 CÁC GIẢ ĐỊNH SỬ DỤNG TRONG MÔ PHỎNG 28
3.4 MÔ HÌNH THÔNG SỐ HỆ THỐNG CHỐNG SÉT 28
3.5 GIẢI THUẬT 34
Chương 4: KẾT QUẢ MÔ PHỎNG 37
4.1 MÔ HÌNH LƯỚI CHỐNG SÉT ĐƠN GIẢN 1x1 37
4.2 46
MÔ HÌNH HỆ THỐNG CHỐNG SÉT CỦA TRẠM BIẾN ÁP 220KV LẠNG SƠN 4.3 55
MÔ HÌNH HỆ THỐNG CHỐNG SÉT CỦA TRẠM BIẾN ÁP 500KV CẦU BÔNG Chương 5: KHẢO SÁT KHI CÓ CỌC NỐI ĐẤT 63
5.1 63
KẾT QUẢ KHẢO SÁT MÔ HÌNH HỆ THỐNG CHỐNG SÉT CỦA TRẠM BIẾN ÁP 220KV LẠNG SƠN KHI CÓ CỌC NỐI ĐẤT 5.2 66 KẾT QUẢ KHẢO SÁT MÔ HÌNH HỆ THỐNG CHỐNG SÉT CỦA TRẠM
BIẾN ÁP 500KV CẦU BÔNG KHI CÓ CỌC NỐI ĐẤT
Trang 75.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 68
Chương 6: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 70
6.1 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 70
6.2 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Phương pháp Euler
Hình 2.2: Mạch cấp một RL
Hình 2.3: Kết quả quá độ trong mạch cấp một RL
Hình 2.4: Kết quả quá độ trong mạch cấp một RL khi nguồn cấp dạng xung vuông
Hình 2.5: Mạch cấp một RC
Hình 2.6: Kết quả phân tích mạch cấp một RC
Hình 2.7: Kết quả phân tích mạch cấp một RC khi nguồn áp có dạng xung vuông
Hình 2.8: Mạch cấp hai RLC
Hình 2.9: Kết quả phân tích mạch cấp hai RLC
Hình 2.10: Kết quả phân tích mạch cấp hai RLC với nguồn áp dạng xung vuông
Hình 3.1: Mô hình dạng hàm mũ của dòng sét
Hình 3.2: Mô hình dạng hàm mũ của điện áp sét
Hình 3.3: Mô hình đường dây truyền tải đồng nhất với các thông số rải R, L, G, C
Hình 4.1: Lưới chống sét đơn giản 1x1
Hình 4.2: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét là vị trí số 1 trên lưới chống
sét 1x1 mô phỏng bằng phương pháp Runge – Kutta
Hình 4.3: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét là vị trí số 1 trên lưới chống
Hình 4.8: Điện áp quá độ sét tại vị trí chân cột bị sét đánh là vị trí số 5 trên lưới nối đất
2x2 mô phỏng bằng phương pháp Runge – Kutta
Hình 4.9: Điện áp quá độ sét tại vị trí chân cột bị sét đánh là vị trí số 5 trên lưới nối đất
2x2 mô phỏng bằng phần mềm EMTP
Trang 9Hình 4.10: Điện áp quá độ sét tại các vị trí trên lưới nối đất 2x2 mô phỏng bằng phương
pháp Runge – Kutta
Hình 4.11: Điện áp quá độ sét tại các vị trí trên lưới nối đất 2x2 mô phỏng bằng phần
mềm EMTP
Hình 4.12: Lưới chống sét trạm biến áp 220kV Lạng Sơn
Hình 4.13: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét là vị trí số 1 trên lưới chống
sét của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn
Hình 4.14: Điện áp quá độ sét tại các vị trí 2, 6, 8, 15 trên lưới chống sét của trạm biến áp
220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào góc lưới
Hình 4.15: Dòng điện quá độ sét tại các vị trí trên dây dẫn sét 1-16, 2-18, 6-43, 8-47,
15-78 của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào góc lưới
Hình 4.16: Điện áp quá độ sét tại vị trí chân cột bị sét đánh là vị trí số 16 trên lưới nối đất
của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào góc lưới
Hình 4.17: Điện áp quá độ sét tại các vị trí 16, 18, 43, 47, 78 trên lưới nối đất của trạm
biến áp 220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào góc lưới
Hình 4.18: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét là vị trí số 3 trên lưới chống
sét của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn
Hình 4.19: Điện áp quá độ sét tại các vị trí 2, 1, 8, 15 trên lưới chống sét của trạm biến áp
220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào cạnh lưới
Hình 4.20: Dòng điện quá độ sét tại các vị trí trên dây dẫn sét 3-20, 2-18, 1-16, 8-47,
15-78 của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào cạnh lưới
Hình 4.21: Điện áp quá độ sét tại các vị trí 16, 18, 43, 47, 78 trên lưới nối đất của trạm
biến áp 220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào cạnh lưới
Hình 4.22: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét là vị trí số 8 trên lưới chống
sét của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn
Hình 4.23: Điện áp quá độ sét tại các vị trí 3, 2, 9, 15 trên lưới chống sét của trạm biến áp
220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào tâm lưới
Hình 4.24: Dòng điện quá độ sét tại các vị trí trên dây dẫn sét 8-47, 3-20, 2-18, 9-49,
15-78 của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào tâm lưới
Hình 4.25: Điện áp quá độ sét tại các vị trí 47, 20, 18, 49, 78 trên lưới nối đất của trạm
biến áp 220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào tâm lưới
Hình 4.26: Bản vẽ hệ thống chống sét đánh trực tiếp của trạm biến áp 500kV Cầu Bông
Hình 4.27: Lưới chống sét trạm biến áp 500kV Cầu Bông
Hình 4.28: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp 500kV Cầu
Bông khi sét đánh vào góc lưới
Hình 4.29: Dòng điện quá độ sét tại tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp
500kV Cầu Bông khi sét đánh vào góc lưới
Hình 4.30: Điện áp quá độ sét tại vị trí chân cột bị sét đánh trên lưới nối đất của trạm biến
áp 500kV Cầu Bông khi sét đánh vào góc lưới
Trang 10Hình 4.31: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp 500kV Cầu
Bông khi sét đánh vào cạnh lưới
Hình 4.32: Dòng điện quá độ sét tại tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp
500kV Cầu Bông khi sét đánh vào cạnh lưới
Hình 4.33: Điện áp quá độ sét tại vị trí chân cột bị sét đánh trên lưới nối đất của trạm biến
áp 500kV Cầu Bông khi sét đánh vào cạnh lưới
Hình 4.34: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp 500kV Cầu
Bông khi sét đánh vào tâm lưới
Hình 4.35: Dòng điện quá độ sét tại tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp
500kV Cầu Bông khi sét đánh vào tâm lưới
Hình 4.36: Điện áp quá độ sét tại vị trí chân cột bị sét đánh trên lưới nối đất của trạm biến
áp 500kV Cầu Bông khi sét đánh vào tâm lưới
Hình 5.1: Lưới chống sét trạm biến áp 220kV Lạng Sơn khi có cọc nối đất
Hình 5.2: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp 220kV Lạng
Sơn khi sét đánh vào góc lưới trường hợp có cọc nối đất
Hình 5.3: Dòng điện quá độ sét tại tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp 220kV
Lạng Sơn khi sét đánh vào góc lưới trường hợp có cọc nối đất
Hình 5.4: Điện áp quá độ sét tại vị trí chân cột bị sét đánh trên lưới nối đất của trạm
220kV Lạng Sơn khi sét đánh vào góc lưới trường hợp có cọc nối đất
Hình 5.5: Lưới chống sét trạm biến áp 500kV Cầu Bông khi có cọc nối đất
Hình 5.6: Điện áp quá độ sét tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp 500kV Cầu
Bông khi sét đánh vào góc lưới trường hợp có cọc nối đất
Hình 5.7: Dòng điện quá độ sét tại tại vị trí đầu vào của dòng sét của trạm biến áp 500kV
Cầu Bông khi sét đánh vào góc lưới trường hợp có cọc nối đất
Hình 5.8: Điện áp quá độ sét tại vị trí chân cột bị sét đánh trên lưới nối đất của trạm
500kV Cầu Bông khi sét đánh vào góc lưới trường hợp có cọc nối đất
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt so sánh giữa các mô hình nghiên cứu hệ thống chống sét
Bảng 4.1: Tổng hợp các kết quả so sánh giữa phương pháp Runge – Kutta và phần mềm
EMTP mô phỏng quá độ sét của lưới đơn giản 1x1
Bảng 4.2: Tổng hợp các kết quả mô phỏng hệ thống chống sét đánh trực tiếp vào các vị
trí góc, cạnh và tâm lưới chống sét của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn
Bảng 4.3: Tổng hợp các kết quả mô phỏng hệ thống chống sét đánh trực tiếp vào các vị
trí góc, cạnh và tâm lưới chống sét của trạm biến áp 500kV Cầu Bông
Bảng 5.1: So sánh kết quả mô phỏng hệ thống chống sét đánh trực tiếp vào vị trí góc lưới
chống sét của trạm biến áp 220kV Lạng Sơn trong trường hợp không có và có cọc nối đất
Bảng 5.2: So sánh kết quả mô phỏng hệ thống chống sét đánh trực tiếp vào vị trí góc lưới
chống sét của trạm biến áp 500kV Cầu Bông trong trường hợp không và có cọc nối đất
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Quá điện áp khí quyển (phóng điện sét) là một hiện tượng thiên nhiên mà từ xa
xưa con người đã cố gắng tìm hiểu và giải thích Với sự tiến bộ của khoa học, hiện
tượng quá điện áp khí quyển đã phần nào được làm sáng tỏ Tuy nhiên, cho đến
đầu thế kỷ XXI, hiện tượng trên vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi Hiện tượng
phóng điện sét gây ra những thiệt hại rất lớn không những cho tính mạng mà còn
cho các công trình của con người, đặc biệt là hệ thống điện (đường dây, nhà máy,
trạm biến áp, )
Tùy thuộc vào vị trí đổ bộ của dòng sét mà ta có hai trường hợp tác động lên hệ
thống điện Trường hợp thứ nhất xảy ra khi dòng sét đổ bộ xuống vị trí gần hệ
thống điện, khi đó tại vị trí đổ bộ sẽ xuất hiện sóng điện từ lan truyền về mọi phía
Sóng điện từ này đến hệ thống điện, gây ra quá điện áp cảm ứng lan truyền trong
hệ thống, có thể gây ra hư hỏng trên các thiết bị trong hệ thống Trường hợp thứ
hai xảy ra khi sét đánh trực tiếp lên hệ thống điện, toàn bộ năng lượng của sét
được đổ vào hệ thống sẽ gây nên quá điện áp nguy hiểm làm ngắn mạch, chạm đất
các pha, làm hư hỏng cách điện của các thiết bị, gây gián đoạn sự cung cấp điện,
làm thiệt hại lớn cho nền kinh tế quốc dân Đây là trường hợp nguy hiểm nhất
Để bảo vệ chống sét đánh trực tiếp cho hệ thống điện và các công trình nói chung,
những hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp đã được nghiên cứu và xây dựng
Về mặt cấu trúc cũng như chức năng, các hệ thống này được chia làm ba bộ phận
chính:
- Bộ phận thu sét: gồm các kim thu sét đặt thẳng đứng hoặc các dây chống sét
căng ngang với nhiệm vụ là thu hút dòng sét vào hệ thống bảo vệ, nhờ vậy
dòng sét không đổ bộ vào các bộ phận khác của hệ thống điện
- Bộ phận dẫn dòng sét: gồm các dây dẫn hay bản thân các kết cấu kim loại với
nhiệm vụ là dẫn dòng sét từ bộ phận thu xuống bộ phận nối đất
- Bộ phận nối đất: là hệ thống gồm những thanh, cọc và lưới kim loại được chôn
trong đất với nhiệm vụ là tản nhanh dòng sét vào đất, giữ cho điện thế của các
phần tử được nối đất không quá cao để hạn chế phóng điện ngược từ các phần
tử
Khi hệ thống này không được thiết kế đúng kỹ thuật, tác hại gây ra cho hệ thống
điện còn nghiêm trọng hơn trường hợp không có hệ thống bảo vệ chống sét đánh
trực tiếp
Trang 13Do vậy, việc khảo sát quá trình quá độ xảy ra trong hệ thống bảo vệ chống sét
đánh trực tiếp là một nhu cầu thực tiễn Một khi chúng ta khảo sát được quá trình
này, dự đoán được các giá trị quá điện áp và các giá trị dòng điện tại các vị trí trên
hệ thống, chúng ta sẽ giải được bài toán kinh điển trong thiết kế là vừa đảm bảo
được điều kiện an toàn, lại vừa đạt được độ tối ưu về kinh tế
Mặt khác, trong hệ thống điện, yêu cầu đối với việc bảo vệ chống sét cho trạm cao
hơn nhiều so với đường dây Phóng điện ở cách điện trong trạm trong nhiều
trường hợp dẫn đến sự cố trầm trọng trong hệ thống, nó có thể phá hủy nhiều thiết
bị đắt tiền, gây ngắn mạch trên thanh góp ngay cả khi có hệ thống rơle bảo vệ hiện
đại
Từ đó, luận văn hướng đến tính toán các giá trị đáp ứng quá độ sét trong thiết kế
hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp của trạm biến áp cao áp
1.2 NHỮNG ĐIỂM CHÍNH CỦA LUẬN VĂN
Mô hình đường dây truyền tải đồng nhất được sử dụng để mô phỏng mạch điện
thay thế cho các đường dây chống sét, dây dẫn dòng sét và dây nối đất trong
nghiên cứu đáp ứng quá độ của hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp
Phương pháp Runge-Kutta được sử dụng để giải phương trình truyền sóng cho mô
phỏng đáp ứng quá độ của hệ thống chống sét
Mô hình mô phỏng có dạng phức tạp tiêu biểu như các hệ thống bảo vệ chống sét
đánh trực tiếp của trạm biến áp cao áp thực tế như trạm biến áp 220kV Lạng Sơn,
trạm biến áp 500kV Cầu Bông
Khảo sát được ảnh hưởng của vị trí dòng sét đánh trên lưới chống sét đối với các
giá trị quá độ để đưa ra trường hợp nguy hiểm nhất và khảo sát lại kết quả quá độ
sét khi đã có biện pháp hạn chế là thiết kế thêm cọc nối đất
Trang 14
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP RUNGE-KUTTA
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG
2.1.1 Phương trình vi phân
Phương trình vi phân là một phương trình toán học nhằm biễu diễn mối quan hệ
giữa một hàm chưa được biết (một hoặc nhiều biến) với đạo hàm của nó (có bậc
khác nhau) Hàm chưa biết trong phương trình vi phân gọi là ẩn hàm Mục tiêu
của phương trình vi phân là tìm ra công thức của ẩn hàm, nhưng thông thường kết
quả là một họ các hàm sai khác nhau một hằng số C Hằng số này sẽ được xác
định nếu có điều kiện ban đầu (initial value problem – IVP) hoặc điều kiện biên
(boundary value problem – BVP) kèm theo
Có các loại phương trình vi phân sau:
- Phương trình vi phân thường (Ordinary differential equation – ODE): là
phương trình vi phân mà ẩn hàm là hàm một biến (độc lập) Lưu ý là ẩn hàm
cũng có thể là hàm cho kết quả là vector, ma trận… chứ không nhất thiết phải
là hàm có giá trị thực hay phức
- Phương trình vi phân riêng phần (Partial differential equation – PDE): là
phương trình vi phân mà ẩn hàm là hàm nhiều biến độc lập, và trong phương
trình vi phân chứa các đạo hàm riêng của nó
- Phương trình vi phân có trễ (Delay differential equation – DDE): phương trình
vi phân mà ẩn hàm là hàm một biến, thường là thời gian Đạo hàm của các ẩn
hàm tại thời điểm nào đó được xác định dựa trên các thời điểm trước đó
- Phương trình vi phân ngẫu nhiên (Stochastic differential equation – SDE): là
phương trình vi phân trong đó một hoặc vài số hạng là quá trình ngẫu nhiên, vì
thế dẫn đến hàm nghiệm cũng là một quá trình ngẫu nhiên
- Phương trình vi phân đại số (Differential algebraic equation – DAE): là
phương trình vi phân trong đó có chứa các số hạng là đại số và sai phân
Mỗi loại này còn chia ra thành 2 loại là tuyến tính và phi tuyến Phương trình vi
phân tuyến tính là các phương trình vi phân mà ẩn hàm và các đạo hàm của nó đều
có lũy thừa 1, nếu có lũy thừa bậc cao hơn thì gọi là phương trình vi phân phi
tuyến
2.1.2 Phương trình vi phân thường (Ordinary differential equation – ODE)
Dạng tổng quát của phương trình vi phân bậc nhất:
Trang 15y’ = f(x,y) (2.1) Trong đó y = y(x); a ≤ x ≤ b
Điều kiện đầu: y(x 0 ) = y 0
Dạng tổng quát của hệ phương trình vi phân bậc nhất:
⎪
⎪
⎩
⎪
⎪
⎨
⎧
=
=
=
)
, ,
, , ( '
) , ,
, , ( ' ) , , , , ( '
2 1
2 1 2 2
2 1 1 1
n n
n
n n
y y y x f y
y y y x f y
y y y x f y
Trong đó y i = y i (x) với i=1:n; a ≤ x ≤ b Điều kiện đầu: y i (x 0 ) = y i0 với i=1:n
Dạng tổng quát của phương trình vi phân bậc n:
F(x,y,y’,y”,…,y n ) = 0 (2.3)
Trong đó y = y(x); a ≤ x ≤ b Điều kiện đầu: y(x 0 ) = y 0 , y’(x 0 ) = y’ 0 ,… , y n-1 (x 0 ) = y n-1 0
Điều kiện đầu để giải được nghiệm chính xác của phương trình vi phân Đây được
gọi là bài toán Cauchy ( bài toán đầu)
2.1.3 Phương pháp số
Một số ODE dạng đặc biệt có thể giải được với kết quả chính xác, tuy nhiên không
phải ODE nào cũng giải được như vậy Có những ứng dụng mà ngay cả giá trị
thực cũng khó tìm ra, lúc này người ta lại quan tâm đến giá trị xấp xỉ (có một độ
chính xác nhất định) với giá trị thực Việc giải các giá trị này thường được thực
hiện bằng các phương pháp số (numerical methods) và công cụ là máy tính
Nội dung của phương pháp số là lập một lưới sai phân x 0 , x 1 , , x n và tìm giá trị yi
của nghiệm bài toán trên tại các nút x i đó Có nhiều phương pháp số khác nhau để
giải phương trình vi phân, nhưng do khuôn khổ thời gian ta chỉ xét một vài
phương pháp như phương pháp một bước giải bài toán Cauchy, phương pháp
nhiều bước giải bài toán Cauchy, phương pháp sai phân giải bài toán biên
Một trong các phương pháp một bước đó là thuật toán Runge-Kutta
Trang 162.2 NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP RUNGE-KUTTA
2.2.1 Phương pháp Euler:
Để giải phương trình y'= f(x,y)với y(x 0 ) đã cho, ta dựa vào tích phân:
dx x y y
i
i
x x
Về mặt hình học, điều đó có nghĩa là thay đường cong tích phân y=φ(x) gần đúng
bởi đường gấp khúc (gọi là đường gãy Euler) nối
Hình 2.1: Phương pháp Euler
ia
lên vô hạn (h→0), thì đường gãy Euler hội tụ về đường cong tích phân y = φ(x)
không những kể đến ảnh hưởng của y và y’ tại điểm x i mà còn kể đến ảnh hưởng
Phương pháp này đơn giản, độ chính xác không cao; nhưng nếu tăng số đoạn ch
Phương pháp Rung
Giải phương trình y'= f(x,y), với y(x 0 ) đã cho, bằng phương pháp Euler là tính
giá trị y i+1 ở điểm cuối của bước chỉ dựa hoàn toàn vào các giá trị y i và y’(x i ) ≈
f(x i , y i ), tại một điểm, đó là điểm x i, điểm đầu của bước, vì vậy sai số là đáng kể
Không đơn giản hóa như vậy, phương pháp Runge-Kutta là phương pháp một
bước tổng quát có cấp độ chính xác cao hơn, nguyên do là ở chỗ: để tính y i+1
Trang 17của y và y’ tại m-1 điểm x khác thuộc vào đoạn [x i , x i+1 ] – nên còn gọi là phương
pháp một bước m điểm
Có y 0 tính y 1 theo công thức sau:
y 1 = y 0 + Δy 0 = y 0 + (α 1 δ 1 + α 2 δ 2 + + α m δ m ),
(2.6) trong đó
g (0) = g’ (0) = = g (s) = 0 và g m (s+1) (0) ≠ 0
với s càng lớ ốt, do đó sai số sẽ là
Tuy nhiên giá trị s phụ thuộc m:
y 1 = y 0 +h.f(x 0 , y 0 ), đó chính là công thức nhận được bởi
Trang 18Cho β 2 các giá trị khác nhau, ta có nhiều công thức tính y i với cùng cấp chính
xác s=2 Hai công thức đưới đây thường được gọi là công thức của phương
pháp Euler cải biên:
*) β 2 =1/2 → y 1 = y 0 + δ 2 trong đó δ 1 = h.f(x 0 , y 0 ); δ 2 = h.f(x 0 + h/2, y 0 + δ 1 /2); (2.13)
- Với m=3, thì s=3 và các hằng số α k , β k , γ ki được xác định bởi hệ sáu phương
Trang 19- Với m=4 và m=5 thì s=4, với m=6 thì s=5 nhưng công thức đã phức tạp
nhiều Vì vậy, người ta hay dùng phương pháp Runge-Kutta 3,4 điểm Với
Phương pháp trên gọi là phương pháp một bước vì tính xong y 1 , muốn tính y 2 ta
chỉ cần căn cứ vào y 1 và có thể chọn bước h khác đi cũng như chọn số điểm m
hoặc công thức tính khác so với khi tính y 1 Phương pháp Euler (kể cả đã cải biên)
chỉ là trường hợp riêng của phương pháp Runge-Kutta các phương pháp này còn
được áp dụng để giải hệ phương trình cấp 1 Do đó có thể giải phương trình vi
phân cấp cao
2.2.3 Công thức Runge – Kutta bậc bốn giải hệ phương trình vi phân:
Nhắc lại (2.2), Hệ phương trình vi phân tổng quát có dạng:
m m
m
m m
a u a
u a
u x b a
u u u x f u
u u u x f u
u u u x f u
αα
α , ( ) , , ( ) )
(
) , , , , (
) , , , , (
) , , , , (
2 2
1 1
2 1 '
2 1 2
' 2
2 1 1
' 1
Giả thiết bài toán có duy nhất nghiệm, sử dụng phương pháp Euler và phương
pháp Runge – Kutta bậc bốn để giải hệ phương trình vi phân (2.20):
Chia đều đoạn [a,b] thành n > 0 đoạn chia bằng nhau giới hạn bởi x 0 = a, x n = b
Ta có một vector x chứa tọa độ x i của các nút lưới như sau x j = x 0 + (j-1).h, với j
của hàm số u(x) tại các nút, thỏa: u ij
Tương tự như trên, nhà toán học Euler đưa ra công thức giải xấp xỉ nghiệm của hệ
phương trình như sau:
Trang 20u i j j ij i j j j mj
, ,2,
1,2, ,1
), ,,,()
+ +
=
+ +
+ +
=
+ +
+ +
=
+ +
+ +
K u u
K u K
u K u h x hf K
K u
K u
K u
h x hf K
K u
K u
K u
h x hf K
u u u x hf K
i i i
i ij j
m mj
j j
j i i
m mj
j j
j i i
m mj
j j
j i i
mj j j j i i
, , 2 ,
11,2, ,
6
2 2
) , ,
, ,
(
) 2
, , 2
, 2
, 2 (
) 2
, , 2
, 2
, 2 (
) , , , , (
, 4 , 3 ,
2 ,
1 1
,
, 3 2
, 3 2 1 , 3 1 ,
3
, 2 2
, 2 2 1 , 2 1 ,
3
, 1 2
, 1 2 1 , 1 1 ,
2
2 1 ,
Dùng công thức một bước bốn điểm cho ở trên, ta có:
Trang 21Xét mạch điện như hình vẽ, trước thời điểm t = 0, mạch đang hở, khóa k đóng tại
thời điểm t = 0, phân tích chế độ quá độ của mạch
Hình 2.2: Mạch cấp một RL
Theo định luật Kirchhoff 2 và định luật Ohm, ta có phương trình vi phân mô tả
điện áp mạch như sau:
0 ) 0 ( =
Biến đổi (2.23) về dạng sau:
0 ) 0 (
i L
R dt di
(2.24)
Trang 22Phương pháp Runge – Kutta viết bằng ngôn ngữ Matlap cho kết quả phân tích quá
độ dòng điện trong mạch với:
Hình 2.3: Kết quả quá độ trong mạch cấp một RL
Nghiệm giải tích của mạch điện này là:
/0.03 /0.03 /0.03
( ) 2(1 ), ( ) 10(1 ), ( ) 10 ,
t L
t R
t L
k t k V
4.02
.04.00
)2.04.04
.010
Trang 23Hình 2.4: Kết quả quá độ trong mạch cấp một RL khi nguồn cấp dạng xung vuông
Nghiệm giải tích của phương trình này là:
/0.03 /0.03
t L
t L
Xét mạch điện như hình vẽ, trước thời điêm t = 0, mạch đang hở, khóa k đóng tại
thời điểm t = 0, phân tích chế độ quá độ của mạch
Hình 2.5: Mạch cấp một RC
Theo định luật Kirchhoff 2 và định luật Ohm, ta có phương trình vi phân mô tả
điện áp mạch như sau:
Trang 24(
0),()()(
c c c
u
i dt
t du C t i
t t u t Ri t E
) (
1 ) ( 1 ) ( )
(
0 ),
(
1 ) ( 1 )
(
c
c c
c c
u i
t E R t u R dt
t du C t i
t t E RC t u RC dt
t du
(2.26)
Phương pháp Runge – Kutta viết bằng ngôn ngữ Matlap cho kết quả phân tích quá
độ dòng điện trong mạch với:
≤
≤+
k
k t k V
4.04.02
.04.00
)2.04.04
.05
Trang 25Hình 2.7: Kết quả phân tích mạch cấp một RC khi nguồn áp có dạng xung vuông
Nghiệm giải tích của mạch này là:
20000 20000
t c
t c
Xét mạch điện như hình vẽ, trước thời điêm t = 0, mạch đang hở, khóa k đóng tại
thời điểm t = 0, phân tích chế độ quá độ của mạch
Hình 2.8: Mạch cấp hai RLC
Hệ phương trình vi phân mô tả điện áp mạch như sau:
Trang 260 ) 0 ( 0 ) 0 (
) ( )
(
0 ),
( ) ( )
( ) (
c c
c
u i
dt
t du C t i
t t u dt
t di L t Ri t E
) ( 1 ) (
0 ), (
1 ) (
1 ) ( )
(
c c
c
u i
t i C dt
t du
t t E L t u L t i L
R dt
t di
0,
c
u i
t B AX dt dX
)()
(,
01
1
L
t E B t
u t
i X C
L L
R A
c
Phương pháp Runge – Kutta viết bằng ngôn ngữ Matlap cho kết quả phân tích quá
độ dòng điện và điện áp trong mạch với:
+ R = 2Ω, E = 1V, C = 0.1F, L=1H:
Hình 2.9: Kết quả phân tích mạch cấp hai RLC
Trang 27Nghiệm giải tích của mạch này là:
e t
u
A t
e t
e t
i
t C
t t
L
),43.183cos(
100
1051)(
),43.183sin(
200
63)43.183cos(
200
21)(
0
0 0
Với những ưu điểm vừa được trình bày ở các phần trên, luận văn quyết định sử
dụng phương pháp Runge – Kutta trong mô hình đường dây truyền tải để mô
phỏng đáp ứng quá độ của hệ thống chống sét đánh trực tiếp của trạm biến áp cao
cáp
Trang 28Chương 3: MÔ HÌNH MÔ PHỎNG 3.1 PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH HÓA HỆ THỐNG CHỐNG SÉT
Đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, công nghệ thông tin đã có những bước đột phá
mạnh mẽ Hầu hết các lĩnh vực khoa học đều hưởng lợi từ thành tựu này, các bài
toán thực tế phức tạp đều có thể được giải quyết bằng các phương pháp số với sự
trợ giúp của máy vi tính Việc mô phỏng đáp ứng quá độ của hệ thống chống sét
đánh trực tiếp phức tạp bấy giờ trở nên khả thi trên cơ sở những mô hình được xây
dựng trước đó
Với những thuận lợi như vậy, nhiều mô hình dựa trên phương pháp số đã ra đời
Các mô hình này có thể được chia làm 4 nhóm chính:
- Mô hình dựa trên cơ sở giải tích mạch điện
- Mô hình dựa trên cơ sở trường điện từ (sử dụng phương pháp moment và mô
hình phần tử hữu hạn)
- Mô hình kết hợp
- Mô hình đường dây truyền tải
3.1.1 Mô hình dựa trên cơ sở giải tích mạch điện
Đây là mô hình được sử dụng phổ biến để xây dựng mô hình đáp ứng quá độ của
hệ thống chống sét đánh trực tiếp có hình dạng phức tạp Mô hình này được thực
hiện thông qua 3 bước chính:
- Bước 1: Chia hệ thống phức tạp thành những phân đoạn nhỏ
- Bước 2: Đặc trưng cho mỗi phân đoạn là một mạch điện tương đương với các
thông số rải và tính toán các thống số rải này ( Δ r, Δ L, Δ G, Δ C)
- Bước 3: Áp dụng định luật Kirchoff 1 và 2 để giải mạch điện tương đương vừa
thu được
Đại biểu nổi bật trong mô hình này là Meliopolous Ông là người đầu tiên đưa ra
mô hình này trong phân tích quá độ của hệ thống nối đất chống sét (năm 1983)
Ông đã sử dụng các thông số rải phụ thuộc vào tần số và tính toán các thông số
này bằng cách giải phương trình Laplace (∇ V2 =0) Trong mô hình này,
Meli-opolous đã thay thế mỗi phân đoạn của thanh dẫn bằng một đường dây truyền tải
không tổn hao gắn với điện dẫn rò ở hai đầu Mô hình của ông cho kết quả rất tốt
khi sử dụng trên một chương trình tính toán quá độ được sử dụng phổ biến hiện
Trang 29nay là EMTP (Electromagnetic Transient Analysis Program) EMTP có thể mô
phỏng đáp ứng quá độ của một hệ thống chống sét đánh trực tiếp lớn phức tạp của
một trạm biến áp Sau này, ông đã cải tiến mô hình của mình bằng việc giải hệ
phương trình Maxwell trên trường điện tĩnh Kết quả là thông số mạch điện tương
đương trong mô hình và các giá trị dòng điện là các giá trị phụ thuộc vào tần số
Kế đến, năm 1989, Ramamoorty và các cộng sự của ông đã phát triển mô hình đơn
giản hóa trên cơ sở giải tích mạch điện cho một lưới nối đất và mô hình của họ đã
cho kết quả khá chính xác (đặc biệt trong trường hợp đất có điện trở suất nhỏ)
Tóm lại, mô hình dựa trên cơ sở giải tích mạch dễ hiểu khi chuyển từ phân tích
quá độ một hệ thống chống sét đánh trực tiếp phức tạp sang phân tích quá độ một
mạch điện tương đương Điểm hạn chế của mô hình này là chưa dự báo được hiện
tượng trễ do lan truyền trên hệ thống
3.1.2 Mô hình dựa trên cơ sở trường điện từ
Đây là mô hình cho độ chính xác cao vì nó dựa trên hệ phương trình Maxwell với
việc sử dụng tối thiểu các xấp xỉ Mô hình này có thể được áp dụng dựa trên
phương pháp moment và phương pháp phần tử hữu hạn
Grcev là người đầu tiên sử dụng mô hình này dựa trên phương pháp moment
Theo đó, từ hệ phương trình Maxwell dạng tích phân, ông chuyển sang một hệ
phương trình đại số tuyến tính với các ẩn số là dòng chạy trên các phân đoạn Hệ
phương trình tuyến tính trên có thể giải được trên miền tần số Và như vậy, nếu
xác định định được giá trị dòng điện chạy trên các phân đoạn, ta có thể dễ dàng
xác định được điện trường phân bố dọc chống sét đánh trực tiếp và dòng rò từ
chống sét đánh trực tiếp qua hệ thống nối đất đến khu vực đất xung quanh Mô
hình này cho kết quả với độ chính xác cao (tần số dòng vào càng cao thì kết quả
thu được càng chính xác) Nhược điểm của mô hình này là khá phức tạp, đòi hỏi
khối lượng tính toán lớn
Để khắc phục những nhược điểm trên, một mô hình khác dựa trên cơ sở trường
điện từ được Nekhoul và các đồng sự đề xướng Mô hình này được thực hiện với
sự hỗ trợ của phương pháp phần tử hữu hạn để giải hệ phương trình năng lượng
điện hay từ trường có liên quan đến hệ phương trình Maxwell dạng vi phân từng
phần Để giải các hệ phương trình vi phân đầu tiên ta phải chia miền khảo sát
thành những miền nhỏ, từ đó ta sẽ xây dựng được một hệ phương trình tuyến tính
và giải hệ phương trình này
Ưu điểm của mô hình này là có tính linh hoạt cao, có thể áp dụng trên các chống
sét đánh trực tiếp có hình dạng phức tạp Nhược điểm của mô hình này là khó hiểu
Trang 303.1.3 Mô hình kết hợp
Đúng như tên gọi, đây là mô hình kết hợp cả hai mô hình vừa nêu trên Mô hình
này được khởi xướng bởi Dawalibi vào năm 1986, sau đó được cải tiến bởi
An-dolfato và các đồng sự Theo đó, hệ thống chống sét đánh trực tiếp được chia làm
nhiều phân đoạn nhỏ Giá trị dòng trên mỗi phân đoạn được tính dựa trên nguyên
lý giải tích mạch, trong khi các thông số của mạch điện tương đương của mỗi phân
đoạn (R, L, G, C) được ước lượng dựa trên nguyên tắc của lý thuyết trường
Điểm xuất sắc của mô hình này là sử dụng các thông số mạch điện phụ thuộc vào
tần số, nên kết quả thu được có độ chính xác cao hơn mô hình thông thường dựa
trên giải tích mạch điện và giảm được độ phức tạp trong mô hình dựa trên lý
thuyết trường
3.1.4 Mô hình đường dây truyền tải
Đây là mô hình được sử dụng đầu tiên trong việc mô phỏng đáp ứng quá độ của hệ
thống nối đất chống sét Tuy nhiên, mô hình này được phát triển chậm hơn so với
hai mô hình vừa nêu ở trên
Đầu tiên, khái niệm đường dây truyền tải có tổn hao áp dụng cho một dây dẫn dẫn
dài bởi Verma và các đồng sự, Mazzetti và các đồng sự, Velazquez và các đồng sự
trên cơ sở hệ phương trình truyền sóng:
Hệ phương trình trên được giải trên miền s, sau đó các kết quả được chuyển về
miền thời gian dựa trên phép biến đổi Laplace ngược
Sau này, Lorentzou và các đồng sự cũng đã bắt đầu từ hệ phương trình trên, nhưng
giải trực tiếp giá trị dòng và áp phân bố dọc theo dây dẫn trên miền thời gian
Điểm chung của các mô hình này là các thông số trên đơn vị dài (R, L, G và C) là
các giá trị đồng nhất trên chiều dài của dây dẫn
Kế đến, Menter và Grcev đã sử dựng mô hình đường dây truyền tải có tổn hao với
các phương trình phụ thuộc vào tần số của Sunde Trong đó, các thông số trên đơn
vị dài thay đổi theo tần số và có thể tính với các công thức của Sunde bằng
phương pháp số
Ưu điểm của mô hình đường dây truyền tải là nó có thể giải quyết bài toán cả trên
miền thời gian và miền tần số với lượng tính toán không nhiều như mô hình dựa
trên lý thuyết trường Mặt khác, mô hình này còn dự đoán được độ trễ do lan
Trang 31truyền trên hệ thống nối đất chống sét (đặc biệt trên hệ thống nối đất chống sét
lớn)
3.1.5 Bảng tóm tắt giữa các mô hình
Mô hình
Độ phức tạp Các biểu
thức toán học
Sự trừu tượng
Tiến trình giải quyết Khối lượng tính toán
Độ chính xác
Rất lớn, đòi hỏi máy tính mạnh với thời gian tính toán lâu
Được tin là có
độ chính xác cao nhất
Mô hình
dựa trên
cơ sở giải
tích mạch
Đơn giản hiểu Dễ
Đơn giản, không
dự đoán được hiện tượng trể do lan truyền
Vừa phải, thời gian tính toán nhỏ
Vừa phải
Mô hình
kết hợp Phức tạp
Hơi khó hiểu
Hơi phức tạp, dự đoán được hiện tượng trể do lan truyền nhưng không rỏ ràng
Vừa phải, thời gian tính toán nhỏ
Vừa phải
Rất dễ hiểu
Rất đơn giản, dự đoán được hiện tượng trể do lan truyền
Vừa phải, thời gian tính toán nhỏ
Vừa phải
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt so sánh giữa các mô hình nghiên cứu hệ thống chống sét
3.1.6 Lựa chọn mô hình tính toán
Từ những phân tích trên, tôi quyết định lựa chọn mô hình đường dây truyền tải để
tính toán đáp ứng quá độ của hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp bằng
phương pháp số Runge-Kutta cho luận văn này
Việc áp dụng phương pháp này trên mô hình đường dây truyền tải sẽ cho kết quả
đáng tin cậy
3.2 TỔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG QUÁ ĐỘ TRONG HỆ THỐNG CHỐNG
SÉT
Về mặt tổng quan, hiện tượng quá độ do sét gây ra trên hệ thống chống sét là quá
trình chuyển đổi từ trạng thái xác lập thứ nhất (trước khi có dòng sét vào hệ thống
chống sét) đến trạng thái xác lập thứ hai (dòng sét được tản hết vào hệ thống nối
Trang 32đất) thông qua tương tác năng lượng điện trường và năng lượng từ trường phát
sinh trong hệ thống chống sét
Trong quá trình này, hệ thống chống sét trên không có thể được xem như một
đường dây truyền tải, được đặc trưng bởi các thành phần điện trở, điện cảm và
điện dung (R, L, C) rải đều dọc theo chiều dài Còn hệ thống nối đất có thể được
xem như một dây truyền tải có tổn hao, được đặc trưng bởi các thành phần điện
cảm, điện trở, điện dẫn tản cà điện dung (R, L, G và C) rải đều dọc theo chiều dài
của nó Như vậy, về cơ bản, quá trình quá độ trên hệ thống chống sét có thể được
xem như là quá trình quá độ xảy ra khi đóng dóng điện có dạng đặc trưng (dòng
sét) vào một mạch điện với các thông số phân bố đều như trên
Căn cứ vào phân tích trên, chúng ta có thể liệt kê các nhân tố có tác động đến đáp
ứng quá độ khi tản dòng sét của hệ thống chống sét như sau:
- Cấu trúc hình học của bản thân hệ thống chống sét;
- Vật liệu chống sét, vật liệu nối đất và bản chất điện môi của đất đặc trưng bởi
hai giá trị điện trở suất và độ thẩm điện của đất;
- Thông số của dòng sét tản vào hệ thống chống sét
Đầu tiên, chúng ta phải xét đến cấu trúc của hệ thống nối đất chống sét Nhân tố
này quyết định đến điện trở tản của hệ thống nối đất chống sét và đường phân tán
của dòng sét trong hệ thống Mặt khác, trên bản thân các thanh dẫn luôn tồn tại
thành phần điện cảm dọc theo chiều dài dây dẫn, thành phần này có tác động ngăn
cản sự biến thiên của dòng chạy qua dây, qua đó làm cản trở đáng kể khả năng tản
dòng sét vào đất của hệ thống nối đất
Kế đến, chúng ta khảo sát đến ảnh hưởng của vật liệu kim loại làm lưới chống sét,
dây dẫn sét và dây nối đất, khi hệ thống được thiết kế với các vật liệu có khà năng
dẫn dòng tốt thì dòng sét tản vào đất sẽ nhanh chóng hơn, các giá trị quá độ sẽ
giảm nhỏ Ngoài ra cũng phải xét đến đất tại khu vực trạm, nhân tố được xem như
là một môi trường đồng nhất, đặc trưng bởi hai giá trị điện trở suất và độ thẩm
điện Hai giá trị này có ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần điện dẫn tản và điện
dung dọc theo chiều dài của các thanh dẫn trong hệ thống nối đất, qua đó tác động
đáng kể khả năng tản dòng của hệ thống nối đất Chúng phụ thuộc vào thành phần
cấu tạo của đất, đặc biệt chịu sự chi phối rất lớn của điều kiện môi trường xung
quanh và thời tiết Mặt khác, hai giá trị này lại phụ thuộc vào tần số của dòng tản
vào đất, chúng có khuynh hướng giảm đáng kể khi tần số dòng tản vào đất cao
Như vậy, khi tản dòng sét bản chất điện môi của đất sẽ giảm khi so sánh với
trường hợp tản dòng điện tần số công nghiệp, hay nói cách khác là đất sẽ tản dòng
sét tốt hơn khi tản dòng sự cố
Trang 33Bên cạnh hai nhân tố vừa nêu trên, dòng sét vào, đặc trưng bởi hai giá trị là biên
độ và thời gian đầu sóng, cũng đóng một vai trò rất quan trọng đối với đáp ứng
quá độ trên hệ thống nối đất chống sét
Tóm lại, trong quá trình tản dòng sét, ba nhân tố vừa nêu trên có tác động đan xen
nhau đối với đáp ứng quá độ của hệ thống nối đất chống sét Chính vì vậy, để khảo
sát hiện tượng quá độ torng hệ thống nối đất, chúng ta không thể tách riêng ảnh
hưởng của từng nhân tố này, mà phải xem xét chúng trên một mối quan hệ tổng
thể Yêu cầu này làm cho việc nghiên cứu quá độ trong hệ thống nối đất trở nên rất
phức tạp, đòi hỏi phải có một mô hình toán học thích hợp phản ánh đúng bản chất
của hiện tượng này
3.3 CÁC GIẢ ĐỊNH SỬ DỤNG TRONG MÔ PHỎNG
- Bỏ qua tổn hao dòng rò trên cách điện dây chống sét
- Bỏ qua tổn hao vầng quang trên dây chống sét
- Đất được xem là một môi trường đồng nhất và tuyến tính đặc trưng bởi các hệ
số điện trở suất ρ s , độ thẩm điện tương đối ε và độ thẩm từ tương đối µ r
- Hiện tương ion hóa đất dọc theo chiều dài điện cực được bỏ qua
- Hiệu ứng bề mặt không được xem xét đến
- Ảnh hưởng tương hỗ giữa các kết cấu kim loại trên mặt đất với hệ thống nối
đất bên dưới được bỏ qua
3.4 MÔ HÌNH THÔNG SỐ HỆ THỐNG CHỐNG SÉT
3.4.1 Mô hình toán học của điện áp và dòng điện sét:
Từ những đặc điểm của phóng điện sét đã được nêu ở phần trên, người ta đã đưa
ra mô hình dòng điện sét như sau:
Trang 34Hình 3.1: Mô hình dạng hàm mũ của dòng sét
Trong mô hình trên:
- I max : Trị đỉnh của dòng sét (kA)
- T đs : Thời gian đầu sóng, tính từ khi dòng sét xuất hiện đến khi nó đạt
0
t t
=
s
Trong mô phỏng sóng điện áp lan truyền trên hệ thống nối đất ở phần sau, phương
trình dòng sét dạng (3.2) sẽ được sử dụng trong tính toán
Tương tự như đối với dòng điện sét, mô hình điện áp sét cũng được mô tả bằng
biểu thức toán học như sau:
)(
)(t U0 e t e t
β = Trong đó τ1, τ2 là hằng số có thứ nguyên của thời gian (μs)
Dạng đồ thị được vẽ như trong hình 3.2
Trang 35Hình 3.2: Mô hình dạng hàm mũ của điện áp sét
Trong mô hình điện áp:
- U max : Trị đỉnh của điện áp sét (kV)
- T đs : Thời gian đầu sóng, tính từ khi dòng sét xuất hiện đến khi nó đạt
giá trị đỉnh (μs)
- T s : Thời gian toàn sóng, được tính từ khi dòng sét xuất hiện đến khi nó
đạt một nửa giá trị đỉnh (μs)
3.4.2 Mô hình đường dây truyền tải đồng nhất:
Để không mất tính tổng quát, ta bắt đầu khảo sát trên một dây dẫn, được mô tả
như một đường dây truyền tải có tổn hao
Hình 3.3: Mô hình đường dây truyền tải đồng nhất với các thông số rải R, L, G, C
Hệ phương trình vi phân mô tả quá trình lan truyền của điện áp và dòng trên dây
dẫn theo thời gian có dạng như sau:
t x i
t
t x i L t x Ri x
t x v
),()
,()
,(
),()
,(),(
Trang 36Trong hệ (3.6), các thông số R, L, G và C lần lượt là điện trở, điện cảm, điện dẫn
và điện dung trên đơn vị dài bản thân dây dẫn
Các thông số này là các hằng số, được tính như sau:
a) Dây chống sét và dây dẫn dòng sét:
)/(
π
ρ
)/(10
2ln
r
h L
dcs
dcs dcs
−
)/(2ln10.9.2
19
r h C
dcs dcs
)
1(00
h dcs là độ cao trung bình dây chống sét so với mặt đất (m);
r dcs là bán kính của dây chống sét và dây dẫn dòng sét (m);
ρ dcs là điện trở suất của dây chống sét và dây dẫn dòng sét (Ω.m)
b) Dây nối đất:
)/(
1
2(ln2
0
r
l L
2(ln)
1
2(ln
2
d
l r
l
C
nđ a
s
a s nđ
nđ
s nđ
−+
−+
−
=
εε
ε
)
1()]
12
2(ln)
1
2[(ln
20
m d
l r
l
G
nđ a
s
a s nđ
nđ s
+
−+
−
=
σσ
σσρ
π
Trong các công thức từ (3.11) đến (3.14):
Trang 37l nđ là là chiều dài dây nối đất (m);
r nđ là bán kính của dây nối đất (m);
d là độ chôn sâu của dây nối đất (m);
ρ nđ là điện trở suất của dây nối đất (Ω.m);
µ 0 = 4π.10 -7 là độ thẩm từ của không khí (chân không) (H/m);
ρ s là điện trở suất của đất (Ω.m);
σ s là điện dẫn của đất (1/Ωm);
σ a là điện dẫn của không khí (1/Ωm);
ε s = ε r ε 0 là độ thẩm điện của đất (F/m);
ε a = 1/(4π.9.10 9 ) là độ thẩm điện của không khí (chân không) (F/m)
3.4.3 Mô hình các mối ghép nối:
Đối với giá trị điện áp ở hai đầu mút của dây, chúng ta có thể căn cứ vào sơ đồ
mạch tương đương để tính các giá trị này theo định luật KirchoffI Căn cứ vào
cách ghép nối giữa các dây dẫn, chúng ta có thể chia thành 4 dạng sau:
a) Dạng hình L
Hình 3.4: Mối ghép dạng L
b) dạng hình T
Trang 393.5 GIẢI THUẬT
Mô tả mô hình hệ thống chống sét đánh trực tiếp:
- Lưới chống sét N x ×N y (theo trục x và trục y)
- Dây dẫn dòng sét được nối tại tất cả các nút trên lưới chống sét xuống lưới nối
- Số biến trạng thái dòng dẫn i ds (x,t) trên dây dẫn sét là: N ids = N ucs
- Số biến trạng thái điện áp nút u nđ (x,t) trên lưới nối đất là: N unđ =