Việc sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử đã được chứng minh mang lại rất nhiều lợi ích cho Chính phủ của các quốc gia, và cho các nhà thầu tham dự, tuy nhiên ở nước ta việc sử dụng còn ở g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
- -
TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG
VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG
HỆ THỐNG ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ TRONG NGÀNH
CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG VIỆT NAM
Chuyên Ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Mã Số Ngành : 60.58.90
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, Tháng 07 Năm 2011
Trang 2Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
- -
TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG
VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG
HỆ THỐNG ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ TRONG NGÀNH
CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG VIỆT NAM
Chuyên Ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Mã Số Ngành : 60.58.90
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Ngô Quang Tường và cô Nguyễn Anh Thư, những người đã quan tâm, tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, đặc biệt là các thầy cô giảng dạy thuộc chuyên ngành Công nghệ và Quản lý Xây dựng, các thầy cô trong Khoa Quản lý Công Nghiệp trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh Tất cả những kiến thức, kinh nghiệm mà các thầy cô đã truyền đạt lại cho tôi trong suốt quá trình học cũng như những góp ý quý báu của các thầy cô về luận văn này sẽ mãi là hành trang quý giá cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và công tác sau này Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè cùng lớp, những người đã cùng tôi trải qua những ngày học tập thật vui, bổ ích và những thảo luận trong suốt thời gian học đã giúp tôi tự hoàn thiện mình và mở ra trong tôi nhiều sáng kiến mới
Xin cảm ơn những người đồng nghiệp của tôi, đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và chính những kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác của họ đã đóng góp rất nhiều ý kiến cho tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin cảm ơn những người thân trong gia đình tôi, những người bạn thân của tôi đã luôn bên cạnh tôi, quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại để hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 07 năm 2011
Trang 5TÓM TẮT
Trong bất kì nền kinh tế nào, đấu thầu luôn đóng một vai trò quan trọng để chủ đầu tư có thể chọn được những nhà thầu có khả năng tốt nhất và đưa ra mức giá hợp lý nhất Mục đích của đấu thầu là để lựa chọn các nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch
và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên trên thực tế, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong công tác đấu thầu Chất lượng công tác đấu thầu vẫn được xem là một trong số những đề tài nóng bỏng của ngành xây dựng Việt Nam Nó đòi hỏi cần phải cải tiến trong công tác đấu thầu để có thể mang lại những dự án xây dựng có chất lượng đảm bảo hơn nữa
Chính từ thực tế đó, đồng thời cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thế giới
và bước đầu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động đấu thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cho ra đời chương trình thí điểm sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử Đấu thầu điện tử đã không còn xa lạ với nhiều nước phát triển, nhưng đối với nước ta thì đây là một hình thức còn khá lạ lẫm với nhiều người Việc sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử đã được chứng minh mang lại rất nhiều lợi ích cho Chính phủ của các quốc gia, và cho các nhà thầu tham dự, tuy nhiên ở nước ta việc sử dụng còn ở giai đoạn đầu, do đó cần phải nhìn nhận và tìm hiểu về hệ thống một cách kĩ lưỡng trước khi ra quyết định tiếp theo
Với hướng đi đó, luận văn này ra đời với mong muốn đem lại một cái nhìn tổng quát về thực trạng của việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử ở nước ta, biết được những lợi ích cũng như trở ngại trong việc sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử của các doanh nghiệp xây dựng, đồng thời cũng tìm ra các yếu tố đánh giá cho sự sẵn sàng ứng dụng của doanh nghiệp đối với hệ thống này Với các nhân tố có được
từ bảng câu hỏi cùng với quá trình xử lý số liệu có sử dụng sự trợ giúp của phần mềm SPSS, tác giả đã phân tích và tìm ra được 14 yếu tố lợi ích, 4 yếu tố trở ngại của việc áp dụng, đồng thời có 2 yếu tố thể hiện tính sẵn sàng cho việc ứng dụng của các doanh nghiệp và 3 nhóm các yếu tố cần thiết cho việc áp dụng được thành công Tác giả mong muốn rằng với những kết quả này, luận văn sẽ có ích cho Chính phủ cũng như các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam trước thềm ứng dụng rộng rãi
hệ thống đấu thầu điện tử trên cả nước
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu chung 1
1.1.1 Sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng ở Việt Nam 1
1.1.2 Hệ thống đấu thầu hiện tại ở Việt Nam 3
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 18
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 20
1.4 Phạm vi nghiên cứu 20
1.5 Đóng góp dự kiến của nghiên cứu 20
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 21
2.1 Tại sao đấu thầu điện tử lại trở nên cần thiết để phát triển 21
2.1.1 Những nhược điểm của đấu thầu truyền thống 21
2.1.2 Những ưu điểm của đấu thầu điện tử 23
2.2 Những trở ngại của đấu thầu điện tử 34
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN 40
3.1 Quy trình đấu thầu tại Việt Nam 40
3.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động đấu thầu 40
3.1.2 Các hình thức đấu thầu và các phương thức trong đầu thầu 43
3.2 Sự phát triển của công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong cải tiến xây dựng 44
3.2.1 Sự phát triển của công nghệ thông tin và các tiện ích mang lại 44
3.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong cải tiến xây dựng 47
3.3 Thương mại điện tử trong ngành công nghiệp xây dựng 47
Trang 73.3.3 Thương mại điện tử trong ngành công nghiệp xây dựng 50
3.4 Đấu thầu điện tử trong ngành công nghiệp xây dựng 51
3.4.1 Khái niệm đấu thầu điện tử 51
3.4.2 Đấu thầu điện tử trên thế giới 51
a) Hệ thống đấu thầu điện tử ở Nhật Bản 52
b) Hệ thống đấu thầu điện tử ở Hoa Kỳ 54
c) Hệ thống đấu thầu điện tử ở Vương quốc Anh 54
d) Hệ thống đấu thầu điện tử ở Philippin 56
3.4.3 Đấu thầu điện tử ở Việt Nam 57
a) Sự ra đời của hệ thống đấu thầu điện tử ở nước ta 57
b) Đặc điểm của hệ thống đấu thầu điện tử ở nước ta 59
c) Các văn bản quy định hướng dẫn việc thực hiện đấu thầu điện tử ở nước ta 60
d) Mục đích của đấu thầu điện tử ở nước ta 61
e) Những thành tựu đạt được kể từ khi ra đời đến nay 61
f) Vai trò của đấu thầu điện tử ở nước ta 62
g) Lợi ích mong muốn mà hệ thống đấu thầu điện tử có thể mang lại 63
h) Những khó khăn trong quá trình áp dụng 65
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 68
4.1 Quy trình nghiên cứu 68
4.2 Thu thập dữ liệu 69
4.3 Các phương pháp, công cụ nghiên cứu 69
4.3.1 Phân tích thành tố 69
4.3.2 Bảng câu hỏi khảo sát 73
4.3.3 Xây dựng bảng câu hỏi 78
CHƯƠNG 5: THU THẬP, XỬ LÝ DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 81
5.1 Thông tin chung 81
5.2 Các kết quả nghiên cứu 91
Trang 85.2.1 Các lợi ích của việc ứng dụng hệ thống đấu thầu điện tử 91
5.2.2 Các trở ngại của việc ứng dụng hệ thống đấu thầu điện tử 95
5.2.3 Sự sẵn sàng cho việc ứng dụng hệ thống đấu thầu điện tử 98
5.2.4 Các yếu tố cần thiết cho việc áp dụng thành công hệ thống đấu thầu điện tử 100 CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
6.1 Kết luận 107
6.2 Kiến nghị 110
PHỤ LỤC 1 112
PHỤ LỤC 2 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Quy trình đấu thầu truyền thống 22
Hình 2.2 Đấu thầu điện tử trong quy trình mua sắm điện tử 23
Hình 2.3 Quy trình đấu thầu điện tử đề xuất (Jason, 2006) 26
Hình 2.4 Quy trình mở thầu điện tử và chọn thầu dành cho nhà thầu (PQC) 27
Hình 2.5 Quy trình mở thầu điện tử và chọn thầu dành cho tư vấn (PQC) 27
Hình 2.6 CETS – Chính phủ Liên Bang 28
Hình 2.7 Các lợi ích của đấu thầu điện tử 31
Hình 2.8 Biểu đồ thể hiện mức độ tiết kiệm thời gian và chi phí khi sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử trong soạn thảo hồ sơ dự thầu 33
Hình 2.9 Xếp hạng các nhân tố rủi ro 37
Hình 3.1 Quy trình tổng quát về sự ra đời của một dự án đấu thầu 41
Hình 3.2 Trình tự thực hiện công tác đầu thầu theo Luật đấu thầu 42
Hình 3.3 10 quốc gia có số người sử dụng Internet đông nhất châu Á năm 2008 45
Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện phần trăm sử dụng internet theo trình độ văn hóa 45
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện phần trăm theo nhóm ngành 46
Hình 3.6 Hệ thống đấu thầu điện tử ở Nhật Bản 52
Hình 3.7 Sơ đồ minh họa Quá trình đấu thầu cạnh tranh mở 53
Hình 3.8 Đấu thầu tốc hành- Sở Giao thông vận tải của Hoa Kỳ 54
Hình 3.9 DELTA e-Tendering Suite 55
Hình 3.10 15 dự án đã được đấu thầu dịch vụ bởi 10 tổ chức tính đến 05.2008 56
Hình 3.11 Số lượng người dùng là công ty xây dựng đăng ký trên trang web 56
Hình 3.12 Giao diện của hệ thống đấu thầu điện tử ở Việt Nam 59
Hình 4.1 Mô hình cơ bản của quy trình phân tích thành tố 71
Hình 4.2: Mô hình mở rộng của quy trình phân tích thành tố 72
Hình 4.3 Mô hình đầy đủ của quy trình phân tích thành tố 72
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu ở Việt Nam năm 2010 8
Bảng 1.2 Số liệu thống kê các gói thầu ở Việt Nam năm 2010 9
Bảng 2.1 Bảng so sánh thời gian thực hiện trong các phương pháp đấu thầu (G Arslan) 32
Bảng 2.2 Tổng hợp các vấn đề còn tồn tại của đấu thầu điện tử 38
Bảng 3.1: Những ưu điểm của đấu thầu điện tử ở Việt Nam 64
Bảng 5.1 Số năm kinh nghiệm làm việc 81
Bảng 5.2 Vị trí, chức danh làm việc trong công ty 82
Bảng 5.3 Phân loại lĩnh vực hoạt động của các công ty 83
Bảng 5.4 Phân loại loại hình doanh nghiệp 83
Bảng 5.5 Phân loại đối tượng theo số lượng dự án đã tham gia 84
Bảng 5.6 Phân loại mức độ hiểu biết của các đối tượng về hệ thống đấu thầu điện tử trên website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư 85
Bảng 5.7 Phân loại phương tiện giúp đối tượng khảo sát biết đến hệ thống đấu thầu điện tử 86
Bảng 5.8 Phân loại mức độ hài lòng của đối tượng khảo sát về hệ thống đấu thầu truyền thống 87
Bảng 5.9 Phân loại quan niệm cho rằng sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử là tốt hơn so với cách thức hiện tại 87
Bảng 5.10 Phân loại quan niệm cho rằng sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử là xu thế tất yếu thay thế đấu thầu truyền thống 88
Bảng 5.11 Đánh giá về sự sẵn sàng sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử trong tương lai của các đối tượng được khảo sát 89
Bảng 5.12 Đánh giá về quan niệm cho rằng sử dụng hệ thống đấu thầu điện tử là thích hợp cho ngành công nghiệp xây dựng ở Việt Nam 89
Bảng 5.13 Đánh giá thời gian để hệ thống đấu thầu điện tử trở nên phổ biến trong hoạt động đấu thầu đối với ngành xây dựng Việt Nam 90
Trang 11Bảng 5.15 Các lợi ích của việc ứng dụng hệ thống đấu thầu điện tử – kết quả kiểm
tra yếu tố tin cậy 93
Bảng 5.16 Các trở ngại của việc ứng dụng hệ thống đấu thầu điện tử 95
Bảng 5.17 Các trở ngại của việc ứng dụng hệ thống đấu thầu điện tử – các yếu tố tin cậy 96
Bảng 5.18 Sự sẵn sàng cho việc ứng dụng hệ thống đấu thầu điện tử 98
Bảng 5.19 Sự sẵn sàng cho việc ứng dụng hệ thống đấu thầu điện tử – các yếu tố tin cậy 99
Bảng 5.20 Các yếu tố thành công cho việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử 100
Bảng 5.21 Các yếu tố thành công của việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử 101
Bảng 5.22 Các yếu tố thành công cho việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử 102
Bảng 5.23 Phần trăm giải thích cho biến (Total Variance Explained) 103
Bảng 5.24 Kết quả phân tích thành tố 104
Trang 12TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC
Tp HCM, ngày tháng……… năm 2011
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : TRẦN THỊ BÍCH NGỌC Phái : Nữ
Chuyên ngành : Công nghệ và Quản lý Xây dựng MSHV : 00807581
I TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG
HỆ THỐNG ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG VIỆT NAM
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Đánh giá hiện trạng về việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử ở nước ta
Đánh giá khả năng ứng dụng của việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử
trong ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 15-02-2011
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 15-07-2011
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : Tiến sĩ NGÔ QUANG TƯỜNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM NGÀNH CN BỘ MÔN
QL CHUYÊN NGÀNH
TS NGÔ QUANG TƯỜNG TS NGÔ QUANG TƯỜNG TS LƯƠNG ĐỨC LONG
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
Ngày tháng năm 2011
TRƯỞNG PHÒNG ĐT-SĐH TRƯỞNG KHOA QL NGÀNH
Trang 13CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu chung
1.1.1 Sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng ở Việt Nam
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, ngành xây dựng Việt Nam đã có những bước phát triển không ngừng về mọi mặt Nhiều lĩnh vực hoạt động xây dựng như khảo sát, thiết kế công trình, thi công xây lắp
đã có bước trưởng thành nhanh chóng, có thể thiết kế, thi công hoàn thiện những công trình có quy mô lớn và hiện đại Hoạt động xây dựng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng các công trình công nghiệp, công trình dân dụng và hạ tầng kỹ thuật Nhiều dự án đầu tư xây dựng đã được quản lý chặt chẽ ngay từ công tác khảo sát xây dựng, lập báo cáo đầu tư xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng, lập các bước thiết kế tiếp theo, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì công trình xây dựng Từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung việc xác định giá, duyệt giá dự toán và thanh quyết toán chi phí đầu tư xây dựng đều do Nhà nước định đoạt đã dần chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước hướng dẫn nội dung, phương pháp xác định làm cơ sở cho các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng quản lý chi phí, nâng cao trách nhiệm, tính chủ động và hiệu quả đầu tư xây dựng công trình Những đổi mới về cơ chế quản lý chi phí đầu tư xây dựng đã góp phần tạo nền tảng và thiết lập cơ sở cho hoạt động xây dựng theo cơ chế của nền kinh tế thị trường, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bộ mặt đô thị Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng với xu thế phát triển các khu đô thị mới hiện đại, thị trường bất động sản ngày càng lành mạnh, người thu nhập thấp được hưởng lợi từ những chính sách nhà ở thiết thực, kịp thời là những điểm sáng của ngành Xây dựng thời gian qua
Theo Báo cáo của Bộ Xây dựng, tình hình sản xuất kinh doanh của các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng trong tháng 10 và 10 tháng năm 2010 đều tăng so với cùng kỳ năm 2009 Cụ thể:
- Giá trị sản xuất kinh doanh 10 tháng năm 2010 ước đạt 117.789,4 tỷ đồng, bằng 84,2% so với kế hoạch năm 2010, bằng 123,5% so với cùng kỳ năm 2009
Trang 14- Thực hiện nhập khẩu 10 tháng ước đạt 273,6 triệu USD, bằng 97,9% so với cùng kỳ năm 2009; xuất khẩu 10 tháng ước đạt 150,7 triệu USD, bằng 128,5% so với cùng kỳ năm 2009
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 8 tháng đầu năm thực hiện 7,25 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2009
- Vốn ODA giải ngân ước đạt 1.810 triệu USD, bằng 74,5% so với kế hoạch giải ngân của cả năm và tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: vốn vay nước ngoài khoảng 1.654 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 156 triệu USD
- Giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 504 nghìn tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn so với kế hoạch cả năm
Theo Báo cáo phân tích tình hình công nghiệp - xây dựng 6 tháng đầu năm
2010 của Vụ Công nghiệp và Xây dựng (Tổng cục Thống kê) cho thấy, giá trị sản xuất xây dựng có tốc độ tăng trưởng khá cao, tới 23,8% so với cùng kỳ Như vậy, trong 6 tháng đầu năm, lĩnh vực xây dựng có tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng cao nhất trong các ngành sản xuất thực Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu 2010 tăng 13,6%; nông, lâm, thủy sản chỉ tăng 5,3%
Cụ thể, giá trị sản xuất (theo giá thực tế) ngành xây dựng quý 2/2010 ước đạt 114,1 nghìn tỷ đồng, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung 6 tháng đầu năm, giá trị sản xuất ngành xây dựng đạt khoảng 215,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,2% GDP cùng thời kỳ (so với 855,2 nghìn tỷ đồng), và tăng 23,8% so với 6 tháng đầu năm 2009
Trong con số kể trên, khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng 26,2% giá trị sản xuất toàn ngành và tăng 18,8%; khu vực ngoài nhà nước chiếm
tỷ trọng 71,3% và tăng 25,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,5% và tăng 20,4%
Một số tỉnh, thành phố quy mô xây dựng lớn có tốc độ tăng giá trị sản xuất xây dựng 6 tháng đầu năm cao so với cùng kỳ như Hà Nội và Bắc Ninh cùng tăng 25,2%; Thanh Hóa (31,6%); Thừa Thiên - Huế (50,1%); Quảng Ngãi (75,9%); Tp.HCM (26,1%); Long An (34,4%)
Theo Vụ Công nghiệp và Xây dựng, nguyên nhân chủ yếu khiến cho ngành xây dựng phát triển ổn định và tăng cao trong 6 tháng đầu năm là do
Trang 15Nhìn chung, trong bối cảnh sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngành công nghiệp xây dựng nước
ta đang ở giai đoạn bùng nổ phát triển, hàng loạt chung cư, cao ốc văn phòng, công trình giao thông đã và đang được xây dựng Vốn đầu tư riêng cho ngành xây dựng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây cũng là một dấu hiệu tốt cho thấy ngành công nghiệp xây dựng đang có một tương lai rất khả quan và đang hứa hẹn phát triển một cách vượt bậc trong thời gian tới
Bên cạnh những thành công trong thời gian qua, ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam vẫn còn những vấn đề tồn tại, chẳng hạn trong lĩnh vực đấu thầu Thực tế và những báo cáo tổng kết từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy công tác đấu thầu trong nước đối với các dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước tuy trình tự cơ bản được thực hiện theo các quy định nhưng kết quả đạt được còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ đạt được về lựa chọn được nhà thầu, còn hiệu quả kinh tế đạt được trong đấu thầu chưa đáng kể và đã xuất hiện hiện tượng lợi dụng công tác đấu thầu để hợp thức hóa những kết quả trúng thầu chứa đựng các sai phạm làm thất thoát vốn đầu tư của Nhà nước.Ngoài ra còn là những vấn đề
về chất lượng công tác thiết kế, lập, thẩm định, phê duyệt giá gói thầu chưa tốt
làm giá gói thầu tăng vượt giá trị thực tế… Nó đòi hỏi công tác đấu thầu cần phải được đổi mới từ đường lối đến hành động để đảm bảo cho ra đời những dự
án chất lượng và mang lại lợi ích kinh tế cho Nhà nước, đồng thời đưa ngành xây dựng Việt Nam phát triển đủ sức cạnh tranh với ngành xây dựng ở các nước tiên tiến
1.1.2 Hệ thống đấu thầu hiện tại ở Việt Nam
a) Sự ra đời và phát triển của hệ thống đấu thầu hiện tại ở nước ta
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án được quy định tại Điều 1 của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế [Điều 4_Luật đấu thầu 61/2005/QH11]
Xuất phát từ mục đích quản lý chi tiêu sử dụng vốn Nhà nước, tại Điều 5 Quy chế về giao thầu và nhận thầu trong xây dựng cơ bản được ban hành kèm theo Quyết định số 217 – HĐBT ngày 08/08/1985, Hội đồng Bộ trưởng đã đề cập đến đấu thầu xây dựng Nhưng phải cho đến năm 1990, công tác đấu thầu được bắt đầu đề cập trong những văn bản Quản lý đầu tư xây dựng, như Quyết định số 24/BXD – VKT ngày 12/02/1990 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, đây là quy định
về đấu thầu trong xây dựng các công trình xây dựng Tiếp đến, cuối năm 1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 91TTg ngày 13/11/1992 quy định về đấu thầu đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu bằng nguồn vốn ngân sách
Trang 16Nhà nước Tháng 03/1994, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Quy chế đấu thầu xây lắp kèm theo quyết định số 60/BXD – VKT thay cho quyết định số 24/BXD – VKT Các quy định liên quan tới đấu thầu nói trên mới đề cập tới hai lĩnh vực mua sắm là xây lắp và thiết bị [Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu]
Đến năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 183TTg ngày 16/04/1994 thì việc quy định về đấu thầu đã bao quát mọi lĩnh vực mua sắm Đây có thể coi là Quy chế đấu thầu đầu tiên Từ đó, Quy chế đấu thầu tiếp tục được hoàn thiện, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế của đất nước [Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu]
Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung hiện nay công tác đấu thầu ở nước ta được quản lý bởi Luật đấu thầu 61/2005/QH11 ban hành kèm theo Nghị định 85/2009/NĐ-CP, và Luật sửa đổi 38/2009/QH12 [Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu]
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của Bên mời thầu Để tránh việc lựa chọn tùy tiện, chủ quan Luật đấu thầu quy định rõ các hình thức lựa chọn tương ứng với đặc điểm của mỗi gói thầu, đồng thời quy định các trình tự, thủ tục kèm theo để đảm bảo sự cạnh tranh, công bằng và minh bạch của quy trình thực hiện
Hình thức lựa chọn chủ yếu được đề cập trong Luật đấu thầu là đấu thầu rộng rãi, song trong một số trường hợp đặc thù cho phép áp dụng các hình thức lựa chọn khác như đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu… Quy định này làm cho việc thực hiện được linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu
Hiệu quả trong đấu thầu là hiệu quả tổng hợp, trước hết thông qua đấu thầu chúng ta có thể lựa chọn được nhà thầu có đủ kinh nghiệm, đủ năng lực về tài chính và kỹ thuật, tiếp đó là chọn được nhà thầu có biện pháp thực hiện khả thi đáp ứng yêu cầu về chất lượng và tiến độ, thứ nữa là có giá trúng thầu không vượt giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu
b) Vai trò và tầm quan trọng của đấu thầu
Các vai trò khác nhau của đấu thầu:
Đối với chủ đầu tư: Một cách khái quát, hoạt động đấu thầu giống như một
kỳ thi tuyển chọn học sinh giỏi, nhằm tìm ra học sinh giỏi nhất có khả năng hiểu biết nhiều nhất giải quyết được các yêu cầu của bài toán một cách tốt nhất Như vậy, đối với chủ đầu tư, hoạt động đấu thầu có vai trò
Trang 17 Đối với nhà thầu: Hoạt động đấu thầu tạo ra môi trường mang tính chất cạnh tranh, để cho các nhà thầu thể hiện tài năng và bản lĩnh trước các “bài toán” dự án của chủ đầu tư, từ đó góp phần giúp nâng cao năng lực cho nhà thầu
Đối với nền kinh tế quốc dân: Đấu thầu được xem như là biện pháp hữu hiệu nhất để đạt được hiệu quả trong chi tiêu sử dụng tiền của Nhà nước Đồng thời nó cũng mang lại những dự án tốt nhất, góp phần cải thiện bộ mặt đất nước
Tầm quan trọng của đấu thầu:
Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua (bên mời thầu) và người bán (nhà thầu) gặp nhau thông qua cạnh tranh
Phát triển các ngành sản xuất theo hướng chuyên môn hoá sâu và hợp tác hóa rộng, đồng thời phát triển thị trường đấu thầu Thông qua đấu thầu đã phát triển được thị trường người bán, nhiều doanh nghiệp nhà thầu lớn mạnh, nhiều doanh nghiệp được thành lập mới hoặc đặt chân vào thị trường đấu thầu, kích thích thị trường trong nước phát triển chống được sự độc quyền tự nhiên Các chủ đầu tư, bên mời thầu cũng được tăng cường
về năng lực, họ có thêm kiến thức, thông tin và trở thành những người mua ngày một thông thái hơn Bên cạnh đó, hoạt động đấu thầu góp phần tạo động lực cho sự phát triển nhờ tăng cường sự công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả và thúc đẩy cạnh tranh các hoạt động mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nước cho các công trình công cộng
Là một công cụ quan trọng giúp chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí
Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự tham gia của các tổ chức Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước ở một mức độ nào
đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước
Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về phòng - chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động mua sắm công theo đúng luật pháp của Nhà nước
Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển Hoạt động đấu thầu không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp mà được diễn ra trên toàn thế giới Các nhà thầu danh tiếng trên thế giới - họ là những người sẵn
Trang 18sàng và có khả năng tham gia vào tất cả các hoạt động của các quốc gia, thông qua đó họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm
Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các
cơ quan quản lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh bạch các khoản chi tiêu do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ với sự tham gia của nhiều bên
Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh
Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động, sáng tạo
c) Những thành tựu của công tác đấu thầu
So với nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế, công tác đấu thầu ở Việt Nam vẫn còn nhiều mới mẻ Kể từ khi có Quy chế lần một đến nay, cũng chỉ qua một thời gian ngắn, nhưng đã đạt được những thành tích đáng kể
Quy định về đấu thầu đã đạt được mục tiêu là tạo sự cạnh tranh công bằng
và minh bạch
Trong thực tế, Luật đấu thầu là một công cụ để toàn xã hội có thể giám sát các hoạt động của các chủ đầu tư, Ban quản lý, làm cho trách nhiệm sử dụng đồng tiền còn hạn chế của Nhà nước được tăng cường Với Luật đấu thầu mới nhất thì quy định về đấu thầu đã đạt được mục tiêu là tạo sự cạnh tranh công bằng và minh bạch
Lựa chọn được các nhà thầu đủ kinh nghiệm và năng lực để thực hiện công việc theo yêu cầu
Tạo ra sự cạnh tranh để làm động lực cho sự phát triển
Nếu trước đây, một công ty có được dự án nhờ vào mối quan hệ, thì nay bằng Luật đấu thầu, công ty này phải chứng minh là có đủ kinh nghiệm và năng lực, phải có giải pháp được đánh giá là khả thi và giá cả phải cạnh tranh với các nhà thầu khác
Mức độ giảm sau đấu thầu mới chỉ biểu hiện mức chênh lệch giữa giá trị trúng thầu so với giá trị dự kiến ban đầu, chưa biểu hiện được mức độ chênh lệch giữa giá trị thực hiện (qua thanh quyết toán) so với giá trị dự
Trang 19 Năng lực cán bộ, nhà thầu Việt Nam được nâng cao
Đến nay, sau một số năm thực hiện Quy chế đấu thầu, chúng ta đã có một
sự trường thành đáng kể Đội ngũ Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án mặc dù còn những tồn tại, song so với trước đây đã trường thành nhiều trong việc
tổ chức các cuộc đấu thầu, đánh giá lựa chọn nhà thầu, ký hợp đồng
Công tác đấu thầu đã được toàn xã hội quan tâm
Công việc đấu thầu không chỉ thuộc trách nhiệm của Chủ đầu tư, cơ quan quản lý hay nhà thầu mà toàn xã hội đều quan tâm tới vấn đề này vì yêu cầu của quản lý liên quan với việc chi tiêu, sử dụng đồng tiền Nhà nước Các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày đều bám sát các cuộc đấu thầu, vai trò của công luận làm cho công tác đấu thầu ngày càng được công khai, công bằng và minh bạch
Theo Báo cáo tổng kết công tác đấu thầu năm 2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, công tác đấu thầu ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ:
Hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu: Về cơ bản đã được hoàn thiện, thống nhất theo hướng tăng cường phân cấp
Năm 2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có 400 văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật đấu thầu cho các Bộ, ngành, doanh nghiệp, địa phương; đã
có gần 200 văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và gửi Văn phòng Chính phủ; có hơn 200 văn bản xử lý về các nội dung khác trong đấu thầu như góp ý cho các Bộ, ngành, địa phương khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu Các văn bản hướng dẫn về đấu thầu đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật về đấu thầu được thông suốt, thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện dự án, khắc phục được những khó khăn trong quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đã thống nhất và chuẩn hóa về thủ tục, thời gian trong hoạt động đấu thầu, quy định chi tiết về lập, thẩm định phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, nâng cao quyền
và trách nhiệm của chủ đầu tư, từ đó tạo điều kiện tiết kiệm thời gian trong đấu thầu, đảm bảo tiến độ chung của toàn bộ dự án đầu tư Trong năm
2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã ban hành 16 thông tư và văn bản hướng dẫn trong việc xây dựng các mẫu tài liệu đấu thầu Việc ban hành các mẫu tài liệu đấu thầu nhằm thống nhất về nội dung và cơ cấu hồ sơ mời thầu, tăng cường sự minh bạch, nâng cao chất lượng và tiết kiệm thời gian đối với quá trình đấu thầu theo thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi cho
Trang 20công tác đấu thầu và đã được nhiều đơn vị làm công tác đấu thầu đánh giá cao
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản bước đầu đã đi vào cuộc sống, nâng cao vai trò của chủ đầu
tư trong quá trình quản lý, điều hành và quyết định các nội dung trong quá trình triển khai dự án (quyết định nội dung hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, giải quyết tình huống trong đấu thầu) Việc tăng cường phân cấp cho chủ đầu tư đã tăng cường tính chủ động linh hoạt cho chủ đầu tư, thu hẹp được cấp trình duyệt trong quá trình lựa chọn nhà thầu nên thời gian lựa chọn nhà thầu cũng đã được rút ngắn đáng kể
Ngay sau khi Nghị định 85/CP có hiệu lực thi hành (01/12/2009), trong năm 2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành 16 thông tư quy định về các mẫu tài liệu trong đấu thầu, đảm bảo việc triển khai thực hiện quy định của Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và Nghị định 85/CP được thông suốt, thống nhất và thuận tiện cho quá trình thực hiện các dự án
Ngoài ra, việc tăng cường phân cấp cho Chủ đầu tư theo tinh thần của Luật sửa đổi và Nghị định 85/CP đã bước đầu thu hẹp được cấp trình duyệt trong quá trình lựa chọn nhà thầu Do đó rút ngắn được thời gian trình, duyệt và thẩm định trong quá trình lựa chọn nhà thầu nên thời gian lựa chọn nhà thầu cũng đã được rút ngắn đáng kể
Đấu thầu rộng rãi tăng, chỉ định thầu giảm so với các năm trước:
Hình thức lựa chọn
nhà thầu
Tổng số gói thầu
Tổng giá gói thầu
(tỷ đồng)
Tổng giá trúng thầu
(tỷ đồng)
Chênh lệch Giá trị
Trang 21+ Chỉ định thầu có số lượng gói thầu áp dụng lớn nhất: 70.147 gói và chiếm 73% trong tổng số gói thầu đã thực hiện trong năm 2010, có tổng giá trúng thầu là 113.643,51 tỷ đồng nhưng chỉ tiết kiệm được 5.656 tỷ đồng, tỷ lệ tiết kiệm thấp, chỉ đạt 4,74% Như vậy, so với cùng kỳ năm
2009, số gói thầu áp dụng chỉ định thầu năm 2010 chỉ tăng về số lượng gói thầu nhưng giảm về tổng giá gói thầu và tổng giá trúng thầu, tuy nhiên tỷ
lệ tiết kiệm đối với hình thức chỉ định thầu năm 2010 đã đạt mức cao hơn
so với năm 2009 (năm 2009 đạt 2,07%)
+ Đấu thầu rộng rãi có số lượng gói thầu áp dụng lớn thứ hai: 13.959 gói
và chiếm 15% tổng số, có tổng giá trúng thầu là 185.532,83 tỷ đồng; có giá trị tiết kiệm được lớn nhất đạt 15.191,46 tỷ đồng với tỷ lệ tiết kiệm đạt 7,56%, chiếm 65% tổng giá trị tiết kiệm của tất cả các hình thức (23.172,08 tỷ đồng)
Tiết kiệm cho nguồn vốn của Nhà nước:
Gói thầu sử dụng vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển
Gói thầu sử dụng vốn Nhà nước
để mua sắm tài sản
Gói thầu sử dụng vốn liên doanh,
cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh
Tổng cộng
2.009,32 6,95%
64,11 1,48%
23.172,08 6,63%
Bảng 1.2 Số liệu thống kê các gói thầu ở Việt Nam năm 2010
Với số liệu từ bảng 1.2, nhận xét:
+ Năm 2010, tổng vốn Nhà nước (vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển, mua sắm tài sản Nhà nước và vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh) áp dụng lựa chọn nhà thầu theo Luật Đấu thầu là 357.269,98 tỷ đồng, chênh lệch giữa tổng giá trúng thầu so với tổng giá gói thầu đạt được là 6,63% tương ứng với mức tiết kiệm là 23.172,08 tỷ đồng (khoảng 1,13 tỷ USD)
+ Gói thầu sử dụng vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển có số lượng lớn nhất trong tổng số gói thầu đã thực hiện trong năm 2010, cụ thể
là 89.516 gói thầu (chiếm 94%), tổng giá gói thầu là 324.086,62 tỷ đồng
Trang 22(chiếm 90%) và tổng giá trúng thầu là 302.987,97 tỷ đồng (chiếm 91%) Như vậy, so với năm 2009, gói thầu sử dụng vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển năm 2010 tăng về số lượng gói thầu nhưng giảm về tổng giá gói thầu và tổng giá trúng thầu, cụ thể tăng thêm 16.301 gói thầu nhưng tổng giá gói thầu giảm 43.507,03 tỷ đồng và tổng giá trúng thầu giảm 46.786,95 tỷ đồng
+ Gói thầu sử dụng vốn nhà Nước để mua sắm tài sản có số lượng gói thầu đứng thứ hai, 5.025 gói thầu (chiếm 5,2%), tổng giá gói thầu là 28.873,6 tỷ đồng (chiếm 8%), tổng giá trúng thầu là 26.864,28 tỷ đồng (chiếm 8%) Ngược lại với gói thầu sử dụng vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển, gói thầu sử dụng vốn Nhà nước để mua sắm tài sản có số gói thầu giảm nhưng tổng giá gói thầu và tổng giá trúng thầu lại cao hơn, cụ thể giảm 420 gói thầu nhưng tổng giá gói thầu tăng 4.319,7 tỷ đồng và tổng giá trúng thầu tăng 4.685 tỷ đồng
+ Gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh
có số lượng gói thầu thấp nhất, chỉ có 528 gói thầu (chiếm 0,5%) với tổng giá gói thầu là 4.039 tỷ đồng (chiếm 2%) và tổng giá trúng thầu là 4.245 tỷ đồng (chiếm 1%) Ở gói thầu loại này, số lượng và tổng giá trúng thầu đều giảm so với năm 2009, cụ thể số gói thầu giảm 1.014 gói và tổng giá trúng thầu giảm 12.785,26 tỷ đồng
+ Về tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu: các gói thầu sử dụng vốn Nhà nước để mua sắm tài sản có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất, đạt 6,95%, gói thầu sử dụng vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển có tỷ lệ tiết kiệm đứng thứ hai, đạt 6,51%; gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh có tỷ lệ tiết kiệm thấp nhất đạt 1,48%
Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã được chú trọng và triển khai trên diện rộng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu: Trong năm
2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thực hiện tổ chức kiểm tra về công tác đấu thầu và tham gia các hoạt động thanh tra về đấu thầu, cụ thể như sau: + Theo kế hoạch kiểm tra năm 2010: thực hiện 06 cuộc Kiểm tra tại 06 tỉnh là Bắc Giang, Điện Biên, Hưng Yên, Phú Yên, Nghệ An, Kiên Giang + Thực hiện 02 cuộc kiểm tra tại Ủy ban An toàn giao thông và Ban Quản
lý Dự án 85 - Bộ Giao thông vận tải theo chương trình hợp tác phòng
Trang 23+ Kiểm tra đôn đốc tình hình phân cấp và thực hiện chỉ định thầu đối với các dự án/ gói thầu được Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng chỉ định thầu tại Hà Nam, Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh và Tiền Giang theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
+ Tham gia Đoàn kiểm tra và giám sát Vinashin theo yêu cầu của Ủy ban kiểm tra Trung Ương
+ Tham gia với tư cách là thành viên Tổ giám định (theo đề nghị của Bộ Công an) quá trình đầu tư sử dụng các nguồn vốn trong một số dự án do Tập đoàn Vinashin thực hiện
+ Kiểm tra tình hình giải ngân tại 6 tỉnh miền Trung theo Nghị quyết 18/2011/NQ-CP
Việc kiểm tra, thanh tra về đấu thầu đã góp phần ngăn ngừa các hành vi sai phạm nói chung và các quy định của pháp luật về đấu thầu nói riêng Ở nhiều địa phương, kiểm tra đấu thầu đã giúp ngăn chặn kịp thời các sai phạm trong đấu thầu như nhà thầu có dấu hiệu vi phạm trong hồ sơ dự thầu khi tham gia đấu thầu tại một số gói thầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nhà thầu cung cấp thông tin không trung thực trong hồ sơ dự thầu trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Ninh Bình hay đánh giá hồ sơ dự thầu không căn cứ vào yêu cầu của hồ sơ mời thầu làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và đã có biện pháp xử lý kịp thời
Xử lý vi phạm pháp luật về đầu thầu: Trong năm 2009, có 3 đơn vị gửi danh sách tổ chức, cá nhân bị xử lý vi phạm, trong đó có 4 tổ chức bị xử lý
vi phạm, năm 2010 có 18 đơn vị gửi danh sách, trong đó có 29 tổ chức bị
xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu Trong tổng số 33 nhà thầu bị xử lý vi phạm thì có 1 nhà thầu vi phạm hoạt động đấu thầu trong lĩnh vực tư vấn,
2 nhà thầu vi phạm trong lĩnh vực cung cấp hàng hoá, còn lại 30 nhà thầu
bị xử lý vi phạm trong lĩnh vực xây lắp
Công khai hoá các thông tin về đấu thầu được tăng cường đáng kể:
+ Năm 2010, số lượng Báo Đấu thầu được phát hành đã tăng lên và tần suất xuất bản đã đáp ứng được về tính kịp thời, rộng rãi đến các đối tượng
có quan tâm tới công tác đấu thầu Ngoài trụ sở chính của Báo Đấu thầu tại
Hà Nội, với việc có thêm 6 đại lý của Báo Đấu thầu tại Thành phố Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho các nhà thầu không chỉ có được thông tin về đấu thầu trên cả nước mà còn dễ dàng tiếp cận thông tin đấu thầu tập trung của 2 thành phố lớn nhất của cả nước (có số lượng gói thầu được thực hiện nhiều nhất so với các địa phương khác) Ngoài ra, số
Trang 24lượng Báo phát hành năm 2010 đã tăng gần 80.000 tờ báo (tăng 6% so với năm 2009) và số trang phát hành được tăng lên 80 trang, nhờ đó Báo Đấu thầu đã thực sự trở thành công cụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đấu thầu đối với cả nước
+ Song song với Báo Đấu thầu, trang thông tin điện tử về đấu thầu – Hệ thống đấu thầu qua mạng - tại địa chỉ htttp://muasamcong.mpi.gov.vn được cập nhật hàng ngày, tận dụng các ưu thế của mạng internet trong việc tạo thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân đăng tải, truy cập và tìm kiếm thông tin đấu thầu ở mọi lúc, mọi nơi Đồng thời đây là kênh thông tin hữu ích cho cơ quản quản lý Nhà nước về đấu thầu tiếp thu các góp ý đối với các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành
+ Ngoài ra, chuyên mục đường dây nóng ra đời từ tháng 6/2008 và chính thức trở thành một chuyên mục rất được đông đảo độc giả quan tâm từ tháng 8/2008 Bộ phận tiếp nhận thông tin phản ánh từ khắp cả nước về những việc làm trái quy định, không phù hợp, làm khó nhà thầu Từ những bài viết trên chuyên mục đường dây nóng, cơ quan chức năng vào cuộc yêu cầu các đơn vị bị phản ánh cần nghiêm túc thực hiện đúng Luật Đấu thầu
+ Trên cơ sở các báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương gửi đến về danh sách các tổ chức, cá nhân bị xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu và danh sách nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đã theo dõi và tổng hợp danh sách và đăng tải trên trang web muasamcong.mpi.gov.vn để các chủ đầu tư và bên mời thầu được biết
Việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo: Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận được gần 30 đơn kiến nghị của các nhà thầu, mặc dù các đơn kiến nghị gửi đến không thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định và yêu cầu các cơ quan này thực hiện giải quyết kiến nghị theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu hiện hành và có báo cáo phản hồi
để theo dõi
d) Một số tồn tại trong công tác đấu thầu
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, công tác đấu thầu cũng còn nhiều hạn chế:
Trang 25số trường hợp quy trình tổ chức đấu thầu, chỉ định thầu còn đơn giản, thiếu
cơ sở pháp lý
Đấu thầu khép kín: Tình trạng đấu thầu khép kín là nguyên nhân của nhiều tiêu cực “Khép kín” trước hết là quan hệ giữa chủ đầu tư, tư vấn, thẩm định, xây dựng, nghiệm thu Tình trạng “khép kín” là cần tách bạch chức năng quản lý Nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương và chức năng tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhà thầu; quy định rõ trách nhiệm pháp lý của từng cá nhân, tổ chức và xử lý nghiêm khi
vi phạm pháp luật
Còn chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực
Thực hiện Luật đấu thầu còn chưa nghiêm túc, như:
Dùng ảnh hưởng cá nhân để tác động, can thiệp trực tiếp hoặc bằng thư tay
Cấu kết, thông đồng giữa bên mời thầu và nhà thầu
Cố ý chia nhỏ dự án một cách không hợp lý thành nhiều gói thầu để thực hiện chỉ định thầu
Tiết lộ những tài liệu, thông tin về đấu thầu; cố tình sắp đặt để cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, anh, chị, em ruột tham gia các gói thầu mà mình làm bên mời thầu, hoặc thành viên tổ chuyên gia trong đấu thầu, tổ chuyên gia thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu…
Phá giá đấu thầu, bỏ giá quá thấp để được trúng thầu đang là mối nguy cơ lớn ảnh hưởng đến chất lượng công trình, cần khắc phục tình trạng đấu thầu giả, xét thầu thiếu trong sáng
Chưa nêu rõ quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của người phê duyệt gói thầu
Cũng theo Báo cáo tổng kết công tác đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình thực hiện công tác đấu thầu năm 2010 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế:
Cơ chế chính sách liên quan đến đấu thầu của một số cơ quan Chính phủ chưa được ban hành kịp thời và việc triển khai thực hiện còn hạn chế
+ Năm 2010 là năm bắt đầu thực thi Luật sửa đổi, Nghị định 85/CP sau khi các thay đổi chính sách pháp luật về đấu thầu diễn ra nhanh chóng Ngay sau khi Luật sửa đổi, Nghị định 85/CP ra đời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành rất nhiều các mẫu tài liệu đấu thầu và thông tư hướng dẫn Một
số cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ hướng dẫn một số nội dung về
Trang 26đấu thầu (quy định tại Điều 76 Nghị định 85/CP) (Bộ Tài chính, Bộ Công thương) chưa thực hiện việc sửa đổi, bổ sung các văn bản đã ban hành cho phù hợp với quy định mới của pháp luật về đấu thầu, chưa ban hành văn bản hướng dẫn theo nhiệm vụ được giao Việc chậm sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn các nội dung nêu trên đã gây ra sự lúng túng và thiếu cơ sở pháp lý cho quá trình thực hiện dẫn đến sự kéo dài thời gian trong quá trình triển khai thực hiện dự án
+ Ngoài ra, tại nhiều địa phương, sau khi Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và Nghị định 85/CP có hiệu lực thi hành, một số địa phương đã có quy định
về đấu thầu riêng áp dụng tại địa phương mình nhưng chưa phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu và vẫn thực hiện theo quy chế cũ, do vậy có nhiều quy định không còn phù hợp hoặc trái với quy định hiện hành (Ví dụ tỉnh Hà Nam) Điều này đôi khi dẫn đến tăng thêm thủ tục hành chính, kéo dài thời gian đấu thầu và không đảm bảo các mục tiêu của công tác đấu thầu
Tính chuyên môn, chuyên nghiệp về đấu thầu chưa đồng đều và còn hạn chế ở một số địa phương, chất lượng của một số công việc chuẩn bị cho đấu thầu vẫn còn bất cập: Việc phân cấp mạnh cho chủ đầu tư tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ bản, tuy nhiên còn có một số chủ đầu tư năng lực còn hạn chế không theo kịp nhiệm vụ được giao, còn lúng túng trong khâu lập kế hoạch đấu thầu, thẩm định hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu Bên cạnh đó, nhiều chủ đầu tư còn chưa chủ động, còn trông chờ ỷ lại nhiều tổ chức, đơn vị tư vấn mà không xem xét, kiểm tra kỹ các hồ sơ, thủ tục… trước khi phê duyệt Ngoài ra, toàn bộ quá trình đấu thầu chủ yếu do chủ đầu tư quyết định, gần như khép kín và không có cơ quan giám sát, thẩm tra, thẩm định Các cơ quan quản lý đấu thầu hiện nay (người có thẩm quyền, Sở Kế hoạch Đầu tư ) nếu có phát hiện ra thì phải sau đấu thầu, sau thanh kiểm tra, thậm chí sau khi thực hiện xong gói thầu, trừ trường hợp có kiến nghị Bên cạnh đó năng lực chuyên môn của nhiều chủ đầu tư, bên mời thầu đặc biệt là ở cấp huyện, xã, khu vực vùng sâu, vùng xa, các bệnh viện, trường học… còn hạn chế do các chủ đầu tư, bên mời thầu chưa có kinh nghiệm, tính chuyên môn chưa cao dẫn đến chất lượng của hoạt động đấu thầu chưa được đảm bảo Ở rất nhiều địa phương, một số chủ đầu tư là Giám đốc bệnh viện, Hiệu trưởng trường học rất ngại xem xét, phê duyệt kết quả đấu thầu vì thiếu chuyên môn về lĩnh vực
Trang 27về đấu thầu Ngoài ra, chất lượng của một số đơn vị tư vấn ở địa phương còn hạn chế, đặc biệt là tư vấn đấu thầu Nhiều hồ sơ do các đơn vị tư vấn lập để chủ đầu tư trình thẩm định, phê duyệt không đạt yêu cầu, có nhiều sai sót dẫn đến hồ sơ không đạt chất lượng và yêu cầu theo quy định, kéo dài thời gian thẩm định, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án
Chất lượng của một số công việc chuẩn bị cho đấu thầu vẫn còn bất cập, công tác lập, trình và phê duyệt kế hoạch đấu thầu – công cụ định hướng, kim chỉ nam cho toàn bộ quá trình đấu thầu chưa được thực hiện theo quy định Qua kiểm tra công tác đấu thầu, nhiều địa phương không phê duyệt
kế hoạch đấu thầu tổng thể mà chỉ phê duyệt cho từng gói thầu hoặc nếu
có thì chưa đầy đủ như không bao gồm các gói thầu tư vấn, gói thầu xây lắp áp dụng hình thức chỉ định thầu, kế hoạch đấu thầu không chia thành 3 phần công việc rõ ràng nên khi kiểm tra có nhiều dự án vượt tổng mức đầu
tư đã duyệt nhưng không được phê duyệt điều chỉnh, từ đó dẫn đến sự chậm trễ hoàn thành công trình do không bố trí đủ vốn và gây nợ đọng trong xây dựng cơ bản Ngoài ra, chất lượng của hồ sơ mời thầu vẫn còn nhiều hạn chế Trong một số trường hợp chỉ vì một vài chi tiết trong hồ sơ mời thầu do tư vấn lập không chuẩn xác mà có thể dẫn đến phức tạp trong đánh giá hồ sơ dự thầu, phải xử lý tình huống gây chậm trễ Trong một số trường hợp khác còn phải hủy đấu thầu làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án
và lãng phí tiền của nhà nước
Hình thức lựa chọn nhà thầu được áp dụng chưa đáp ứng tinh thần tiết kiệm và đảm bảo hiệu quả kinh tế
+ Mặc dù chỉ định thầu là hình thức lựa chọn nhà thầu mang lại hiệu quả kinh tế không cao (thể hiện qua giá trị và tỷ lệ tiết kiệm khá thấp) thế nhưng chỉ định thầu lại được áp dụng nhiều nhất trong năm 2010 Cụ thể như: trong tổng số gói thầu được thực hiện, chỉ định thầu chiếm 73,78%;
sử dụng 113.643,51 tỷ đồng (chiếm 33% tổng giá trúng thầu) và chỉ mang lại tỷ lệ tiết kiệm 4,7%; hay trong tổng số 89.516 gói thầu thuộc các dự án đầu tư phát triển, chỉ định thầu chiếm 75,47% tổng số gói; sử dụng 108.594 tỷ đồng (chiếm 33,5% tổng giá trúng thầu) và chỉ mang lại tỷ lệ tiết kiệm 4%
+ Ngược lại, đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế đều có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn rất nhiều lần so với chỉ định thầu, cụ thể là 7,56% (đấu thầu rộng rãi) và 6,29% (đấu thầu hạn chế) lại ít được lựa chọn áp dụng Đấu thầu rộng rãi có số gói thầu áp dụng chỉ bằng 1/5 số gói thầu chỉ định thầu nhưng mang lại giá trị tiết kiệm cao gần gấp 1,5 lần giá trị tiết kiệm do chỉ
Trang 28định thầu mang lại Đấu thầu hạn chế được xem như là một hình thức lựa chọn nhà thầu kém cạnh tranh, nhưng so với chỉ định thầu thì vẫn hiệu quả hơn: số gói thầu áp dụng đấu thầu hạn chế chỉ bằng 1,86% số gói thầu áp dụng chỉ định thầu nhưng mang lại giá trị tiết kiệm cao hơn so với giá trị tiết kiệm do chỉ định thầu mang lại Các hình thức lựa chọn nhà thầu khác như mua sắm trực tiếp, mua sắm đặc biệt hay tự thực hiện được áp dụng với hơn 4000 gói thầu nhưng lại đạt tỷ lệ tiết kiệm cao nhất là 9%
Xu hướng đề nghị được áp dụng hình thức chỉ định thầu vẫn còn nhiều, không thực hiện đúng theo tinh thần đã phân cấp
+ Căn cứ tình hình thực tế về chỉ định thầu được tổng hợp từ ngày Nghị định 85/2009/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thấy rằng có một số bất cập liên quan đến việc thực hiện chỉ định thầu như việc quyết định áp dụng hình thức chỉ định thầu của nhiều gói thầu là trách nhiệm của người có thẩm quyền (Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh…) Tuy nhiên, trong một số trường hợp người có thẩm quyền vẫn trình văn bản đến Thủ tướng Chính phủ đề nghị chấp thuận áp dụng chỉ định thầu (một số tỉnh như Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam ) Việc này dẫn đến kéo dài thời gian trong đấu thầu, tăng thủ tục hành chính trong đấu thầu do không nghiên cứu kỹ quy định của pháp luật hoặc né tránh trách nhiệm, gây lãng phí thời gian của cơ quan Chính phủ
+ Nhiều gói thầu không thuộc trường hợp được áp dụng chỉ định thầu quy định tại Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, Nghị định 85/CP, cần được tổ chức đấu thầu rộng rãi hoặc áp dụng các hình thức lựa chọn khác phù hợp theo quy định, nhưng một số Bộ ngành, địa phương vẫn trình văn bản đến Thủ tướng Chính phủ đề nghị chấp thuận áp dụng chỉ định thầu theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 40 Nghị định 85/CP, từ đó dẫn đến kéo dài thời gian triển khai dự án và không phù hợp với mục tiêu của công tác đấu thầu
+ Việc lạm dụng đề nghị được chỉ định thầu nói trên là do chưa quán triệt đầy đủ các quy định của pháp luật đấu thầu, mặt khác do chưa quy định cụ thể các tiêu chí thực hiện chỉ định thầu trong trường hợp đặc biệt khác quy định tại điểm k khoản 2 Điều 40 Nghị định 85/2009/NĐ-CP
Vấn đề quản lý sau đấu thầu chưa được thực hiện thường xuyên và chưa
Trang 29+ Sản phẩm của quá trình đấu thầu cuối cùng là hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu trúng thầu Hiệu quả đạt được từ công tác đấu thầu phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện nghĩa vụ và ràng buộc giữa chủ đầu tư
và nhà thầu như đã nêu trong hợp đồng Tuy nhiên, theo báo cáo của các địa phương thì trong một số trường hợp việc quản lý thực hiện hợp đồng còn chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là trong bối cảnh giá cả leo thang
+ Trong một số trường hợp ở các gói thầu xây lắp, nhà thầu có tâm lý thực hiện hợp đồng cầm chừng để được điều chỉnh giá trị hợp đồng khi có các thay đổi về chính sách của nhà nước về tiền lương, giá ca máy, Trong một số trường hợp khác, nhà thầu khi thực hiện hợp đồng đã không đảm bảo được năng lực tài chính dẫn đến chậm trễ trong triển khai dự án
+ Ngoài ra, một số chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện công tác giám sát thi công, đôn đốc các nhà thầu xây lắp đảm bảo tiến độ đúng quy định
Hoạt động kiểm tra đấu thầu chưa được thực hiện đồng đều ở các Bộ, ngành và địa phương Theo báo cáo của Bộ, ngành, địa phương, nội dung kiểm tra đấu thầu mới chỉ được lồng ghép trong hoạt động giám sát, thanh tra tổng thể đầu tư, chưa thực hiện kiểm tra mang tính chuyên sâu về nghiệp vụ Do đó, kết quả kiểm tra còn nhiều hạn chế, chưa bao quát được bức tranh toàn cảnh về tình hình thực hiện đấu thầu của Bộ ngành, địa phương và còn chưa kịp thời chấn chỉnh công tác đấu thầu
Công tác báo cáo tình hình xử lý vi phạm chưa đầy đủ Theo quy định của Luật Đấu thầu, Quyết định xử lý vi phạm của người có thẩm quyền phải gửi đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp và đăng tải rộng rãi Qua đó, chủ đầu tư, bên mời thầu biết được đơn vị nào bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu do khi đã bị cấm đấu thầu tại một địa phương sẽ bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu trên toàn quốc Tuy nhiên từ khi Luật Đấu thầu có hiệu lực đến nay việc xử lý vi phạm đã được thực hiện ở nhiều địa phương, Bộ ngành nhưng số lượng các Quyết định xử lý vi phạm gửi về Bộ Kế hoạch
Trang 30một số địa phương còn chưa phản ánh đầy đủ, chưa tập hợp hết được số liệu về tất cả các gói thầu đã thực hiện Việc số liệu thống kê chưa đầy đủ như vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến tính trung thực của báo cáo tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ Một số đơn vị có gửi báo cáo đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhưng không gửi đính kèm bảng tổng hợp số liệu hoặc gửi số liệu chi tiết của các đơn vị thành viên mà không tổng hợp thành biểu báo cáo chung, ví dụ như UBND tỉnh Trà Vinh gửi báo cáo số liệu không đầy đủ, Tập đoàn Dầu khí chỉ gửi báo cáo theo biểu 2 và 3 mà không gửi biểu 1, Tổng công ty công nghiệp xi măng và Bộ Khoa học công nghệ không tổng hợp số liệu chung mà gửi báo cáo chi tiết của các công ty con
+ Ngoài ra, một số cơ quan như UBND tỉnh Điện Biên, Bộ Y tế, Uỷ ban dân tộc, Văn phòng Chính phủ, Ban tôn giáo Chính phủ, Đài truyền hình Việt Nam không gửi báo cáo công tác đấu thầu đến Bộ Kế hoạch và Đầu
tư tổng hợp
Kết luận:
Do vậy, có thể thấy rằng hoạt động đấu thầu ở nước ta tuy đạt được không
ít thành tựu nhưng thực tế vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, chưa thực sự đáp ứng được so với nhu cầu của thị trường và tiềm lực của ngành xây dựng Ngoài ra, còn một số nguyên nhân như: hệ thống quản lý chưa đủ mạnh về chất, chính sách, hệ thống đấu thầu phức tạp, chưa tạo điều kiện mở cho nhà thầu tham gia, vấn đề nhũng nhiễu, vận động hành lang, tham nhũng… cũng góp phần ảnh hưởng đến chất lượng của công tác đấu thầu
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu
Trong bất kì nền kinh tế nào, đấu thầu luôn là phương thức hữu hiệu nhất
để chủ đầu tư có thể chọn được những nhà thầu có khả năng tốt nhất và đưa ra mức giá hợp lý nhất Đấu thầu nói chung, đặc biệt là đấu thầu trong lĩnh vực sử dụng nguồn vốn Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng luôn là vấn đề bức xúc trong nhiều năm qua Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án được quy định tại Điều 1 của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Nhưng trên thực tế, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong công tác đấu thầu
Trang 31trong công tác đấu thầu để có thể mang lại những dự án xây dựng có chất lượng đảm bảo hơn nữa
Từ sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào tháng 11 năm 2006, nền kinh tế Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn trong mọi ngành nghề kể cả lĩnh vực xây dựng Hòa chung với sự phát triển mạnh mẽ của thế giới và bước đầu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động đấu thầu, sau một thời gian dài ấp ủ, ngày 22/07/2010 Bộ Kế hoạch và Đầu
tư đã ban hành Thông tư số 17/2010/TT – BKH về thi hành thí điểm việc sử dụng
hệ thống đấu thầu điện tử Việc áp dụng thành công hệ thống đấu thầu điện tử sẽ
là rất hữu ích trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh và tính minh bạch trong công tác đấu thầu Đây cũng xem như một bước chuyển mình để ngành xây dựng Việt Nam dần đạt được những dự án có chất lượng và là lời cam kết chất lượng đối với việc sử dụng vốn Nhà nước, đồng thời góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, mở ra nhiều cơ hội mới và nâng cao hình ảnh của công ty Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam ngày càng mở rộng cửa đón chào các nhà đầu tư và tổ chức nước ngoài, do đó ngoài việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc
tế để nâng cao chất lượng doanh nghiệp, việc áp dụng các kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, thừa hưởng thành tựu của kỹ thuật công nghệ sẽ góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành trong quá trình hội nhập, là điều hữu ích để các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam giữ được thị phần và dần thâm nhập vào thị trường nước ngoài
Hệ thống đấu thầu điện tử thật sự mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp và chất lượng cho các dự án Vấn đề này đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới ghi nhận cũng như từ thực tế các nước đã qua quá trình sử dụng trước khi hệ thống đấu thầu điện tử ở nước ta ra đời Tuy nhiên hiện nay hệ thống đấu thầu điện tử ở nước ta đã chính thức được Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành nhưng mới ở giai đoạn đầu của sự áp dụng, do đó những vấn đề liên quan đến đấu thầu điện tử còn chưa được phổ biến rộng rãi Như vậy, cần có một cái nhìn tổng quan về hệ thống đấu thầu điện tử ở nước ta để biết được rằng khi sử dụng nó có những lợi ích và trở ngại gì, nó đang ở vị thế nào và cần phải làm những gì để phù hợp với hướng phát triển của nó Đây cũng chính là hướng đi chủ yếu của đề tài
Trang 321.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích:
- Đánh giá hiện trạng của việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử ở nước
ta trong ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam: các yếu tố lợi ích và trở ngại
- Đánh giá khả năng sẵn sàng ứng dụng đối với việc áp dụng hệ thống đấu thầu điện tử trong lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Do những hạn chế về không gian và thời gian, tác giả chỉ khảo sát nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tổ chức, công ty trong ngành xây dựng, đặc biệt là hoạt động về lĩnh vực đấu thầu Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tập trung vào phần lớn các tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh Đây là một trong những khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất nước, có lượng vốn đầu tư vào xây dựng cao và là khu vực tập trung nhiều công ty xây dựng nhất trong cả nước
1.5 Đóng góp dự kiến của nghiên cứu
Với cái nhìn tổng quát có được từ đề tài, tác giả mong muốn rằng đề tài này sẽ giúp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Việt Nam có nhận thức đúng đắn về đấu thầu điện tử, biết được các lợi ích cũng như trở ngại khi tham gia sử dụng hệ thống này, từ đó sẽ có sự chuẩn bị tốt để có hướng đi phù hợp, nhanh chóng tiếp cận được với kỹ thuật đấu thầu tiên tiến trên thế giới – đấu thầu điện tử Bằng việc sử dụng tiện ích này, nếu được áp dụng rộng rãi và phổ biến sẽ giúp các doanh nghiệp giảm thiểu được thời gian, chi phí, đơn giản hóa các thủ tục một cách đáng kể so với phương pháp đấu thầu truyền thống, đồng thời làm tăng tính minh bạch và cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp với nhau trong hoạt động đấu thầu Từ đó, các doanh nghiệp muốn thắng thầu sẽ phải tự cải thiện để nâng cao năng lực thực sự của bản thân mình Điều này cũng có nghĩa là góp phần giúp chủ đầu tư nói riêng và ngành xây dựng Việt Nam nói chung có được những dự án thành công với chất lượng cao nhất có thể
Trang 33CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Các thống kê cho thấy hoạt động mua sắm công thường chiếm 20% chi tiêu của Chính phủ Ở các quốc gia đang phát triển con số này là 50% Nhiều nước coi việc mua sắm công qua đấu thầu điện tử là một biện pháp chống tham nhũng Việt Nam đang thử nghiệm hệ thống này không ngoài mục tiêu tăng cường hiệu quả cho mua sắm công Việc đánh giá hiện trạng về đấu thầu điện tử
và khả năng sẵn sàng ứng dụng hình thức đấu thầu điện tử của các doanh nghiệp trước khi bước vào áp dụng rộng rãi là rất cần thiết, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng Một số nghiên cứu trước đây trên thế giới về những vấn đề liên quan đến đấu thầu điện tử được ghi lại thành các nội dung dưới đây
2.1 Tại sao đấu thầu điện tử lại trở nên cần thiết để phát triển
2.1.1 Những nhược điểm của đấu thầu truyền thống
Theo nhận định của Stephen Kajewski, 2001 hiện tại việc truyền thông
liên lạc trong ngành công nghiệp xây dựng vẫn theo cách thông thường là chủ yếu, và do đó thường bị chậm
Theo Arslan, 2006 quy trình đấu thầu truyền thống được trình bày theo sơ
đồ sau:
Trang 34Hình 2.1 Quy trình đấu thầu truyền thống (Arslan, 2006)
Arslan cho rằng việc tiếp nhận, kiểm tra, sao chép và phân phối các bản vẽ giấy, cùng với các tiêu chuẩn kỹ thuật và bảng tiên lượng khối lượng (BoQ) vừa tốn thời gian, vừa tốn chi phí, ngay cả đối với các dự án xây dựng nhỏ Hơn nữa, trong giai đoạn chuẩn bị dự thầu, đấu thầu truyền thống cũng đã tồn tại nhiều rủi
ro do tính phức tạp của dự án Những rủi ro đó càng trở nên đáng lo ngại hơn đối với các dự án có sự tham gia của các nhà thầu phụ, bao gồm việc thiếu thông tin, thiếu dữ liệu, và các lỗi số học
Anumba C.J và Ruikar, K., 2002 cho rằng đấu thầu truyền thống có các
Trang 35 Công việc quản lý văn bản vừa rườm rà, vừa thường tốn thời gian và
2.1.2 Những ưu điểm của đấu thầu điện tử
Người ta mong muốn sẽ cải thiện các nhược điểm của đấu thầu truyền thống, đồng thời cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng công nghệ thông tin cho đấu thầu truyền thống đã dẫn đến sự ra đời của ý tưởng đấu thầu điện tử
Quy trình đấu thầu điện tử theo định nghĩa của Homann, 2005:
Hình 2.2 Đấu thầu điện tử trong quy trình mua sắm điện tử (Homann, 2005)
Chuẩn bị/ Thông báo
Nhà cung cấp Người mua
Mời thầu điện tử
Quyết định điện tử
ĐTĐT
Hợp đồng điện tử
Hóa đơn điện tử
Chi trả điện tử Đặt hàng điện tử/ Danh mục điện tử
Trang 36Có 3 thành phần chính của quy trình, bao gồm:
- Cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh (bao gồm các thuộc tính cụ thể và các kiểu dữ liệu)
- Phân cấp vai trò (có người mua, nhà cung cấp và trường hợp có bên thứ ba tham gia)
- Phân luồng dữ liệu (bao gồm các đối tượng sử dụng, các mối quan hệ và các quy tắc)
Chủ thể
1 Người mua: “Người tham gia đưa ra đề nghị để mua hàng hóa, dịch vụ, công trình Đó có thể là một cơ quan nhà nước, vùng hoặc địa phương, một cá nhân được quản lý bởi luật pháp nhà nước, hoặc các liên doanh được hình thành bởi một hoặc một số các cơ quan trên hoặc các cá nhân trên”
2 Nhà cung cấp: “Nhà thầu hoặc nhà cung cấp dịch vụ, người có mục đích
đề xuất sử dụng dịch vụ, hàng hoá, công trình của mình nhằm đáp ứng yêu cầu của người mua” Có hai vai trò khác nhau của nhà cung cấp có liên quan đến thủ tục phán quyết:
- Ứng viên: Nhà cung cấp là người tìm kiếm các thông báo mời thầu để được tham gia vào các khu vực đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, hoặc chào hàng cạnh tranh
- Nhà thầu: Nhà cung cấp là người nộp hồ sơ dự thầu hoặc hồ sơ chào hàng
3 Nền tảng của hệ thống đấu thầu điện tử: “Một thiết bị điện tử hoạt động như bộ phận trung gian giữa người mua và nhà cung cấp để truyền thông dữ liệu (Ví dụ: truyền tải, nhận, lưu trữ và xử lý thông tin điện tử) Nó có thể được điều hành bởi người mua hoặc bên thứ ba.”
Đối tượng
Tài liệu: “Tài liệu là một đơn vị thành phần của thông tin được trao đổi trong một cuộc giao dịch hoặc thông điệp.”
Thành phần thông tin: “Một thành phần thông tin nằm trong tập hợp các
dữ liệu, chúng cùng nhau tạo thành một hệ thống thông tin đầy đủ hoàn chỉnh (như thông tin về địa chỉ, bên tham gia, thông tin để liên hệ).”
Trang 37Quy trình
Danh sách sau đây cho thấy tất cả các quy trình có thể xuất hiện trong đấu thầu điện tử Rõ ràng đối với một ứng dụng cụ thể quy trình này có thể khác nhau Tuy nhiên, danh sách này gần như là đầy đủ và cũng thể hiện mối tương quan về trình tự thời gian:
- Lập hồ sơ mời thầu
- Yêu cầu để được tham gia
- Người mua làm rõ/ nhà cung cấp trả lời
- Danh sách ngắn
- Thư mời thầu hoặc tham gia vào một cuộc đối thoại
- Lập hồ sơ mời thầu có hiệu lực
- Đối thoại và đàm phán
- Nhà cung cấp hỏi và người mua trả lời
- Nộp hồ sơ dự thầu
- Kí kết hợp đồng
- Thông báo quyết định
- Lập báo cáo quyết định
Trang 38Hình 2.3 Quy trình đấu thầu điện tử đề xuất (Jason, 2006)
Trang 39Hình 2.4 Quy trình mở thầu điện tử và chọn thầu dành cho nhà thầu
Hình 2.5 Quy trình mở thầu điện tử và chọn thầu dành cho Tư vấn
Trang 40Hình 2.6 CETS – Chính phủ Liên Bang
Hình thức đấu thầu điện tử đã được nhiều quốc gia trên thế giới triển khai
áp dụng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Vương Quốc Anh, Úc, Liên minh Châu Âu, Đức…
Và sau đây là những ưu điểm đã được tổng kết của hệ thống này
Chi phí tiết kiệm được khi sử dụng đấu thầu điện tử ước tính xấp xỉ 10%
tổng chi phí mua sắm [BWA] Con số hấp dẫn này đã đưa đến một số những khởi xướng cho việc thực hiện hệ thống mua sắm điện tử công cộng (Hướng dẫn thực hành đấu thầu điện tử của Bộ Kinh tế và việc làm Liên bang Đức)
Quá trình đấu thầu điện tử có rất nhiều ưu điểm [BWA] [CTev]:
Về phía công ty:
+ Kỹ thuật số mang đến sự truyền tin nhanh chóng
+ Có thể truy cập vào các thông tin đấu thầu tốt hơn và nhanh hơn (bằng cách sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm kiếm thông tin rất dễ dàng)
+ Tiết kiệm chi phí (không cần thiết phải in ra các tài liệu giấy, giảm bớt công việc cho bộ phận hành chính)
+ Không có sự biến đổi phương thức truyền thông (chẳng hạn như đầu vào
là tài liệu kỹ thuật số và đầu ra là giấy)