1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích, đánh giá, lựa chọn và hoàn thiện chế độ khoan cho chòong pdc đường kính 300mm dựa trên nguyên lý năng lượng cơ học riêng cho mỏ nam rồng đồi mồi

92 46 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 15,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ Việc nghiên cứu đánh giá kết quả làm việc của choòng khoan PDC từ trước đến nay được thực hiện theo các phương pháp truyền thống như: thực nghiệm, thực nghiệm-th

Trang 1

Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

NGUYỄN THÁI SƠN

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ, LỰA CHỌN VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ KHOAN CHO CHOÒNG PDC ĐƯỜNG KÍNH 311MM DỰA TRÊN NGUYÊN LÝ NĂNG LƯỢNG CƠ HỌC

RIÊNG CHO MỎ NAM RỒNG-ĐỒI MỒI

Chuyên ngành : KỸ THUẬT KHOAN - KHAI THÁC DẦU KHÍ

Mã số: 09370616

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 07 năm 2011

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA –ĐHQG -HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học :

TSKH Trần Xuân Đào, Trưởng phòng Định hướng khoa học, Viện nghiên cứu khoa học và thiết kế, Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro

Cán bộ chấm nhận xét 1 :

TS Hoàng Quốc Khánh, Phó phòng khoan và sửa giếng, Viện nghiên cứu khoa học

và thiết kế, Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

1 TS.Mai Cao Lân, Chủ nhiệm bộ môn khoan - khai thác, Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM

2 TSKH Trần Xuân Đào, Trưởng phòng Định hướng khoa học, Viện nghiên cứu khoa học và thiết kế, Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

- -oOo -

Tp HCM, ngày tháng năm 2011

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ và tên học viên: NGUYỄN THÁI SƠN Giới tính : Nam Ngày, tháng, năm sinh : 14 - 01 - 1982 Nơi sinh : Quảng Bình Chuyên ngành : Kỹ Thuật Khoan và Công Nghệ Khai Thác Dầu Khí Khoá (Năm trúng tuyển) : 2009 1- TÊN ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ, LỰA CHỌN VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ KHOAN CHO CHOÒNG PDC ĐƯỜNG KÍNH 311MM DỰA TRÊN NGUYÊN LÝ NĂNG LƯỢNG CƠ HỌC RIÊNG CHO MỎ NAM RỒNG-ĐỒI MỒI 2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN: - Đánh giá tổng quan về địa chất và công tác khoan choòng PDC đường kính 311mm tại khu vực mỏ Nam Rồng-Đồi Mồi - Cơ sở lý thuyết về choòng khoan PDC và nguyên lý năng lượng cơ học riêng MSE - Phân tích và đánh giá hiệu quả làm việc choòng khoan PDC tại mỏ Nam Rồng-Đồi Mồi dựa trên nguyên lý MSE - Nghiên cứu hoàn thiện và đề xuất chế độ khoan cho choòng PDC trong khoảng khoan đường kính 311mm 3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ :

4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ :

5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN (Ghi đầy đủ học hàm, học vị): TSKH Trần Xuân Đào Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN (Họ tên và chữ ký) QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH (Họ tên và chữ ký) TSKH Trần Xuân Đào PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN: Người duyệt (chấm sơ bộ) : -

Đơn vị : -

Ngày bảo vệ : -

Điểm tổng kết : -

Nơi lưu trữ luận văn : -

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành tại bộ môn Khoan & khai thác dầu khí, khoa Địa chất dầu khí, trường đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của: TSKH Trần Xuân Đào: Trưởng phòng định hướng khoa học – Viện Nghiên cứu Khoa học & Thiết kế - Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro

Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Trần Xuân Đào Mặc dù công tác chuyên môn rất bận nhưng thầy vẫn luôn quan tâm, hướng dẫn tận tình để hoàn thành luận văn này

Trong quá trình làm luận văn, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp trong phòng Khoan và Sửa giếng, phòng Địa chất thăm dò, Viện nghiên cứu Khoa học & Thiết kế, Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro Ngoài ra còn có sự giúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu từ những đồng nghiệp thuộc các công

ty Baker Hughes, Smith Bit…

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ động viên và tạo điều kiện của các thầy cô tại khoa Kỹ Thuật Địa chất và Dầu Khí, đặc biệt là các thầy ở bộ môn Khoan và Khai thác Dầu khí, trường đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh

Một lần nữa tác giả xin gửi lời biết ơn chân thành nhất tới tất cả mọi sự giúp đỡ

Vũng Tàu, ngày tháng năm 2011 Tác giả

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ

Việc nghiên cứu đánh giá kết quả làm việc của choòng khoan PDC từ trước đến nay được thực hiện theo các phương pháp truyền thống như: thực nghiệm, thực nghiệm-thống kê, phân tích-thống kê, xây dựng các phương trình đặc trưng khoan thể hiện mối liên hệ giữa chế độ khoan, độ bền của choòng với tốc độ cơ học khoan Còn đối với các chế độ khoan hay đặc tính công nghệ của choòng thường được dựa trên các kết quả đạt được của các giếng lân cận Tuy nhiên, các phương pháp truyền thống chỉ đánh giá một cách tổng thể cho một khoảng khoan, chỉ đưa ra mối tương quan vật lý giữa chế độ khoan và tốc độ khoan cơ học ROP không thể hiện được bản chất năng lượng phá vỡ đất

đá, không thể giúp nhận biết, đánh giá trực tiếp được các vấn đề gây hạn chế hiệu quả làm việc của choòng khoan như bó choòng, bó đáy giếng khoan, sự mòn của răng, sự

rung tại choòng khoan…Bằng cách tiếp cận mới “Lựa chọn và hoàn thiện chế độ

khoan cho choòng PDC đường kính 311mm trên cơ sở nguyên lý Năng lượng cơ học riêng”, tác giả lựa chọn giải pháp đánh giá kết quả làm việc của choòng khoan PDC

đường kính 311mm tại mỏ Nam Rồng-Đồi mồi dựa trên nguyên tắc phân tích năng lượng cơ học dùng để phá vỡ một đơn vị thể tích đất đá, từ đó đưa ra được các khoảng khoan, lựa chọn được choòng PDC với các đặc tính công nghệ thích hợp, đồng thời xây dựng mô hình toán học cho Năng lượng cơ học riêng và vận tốc cơ học, từ đó hoàn thiện chế độ khoan sao cho giá trị Năng lượng cơ học riêng nhỏ nhất

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong gần 30 năm thi công xây dựng giếng khoan trên các mỏ của Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro đã đạt được những thành quả nhất định, thời gian thi công xây dựng được rút ngắn đáng kể, vận tốc thương mại khoan đã được nâng lên rõ rệt từ 450m/tháng.máy ở những thời kỳ đầu cho đến nay đã nâng lên hơn 2000m/tháng.máy Kết quả này đạt được nhờ vào việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ, kỹ thuật xây dựng giếng khoan như tối ưu cấu trúc giếng, lựa chọn thiết bị hợp lý,chế độ công nghệ phù hợp

Trong những năm gần đây, Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro đã có những kết quả khả quan khi áp dụng loại choòng PDC đường kính 311mm đối với đất đá trầm tích sét xen kẽ bột kết, cát kết tuổi Mioxen và Oligoxen Việc nghiên cứu đánh giá kết quả làm việc của choòng được thực hiện theo các phương pháp truyền thống như: thực nghiệm, thực nghiệm-thống kê, phân tích-thống kê, xây dựng các phương trình đặc trưng khoan thể hiện mối liên hệ giữa chế độ khoan, độ bền của choòng với tốc

độ cơ học khoan Còn đối với các chế độ khoan hay đặc tính công nghệ của choòng thường được dựa trên các kết quả đạt được của các giếng lân cận Tuy nhiên, các phương pháp truyền thống chỉ đánh giá một cách tổng thể cho một khoảng khoan, chỉ đưa ra mối tương quan vật lý giữa chế độ khoan và tốc độ khoan cơ học ROP Ngoài

ra, trong các phương trình đặc trưng không tính đến sự thay đổi đất đá, điều này ảnh hưởng nhiều đến kết quả tính toán Vì thế không thể hiện được bản chất năng lượng phá vỡ đất đá, không thể giúp nhận biết, đánh giá trực tiếp được các vấn đề gây hạn chế hiệu quả làm việc của choòng khoan như bó choòng, bó đáy giếng khoan, sự mòn của răng, sự rung tại choòng khoan…Việc nghiên cứu, lựa chọn choòng với các đặc tính công nghệ và chế độ khoan thích hợp luôn là yêu cầu đối với kỹ sư công nghệ khoan nói chung và nhất là khoảng khoan có đường kính 311mm nói riêng nhằm

nâng cao hiệu quả làm việc của choòng Bằng cách tiếp cận mới “ Lựa chọn đặc tính công nghệ của choòng PDC đường kính 311mm và đề xuất chế độ khoan trên cơ sở nguyên lý Năng lượng cơ học riêng , tác giả lựa chọn giải pháp đánh giá

kết quả làm việc của choòng khoan dựa trên nguyên tắc phân tích năng lượng cơ học dùng để phá vỡ một đơn vị thể tích đất đá được gọi là “Năng lượng cơ học riêng”, từ

Trang 7

2

đó đưa ra được các lựa chọn đặc tính công nghệ và đề xuất chế độ khoan thích hợp Đây là đề tài luôn có tính thời sự và phù hợp với thực tế sản xuất của Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Mục đích của đề tài: Lựa chọn đặc tính công nghệ và đề xuất chế độ khoan cho choòng PDC đường kính 311mm

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đặc tính công nghệ của choòng PDC đường kính 311mm và khoảng khoan và chế độ khoan bao gồm WOB, RPM, Q

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Choòng PDC đường kính 311mm cho khoảng khoan Mioxen-Oligoxen mỏ Nam Rồng-Đồi Mồi

3 Luận điểm bảo vệ: Sử dụng nguyên lý Năng lượng cơ học riêng để đánh giá, phân

tích nhằm đưa ra khoảng khoan, chế độ khoan hợp lý cho choòng PDC đường kính

311mm

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở nguyên lý Năng lượng cơ học riêng lựa chọn đặc tính công nghệ của choòng PDC đường kính 311mm cũng như đề xuất khoảng khoan

và chế độ khoan

Ý nghĩa thực tiễn: Giảm thiểu rủi ro, góp phần nâng cao vận tốc cơ học khoan, lựa chọn choòng khoan PDC với các đặc tính công nghệ thích hợp, nâng cao hiệu quả kinh tế trong thi công xây dựng giếng khoan của Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro

5 Tài liệu cơ sở của luận văn:

Luận văn được xây dựng trên cơ sở tham khảo:

Các loại sách chuyên ngành dầu khí trong và ngoài nước: Trần Xuân Đào - Thiết kế công nghệ khoan các giếng dầu khí; R Teale - The Concept of Specific Energy in Rock Drilling Intl J Rock Mech Mining Sci (1965) 2, 57-73; F.E Dupriest, SPE, ExxonMobil, and J.W Witt, SPE, and S.M Remmert, SPE, RasGas

Co Ltd - Maximizing ROP with Real-Time Analysis of Digital Data MSE; Vũ Văn

Ái - Nguyên lý phá hủy đất đá; Diamond Tech Manual, Hughes Christensen, 2004; PDC Bit Manual, Smith Bit, 2003…

Trang 8

Các tài liệu địa chất, địa vật lý và các báo cáo thi công giếng khoan tại mỏ Nam

Rồng- Đồi Mồi

Các số liệu tổng kết choòng khoan PDC tại mỏ Nam Rồng- Đồi Mồi

Các bài báo, tạp chí khoa học về nguyên lý NĂNG LƯỢNG CƠ HỌC RIÊNG

Các bài báo, tạp chí chuyên ngành về công nghệ khoan choòng PDC tại Việt

Nam và trên thế giới

Tài liệu về choòng PDC của các công ty Smith Bit, Baker Hughes

Các phần mềm tính toán trong chuyên ngành khoan

6 Cấu trúc luận văn:

Luận văn gồm những nội dung chính sau:

Phần mở đầu: Trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục đích đối tượng và

phạm vi nghiên cứu của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn, tài liệu cơ sở của luận

văn

Chương 1: Tổng quan về công tác khoan ở mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi

Tổng quan về địa chất của mỏ Nam Rồng-Đồi Mồi

Tổng quan về công nghệ khoan ở mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi

Tổng quan về công nghệ khoan choòng PDC Ø311mm tại mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi

Các phương pháp đánh giá choòng truyền thống và hướng tiếp cận mới

“Nguyên lý năng lượng cơ học riêng”

Chương 2: Choòng khoan PDC, cơ chế phá hủy đất đá và nguyên lý Năng

lượng cơ học riêng (MSE)

Choòng khoan PDC

Nguyên lý Năng lượng cơ học riêng (MSE)

Chương 3: Phân tích, đánh giá, lựa chọn và hoàn thiện chế độ cho choòng

PDC Ø311mm dựa trên nguyên lý Năng lượng cơ học riêng (MSE)

Trang 9

4

Phân tích, đánh giá hiệu quả làm việc của choòng khoan PDC Ø311.1mm dựa trên nguyên lý Năng lượng cơ học riêng

Lựa chọn khoảng khoan và hoàn thiện chế độ cho choòng PDC Ø311mm

Kết luận và kiến nghị: Tóm lược các kết quả phân tích đã đạt được và đưa ra

những kiến nghị nhằm hoàn chỉnh hơn đề tài nghiên cứu cũng như mở rộng phạm vi

áp dụng của đề tài

Trang 10

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….1

Mục lục……… 5

Chương 1: Tổng quan về công tác khoan ở mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi 1.1 Tổng quan về địa chất mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi 1.1.1 Những thông tin chung về mỏ Nam Rồng-Đồi Mồi……… 7

1.1.2 Đặc tính địa chất-địa vật lý của mỏ Nam Rồng-Đồi Mồi… ….………… 9

1.2 Tổng quan về công nghệ khoan ở mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi 1.2.1 Điều kiện địa chất-kỹ thuật khoan các giếng khoan……….…… 22

1.2.2 Biểu đồ áp suất và cấu trúc giếng khoan……… 23

1.2.3 Công nghệ khoan và gia cố giếng khoan ……… 27

1.3 Tổng quan về công nghệ khoan choòng PDC Ø311mm tại mỏ Nam Rồng- – Đồi Mồi 1.3.1 Kết quả khoan choòng PDC Ø311mm tại mỏ Nam rồng-Đồi Mồi……… 33

1.3.2 Biểu đồ thời gian thi công các giếng khoan tại mỏ Nam Rồng – Đồi Mồi 37

1.4 Các phương pháp đánh giá choòng truyền thống và hướng tiếp cận mới “Nguyên lý năng lượng cơ học riêng” 1.4.1 Các phương pháp đánh giá choòng truyền thống……….…….42

1.4.2 Hướng tiếp cận mới “Nguyên lý năng lượng cơ học riêng” và các ứng dụng trên thế giới và ở Việt Nam ……… 44

Chương 2: Choòng khoan PDC, cơ chế phá hủy đất đá và nguyên lý Năng lượng cơ học riêng (MSE) 2.1 Choòng khoan PDC 2.1.1 Kim cương đa tinh thể……… ……… 47

2.1.2 Cơ chế phá hủy đất đá……… ……… … 48

2.1.3 Thân choòng PDC……….49

2.1.4 Răng choòng PDC……….51

Trang 11

6

2.1.5 Góc nghiêng của răng choòng……… …… 53

2.1.6 Phân bố răng choòng……… ………54

2.1.7.Hình dạng cánh choòng……… ………56

2.1.8 Phân loại choòng PDC theo IADC 2.……… ……… ………57

2.1.9.Hình dạng choòng PDC……….………57

2.1.10.Độ cắm ngập của răng (DOC–Depth of cut)……… ………….59

2.1.11.Mµ- Độ xâm nhập của choòng (Bit Aggresiveness)……… … … 61

2.1.12 Đánh giá độ mòn choòng PDC……… ……… 61

2.2 N guyên lý Năng lượng cơ học riêng (MSE) 2.2.1 Cơ học choòng khoan PDC……… ……… 64

2.2.2.Hiệu quả làm việc choòng khoan PDC……… ………… 66

2.2.3 Độ bền nén đất đá UCS…….……… ……… 68

2.2.4 Năng lượng cơ học riêng (Mechanical Specific Energy-MSE).………… 69

2.2.5 Ứng dụng nguyên lý Năng lượng cơ học riêng ……… 69

Chương 3: Phân tích, đánh giá, lựa chọn và hoàn thiện chế độ cho choòng PDC Ø311mm dựa trên nguyên lý Năng lượng cơ học riêng (MSE) 3.1 Phân tích, đánh giá hiệu quả làm việc của choòng khoan PDC Ø311.1mm dựa trên nguyên lý Năng lượng cơ học riêng 3.1.1 Giếng khoan 404 RC-DM……… ……….….70

3.1.2 Giếng khoan 405 RC-DM….……… 73

3.1.3 Giếng khoan 406 RC-DM….………… ……… 74

3.1.4 Giếng khoan 420 RC-4….……….…… ……… 75

3.1.5 Giếng khoan 421 RC-4….….………… ……… ……… 77

3.2 Lựa chọn khoảng khoan và hoàn thiện chế độ cho choòng PDC Ø311mm… 78

3.2.1 Lựa chọn khoảng khoan và choòng PDC cho từng khoảng……… 78

3.2.2 Hoàn thiện chế độ cho choòng PDC Ø311mm……….80

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KHOAN Ở MỎ NAM RỒNG – ĐỒI MỒI 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA CHẤT MỎ NAM RỒNG – ĐỒI MỒI

1.1.1 NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ MỎ

Cấu tạo Nam Rồng-Đồi Mồi nằm trong phạm vi hai lô có giấy phép hoạt động (09-1 và 09-3) thềm lục địa phía Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cách cảng Vũng Tàu 135 km, cách bờ biển chỗ gần nhất 110 km Thành phố Vũng Tàu tập trung căn cứ sản xuất của XNLD “Vietsovpetro” nối với TP Hồ Chí Minh bằng đường bộ (khoảng cách 125 km) và đường thủy (khoảng cách 80 km) cho phép hầu hết các loại tàu thủy đi lại Bản đồ sơ bộ khu vực trình bày ở hình 1

Khoan thăm dò trên diện tích này sẽ tiến hành bằng giàn tự nâng Jack-up Nguồn cung cấp năng lượng điện cho công tác khoan là động cơ đốt trong Nguồn năng lượng cho các xí nghiệp trên bờ của XNLD ‘Vietsovpetro’ và TP Vũng Tàu là đường dây cao áp 35 KV

Độ sâu biển ở vùng mỏ là 25-50 m Nhiệt độ nước biển thay đổi trong năm từ

Vào mùa hè (tháng 6-9) hướng gió mùa chủ đạo Tây-Nam Nhiệt độ nước biển

và không khí đạt 280C-320C Mưa trở nên ổn định kèm theo gió giật với tốc độ 25m/s

Độ ẩm không khí đạt 90%

Trong tháng 10 gió yếu đi và thay đổi sang hướng Đông-Bắc

Dòng chảy biển tuân theo chế độ gió mùa và thủy triều Trong thời gian gió mùa Đông-Bắc sóng biển thường xuyên mạnh Thường hay có bão và gió xoáy Số lượng

Trang 13

trung bình hàng năm khoảng 9-10 lần Tốc độ gió khi có bão đạt trên 20m/s tương ứng với sóng biển cao 10m Vì vậy số ngày thời tiết thuận lợi cho công tác ngoài biển về mùa đông không nhiều

Thời gian thuận lợi nhất cho công tác ngoài biển hàng năm vào tháng 5-10

Hoạt động địa chấn- động đất ở khu vực mỏ Rồng không quá 6 độ Richter

Điều kiện địa chất công trình: lớp phủ đáy biển phân biệt bằng độ bất đồng nhất Theo tài liệu khảo sát địa chất công trình ở khu vực phía Nam cấu tạo Rồng Trung tâm bắt gặp nhiều thấu kính bùn và đất sét chảy ở vào khoảng 6,0-8,0m dưới bề mặt đáy biển Phần trên của lớp phủ đáy biển có các lớp á sét nửa cứng với tính chất bền vững cao Nên cần thiết phải tiến hành khảo sát địa chất công trình trước khi xây dựng các công trình biển và đặt các giàn khoan tự nâng Jack-up

15-2A 15-1

16-1

16-2

09-2 09-3

Южный Дракон-Дой Мой

N

15-2A 15-1

16-1

16-2

09-2 09-3

Trang 14

1.1.2 ĐẶC TÍNH ĐỊA CHẤT- ĐỊA VẬT LÝ CỦA MỎ

1.1.2.1 Cấu trúc địa chất

Trên bình đồ khu vực cấu tạo Nam Rồng-Đồi Mồi nằm trong phạm vi khối nâng Trung tâm của trũng Cửu Long Mặt cắt phân chia ba tầng cấu trúc: móng (Mesozoi), trung gian (Paleozoi) và á nền (Mioxen-Đệ tứ) Hoạt động magma ảnh hưởng rõ nét trên bình đồ cấu-kiến tạo của khu vực, đặc biệt trong thời gian kainozoi muộn

Trên cơ sở số liệu khảo sát địa vật lý, trũng Cửu Long chia ra các cấu trúc bậc hai hướng theo chiều Đông - Bắc Theo móng và phần dưới lớp phủ trầm tích các cấu trúc bậc II-IV bị giới hạn bởi các đứt gãy kiến tạo, liên quan tới sự dịch chuyển của các khối móng

Trong phạm vi của địa lũy khối nâng Trung tâm theo hướng từ Tây-Nam đến Đông-Bắc quan sát thấy các cấu tạo cấu trúc phức tạp bậc III - Rồng, Bạch Hổ và Rạng Đông

Diện tích Rồng bao gồm sáu khối nâng lớn của móng và tương ứng với chúng là các nếp lồi trong lớp phủ trầm tích: Đông-Bắc, Đông, Trung tâm, Yên ngựa, Đông – Nam và Nam

1.1.2.2 Kết quả công tác địa chất thăm dò

Những thông tin đầu tiên về sự tồn tại trong khu vực nghiên cứu những phức tạp cấu trúc thu nhận được nhờ kết quả khảo sát tổ hợp địa vật lý (trọng lực, từ và địa chấn 2D) do hãng GSI thực hiện cho công ty Mobil năm 1974 trên mạng lưới tuyến 4x4 km Năm 1978 hãng GECO tiến hành khảo sát tổ hợp địa vật lý, trong đó có địa chấn 2D mạng lưới 2 x 2 km trên khu vực này cho PetroVietnam

Xử lý tài liệu thực địa không làm dịch chuyển thời gian Chất lượng tài liệu thu được đánh giá là đa trị, các tầng phản xạ SH-10,SH-11 và SH-B liên kết không tin tưởng Hơn nữa, Từ năm 1980 đến 1994 cán bộ kỹ thuật Phòng Địa chất thăm dò Viện NCKH&TK thực hiện minh giải bằng tay và đã làm các phương án khác nhau về xây dựng cấu trúc theo các tầng địa chấn có hiệu chỉnh hàng năm theo số liệu khoan và nghiên cứu địa chấn ở các diện tích kề bên Đây chính là những tài cơ sở để lựa chọn

vị trí đặt giếng khoan tìm kiếm R-14 phát hiện đầu tiên ở mỏ Đông – Nam Rồng Dựa vào kết quả khoan (phát hiện các mỏ Đông và Đông-Nam Rồng), XNLD

Trang 15

“Vietsovpetro” đã ký hợp đồng với hãng “Western Geophysical” làm công tác thực địa và xử lý địa chấn 3D ở khu vực Đông Nam Rồng và địa chấn 2D ở cấu tạo Nam Rồng

Tháng 5-6 năm 1996 hãng “Western Geophysical” đã tiến hành công tác địa chấn thực địa cho XNLD “ Vietsovpetro” với khối lượng 2685 km tuyến điểm giữa chúng CMP 3D và 184 km tuyến địa chấn 2D và tháng 1.1997 đã giao nộp kết quả xử lý cho XNLD, tháng 2.1997 có kết quả xác định tốc độ lớp làm cơ sở thuận lợi hỗ trợ cho công tác minh giải

Chất lượng tài liệu địa chấn 2D ở cấu tạo Nam Rồng xấu do phương pháp thu nổ

và xử lý tài liệu Liên kết mặt cắt thời gian gặp phải khó khăn, vì trên giao tuyến có sự lệch pha đến 60 ms

Năm 2002, trong phạm vi lô 09-3 giới hạn với khu vực Nam Rồng của XNLD, công ty Western Geophysical đã thực hiện khảo sát địa chấn 3D với khối lượng 185

km2 Phần tiền xử lý tài liệu này do công ty Golden Pacific Group ở TP Hồ Chí Minh thực hiện, còn phần xử lý tiếp theo dịch chuyển chiều sâu trước khi cộng (PrSDM) và minh giải khối số liệu kết quả xử lý do Nhà thầu OAO CGE ở tp Mát-xcơ-va thực hiện

Ngoài tài liệu PrSDM để minh giải, nhà thầu còn sử dụng số liệu khoan ở cấu tạo Trung tâm Rồng và tài liệu lưu trữ địa chất-địa vật lý của vùng nghiên cứu Nhà thầu OAO CGE sử dụng hệ chương trình minh giải INPRES để phân tích tài liệu địa chấn

ở khu vực Nam Rồng

Năm 2004, cán bộ kỹ thuật Viện NCKH&TK đã tiến hành nghiên cứu các thuộc tính địa chấn nhằm xác định vùng nứt nẻ trong đá móng trên diện tích 129,9 km2 Đối tượng xử lý thuộc tính là các lớp đá móng Tài liệu ở trầm tích lục nguyên của phần trên lát cắt có chất lượng không cao

Trong tháng 4.2004 đã đặt giếng khoan thăm dò đầu tiên DM-1X trên phần đỉnh của khối A cấu tạo Nam Rồng-Đồi Mồi Giếng khoan đã mở vào móng ở độ sâu 3304

m (giá trị tuyệt đối -3282m) và đáy giếng khoan dừng tại 3850m/-3828m, đi qua đá móng 546m Khi thử giếng khoan đã thu được dòng dầu không ổn định Lưu lượng giếng khoan đạt 66 thùng/ng.đ(10,49 m3/ng.đ) ở lần thử đầu tiên, trong lần gọi dòng

Trang 16

bằng gaslif khí ni tơ nhận được 208 thùng/ng.đêm (33,12 m3/ng.đ) và 118 thùng/ng.đêm (18,79 m3/ng.đ ở lần thử thứ hai

Giếng khoan R-20 bắt đầu xây dựng ngày 29.05.2005 với mục đích tìm kiếm

vỉa dầu trong đá trầm tích Oligoxen và móng ở phần phía Đông-Bắc cấu tạo dạng vòm

Nam Rồng-Đồi Mồi Giếng khoan kết thúc ở độ sâu 4302m/-4075 m

Nóc tầng móng được mở ở độ sâu 3730m/-3503m, sâu hơn giếng khoan DM-1X

221m (3304m/-3282m) Đã thử 5 đối tượng trong giếng khoan này, kết quả đã chứng

minh có dầu công nghiệp trong lớp đá móng và trầm tích Oligoxen

Giếng khoan nghiêng R-25 bắt đầu khoan ngày 30.05.2006 với mục tiêu thăm dò

vỉa dầu trong đá móng và trầm tích Oligoxen ở khối C mỏ Đồi Mồi - Nam Rồng, và kết thúc ngày 04.09.2006 ở độ sâu thực tế 4420 m/-4201 m Giếng khoan này đã mở các lớp đá móng ở độ sâu 3845m/-3654m, đã tiến hành thử 5 đối tượng, trong đó có

ba đối tượng trong đá móng và hai đối tượng trong các lớp trầm tích tuổi Oligoxen muộn Kết quả khoan đã xác định khả năng dầu khí trong đá móng và phát hiện vỉa dầu mới trong các lớp trầm tích Oligoxen muộn

Theo kết quả khoan giếng DM-1X năm 2004 và sau khi tổng kết tài liệu địa chất

-địa vật lý và khoan, công ty VRJ đã thông qua quyết định khoan giếng DM-2X ở trên

phần đỉnh khối A nằm trên giao tuyến địa chấn 3D Inline 1040 và Xline 678 Bắt đầu khoan ngày 12.08.2006, và kết thúc ngày 13.09.2006 ở độ sâu thực tế 4130 m(-3696 m) Giếng khoan đã mở vào đá móng ở độ sâu 3524 m/-3406 m) Đã tiến hành thử ba đối tượng, trong đó có một đối tượng trong móng và hai đối tượng trong trầm tích Mioxen dưới Kết quả thử vỉa trong móng đã nhận được dòng dầu thương mại và đã chứng minh được khả năng dầu khí của trầm tích Mioxen dưới Tuy nhiên không nhận

được dòng dầu thương mại ở phức hệ này

1.1.2.3 Đặc tính thạch học - địa tầng

Mặt cắt địa chất ở diện tích Nam Rồng cũng như toàn bộ khu vực Rồng là các lớp đá móng kết tinh và trầm tích tuổi Paleoxen (Oligoxen), Neoxen (Mioxen, plioxen) và Đệ tứ (Hình 2.)

Theo số liệu địa chất - địa vật lý, trong phạm vi diện tích Rồng, chiều dày lớp phủ trầm tích thay đổi từ 3,3 - 3,5 km ở phần vòm đỉnh cao nhất (theo số liệu khoan)

Trang 17

đến 4,0 – 5,2 km ở các phần lún chìm sâu nhất của trũng (theo tài liệu địa chấn) Mặt cắt móng trước Đệ tam được mở ra do khoan là các lớp đá magma kết tinh hoàn tòan

và đá biến chất Đại bộ phận chúng là granite và diorite Các lớp đá nứt nẻ, đôi khi hang hốc thường được lấp đầy bằng calxit và xeonhit Nóc móng kết tinh trùng với tầng địa chấn SH-B Theo số liệu địa vật lý giếng khoan, tầng này nhận biết dễ dàng theo chiều tăng điện trở và giảm đột ngột giá trị AT

Theo kết quả phân tích mẫu, độ rỗng các lớp đá móng thay đổi từ 1% đến 3,1%, trong khi đó 20-40% thể tích của chúng hình thành các nứt nẻ, còn lại 80-60% là hang hốc

Lớp phủ trầm tích mỏ Rồng là các lớp đá hệ Paleoxen (Oligoxen), Neoxen (Mioxen, Plioxen) và Đệ tứ, tiếp tục phân chia thành sáu điệp theo tên gọi địa phương (Hình 2)

Các lớp đá Oligoxen là các điệp Trà Cú và Trà Tân

Điệp Trà Cú (Oli1) được mở ở trong 7 giếng khoan tìm kiếm thăm dò (R-3, 4, 6,

7, 8, 11 và 18) Ranh giới trên của điệp này là bề mặt bất chỉnh hợp tương ứng với tầng địa chấn SH-11 và trùng với đỉnh lớp trầm tích Oligoxen dưới Ranh giới này thường xuyên không dễ dàng nhận biết trên băng carota

Điệp này bị phức tạp do có sét kết phần lớn ở phần trên lát cắt và taọ thành thớ lớp xen kẽ với nhau bằng sét kết, bột kết và ở phần dưới là cát kết

Ở phần vòm đỉnh các cấu tạo của diện tích Nam Rồng (DM-1X, DM-2X, R-20, R-25) không tồn tại trầm tích điệp này

Trầm tích điệp Trà Tân (Oli 2) phân bố rộng rãi trong phạm vi bồn trũng và đều

được mở ở các giếng khoan Trên vùng lãnh thổ nghiên cứu, điệp này chia làm ba lớp: dưới (tập E), giữa (tậpD) và trên (tập C) mà đỉnh của nó tương ứng với các tầng địa chấn phản xạ SH-10, SH-8 và SH-7

Trên cấu tạo Nam Rồng - Đồi Mồi trầm tích điệp này nằm trực tiếp lên trên móng, ở các khu vực khác nằm trên các trầm tích điệp Trà Cú

Ở phần dưới điệp này (tập E), trầm tích là sét kết và cát kết(R-20, 25, DM-1X, DM-2X) Ở phần giữa của lát cắt có tầng địa chấn SH-10 tương ứng với bất chỉnh hợp bào mòn tuổi Oligoxen muộn Nó tương đối dễ nhận biết trên các đường biểu đồ

Cát và sét xen kẽ

Trang 18

carota theo sự giảm giá trị đường cong Gr và DT và tăng điện trở Những trầm tích này tạo thành trong phạm vi mũi hình nón và đồng bằng xuất hiện ở thời kỳ đầu phát triển bồn trũng theo sườn dốc các khối nhô móng Phía trên lát cắt có trầm tích mảnh sâu thay thế bằng xen kẽ các lớp cát kết á lục địa và ven bờ biển, sét kết và bột kết Chiều dày phức hợp ở giếng DM-1X là 173m, trong giếng DM-2X là 268 m và tăng ở vùng yên ngựa Rồng (R-23) đến 397 m

Ở phần giữa lát cắt (tập D) trầm tích là tập sét đầm hồ dày (đến 255m ở giếng khoan DM-1X và 308 m ở giếng khoan R-23),ở đây có gặp thành phần cát kết ven

bờ, sông ngòi và đá núi lửa Sét kết này chứa số lượng lớn vật chất hữu cơ và đóng vai trò tầng chắn khu vực Nóc tập sét tương ứng với tầng địa chấn SH-8 Tầng này xác định theo độ tăng giá trị trên đường cong GR và độ giảm giá trị đường cong điện trở

Hình 2 Cột địa tầng - thạch học tổng hợp mỏ Nam Rồng-Đồi Mồi

Trang 19

Ở phần trên lát cắt (tập C) điệp này bị phức tạp do các lớp sét kết, bột kết và cát kết nguồn gốc lục địa xen kẽ nhau Chiều dày tập này thay đổi trong khoảng rộng từ 44m (giếng DM-1X) đến 414 m (Giếng DM-2X R)

Tầng địa chấn SH-7 trùng với đỉnh tập cát kết tuổi Oligoxen muộn Nó được xác định bằng sự giảm giá trị DT, tăng giá trị điện trở trên các đường cong carota và khó xác định trên đường cong GR Do tầng địa chấn SH-7 tương ứng với bất chỉnh hợp góc nên đặc tính của tầng này thay đổi từ giếng khoan này đến giếng khoan khác Thay đổi các đường cong điện trở là do việc mở các trầm tích tuổi khác nhau trực tiếp dưới bất chỉnh hợp

Chiều dày tổng cộng của điệp này theo tài liệu địa chấn đạt tới 1500-1600m ở các khu vực sâu trên toàn vùng, còn trong phạm vi các khối nâng của móng là 807m (DM-2X) – 470 (DM-1X)

Trầm tích Neogen chia thành ba điệp: Bạch Hổ, Côn Sơn và Đồng Nai (Hình 2.)

Điệp Bạch Hổ (Mio 1 ) nằm ở giữa các tầng địa chấn SH-7 và SH-3 Mặt cắt đặc

trưng nhất của điệp này được mở ra ở các giếng khoan R-20, R-25, DM-2X Mặt cắt điệp này chia làm ba phần:

Phần dưới nằm ở giữa tầng địa chấn SH-7 và SH-5 Trầm tích phần này là các lớp cát kết và các lớp sét mỏng xen kẽ nhau Lắng đọng trầm tích ở đây xảy ra trong điều kiện tướng đầm lầy, châu thổ và môi trường ven bờ biển nông

Bất chỉnh hợp trong phần giữa điệp Bạch Hổ tương ứng với tầng địa chấn SH-5

và trùng với đỉnh lớp cát là tầng sản phẩm ở một vài giếng khoan Tầng địa chấn này được xác định khá tin tưởng trên đường cong băng carota theo giá trị giảm của đường

GR, và tăng ở đường điện trở trong các tập cát kết và giá trị nhỏ của đường DT

Ở phần giữa lát cắt điệp Bạch Hổ là các lớp sét kết và cát kết đan xen kẽ nhau Chiều dày phần này thay đổi không đáng kể, không có tầng sản phẩm

Trầm tích phần này của điệp hình thành trong điều kiện tướng đầm hồ và môi trường ven bờ biển nông

Tầng địa chấn chuẩn sét montmolohit và sét kết (sét rotalia) trùng với nóc điệp Bạch Hổ thể hiện rõ ở khu vực Đông-Bắc cấu tạo Rồng Tập sét này phân bố rộng khắp trong phạm vi toàn bộ trũng Cửu long và đều được các giếng khoan mở và có

Trang 20

chiều dày đến 50-100 m Đỉnh của nó tương ứng với tầng địa chấn SH-3 Nó dễ dàng nhận biết trên đường cong carota theo độ tăng giá trị DT Bất chỉnh hợp liên kết với tầng địa chấn SH-3 là đỉnh điệp Bạch Hổ (Mioxen dưới) Chiều dày tập trên của điệp này là 200m

Chiều dày chung của điệp Bạch Hổ thay đổi từ 60m đến 940m (DM-2X)

Điệp Côn Sơn (Mio 2 ) nằm trên tầng địa chấn SH-3 Trong mặt cắt điệp này có

cát kết arkozo (đôi chỗ là cát), xen kẽ không đều với bột kết và sét Bắt gặp các lớp sỏi, sét vôi và than nâu Chiều dày trầm tích điệp này là 497-782m Môi trường trầm tích: biển nông, ven bờ do biển tràn vào và nhấn chìm lục địa Không có các vỉa dầu khí ở điệp này trên diện tích Rồng

Điệp Đồng Nai (Mio 3 ) nằm ở giữa tầng địa chấn SH-2 và SH-1 Thành phần của

điệp này bao gồm chủ yếu là cát thạch anh có lẫn mảnh vụn và sỏi xen kẽ với sét bột kết và sét Bắt gặp các lớp mỏng đá vôi và thấu kính than nâu Môi trường lắng đọng trầm tích- biển nông và ven bờ nhấn chìm lục địa Chiều dày trầm tích điệp này từ 534 đến 820 m Trên diện tích Rồng không xác nhận các vỉa dầu và khí của điệp này

Điệp Biển Đông (Plio+Qiv) nằm ở phần trên của mặt cắt và chủ yếu là cát hạt

thô bở rời, xốp (đôi khi là cát kết), cuội xen lẫn các lớp mỏng sét kết và sét vôi Xác nhận có sinh vật và khoáng vật glaucohit Chiều dày trầm tích điệp này là 470-622 m Điều kiện lắng đọng trầm tích: biển nông Không phát hiện các vỉa dầu khí ở diện tích Rồng

1.1.2.4 Bình đồ kiến tạo

Khối nâng Nam Rồng -Đồi Mồi trùng với khu vực phía Nam diện tích Rồng và trên bề mặt móng (Hình 3.) phân chia thành các khối bởi các đứt gãy á vĩ tuyến và á kinh tuyến Kích thước khối nâng là 10 x 4 km, đỉnh khối nâng nằm ở độ sâu -3300

m Khối nâng tách khu vực Rồng Trung tâm bằng vùng yên ngựa không sâu (3700 m)

ở phía Đông-Bắc Các trũng sâu á vĩ tuyến (đến 4,0-4,7 km) ở phía Bắc và phía Nam tách Nam Rồng khỏi vùng nâng khu vực Rông Trung tâm và khối nâng Côn Sơn

Diện tích nghiên cứu địa chấn 3D ở phần Nam bồn trũng Cửu Long kéo dài dọc theo sườn giới hạn bồn trũng của khối nâng Côn Sơn Theo bề mặt móng trong phạm vi

Trang 21

của khu vực làm việc có hàng loạt khối nâng biên độ lớn và vùng trũng có rất nhiều đứt gãy phương chuyển dịch thẳng đứng đôi khi đến hàng trăm mét

Ở khu vực Đông-Nam và Tây-Nam diện tích nghiên cứu có các khối móng nhô cao về phía khối nâng Côn Sơn (I ở hình 3.) Chiều sâu bề mặt đá móng kết tinh theo sườn dốc tăng từ 1500 đến 3500 m Ở phần trung tâm diện tích có khối nâng khép kín lớn Nam Rồng, bề mặt móng trên đỉnh của nó nằm ở độ sâu gần 3300 m Ở các phần cánh phía Đông-Bắc và Tây-Bắc của diện tích có các sườn khối nâng Rồng Trung tâm, phần đỉnh khối nâng này nằm ngoài diện tích nghiên cứu Độ sâu đá kết tinh giảm đến 3000 m

Các trũng có cấu trúc á vĩ tuyến phức tạp phân cách khối nâng Nam Rồng khỏi các khối nâng Côn Sơn và Rồng Trung tâm nằm ở ngoài rìa của diện tích

Trũng phía Nam là sâu hơn Ở đây bề mặt móng có độ sâu đến 5500 m Yên ngựa hướng á kinh tuyến kéo dài từ sườn dốc Côn Sơn đến khối nâng Nam Rồng tách phần sâu nhất của trũng phía Nam (II A) khỏi vùng móng nâng cao Ở vùng này

có khối nâng dạng địa lũy không lớn (1km x 2 km) Nam Đồi Mồi phân chia phần phía Đông của trũng II thành ba trũng nhỏ địa phương IIB, IIC và IID

Trũng IV giới hạn ở phía bắc là khối nâng Nam Rồng là chuỗi các lòng chảo dạng địa hào (IVA, IVB, IVC) có chiều sâu 4300-4400 m, cách biệt nhau bằng các dải nâng có biên độ nhỏ hướng á kinh tuyến kéo dài giữa các khối nâng Nam Rồng và Rồng Trung tâm Chiều sâu bề mặt đá kết tinh trong phạm vi các dải nâng có biên độ nhỏ giảm đến 4100-4000 m

Cấu tạo Nam Rồng-Đồi Mồi trên diện tích nghiên cứu là khối nâng khép kín lớn duy nhất dạng nếp lồi kéo dài theo hướng vĩ tuyến cao hơn 1000 m so với các trũng

II, IV nằm kề Kích thước khối nâng theo đường đồng mức khép kín sâu nhất 3950 m

là 10 x 3,5 km Trong phạm vi phần vòm có vài đỉnh Bề mặt móng có độ sâu nhỏ nhất (-3250 m) ở đỉnh phía Tây nằm gần giao tuyến Inline 1120 và Xline 640 Phần nhô cao này thuộc vùng hoạt động của công ty VRJ dưới tên gọi là Đồi Mồi

Theo cấu tạo móng, Nam Rồng là thành tạo bất đồng nhất thể hiện bằng các phản

xạ địa chấn có cường độ khác nhau và hướng khác nhau bên trong móng Nhiều phản

xạ là phần tiếp tục của các đứt gãy quan sát được từ phần trầm tích Các phản xạ bên

Trang 22

trong móng xuất hiện trên các mặt cắt thẳng đứng hướng á kinh tuyến và á vĩ tuyến trong khối tài liệu địa chấn

Có hai đứt gãy lớn hơn I và II phân chia cấu tạo Nam Rồng-Đồi Mồi thành ba khối A, B và C Đứt gãy I có hướng nằm á vĩ tuyến, đứt gãy II có hướng nằm á kinh tuyến kề liến với nó ở phía Nam Biên độ đứt gãy I giữa các khối A và C là 200-250

m, giữa vùng B và C ở phần trung tâm cấu tạo đạt tới 300-350 m, sau đó giảm về phía Đông đến 0 Giá trị chuyển dịch của các khối A và B theo đứt gãy II đạt tới 40-60 m

Đỉnh phần móng nhô cao (-3260 m) trùng với khối A nằm trong phạm vi Nam Rồng (giao tuyến Inline 660, Xline 1120) dưới tên gọi cấu tạo Đồi Mồi, trong đó đã khoan hai giếng Khối bị phân chia do hệ thống đứt gãy có biên độ đến 50-100 m Các đứt gãy dài nhất có hướng Đông-Nam – Tây-Bắc và Đông-Tây, còn các đứt gãy ngắn hơn theo hướng Bắc-Nam

Theo cấu trúc móng, khối B phân chia thành phần phía Tây có rất nhiều đứt gãy

và phần phía Đông giữ nguyên vẹn hơn Trên tuyến cắt khối A và B thấy rõ đứt gãy II phân chia chúng có hướng đổ về phía Đông và ăn sâu vào móng đến 800-1000 m Các đứt gãy có hướng ngược lại kề với đứt gãy này từ phía khối B, tức là ở phần phía Tây khối B có vị trí thuận lợi để hình thành các nứt nẻ tiếp xúc với các đứt gãy có các hướng khác nhau

Ở phần Đông khối B có khối nhô địa phương hẹp (350 m) giới hạn bởi các đứt gãy song song có đặc tính phản xạ mạnh bên trong móng Khối nhô kéo dài 750 m dọc theo đứt gãy I theo hướng vĩ tuyến Biên độ khối nhô ở cánh phía Bắc đạt tới 400-450

m và đứt gãy I từ hướng phía Đông có hướng đổ ngược lại Ở sườn phía Nam các phản xạ có độ nghiêng lớn trong trầm tích phủ trên móng

Ở khu vực C đỉnh móng trong phần trung tâm cấu tạo nằm ở độ sâu lớn

3650-3750 m, điểm cao nhất của đường đồng mức trong khối này ở phần rìa cấu tạo trên giao tuyến Inline 780 và Xline 760 và có giá trị -3475 m Tại khối C, số lượng đứt gãy trên bề mặt móng ít hơn ở những phần khác trong cấu tạo Nam Rồng Ở phía Bắc, trũng nhỏ hẹp kề với khu vực này tách các cấu tạo Nam Rồng và Rồng Trung tâm Bề mặt móng trong phạm vi của nó chìm sâu đến -4500 m

Rất nhiều đứt gãy băm nát bề mặt móng và ranh giới phần dưới lớp phủ trầm tích làm ảnh hưởng mạnh đến cấu trúc địa chất trên toàn lãnh thổ Trong số các bản đồ cấu

Trang 23

tạo và mặt cắt xem xét nhận thấy ở hướng thẳng đứng các đứt gãy đoạn tầng có hình dạng cây và có thể phân chia thành hai nhóm phân cấp độc lập Trong nhóm đầu tiên

có các đứt gãy làm dịch chuyển không đồng đều bề mặt móng và ranh giới lớp phủ trầm tích Các đứt gãy nhóm hai tồn tại chỉ ở trong lớp phủ trầm tích Những đứt gãy này phân nhánh từ các đứt gãy nhóm một và bảo tồn hướng nằm

Nhóm đứt gãy thứ hai làm phức tạp thêm và bổ sung bức tranh chung các đứt gãy đoạn tầng của lớp phủ trầm tích

Nhóm đứt gãy đầu tiên tiếp tục có cấu trúc phân cấp độc lập không theo phương thẳng đứng mà theo phương ngang Những đứt gãy thuận có chiều dài và biên độ lớn hơn nằm dọc theo thành phía Bắc khối nâng Côn Sơn và Nam Rồng và dọc theo thành phía Nam khối nâng Rồng Trung tâm tạo thành hệ thống chính ở phân cấp độc lập ngang Những đứt gãy chính tách đỉnh các khối nâng khỏi các sườn kề liền Đứt gãy lớn nhất của loại này ăn sâu vào lớp phủ trầm tích đến tận dưới Mioxen Hướng nằm

và hướng đổ các dứt gãy chính này được hình thành trong quá trình tạo bồn và các khối nâng của lớp phủ trầm tích, trung hòa các gradient tách giãn kiến tạo xuất hiện ở trên sườn các cấu tạo

Phía trên lớp phủ trầm tích phân cấp đứt gãy nhóm đầu tiên hoàn toàn không có thừa kế Chỉ có hệ thống đứt gãy á vĩ tuyến được bảo tồn Trên các bản đồ cấu tạo, các tầng địa chấn SH-10 và SH-8 thể hiện chỉ có các đứt gãy á vĩ tuyến nhóm đầu tiên và phân nhánh những đứt gãy thuận theo cùng hướng đổ trong lớp phủ trầm tích và thuộc nhóm thứ hai Chỉ ở phần dưới Mioxen trong quá trình suy giảm biến dạng đoạn tầng

có sự thay thế đứt gãy hướng á vĩ tuyến lại bắt đầu xuất hiện các đứt gãy á kinh tuyến

Phân cấp thẳng đứng các đứt gãy á vĩ tuyến trong nhóm đầu tiên và thứ hai chứng minh về tính thừa kế phát triển biến dạng đoạn tầng không bị ảnh hưởng do có

sự thay đổi bình đồ xảy ra trong quá trình dãn tách thời kỳ Oligoxen và Mioxen sớm Phân loạingang các đứt gãy nhóm I chỉ tồn tại trong móng, hình như là phần lớn, so với lớp phủ trầm tích, do độ cứng đá kết tinh phản ứng lại sự phân nhỏ bổ sung trên các dịch chuyển biên độ cao theo các đứt gãy á vĩ tuyến chính Điều này kéo theo tách giãn kiến tạo hướng kinh tuyến là các cấu tạo đoạn tầng nguyên sinh của móng và lớp phủ trầm tích

Trang 24

Khối giới hạn phía Bắc đứt gãy có biên độ từ 300-600 m Thực hiện phân tích chiều dày cho thấy, đứt gãy thừa kế phát triển (ở pha tách giãn) trong suốt thời kỳ Oligoxen và Mioxen dưới Không phát hiện các dấu hiệu chuyển động nghịch đảo (nếp uốn bị nén ép ở trong trầm tích, đổi hướng mặt phẳng đổ của đứt gãy) có thể ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nứt nẻ đá móng ở từng khu vực của cấu tạo

Cấu trúc Oligoxen nói chung thừa kế bề mặt móng nhưng rõ nét trong dạng san bằng Trên bản đồ tầng SH-10 cấu tạo địa phương Nam Rồng tồn tại chỉ ở trên khu vực đỉnh móng Trũng phía Nam thu hẹp kích thước và là trũng không sâu (~200 m) thoai thoải Trên bản đồ các tầng Oligoxen (SH-7, SH-8) và Mioxen dưới (SH-3) khối nâng Nam Rồng và nếp lõm phía Nam không tồn tại, chúng mở ra ở phía Nam và Đông – Nam Phần trung tâm diện tích bao gồm sườn của trũng sâu phía Bắc

Theo các tầng Oligoxen muộn thấy có một vài khối nâng địa phương không lớn (không quá 1 x 0,5 km), hình thành trong phạm vi các “mũi” cấu tạo thoai thoải Khối nâng dạng vòm lớn hơn (2 x 2 km) và “mũi” cấu tạo biên đô dưới 50 m có trong Mioxen dưới

Trang 25

20

Hình.3 bản đồ cấu tạo tầng địa chấn SH-10 khu Nam Rồng - Đồi Mồi

Trang 26

21

Hình 4 Mặt cắt địa chấn đi qua giếng khoan 420 RC-4

Trang 27

1.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ KHOAN Ở MỎ NAM RỒNG – ĐỒI MỒI

1.2.1 Điều kiện địa chất-kỹ thuật khoan các giếng khoan

1.2.1.1 Các đặc tính tóm lược cột địa tầng

Đối tượng thiết kế của tất cả các giếng, được lập kế hoạch để khoan khai thác và bơm ép, là tầng sản phẩm ở móng Mặt cắt địa chất của các giếng khoan gồm hai phần chính là lớp trầm tích (cho tới đáy của Oligoxen) Phần trầm tích của mặt cắt là các lớp sét, cát và cát kết mềm, và dưới cùng là các lớp sét và sét kết có độ cứng trung bình Phần trên của tầng móng được đặc thù bởi các lớp granite cứng bị nứt nẻ, hang hốc

Áp suất vỉa và áp suất lổ hổng dọc theo mặt cắt bình thường tương đương áp suất thủy tĩnh, ngoại trừ ở Oligoxen trên, nơi mà giá trị của građien áp suất (ĐGA) dao động từ 1,18 – 1,25 g/cm3

Građien địa nhiệt dao động ở mức 2,6 – 3,0С/100 m và nhiệt độ địa tĩnh ở đáy giếng khi đạt đến chiều sâu cuối cùng, tương ứng với các mức trên, vào khoảng 135 - 145С

1.2.1.2 Các phức tạp có thể xảy ra khi khoan và gia cố giếng khoan

Các phức tạp trong quá trình khoan có thể xảy ra ở các tầng Mioxen dưới, Oligoxen và ở trong móng (mất dung dịch khoan và dung dịch bơm trám với cường độ từng phần cho đến mất hoàn toàn ở trong móng, xuất hiện dầu khí, kẹt dính do chênh áp) Ngoài ra, ở Mioxen dưới và Oligoxen trên có thể xảy ra sập lở thành giếng

Các điều kiện địa chất – kỹ thuật được nêu trên là những yếu tố quyết định cấu trúc, kỹ thuật và công nghệ xây dựng giếng khoan

1.2.1.3 Loại tổ hợp khoan, tải trọng nâng và các yêu cầu

Do chiều sâu thiết kế khoan và độ lệch ngang của đáy giếng (2000-3000 m) tương đối lớn, chiều sâu theo thân giếng khoan có thể đạt đến 5200-5300 m, còn trọng lượng của bộ cần khoan 127 mm cùng với bộ khoan cụ đáy vào khoảng 190 – 195 tấn Việc khoan được tiến hành từ giàn cố định (MSP) và giàn nhẹ (BK) bằng cách sử dụng các tổ hợp khoan cố định có truyền động theo (top drive) hoặc giàn khoan tự nâng có tải trọng không dưới 195/0.6 = 325 tấn Các giàn khoan tự nâng như “Cửu

Trang 28

Long” và “Tam Đảo” truyền động top drive tải trọng 500 và 429 tấn và 2 máy bơm 3

xilanh với công suất vừa phải (850 kW mỗi cái) đều có thể đáp ứng các yêu cầu này

1.2.2 Biểu đồ áp suất và cấu trúc giếng khoan

Biểu đồ áp suất cho hai loại giếng khai thác với chiều sâu thẳng đứng 3800 –

4500 m và giếng bơm ép với chiều sâu 4300 – 4500 m ở mỏ Nam Rồng – Đồi mồi được trình bày ở hình 5 – 6

Từ biểu đồ có thể thấy rằng, mặt cắt mà các giếng đi qua có giá trị građiênt áp suất vở vỉa tương đối nhỏ Vấn đề này phải được chú ý khi thiết kế về gia cố giếng khoan

Cấu trúc giếng khoan có hai dạng: 1- giếng khoan khai thác với thân trần ở trong móng; 2 - giếng khoan khai thác với một phần thân trần ở trong móng (phần trên của móng được gia cố bởi ống chống lửng 178 mm)

Ống tách nước 762 mm được thả đến chiều sâu 130 m Khi khoan để thả ống chống này người ta sử dụng choòng 660,4 mm và mở rộng thành giếng đến 914 mm Ống chống này được trám xi măng đến đáy biển

Ống dẫn hướng 508 mm được thả đến chiều sâu 400 m để gia cố các tầng của kỷ

đệ tứ và pliôxen cũng như để lắp đặt thiết bị đầu giếng và đối áp nhẳm bảo đảm an toàn cho quá trình khoan giếng Khoảng thân giếng này được khoan bằng choòng 660,4 mm Ống chống này được bơm trám đến 10 - 20 m dưới mức đáy biển

Ống chống trung gian thứ nhất 340 mm được thả đến chiều sâu 1680 m là nóc của tầng Mioxen dưới (SH-3) để gia cố các lớp sét, cát bở rời, không bền vững của các tầng pliôxen, Mioxen trên và dưới, cũng như để bảo đảm an toàn khi khoan đoạn sau, nơi mà phải nâng cao tỷ trọng dung dịch tới giá trị cần thiết để mở tầng Oligoxen

có giá trị građiênt áp suất cao Khoảng thân giếng này được khoan bằng choòng 444,5

mm và ống chống được bơm trám đến 10 - 20 m dưới mức đáy biển

Ống chống 245 mm được thả đến chiều sâu nóc móng 3530 – 3800 m và thực hiện hai chức năng - ống trung gian (khi khoan ở trong móng) và ống khai thác Khoan để thả ống chống này được thực hiện bằng choòng 311,1 mm Ống chống được bơm trám xi măng từ chân đế cho đến chiều sâu 1480 m (200 m cao hơn chân đế ống chống 340 mm) Việc dâng xi măng không tới miệng cho phép tiến hành cải tạo giếng

Trang 29

khoan về sau này bằng cách tháo bỏ phần ống không trám xi măng và khoan thân hai

từ ống chống 340 mm Ngoài ra, với khoảng dâng xi măng như thế này người ta có thể bơm trám xi măng một lần mà không cần phải đặt nút bơm trám tầng

Đối với các giếng khai thác loại thứ hai và các giếng bơm ép, sau khi kết thúc khoan bằng choòng 215,9 mm cho đến chiều sâu thiết kế (3800 - 4500 m) thì phần trên của móng được gia cố bằng ống chống lửng 178 mm đến chiều sâu tương ứng là

3680 – 4230 m và 3900 – 4150 m Đầu trên của ống chống lửng sẽ cao hơn chân đế của ống 245 mm 200m Ống chống lửng được thả để có thể khai thác dầu từ phần dưới của móng (đối với các giếng khai thác) hoặc để bơm ép nước nhằm duy trì áp suất vỉa (đối với các giếng bơm ép)

Ống chống lửng được treo vào ống 245 mm bằng đầu treo nêm (packer) của hãng TIW hoặc Halliburton và được bơm trám suốt chiều dài ống lửng

Ống chống 340 mm được bơm trám cho đến 10 – 20 m dưới mức đáy biển nhằm mục đích thuận tiện cho việc hủy giếng sau này khi có thể cắt ống này ngay mức đáy biển và kéo chúng lên Ống chống 245 mm được bơm trám lên 200 m cao hơn chân đế của ống chống 340 mm

Đối với tất cả các giếng, đối tượng khai thác chính là phần thân trần đường kính 215,9 mm ở trong móng Tất cả các chiều sâu được nêu trên là chiều sâu thẳng đứng tính từ bàn rôtô

Để ngăn ngừa và hạn chế hiện tượng áp suất (phun trào) giữa các cột ống 340 và

245 mm cần phải sử dụng các loại ống có đầu nối ren Premium có độ kín cao như NEWVAM, NSCC

Cần phải chú ý rằng, ống chống trong các đoạn tăng và giảm góc phải chịu sự mài mòn rất lớn, điều này làm giảm độ cứng của ống và phá hủy các mối nối ren rất lớn Do đó, trong Thiết kế kỹ thuật xây dựng giếng phải bắt buộc bảo vệ ống chống bằng cách lắp các bộ phận bảo vệ ở cần khoan

Cấu trúc mẫu của các giếng khai thác và bơm ép được trình bày ở hình 5 – 6

Trang 30

HÌNH 5 BIỂU ĐỒ ÁP SUẤT ĐỐI VỚI GIẾNG KHAI THÁC Ở KHU VỰС NAM RỒNG –ĐỒI MỒI

Trang 31

HÌNH 6 BIỂU ĐỒ ÁP SUẤT ĐỐI VỚI GIẾNG BƠM ÉP Ở KHU VỰС NAM RỒNG –ĐỒI MỒI.

Trang 32

1.2.3 Công nghệ khoan và gia cố giếng khoan

Quỹ đạo giếng khoan mẫu bao gồm từ 4, 5 đoạn hay nhiều hơn là các đoạn thẳng đứng, tăng góc, ổn định và giảm góc nghiêng Ở một số giếng có thể có các đoạn thay đổi phương vị của giếng Do độ lệch ngang thiết kế của đáy giếng lớn nên góc nghiêng của giếng có thể lên đến 45 – 50 hoặc hơn nữa Đoạn lấy góc thường bắt đầu khi khoan ống dẫn hướng hay ống trung gian đầu tiên Cường độ tăng góc không được vượt quá 10 - 15/100 m

Hình 7 Quỹ đạo giếng khoan giếng 405 RC-DM

Trang 33

1.2.3.1 Choòng, bộ khoan cụ đáy và bộ cần khoan

Để khoan giếng, người ta sử dụng các loại choòng có năng suất cao như choòng

ba chóp xoay hay choòng PDC Các chủng loại choòng khoan phá và khoan lấy mẫu lõi, chế độ khoan theo từng khoảng được chỉ định bởi Thiết kế kỹ thuật thi công xây dựng giếng khoan

Phương pháp khoan được sử dụng chủ yếu là khoan bằng động cơ xoắn (PDM), ngoại trừ khi khoan để thả ống cách nước và khoan trong móng, nơi mà thường áp dụng phương pháp khoan rôtô

Khi bắt đầu lấy góc nghiêng hay khi cần phải hiệu chỉnh góc và phương vị của giếng thì ở bộ khoan cụ đáy ngoài động cơ xoắn với đầu nối cong phải gắn thêm đầu nối định hướng và “hệ thống đo trong quá trình khoan” (MWD) Không phụ thuộc vào phương pháp khoan, khi khoan ở bộ khoan cụ đáy phải lắp đặt búa thủy lực và cần dây Để giảm xác xuất và lực dính do chênh áp nên sử dụng các loại cần nặng có các rãnh xoắn

Khi khoan nên sử dụng cần khoan 127 mm có lớp phủ tăng cường loại Super Smooth ở đầu nối

1.2.3.2 Ngăn ngừa các phức tạp

Trong Thiết kế kỹ thuật xây dựng giếng khoan phải đưa ra các biện pháp cụ thể

để ngăn ngừa các phức tạp trong quá trình khoan và kết thúc giếng khoan ở những chiều sâu hay địa tầng cụ thể Có thể nhận thấy rằng, các nguyên nhân chủ yếu của các phức tạp là sự chậm chạp khi thực hiện các thao tác công nghệ (tiếp cần, nhấc choòng lên khỏi đáy, kéo cần khoan lên chân đế ống chống trước), để giếng ở trạng thái thân trần một thời gian dài, và nguyên nhân chính là không theo dõi đầy đủ các thông số dung dịch khoan

1.2.3.3 Các loại và thông số dung dịch khoan

Việc lựa chọn loại dung dịch khoan cũng như các thông số của chúng phụ thuộc vào các điều kiện về địa chất-đất đá và các phức tạp có thể xảy ra trong quá trình thi công giếng Kinh nghiệm khoan các giếng ở các mỏ của Xí nghiệp Liên doanh

“Vietsovpetro” trong đó có mỏ Rồng cho thấy rằng, các tầng pliôxen, Mioxen trên và

Trang 34

giữa có thể khoan thành công khi sử dụng dung dịch pô-li-me sét hoặc lignôsulfônat gốc nước biển (có các chất phụ gia)

Tầng Mioxen dưới và Oligoxen, mà thành phần chủ yếu là sét và sét kết hoạt tính

dể thấm nước, thủy hóa và sập lở, cần phải sử dụng dung dịch ức chế hoặc kỵ nước gốc nước biển (có các chất phụ gia) Nhằm bảo vệ tối đa tính chất thấm-chứa của vỉa sản phẩm, tầng móng phải được khoan bằng dung dịch có tỷ trọng thấp với hoạt tính

bề mặt cao và thành phần pha rắn thấp (khi cần thiết thì thêm các chất bít nhét) Độ bền nhiệt giới hạn của dung dịch khoan của cấu trúc địa chất này không được thấp hơn

135 – 145C Các loại dung dịch được đề xuất cho các địa tầng của các giếng khoan mẫu ở mỏ Nam Rồng – Đồi mồi được trình bày ở bảng 1., còn các thông số chủ yếu -

Pleitôxen-Pliôxen 508 mm Pôlime sét với độ nhớt tăng cường (PS

ĐNTC) Pliôxen–Mioxen

245 mm Dung dịch ức chế phèn nhôm kali (ƯC PNK)

hoặc kỵ nước (ƯC KN) Oligoxen 245 mm Dung dịch nặng ức chế phèn nhôm kali (ƯC

PNK) hoặc ức chế kỵ nước (ƯC KN) Móng Thân giếng trần 215, 9 mm

Trang 35

Bảng 2

CÁC THÔNG SỐ DUNG DỊCH KHOAN ĐƯỢC ĐỀ XUẤT ĐỂ THI CÔNG

CÁC GIẾNG KHOAN MẪU Ở MỎ NAM RỒNG – ĐỒI MỒI

1.2.3.4 Trám xi măng các giếng khoan

Trám xi măng cột ống chống là phần quan trọng nhất trong chu trình kết thúc giếng khoan Điều đó thể hiện, việc lựa chọn phương pháp trám xi măng, vật liệu trám, chất lỏng đệm, các trang bị công nghệ và việc tiến hành quá trình bơm trám phải được thực hiện trên cơ sở phân tích kỹ càng kinh nghiệm nhiều năm về gia cố các giếng khoan trên thềm lục địa Việt nam và phải phù hợp với quy định hiện hành RD

SP 83-05 “Quy định tạm thời về gia cố các giếng khoan tại các mỏ của XNLD Vietsovpetro”

Trám xi măng nhằm hai mục đích chính – cách ly chắc chắn các tầng có áp suất

khác nhau và làm kín khoảng vành xuyến giữa các cột ống chống

Với mục đích như vậy, trong các thiết kế dự kiến:

Trang 36

1) Sử dụng hỗn hợp xi măng pha cát OCGP để trám các đoạn có nhiệt độ cao hơn 100°С, vữa có tính chất cách ly cao (RPIS) – theo quy định RD "Công nghệ trám giếng khoan ngăn ngừa xâm nhập khí bên ngoài cột ống chống ở các mỏ của XNLD Vietsovpetro" (hợp đồng № LX-319/VSP-EKSBUR/08.97, Crasnodar – Vũng tàu, 1997)

2) Trám cột ống dẫn hướng và cột ống trung gian 340-mm bằng vữa xi măng nhẹ OCG tỷ trọng 1,52 g/cm3 theo kỹ thuật bơm một lần để vữa xi măng dâng lên đến đáy biển

3) Trám cột ống chống 245-mm đồng thời thực hiện các biện pháp hạn chế sự xuất hiện áp suất giữa các cột ống chống, đó là sử dụng công nghệ của hãng

“EKSBUR & K°”, dựa trên việc sử dụng vữa xi măng có tính chất cách ly cao (RPIS)

và bổ sung biện pháp tạo áp suất dư (áp suất phản) bên ngoài cột ống trong thời gian chờ xi măng đông kết Trám cột ống này cũng được thực hiện bằng kỹ thuật bơm một lần với hai loạt vữa xi măng trên cơ sở xi măng nhẹ OCG và xi măng nhẹ pha cát (OCGP) Loạt thứ nhất không yêu cầu gì đặc biệt (tỉ trọng 1,52 g/cm3), loạt thứ hai –

tỉ trọng 1,57 g/cm3 (RPIS) sẽ nằm ở đoạn từ chân đế ống chống trở lên đến cao hơn chân đế 500-700 m

Tạo áp suất phản bên ngoài cột ống chống 245-мм trong thời gian chờ xi măng đông kết cần tuân thủ các quy định trong RD đã nhắc tới trên đây

4) Trám cột ống lửng 178-mm trên cơ sở xi măng nhẹ pha cát OCGP loại vữa RPIS tỉ trọng 1,57 g/сm3

5) Trong quá trình trám xi măng bắt buộc sử dụng bể trung gian với thể tích không nhỏ hơn 12 м3

6) Sử dụng các định tậm cứng và định tâm đàn hồi

7) Chuẩn bị kỹ càng thân giếng khoan trước khi thả cột ống chống được thực hiện bằng cách thả các bộ khoan cụ KNBK (theo nguyên tắc tăng dần độ cứng của chúng để thông giếng), xác định áp suất vở vỉa nhỏ nhất của đoạn thân trần để chính xác hóa cho chương trình thủy lực trám cột ống chống 245 và 178-mm Trong trường hợp cần thiết (đặc biệt là trước lúc thả cột ống 178-mm), có thể tiến hành bơm tampon vào vỉa

Trang 37

Những đề xuất chung về phương án trám xi măng các cột ống chống được trình bày trong bảng 3

thứ I 340 mm 0 1680

PCG 0,9 1,52 CMC- 2,0

lửng 178-mm

3680 –

4230

3330 –

3600

OCGP 0,85 1,57

Trang 38

1.3 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KHOAN CHOÒNG PDC ĐƯỜNG KÍNH 311mm TẠI MỎ NAM RỒNG – ĐỒI MỒI

1.3.1 Kết quả khoan choòng PDC Ø311mm tại mỏ Nam rồng - Đồi Mồi

Khoảng khoan đường kính 311mm được khoan qua phần trầm tích Mioxen dưới

và Oligoxen đến chiều sâu nóc móng 3530 – 3800m Khoảng khoan được thực hiện sau khi thả ống chống Ø340mm Chiều dài khoảng khoan từ 1800-2000m Đây là phần trầm tích bao gồm các lớp sét, cát và cát kết mềm, và dưới cùng là các lớp sét và sét kết có độ cứng trung bình

Áp suất vỉa và áp suất lổ hổng dọc theo mặt cắt là bình thường tương đương áp suất thủy tĩnh, ngoại trừ ở Oligoxen trên, nơi mà giá trị của gradiênt áp suất (ĐGA) dao động từ 1,22 – 1,32 g/cm3 Građiênt địa nhiệt dao động ở mức 2,6 – 3,0С/100m

và nhiệt độ địa tĩnh vào khoảng 135 - 145С

Đến thời điểm hiện nay, tại mỏ Nam rồng - Đồi mồi đã thực hiện khoan 12 giếng

từ 2 giàn đầu giếng RC-4 và RC-DM bằng giàn khoan Jackup Tất cả các giếng đều là khoan xiên định hướng Khoảng đường kính 311mm được khoan bằng choòng PDC của các hãng Smith và Baker Hughes: M94HBPX, MRS519HBPX, MD519LHBPX, MDSi519HBPX, QD604,QD605X

Khoan choòng PDC đường kính 311mm được thực hiện với hệ thống rô-tơ chỉnh lái xiên RSS và bộ khoan cụ rô-tơ

Do khoảng khoan đường kính 311mm khá dài (từ 1800-2000m), địa tầng phía dưới Oligoxen đến nóc Móng là sét và sét kết, có các lớp xen kẹp cứng, độ mài mòn cao, sét dẻo dễ trương nở dẫn đến bó choòng Vì vậy, tốc độ cơ học bị giảm nhiều khi khoan vào phần Oligoxen dưới và gần nóc Móng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tốc

độ cơ học giảm như choòng khoan bị mòn, bị bó choòng, bó đáy giếng, choòng bị rung lắc nhiều…Do đó, để khoan hết khoảng khoan thường sử dụng 2 đến 3 choòng PDC Kết quả khoan choòng PDC đường kính 311mm được mô tả ở bảng 4

Việc nghiên cứu đánh giá kết quả làm việc của choòng được thực hiện theo các phương pháp truyền thống như: thực nghiệm, thực nghiệm-thống kê, phân tích-thống

kê Còn đối với các chế độ khoan hay đặc tính công nghệ của choòng thường được

Trang 39

dựa trên các kết quả đạt được của các giếng lân cận Tuy nhiên, các phương pháp truyền thống chỉ đánh giá một cách tổng thể cho một khoảng khoan, không thể giúp nhận biết, đánh giá trực tiếp được các vấn đề gây hạn chế hiệu quả làm việc của choòng khoan

Hình 8.Bộ khoan cụ với hệ thống rô-tơ chỉnh lái xiên RSS

Trang 40

35

Bảng 4 Kết quả khoan choòng PDC đường kính 311mm tại mỏ Nam rồng - Đồi

Giếng Choòng PDC Khoảng khoan m h ROP, m/h Đánh giá choòng WOB,

M94SHPX (RR) 3713-4003 290 58.8 4.93 6-8-WT/CT-A-X-I-HC-ROP/BHA 2-14 100-150 48-49

Ngày đăng: 03/02/2021, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Xuân Đào - Thiết kế công nghệ khoan các giếng dầu khí Khác
2. R. Teale - The Concept of Specific Energy in Rock Drilling Intl. J. Rock Mech Mining Sci. (1965) 2, 57-73 Khác
3. F.E. Dupriest, SPE, ExxonMobil, and J.W. Witt, SPE, and S.M. Remmert, SPE, RasGas Co. Ltd - Maximizing ROP with Real-Time Analysis of Digital Data MSE Khác
5. Diamond Tech Manual, Hughes Christensen, 2004 Khác
7. Dinh Huu Khang, Petrovietnam, Vu Thien Luong, Nguyen Thanh Truong, Vietsovpetro - Bit Selection/Optimization in Drilling Hard/Abrasive Granite Vietsovpetro's Fields Khác
8. Рабочие проекты №№ 186, 187, 191, 194, 202 на строительство скважины 404, 405,406 RC-DM, 420, 421 RC-4 Khác
9. А.И. Спивак, А.Н. Попов – Разрушение горных пород при бурении скважин Khác
11. Nguyễn Thành Trường, Viện NCKH&TK XNLD Vietsovpetro – Sử dụng choòng khoan PDC Khác
12. XNLD Vietsovpetro, VRJ Petroleum Co. - Báo cáo đánh giá ban đầu trữ lượng dầu khí tại chỗ mỏ Nam Rồng Khác
13. (SPE 102210) F.E. Dupriest, ExxonMobil Development Co. – Comprehensive Drill- Rate Management To Maximize Rate of Penetration Khác
14. XNLD Vietsovpetro, VRJ Petroleum Co. - Thiết kế khai thác thử thân dầu trong Móng cấu tạo Nam Rồng-Đồi Mồi Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w